1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu de tai phuong

42 214 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp rèn kỹ năng giải toán có lời văn ở lớp 3
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 259,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế, trong quá trình dạy, một số giáo viên còn lúng túng, có khi còn bất lực trong việc tìm biện pháp hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn.. Với mong muốn góp một số ý kiến nhỏ và

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU:

I 1 Lý do chọn đề tài:

Trong thực tế dạy học hiện nay, mặc dù giáo viên có nhiều cố gắng, song kết quả dạy học vẫn chưa cao Vì chương trình học nói chung và chương trình môn toán nói riêng đang được hoàn thiện và đổi mới nên có nhiều bỡ ngỡ cho giáo viên

và học sinh Phần lớn các giáo viên đều dạy theo kiểu" máy móc, dập khuôn" như sách hướng dẫn, chưa thấy được những bất cập hợp lý, cần điều chỉnh cho phù hợp với học sinh địa phương mình Khả năng giải toán của học sinh còn yếu, học sinh còn mắc nhiều sai sót trong quá trình giải toán Thực tế, trong quá trình dạy, một số giáo viên còn lúng túng, có khi còn bất lực trong việc tìm biện pháp hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn Mặt khác, so với phương pháp dạy học truyền thống thì phương pháp dạy học toán theo chương trình dạy học toán năm 2000 biên soạn khá công phu, yêu cầu ngày càng cao

Muốn làm tốt được nhiệm vụ trên thì người giáo viên tiểu học cần trang bị năng lực, nghiệp vụ sư phạm, tiềm lực giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tế nhà trường hiện nay Với mong muốn góp một số ý kiến nhỏ vào việc tìm hiểu phương pháp dạy giải toán ở tiểu học nhằm hình thành phphương pháp suy nghĩ, phương phương pháp học tập và làm chủ việc học tập của học sinh Để làm đượcđiều đó, việc khai thác và phát triển cho học sinh kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp một hai ba là vô cùng quan trọng; Đó là lý do tôi chọn đề tài này

1.1.1/ Cơ sở lý luận:

Trong thời đại ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển thì trình độ dân trí

là thưthước đo đánh giá cho sự phồn vinh của mỗi quốc gia Chính vì vậy mà sự nghiệp đào tạo con người mới được coi là quốc sách hàng đầu

Ở nước ta đang trong thời kỳ đổi mới toàn diện nhằm hướng tới xây dựng đất nưnước Việt Nam giàu đẹp, văn minh Đảng và nhà nước đã nhận rõ vai trò của

Trang 2

Giáo dục và đào tạo con người trong giai đoạn mới nên đã có chính sách ưu tiên và phát triển nền giáo dục một cách hợp lý Cùng với sự phát triển của các ngành khác thì công tác giáo dục góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước thực sự trở thành một nước công nghiệp hoá hiện đại hoá.

Để phát huy sức mạnh của sự nghiệp Giáo dục thì đòi hỏi những người làm công tác Giáo dục luôn năng động, sáng tạo, tự học, tự tìm tòi ra những con đường cách thức, phương tiện có thể biến những kiến thức trong sách vở thành những tri thức riêng vận dụng vào thực tiễn một cách linh hoạt và có hiệu quả

I.1.2/ Cơ sở thực tiễn:

- Thực tiễn vấn đề quản lý:

Bậc tiểu học là bậc đặt nền móng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh, trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết để học tiếp lên lớp trên, vì vậy mục tiêu của giáo dục tiểu học nhấn mạnh đến việc hình thành và phát triển cho học sinh những tri thức và kỹ năng cơ bản Cùng với các môn học như: Tiếng việt, TNXH, âm nhạc, mỹ thuật thì môn toán có một vị trí, vai trò quan trọng Đặc biệt là loại giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3

Học sinh lớp 3 là đối tưtượng mà vốn sống còn ít ỏi, ngôn ngữ đang phát triển, tính khái quát tổng hợp, tư duy còn dựa vào sự dẫn dắt của giáo viên Chính vì vậy đây là một vấn đề khó nên các giáo viên đôi khi còn gặp nhiều khó khăn khi nghiên cứu và giải quyết Xuất phát từ lý do trên nên đề tài: "Quản lý và nâng cao chất lượng dạy và học toán nhất là giải toán có lời văn lớp 3" được tôi quan tâm và nghiên cứu

I.2 Mục đích nghiên cứu:

Thông qua việc giải quyết đề tài này, tôi mong muốn nâng cao nghiệp vụ sư phạm và năng lực giao tiếp của bản thân cũng như của các đồng chí giáo viên trong cùng một tổ khối

Trang 3

Qua đề tài này giúp giáo viên trau dồi năng lực nghiên cứu, phát hiện những tồn tại trong thực tiễn dạy và học môn toán, thực tế năng lực học sinh lớp 3 trong học tập bộ môn toán Vì đây là dịp để tôi đánh giá chính xác sự nắm bắt thực tế quá trình dạy học của giáo viên và học sinh, nhằm giải quyết những khúc mắc cho giáo viên cùng tổ khối; từ đó đề ra hưhướng khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả trong giờ học" giải toán có lời văn" cho học sinh lớp 3.

I.3/ Thời gian, địa điểm:

I.3.1/ Thời gian

Trong 02 năm học (tháng 09 năm 2008 - đến tháng 05 năm 2010s)

I.3.2/ Địa điểm:

Trường tiểu học Trần Quốc Toản- Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh

I.3.3/ Phạm vi đề tài:

Nội dung chương trình môn toán lớp 3

I.3.3.1/ Giới hạn đối tưtượng nghiên cứu:

Là việc dạy và học giải toán có lời văn lớp 1,2,3

I.3.3.2/ Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:

Tiểu học Trần Quốc Toản – Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh

I.3.3.3/ Giới hạn về khách thể khảo sát:

Giáo viên dạy lớp 3, học sinh học lớp 3

I.4/ Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu là con đường giúp ta đạt tới mục đích sáng tạo, phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của vấn đề cần nghiên cứu Bởi vậy, để đạt được mục đích nghiên cứu thì trước tiên phải lựa chọn các phương pháp

Trang 4

nghiên cứu phù hợp Để hoàn thành đề tài này tôi đã lựa chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :

1- Phương pháp điều tra: Phương pháp này nhằm mục đích tìm hiểu các phương pháp dạy học, kĩ thuật của giáo viên để rèn kĩ năng dùng ngôn ngữ trong toán học

2- Phương pháp quan sát: Nhằm mục đích tìm hiểu các phương pháp dạy học,

kĩ thuật của giáo viên rèn kĩ năng tính toán của học sinh

3- Phương pháp thực nghiệm khoa học: Sau khi dự giờ, thăm lớp và kiểm tra kết quả, môn toán là cơ sở nền tảng hỗ trợ cho các em, qua các tiết học các em có tính sáng tạo, sử dụng các ngôn ngữ toán học, kĩ năng giải toán chính xác, linh hoạt

Nói tóm lại: Cùng với sự thông minh, tư duy sáng tạo của môn toán thì việc giải toán có lời văn cũng là môn khoa học đòi hỏi tính khái quát và sáng tạo phát huy tính độc lập suy nghĩ của học sinh tìm ra hướng giải quyết thông minh, nhanh nhạy

I.5/ Đóng góp mới về mặt lý luận, về mặt thực tiễn:

- Cơ sở lý luận:

+ Đối với giáo viên: hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy môn toán nói riêng đã được phổ biến rộng rãi ở các trường tiểu học Đặc trưng chủ yếu của việc đổi mới phương pháp dạy học là lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học; trong đó giáo viên là người trực tiếp hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh, giúp học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để tự chiếm lĩnh các tri thức, vận dụng vào thực hành

+ Đối với học sinh: học sinh luôn chủ động tìm tòi, khám phá ra những vấn

đề được giáo viên dẫn dắt, gợi mở Học sinh tư duy, phân tích, tổng hợp, so sánh và kết luận

Trang 5

- Cơ sở thực tiễn:

Đối với giáo viên

Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy có nhiều giáo viên áp dụng cách dạy, phương pháp dạy học cũ Nội dung kiến thức các bài toán có lời văn được trình bày sẵn trong SGK được giáo viên đem ra diễn giảng, còn học sinh chủ yếu ghi nhớ thông tin và làm theo mẫu Như vậy, cả giáo viên và học sinh đều phụ thuộc vào tài liệu có sẵn Sự phụ thuộc đó có thể thấy: Với nội dụng bài học có trong sách giáo khoa mà giáo viên không biết cách dạy như thế nào mà luôn luôn phải dựa vào sách hướng dẫn Mặt khác hầu hết các giáo viên lên lớp ít sử dụng đồ dùng trực quan như: (Sơ đồ, hình vẽ và tóm tắt) hoặc sử dụng không hiệu quả Khả năng hư-hướng dẫn giải toán còn chung chung chưa chú ý đến lời văn có thuật ngữ toán học Khiến cho các em tiếp thu kiến thức khó khăn, thụ động Giáo viên làm việc một cách máy móc, học sinh ít có cơ hội để phát huy tính sáng tạo của mình

Đối với học sinh:

- Từ việc dạy theo kiểu áp đặt của thầy mà học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động như các công thức thầy đưaa ra học sinh có nhiệm vụ phải nhớ Học sinh không được chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập và sáng tạo, luôn luôn bị phụ thuộc vào người khác Chính vì vậy học sinh nắm kiến thức không sâu, không hiểu đượcđược bản chất của vấn đề, chỉ biết dập khuôn máy móc Hơn nữa phần đọc hiểu của học sinh dân tộc còn hạn chế nên việc xác định yêu cầu của bài toán còn gặp nhiều khó khăn Do đó các bài toán chỉ khác mẫu một chút là học sinh không làm được và rất chóng quên Mặt khác các bài toán có trong chương trình lớp 3 được đưa ra rất nhiều dạng bài làm cho học sinh dễ nhầm lẫn hoặc khó phân biệt bài toán đó thuộc dạng toán nào? Nên rất dễ dẫn đến giải sai bài toán Hơn thế nữa, việc giải toán yêu cầu, đòi hỏi học sinh ( người học) phải có thao tác tư duy như : Phân tích, tổng hợp, so sánh

Trang 6

- Nhưng ở đây, học sinh chủ yếu chỉ biết làm theo, nói theo giáo viên hoặc bài mẫu của giáo viên, bài mẫu trong sách, do vậy năng lực giải toán của số đông học sinh không có điều kiện bộc lộ và phát triển hoàn thiện

- Thực trạng nêu trên đã cản trở mạnh mẽ đến việc dạy và học, giải toán gặp nhiều khó khăn và bất cập

Trang 7

II/ NỘI DUNG:

II.1/ CHƯƠNG I: TỔNG QUAN.

I.1 Cơ sở lý luận:

- Toán học là một môn có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống con người ; nhất là trong thời đại ngày nay khi khoa học công nghệ phát triển thì trình

ngư-độ dân trí là thước đo đánh giá sự phồn vinh của mỗi quốc gia Do vậy sự nghiệp giáo dục được Đảng khẳng định là quốc sách hàng đầu

- Đối với bậc tiểu học, toán học là những viên gạch đặt nền móng trong quá trình hình thành và phát triển tư duy Vì vậy việc phát triển cho học sinh những tri thức và kỹ năng cơ bản để học sinh phát triển và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống

là đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ, năng lực, sáng tạo, chính xác

- Trong bậc tiểu học song song với tất cả các môn học, môn toán chiếm một vị trí, vai trò quan trọng:

+ Toán học với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới, đồng thời có một hệ thống kiến thức cơ bản rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt và lao động của con người Đó là công cụ rất cần thiết để học sinh học các môn học khác Để tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh, hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn

+ Môn toán có một khả năng giáo dục rất lớn, đồng thời nó có nhiều khả năng để phát huy tư duy lôgic bồi dưỡng và phát triển những thao tác trí tuệ cần thiết để nhận biết thế giới hiện như trìu ttượng hoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp, so sánh, dự đoán, chứng minh, bác bỏ Môn học này có một phương pháp suy luận , phương pháp giải quyết vấn đề để có căn cứ khoa học toàn diện, chính xác;

nó có nhiều tác dụng trong việc phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành và rèn luyện nề nếp, phong cách và tác phong làm việc khoa học rất cần thiết trong lĩnh vực hoạt động của con ngưngười, góp phần

Trang 8

vào giáo dục ý trí và những đức tính cần thiết như: cần cù, nhẫn nại, ý thức vượtợt khó.

II.1.2/ Cơ sở lý luận:

- Ngoài việc kế thừa việc dạy học bằng những phương pháp truyền thống thì biện pháp rèn kỹ năng giải toán có lời văn ở lớp 3 có thể vận dụng theo hướng tích cực các hoạt động học tập của học sinh nhằm giúp các em phát huy trí tưtưởng tư-tượng, trau dồi kiến thức, kỹ năng tư duy sáng tạo và hứng thú học tập, từ đó nâng cao chất lượng học tập của học sinh Nhưng trước tiên muốn làm được điều này ta cần hiểu được những thuật ngữ sau trong đề tài:

+ Biện pháp : Là cách làm , cách giải quyết một vấn đề cụ thể

+ Kỹ năng : Là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được vào thực tế

+ Toán có lời văn : Là loại toán có những câu văn trả lời những dữ kiện cần tìm mà đề bài yêu cầu.Rồi mới thực hiên phép tính kèm theo

+ Mục đích : Nhằm giúp học sinh có kỹ năng đọc hiểu, và tìm ra những giải pháp để giải quyết vấn đề một cách hoàn thiện hơn

+ Ý nghĩa : Chính vì vậy đề ra một số biện pháp giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn là một việc rất quan trọng , phát huy được khả năng tư duy, tính lôgic trong học toán ở học sinh lớp 3 nói riêng ,ở trường tiểu học nói chung nhất là đối ttượng là học sinh lớp 3 các em còn rất nhỏ, vốn sống còn ít ỏi,

mà yêu cầu của mỗi ngày được nâng cao hơn

+ Yêu cầu : - Đối với giáo viên : Luôn sẵn sàng dón nhận việc đổi mới phương pháp trong dạy học Luôn sáng tạo, có lòng say sưa với nghề nghiệp Có ý thức tự học , tự nâng cao, không chờ đợi, ỷ lại, ngại khó Có ý thức cùng trao đổi với đồng nghiệp để tháo gỡ những khó khăn , vướng mắc trong quá trình dạy học

Trang 9

- Đối với học sinh : Tự giác trong học tập, chú ý nghe giảng , có tính độc lập sáng tạo , có đủ đồ dùng học tập, thường xuyên trao đổi với bạn bè, luôn tìm ra những hướng giải quyết mới dựa trên nền tảng những vấn đề đã biết

Kết luận chương I:

Muốn dạy và học tốt môn toán và nhất là kĩ năng giải toán có lời văn ngoài việc kế thừa việc dạy và học bằng phương pháp truyền thống thì người giáo viên trong quá trình dạy học phải biết kết hợp với phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phát triển tư duy, tính tích cực và gây hứng thú trong học tập; từ đó từng bước nâng cao chất lượng học tập của các em, cho các em hiểu thế nào là bài toán hợp Trên cơ sở giải bài toán đơn mà hình thành các bước giải toán hợp Khi dạy giải toán có lời văn chủ yếu dạy học sinh biết cách giải toán, biết cách tìm lời giải phù hợp với vấn đề mà bài toán yêu cầu Giáo viên không nên làm thay hoặc

áp đặt cách giải hoặc chỉ cho học sinh làm mỗi phép tính để tìm kết quả Cố gắng

để tự học sinh tìm ra cách giải toán và lời giải phù hợp

Trang 10

II.2 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

"Một số biện pháp Rèn kĩ năng giải toán có lời văn ở lớp 3".

II.2.1: Thực trạng việc dạy và học giải toán có lời văn ở lớp 3.

- Giáo viên dạy:

+ Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học đã được phổ biến rộng rãi ở các trường tiểu học Đặc trưng chủ yếu của phương pháp dạy học mới là lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học Trong đó giáo viên là người tổ chức và hướng dẫn hoạt động của học sinh, giúp học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để tự chiếm lĩnh những tri thức, vận dụng những tri thức mới vào thực tiễn học tập và đời sống

+ Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy tôi thấy vẫn có nhiều giáo viên áp dụng cách dạy, phương pháp dạy học cũ Nội dung kiến thức các bài toán có lời văn được trình bày sẵn trong sách giáo khoa được giáo viên đem ra diễn giảng còn học sinh chủ yếu ghi nhớ thông tin và làm theo mẫu Như vậy giáo viên và học sinh đều phụ thuộc vào tài liệu có sẵn Sự phụ thuộc đó có thể thấy, với nội dung bài học có trong sách mà giáo viên không biết cách sử dụng như thế nào cho hợp lý theo kênh hình , kênh chữ được in ấn rất công phu phù hợp mà luôn luôn phải dựa vào sách hướng dẫn Mặt khác hầu hết các giáo viên lên lớp không sử dụng đồ dùng trực quan( sơ đồ, hình vẽ và tóm tắt) hoặc sử dụng không hiệu quả, khả năng hướng dẫn giải toán còn chung chung khó hiểu, khiến cho các em tiếp thu kiến thức rất khó khăn Giáo viên làm việc một cách máy móc nên học sinh ít có cơ hội để phát huy khả năng sáng tạo, khả năng tư duy của mình

- Học sinh học:

+ Từ việc dạy học theo kiểu áp đặt của thầy mà học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động như các quy tắc, các công thức mà thầy đưa ra, học sinh có

Trang 11

nhiệm vụ phải nhớ Học sinh không được chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập, sáng tạo và luôn luôn bị lệ thuộc vào người khác Chính vì vậy học sinh nắm kiến thức không chắc, không sâu, không hiểu được bản chất của vấn đề, chỉ biết áp dụng dập khuôn máy móc Do đó các bài toán chỉ hơi khác mẫu một chút là học sinh không làm được hoặc làm sai chính vì kiến thức do thầy áp đặt học sinh không tự mình chiếm lĩnh được nên rất chóng quên

+ Mặt khác, các bài toán có trong chương trình toán 3 được đưa ra rất nhiều dạng làm cho học sinh dễ nhầm lẫn hoặc khó phân biệt toán đó thuộc dạng nào Dễ dẫn đến giải toán sai

II.2.2 Đánh giá thực trạng

- Nguyên nhân chủ quan :

+ Vốn sống vốn hiểu biết của học sinh lớp 3 còn ít ỏi, các em chưa biết tự đặt câu hỏi , tư duy dựa vào điểm tựa mà giáo viên dẫn dắt, còn giáo viên chưa dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu bài dạy, còn ỷ lại sách hướng dẫn , đôi khi dạy mà chưa hiểu sâu vấn đề học sinh cần, vấn đề trọng tâm cần truyền thụ cho học sinh

+ Khả năng đọc hiểu của học sinh lớp 3 nói chung, học sinh dân tộc nói riêng còn nhiều hạn chế Học sinh còn ỷ vào sách hướng dẫn quá nhiều

- Nguyên nhân khách quan :

+ Chương trình sách giáo khoa còn nặng so với thực tế.loại toán có lời văn đưa ra rất nhiều dạng bài nên học sinh dễ nhầm lẫn hoặc khó phân biệt

+ Gia đình chưa quan tâm đến giờ tự học của con em mình, còn phó mặc cho giáo viên Chưa mua sắm đủ đồ dùng thiết bị cho con em mình học tập Gia đình còn gặp nhiều khó khăn trong việc giải thích những vướng mắc khi học sinh cần

Trang 12

- Tóm lại : Nếu dạy toán mà dừng lại ở những thực trạng trên thì kết quả không cao học sinh không phát huy được những khả năng tư duy, cách sử dụng ngôn ngữ toán học, khả năng phân tích tổng hợp và tính độc lập suy nghĩ của học sinh Giáo viên làm việc nhiều, chưa đống vai trò là người dẫn dắt để học sinh tự khám phá Học sinh tiếp thu bài một cách thụ động Tình trạng trên nếu kéo dài dễ dẫn đến tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp, giáo viên kém năng lực, không phát huy được tính sáng tạo những đòi hỏi ngày càng cao của học sinh và của chương trình sách giáo khoa mới, nhằm đạt mức chất lượng tối thiểu của từng lớp học, bậc họcKết luận chương II

Với nhiệm vụ của người nghiên cứu : khảo sát thực tế chất lượng dạy và học môn toán nói chung và giải toán có lời văn nói riêng, bám sát nội dung chương trình,nắm được yêu cầu chuẩn về kiến thức kỹ năng, từ đó rút ra được những kinh nghiệm và vận dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả phù hợp với đối tượng học sinh

Trang 13

-Về giáo viên:

+Tổng số: 34

+ Trình độ đại học: 10 đ/c

+ Trình độ cao đẳng: 24 đ/c

+ Giáo viên giỏi cấp Thành phố năm học 2008- 2009 là: 16 đ/c

* Đặc điểm của khối lớp 3 năm học: 2008 - 2009

- Độ tuổi đều 9 tuổi

- Học sinh khuyết tật : Không

Trang 14

- Hoàn cảnh : Gia đình công chức và buôn bán.

*Đặc điểm học sinh lớp 3 năm học 2007 - 2008

- Độ tuổi: Đều 09 tuổi

- Học sinh khuyết tật: Không

- Hoàn cảnh gia đình: Gia đình công chức và buôn bán

* Dự giờ điều tra việc dạy và học trên lớp

- Trong dạy học toán 3 phương pháp chủ yếu là dạy học nội dung sử học môn toán, bước đầu tổ chức cho các hoạt động học tập với các mô hình, hình vẽ cụ thể cho học sinh làm việc, phát hiện( với sự hỗ trợ của giáo viên) từ đó hình thành kiến thức mới cho học sinh

- Củng cố được thông qua các bài tập có gắn với hình ảnh trực quan

- Kiến thức kĩ năng được củng cố thông qua các bài tập với các số thuần tuý

mà không kèm theo các hình ảnh trực quan Lúc nào học sinh có thể làm trực tiếp với các số thuần tuý mà không phải dựa vào hình ảnh trực qua ban đầu

- Khi dạy giải toán có lời văn chủ yếu dạy học sinh biết cách giải bài toán Phương pháp giải toán, giáo viên gần như làm thay phần lời giải hoặc gợi ý, học sinh chỉ việc tìm ra phép tính và kết quả

Trang 15

- Phần tóm tắt bài toán hoàn toàn do giáo viên tự ghi; còn phần trình bày bài giải gần như chưa được quan tâm sâu sắc.

II.3.1.2 Giải pháp:

Một trong 4 mạch kiến thức ở môn toán là loại bài giải toán có lời văn Trong SGK Toán 3 có các bài toán dơn và các bài toán hợp được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức khác Vậy việc hướng dẫn học sinh giải các bài toán đơn và bài toán hợp như thế nào và khi hướng dẫn các loại toán đó ta cần lưu ý điều gì ?

Muốn học sinh giải toán một cách vững chắc thì điều trước tiên người giáo viên cần rèn năng lực giải toán qua bốn bước sau:

(1) Tìm hiểu nội dung bài toán: Ở phần này rèn kĩ năng đọ hiểu cho học sinh là điều rất quan trong nhất là đối với học sinh dân tộc khả năng hiểu nghĩa tiếng việt còn gặp nhiều khó khăn

Ở bước này mang tính chất gần như quyết định vì giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu vấn đề

+ Bài toán cho biết gì?

+ Bài toán hỏi gì?

Từ đó học sinh biết xác định cái đã biết và cái phải tìm

(2) Xây dựng chương trình giải

- Học sinh dựa trên bước (1) để tìm hướng giải quyết 1 ( Cần tìm điều gì trước)

- Hướng giải quyết 2 ( Bài toán hỏi gì)

(3) Thực hiện chương trình giải

- Học sinh biết trình bày bài giải theo yêu cầu của bào toán

(4) Thử lại hoặc tìm cách giải khác

Trang 16

- Học sinh kiểm tra lời giải: Đứng trọng tâm yêu cầu của bài chưa, phép tính

đã phù hợp với yêu cầu bài toán đã ra chưa?

- Sau khi đã làm đúng, so với yêu cầu thì còn cách giải nào khác ngắn hơn

Dạy các bài toán đơn:

Toán đơn: Là loại bài thể hiện một tình huống nêu lên mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm ( vì vậy khi hướng dẫn học sinh làm các bài toán đơn điều quan trọng nhất là phải giúp học sinh biết chọn được một phép tính thích hợp với tình huống đó Để làm rõ mối quan hệ này giáo viên dạy cho học sinh biết tóm tắt bài toán và sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để minh họa điều kiện của bài toán

Ví dụ 1: Bạn Bình và bạn Hoa sưu tầm được tất cả 335 con tem Trong đó bạn Bình

sưu tầm được 128 con tem Hỏi bạn Hoa sưu tầm được bao nhiêu con tem?

335 con tem

128 con ? con tem

Sơ đồ dạng này thường dùng trong trường hợp " tìm phần còn lại của một số: nhằm giúp học sinh chọn được phép trừ

- Đội 1 trồng được 230 cây, đội 2 trồng được nhiều hơn đội 1t 90 cây Hỏi đội

2 trồng được bao nhiêu cây?

Trang 17

Sơ đồ dạng này thường dùng trong bài toán về " nhiều hơn" (dạng trực tiếp tìm

số lớn) nhằm giúp học sinh chọn được phép tính cộng

Ví dụ 3: Một cửa hàng buổi sáng bán được 365 lít xăng, buổi chiều bán ít hơn

buổi sáng 128 lít xăng Hỏi buổi chiều cửa hàng đó bán được bao nhiêu lít xăng?

Ví dụ 4: Bao gạo cân nặng 50kg, bao ngô cân nặng 35 kh hỏi bao ngô nhẹ

hơn bao gạo bao nhiêu kg?

- Tìm một số khi biết số đó lớn hơn( hoặc bé hơn) số đã cho một số đơn vị

- Biết hai số: Tìm xem số này lớn hơn ( hoặc bé hơn) số kia bao nhiêu đơn vị

Trang 18

Ví dụ 5: Cửa hàng có 40 m vải xanh và đã bán được 1/5 số vải đó Hỏi cửa

hàng đã bán được mấy mét vải?

* Ví dụ 6: Năm nay em 6 tuổi, tuổi chị gấp hai lần tuổi em Hỏi chị năm nay

bao niêu tuổi?

* Ví dụ 7: Một công việc làm bằng tay hết 30 giờ, nếu làm bằng máy thì thời

gian giảm 3 lần Hỏi làm công việc đó bằng máy hết mấy giờ?

Tay:

Máy:

?giờ

Trang 19

Sơ đồ này thường dùng trong bài toán" tìm một số khi biết số đó bằng kết quả của số đã giảm đi một số lần, nhằm giúp học sinh chọn phép chia.

Nếu so sánh hình thức thì sơ đồ dạng này tương tụ sơ đồ ở ví dụ 5 Như vậy có thể hiểu rằng: tìm 1/5 của một số, hoặc giảm một số đi 5 lần là các tình huống khác nhau của cùng một cấu trúc toán học là phép chia thành 5 phần bằng nhau rồi tìm giá trị của một phần

Ví dụ 8: Đàn gà có 30 con gà mái và 6 con gà trống Hỏi số gà mái gấp mấy

Bài toán này cũng thường dùng sơ đồ minh hoạ như VD 8

- Việc tìm hiểu bài toán bằng cách vẽ sơ đồ minh hoạ là một trong những biện pháp nhằm giúp học sinh chọn được phép tính thích hợp; sau đó học sinh phải biết trình bày bài giải gồm: lời giải, phép tính, đáp số Lời giải là câu trả lời cho câu hỏi của bài toán

- Dạy giải các bài toán đơn có vai trò quan trọng đối với dạy giải toán hợp, vì thế cần giúp học sinh rèn luyện tó kỹ năng giải bài toán đơn, nhất là biết cách đặt câu hỏi cho bài toán đơn còn thiếu câu hỏi chẳng hạn, nếu bài toán theo tóm tắt sau rồi giải bài toán đó:

Trang 20

Bao gạo:

15 kgBao ngô:

- Học sinh có thể nêu thành bài toán:" Bao gạo nặng 27 kg, bao ngô nặng hơn bao gạo 15 kg Hỏi bao ngô cân nặng bao nhiêu kg?"

- Với cách dạy học như vậy, việc nêu cách dạy bài toán hợp có 2 phép tính sẽ thuận tiện và dễ dàng hơn chẳng hạn: Nêu bài toán theo tóm tắt sau rồi giải bài toán đó:

27 kgBao gạo:

Bao ngô:

- Học sinh có thể nêu thành bài toán" bao gạo cân nặng 27 kg, bao ngô nặng

15 kg Hỏi cả hai bao cân nặng bao nhiêu kg?

Những lưu ý khi dạy giải toán đơn:

- Mỗi bài toán đơn đều thể hiện một tình huống nêu lên mối quan hệ giữa cái

đã cho và cái phải tìm Vì vậy khi hướng dẫn học sinh làm các bài toán đơn thì điều quan trọng nhất là phải giúp học sinh biết chọn được một phép tính thích hợp với tình huống đó Để làm rõ mối quan hệ này người ta thường dạy cho học sinh biết cách tóm tắt bài toán ở lớp 3 thường sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để minh hoạ điều kiện của bài toán

Trang 21

Dạy giải các bài toán hợp:

Toán hợp: là loại bài giải hai phép tính( hai bước tính) mỗi bước tính là một bước giải toán đơn Kết quả phép tính ở bước thứ nhất là thành phần ở bước thứ hai Ta hướng dẫn học sinh như sau

(1) Phân tích bài toán:

- Đọc kỹ bài toán, nhất là điều kiện của bài toán và câu hỏi của bài toán

- Tách bài toán đã cho thành hai bài toán đơn bằng cách đặt câu hỏi phụ để lập bài toán đơn thứ nhất rồi chọn phép tính và thực hiện phép tính đó.Sau đó lập bài toán đơn thứ hai rồi chọn phép tính thực hiện phép tính đó

Ví dụ 1: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng

thứ nhất 6 lít dầu Hỏi thùng thứ hai đựng bao nhiêu lít dầu?

- Bước 1: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6 lít dầu Hỏi thùng thứ hai đựng bao nhiêu lít dầu?

- Học sinh chọn phép tính và thực hiện phép tính đó:

18 + 6 = 24 ( lít)

- Bước 2: thùng thứ nhất dựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng 24 lít dầu, hỏi

cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?

Ngày đăng: 02/12/2013, 09:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ dạng này thường dùng trong trường hợp " tìm phần còn lại của một số:  nhằm giúp học sinh chọn được phép trừ. - Tài liệu de tai phuong
Sơ đồ d ạng này thường dùng trong trường hợp " tìm phần còn lại của một số: nhằm giúp học sinh chọn được phép trừ (Trang 16)
Sơ đồ dạng này thường dùng trong bài toán" tìm một phần mấy của một số"  nhằm giúp học sinh chọn phép tính chia. - Tài liệu de tai phuong
Sơ đồ d ạng này thường dùng trong bài toán" tìm một phần mấy của một số" nhằm giúp học sinh chọn phép tính chia (Trang 18)
Sơ đồ tóm tắt: - Tài liệu de tai phuong
Sơ đồ t óm tắt: (Trang 30)
w