Rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa như nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng- gợi không k
Trang 1TIẾT I
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
2 Tác phẩm
2.1 Xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, đề tài, nguồn cảm hứng
2.2 Thể loại
2.3 Giá trị của tác phẩm
II Đọc hiểu văn bản
1 Hình tượng Sông Đà
1.1 Tính cách hung bạo, vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ
Chủ yếu thể hiện ở khúc thượng nguồn: lắm thác, nhiều ghềnh, độ dốc lớn, nước chảy xiết.
Vách đá: “dựng vách thành”, được đặc tả bằng một loạt các liên tưởng, so sánh cụ thể, độc đáo
Vách đá hẹp, sâu, dốc thẳng đứng, tạo cảm giác rợn lạnh Sông Đà không chỉ dữ dội về hình khối
mà còn dữ dội về âm thanh
- Âm thanh tiếng nước:
• Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi
nợ xuýt Thở và kêu như cửa cống cái bị sặc… Nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa như nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng- gợi không khí của một trận cuồng lửa, hủy diệt, dùng lửa để tả
nước – hai yếu tố vồn tương khắc, giờ lại hòa hợp để tương sinh một so sánh độc đáo, gợi cảm- nhấn mạnh đặc tính hủy diệt ghê gớm của Sông Đà
- Câu văn có kết cấu trùng điệp, liên hoàn, nhịp ngắn tạo giọng văn dồn dập, gấp gáp, căng thẳng, từ ngữ cực tả trạng thái dữ dội gợi ấn tượng hãi hùng, rùng rợn và sức tàn phá khủng khiếp
- Hút nước: • Giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu.
• Mặt giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh
• Cốc pha lê nước khổng lồ Từ đáy hút nước nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải Đặc tả hút nước Sông Đà: sâu, sáng, xanh trong thăm thẳm Kết hợp thủ pháp của văn học và thủ pháp của điện ảnh, truyền đến độc giả cảm giác chân thực, sống động như tận mắt chứng kiến, Sông Đà không chỉ hung bạo mà còn nên thơ
- Thạch trận: Thạch trận không chỉ có vẻ hung hãn, dữ dằn của vách đá, hút nước mà còn bộc lộ
bản chất nham hiểm, xảo quyệt Mặt sông Đà “cả một chân trời đá nó bày thạch trận trên sông đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngay trên sông đòi ăn chết cái thuyền” Với cách miêu tả mang cảm giác mạnh, nhà văn Nguyễn Tuân đã dựng nên một nét tính trội của sông Đà đó là rất dữ dội hung bạo nhưng đồng thời nó cũng rất sống động như một sinh thể sống Vì thế tác giả thường gọi
con sông Đà chứ ít gọi là dòng sông.
- Dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Tuân
Về nội dung: Qua vẻ đẹp hung bạo của Sông Đà, Nguyễn Tuân bộc lộ tình yêu đất nước say đắm
thiết tha của một người muốn dùng văn chương để ca ngợi vẻ đẹp kì vĩ hào hùng của thiên nhiên
Tây Bắc Đồng thời, cũng tạo nên bối cảnh không gian chuẩn bị cho sự xuất hiện của con người,
nhấn mạnh môi trường lao động đầy gian lao thử thách để ca ngợi con người Khắc họa bản chất Sông Đà: vừa “khắc nghiệt như dì ghẻ, chúa đất”, vừa hùng vĩ dữ dội để tạo ấn tượng về con sông mang diện mạo một kẻ thù số một, thách thức đối với con người, gợi ham muốn chinh phục, khám phá, chế ngự
Về nghệ thuật: Ngôn từ phong phú, sử dụng thuật ngữ, hệ từ vựng của nhiều ngành khoa học, nghệ thuật khác nhau (quân sự, võ thuật, thể thao…) để diễn tả tính chất cuộc đấu tranh giữa con người –
tự nhiên: quyết liệt, căng thẳng, một mất một còn Cảm xúc dạt dào, tinh tế
TIẾT 2
1.2 Vẻ đẹp nên thơ và trữ tình
Trang 2Tập trung ở khúc hạ lưu với dòng chảy êm, phẳng, rộng, tạo nét tính cách tương phản với sự hung bạo được miêu tả cụ thể, chân thực bằng rất nhiều hình ảnh gợi cảm
- Điểm nhìn động: theo thời gian (mùa); theo không gian (trên cao- xa); từ tư thế (ngồi thuyền- đi)
• Cảm nhận trên tư cách một “cố nhân”: Màu nắng tháng ba Đường thi là liên tưởng độc đáo khiến nắng sông Đà như ngậm thơ, ngậm họa Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng
• Ngồi trên thuyền: “như một tình nhân chưa quen biết”
- Dùng động để tả tĩnh (hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt, thuyền trôi, tiếng còi sương…),
đặc tả cái thanh tịnh tuyệt cùng của bờ bãi sông Đà
- Hình ảnh: đẹp, trong trẻo, thanh khiết, liên tưởng giàu chất thơ: Lá ngô non đầu mùa, cỏ gianh đồi núi ra những nõn búp, con nai thơ ngộ, áng cỏ sương, tất cả đều gợi vẻ tinh khôi, đọng hương sữa ngào ngạt, non tơ Tiếng còi sương là âm thanh trong tâm tưởng, dội về từ quá khứ, một chi tiết độc
đáo, diễn tả sâu sắc cái yên lặng khôn cùng của bờ sông, tĩnh đến mức người và vật giao cảm để lặng tìm âm thanh tự tâm hồn, tự thời gian thăm thẳm
- Bờ sông: Bờ sông không phải lúc nào cũng dựng vách thành mà nhiều quãng sông “bờ sông hoang
dại như thời tiền sử, bờ sông hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích”, “cảnh ven sông ở đây lặng lẽ như tờ, hình như đời Lí đời Trần đời Lê quãng sông này cũng lặng tờ thế thôi” .thời gian không xác định, không cụ thể nhưng giàu sức gợi, gợi về quá khứ, gợi trăm năm cổ tích, khơi lại những trầm tích
tâm hồn người Việt trong những trang viết cổ sơ Lấy những giá trị văn hóa truyền thống để so sánh là một cách để Nguyễn Tuân vĩnh viễn hóa cái đẹp của bờ bãi sông Đà.
- Trên bãi sông sự sống dâng tràn “cỏ gianh đầu núi đang ra nõn búp”, “nương ngô nhú mấy lá ngô non đầu mùa”, “một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương”- Sông Đà không chỉ có vẻ đẹp trữ tình của hình dáng, màu sắc mà còn có vẻ đẹp trữ tình của sức sống êm đềm sinh sôi Đối với Nguyễn Tuân sông Đà là một cố nhân và sẽ càng đẹp hơn trong khúc hát xây dựng tương lai
1.3 Tiểu kết
2 Hình tượng người lái đò
2.1 Khái quát
2.2 Tài năng, trí dũng
- Nắm chắc qui luật của thần sông thần đá.
- Thuộc qui luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở Hé mở vấn đề mang ý vị triết học sâu xa:
trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù bốn chân, con người am hiểu và làm chủ quy luật
là con người tự do, dẫu đó là quy luật đầy khắc nghiệt, chỉ cần một chút lơi tay, do dự và mất bình tĩnh là có thể trả giá bằng cái chết
- Giao tranh với thạch trận: Bút pháp tương phản dựng lên cuộc tranh chấp quyết liệt, gay gắt, căng
thẳng trên thạch trận Sông Đà
- Một ông đò và sáu tay chèo, lực lượng ít ỏi, cạn kiệt sức lực Như một đại tướng lão luyện, dày dạn kinh nghiệm trận mạc, ông đò bình tĩnh tiến vào trận địa, lần lượt vượt qua từng trùng vây:
- Vượt trùng vây thứ nhất:
• Hai tay giữ mái chèo
• Cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch
• Chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo
- Vượt trùng vây thứ hai:
Không một chút nghỉ tay nghỉ mắt
Nắm chặt lấy cái bờm sóng đúng luồng, ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vòa cửa sinh, lái miết một đường chéo về phía cửa đá Những động tác thành thạo, chính xác, dũng mãnh trong từng động tác
- Vượt trùng vây thứ ba:
• Phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa
• Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép Hành động dũng cảm, động tác nhanh gọn, dứt khoát
Trang 3Nhận xét
2.3 Tiểu kết
TIẾT 3
Đề 1: Đọc hiểu.
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
…Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng Tới cái thác rồi Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả chân trời đá Đá
ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn
nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này (Trích Tuỳ bút Sông Đà-Nguyễn Tuân)
1 Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?
2 Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
3 Trong đoạn văn trên, Nguyễn Tuân sử dụng nhiều biện pháp tu từ về từ Xác định biểu hiện các phép tu từ đó và nêu tác dụng của hình thức nghệ thuật này là gì ?
4 Đoạn văn bản trên Nguyễn Tuân đã sử dụng tổng hợp tri thức của những ngành nào ? Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng đó là gì ?
Đề 2: Anh hoặc chị hãy phân tích nhân vật người lái đò trong trích đoạn tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân So sánh nhân vật người lái đò với nhân vật Huấn Cao (Chữ người
tử tù) để thấy chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945.
1 Phân tích nhân vật người lái đò sông Đà
1.1 Vài nét về hình ảnh con sông Đà: Sông Đà hiện lên thật hung dữ nhưng cũng không kém phần thơ mộng, trữ tình là cái nền để người lái đò xuất hiện
1.2 Nhân vật người lái đò sông Đà:
a Ông lái đò có ngoại hình và những tố chất khá đặc biệt
b Ông lái đò là người tài trí, luôn có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ:
c Ông lái đò rất mực dũng cảm trong những chuyến vượt thác đầy nguy hiểm:
d Ông lái đò là một hình tượng đẹp về người lao động mới Qua hình tượng này, Nguyễn Tuân muốn phát biểu quan niệm: người anh hùng không phải chỉ có trong chiến đấu mà còn có cả trong cuộc sống lao động thường ngày Ông lái đò chính là một người anh hùng như thế
2 So sánh với nhân vật Huấn Cao
2.1 Nhân vật Huấn Cao
a Nhân vật Huấn Cao trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là một con người tài hoa, khí phách hiên ngang bất khuất, “thiên lương” trong sáng
b Vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao là vẻ đẹp lãng mạn, có sức chinh phục, cảm hóa mãnh liệt đối với những con người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”
c Hình tượng ông Huấn Cao là hình tượng điển hình cho vẻ đẹp “vang bóng một thời” nay đã lùi vào quá khứ chỉ còn dư âm trong tâm trạng của những tấm lòng tích cổ thương kim (Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ- Vũ Đình Liên)
2.2 Từ việc tìm hiểu vài nét về vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao, chúng ta sẽ dễ thấy được chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám
a- Nét chung (tính thống nhất)
- Nguyễn Tuân vẫn tiếp cận con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ
- Vẫn là ngòi bút tài hoa, uyên bác, lịch lãm, vận dụng tri thức tổng hợp của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau trong miêu tả và biểu hiện
Trang 4- Vẫn sử dụng vốn ngụn từ hết sức tinh lọc, phong phỳ, độc đỏo Khả năng tổ chức cõu văn xuụi đầy giỏ trị tạo hỡnh, cú nhạc điệu trầm bổng, biết co duỗi nhịp nhàng Cỏc phộp tu từ được nhà văn phối hợp vụ cựng điờu luyện
b- Nột riờng (tớnh khỏc biệt)
- Trước Cỏch mạng thỏng Tỏm, con người Nguyễn Tuõn hướng tới và ca ngợi là những “con người đặc tuyển, những tớnh cỏch phi thường” Sau Cỏch mạng thỏng Tỏm, nhõn vật tài hoa nghệ sĩ của Nguyễn Tuõn cú thể tỡm thấy ngay trong cuộc chiến đấu, lao động hàng ngày của nhõn dõn
- Trước Cỏch mạng thỏng Tỏm, Nguyễn Tuõn là một người tài tử, thớch chơi “ngụng”, mắc bệnh ham mờ thanh sắc, thớch chiờm ngưỡng, chắt chiu cỏi Đẹp và nhấm nhỏp những cảm giỏc mới lạ Sau Cỏch mạng thỏng Tỏm, nhà văn nhạy cảm với con người mới, cuộc sống mới từ gúc độ thẩm mĩ của nú Nhưng khụng cũn là một Nguyễn Tuõn “nghệ thuật vị nghệ thuật” nữa ễng đó nhỡn cỏi đẹp của con người là cỏi đẹp gắn với nhõn dõn lao động, với cuộc sống đang nẩy nở sinh sụi, đồng thời lờn ỏn, tố cỏo chế độ cũ, khẳng định bản chất nhõn văn của chế độ mới
Đề 3: Cảm nhận của anh chị về dấu ấn cỏi tụi Nguyễn Tuõn trong “Người lỏi đũ Sụng Đà” I/ Mở bài
II/ Thõn bài
1 Trước hết, đú là cỏi tụi của một trớ thức giàu lũng yờu nước và tinh thần dõn tộc
2 Nổi bật nhất trong thiờn tuỳ bỳt là hỡnh búng của một cỏi tụi cú ý thức cỏ nhõn phỏt triển rất cao
3 Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân còn ở phong cách tài hoa uyên bác.
4 Một cỏi tụi linh hoạt, năng động, vừa giữ vai trũ người trần thuật trực tiếp, vừa mạnh dạn phơi trải cảm xỳc, khụng chỉ thu nạp cuộc sống mà lắng lọc nú qua tõm hồn mỡnh, nối liền thế giới bờn ngoài với thế giới bờn trong tạo nờn những trang văn đặc sắc.
III/ Kết luận:
- Sức hấp dẫn của tựy bỳt xột đến cựng là sự hấp dẫn của cỏi tụi- người cầm bỳt
- Qua đõy, người đọc cú thể thấy chõn dung của một cỏi tụi tài hoa, uyờn bỏc mà mỗi con chữ không chỉ là lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn,
đó là tấm lòng của nhà văn đối với đất nớc, con ngời Chính tấm lòng yêu con ngời, yêu đất nớc góp phần làm nên những trang văn thật tài hoa của Nguyễn Tuân: “Nói chuyện với ngời lái đò sông Đà nh càng lai láng thêm cái lòng muốn
đề thơ vào sông nớc" (Lời tác giả)