1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chuan Kien ThucKy Nang

14 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 414,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai đoạn này yêu cầu HS phải sử dụng các kỹ năng sản sinh (receptive skills) như nói hoặc viết để đưa ra tóm tắt, tổng kết các thông tin hoặc vấn đề vừa nghe hay đọc được, nêu quan điể[r]

Trang 1

TẬP HUẤN ANH VĂN (12-THÁNG 9-2010) ~ 1

TÀI LIỆU TẬP HUẤN MÔN ANH VĂN THPT

Ngày Chủ Nhật, 12 – 9 – 2010

CHUẨN KIẾN THỨC – KỸ NĂNG

1 Nguyên tắc chung

- Chuẩn KT-KN là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà học sinh cần phải và có

thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức

- Phải xác định được mục tiêu của bài dạy, tức là xác định được chuẩn KT-KN cụ thể trong bài dạy Hiểu được điều đó, giáo viên mới có thể chủ động xác định được chuẩn kiến thức, trả lời câu hỏi “dạy cái gì” cho phù hợp với từng trường, từng lớp, từng đối tượng học sinh

* Để việc sử dụng tài liệu chuẩn KT-KN có hiệu quả cần tuân thủ những nguyên tắc như sau:

- Căn cứ vào tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT-KN để xác định mục tiêu bài học, đối chiếu giữa tài liệu

Hướng dẫn Chuẩn KT-KN với SGK để xác định kiến thức nào là kiến thức cơ bản, trọng tâm, đồng thời xác định những kĩ năng cần hình thành cho học sinh

- Bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng để thiết kế bài giảng nhằm đạt được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng Không quá tải và quá lệ thuộc hoàn toàn vào SGK, không cố dạy hết toàn bộ nội dung SGK; việc khai thác sâu kiến thức trong SGK phải phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh

- Vận dụng sáng tạo, linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự giác học tập của học sinh Cần chú trọng rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo niền vui, hứng khởi nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh

- Cần linh hoạt hơn, tổ chức các hoạt động học tập phù hợp với đối tượng học sinh Tùy theo trình độ nhận thức của HS, điều kiện dạy học khác nhau để dạy học linh hoạt, hoặc bám sát chuẩn tối thiểu (hướng dẫn) hoặc dạy ở mức độ cao hơn nhưng vẫn nằm trong chương trình

- Thiết kế và hướng dẫn HS trao đổi, trả lời các câu hỏi, bài tập nhằm nắm vững, hiểu được những yêu về kiến thức, kĩ năng qua đó phát triển tư duy và rèn luyện các kĩ năng thực hành của học sinh

- Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học nhằm tạo sự hứng thú cho HS đối với học tập bộ môn qua đó giúp HS nắm vững và đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình Giáo dục phổ thông

- Chú trọng việc sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học, đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học một cách hợp lí

- Cần lưu ý dạy học bám sát Chuẩn tối thiểu không có nghĩa là cắt xén, lược bỏ kiến thức trong Chương trình Giữa các đối tượng HS khác nhau chỉ áp dụng nội dung dạy học khác nhau về mức độ

2 Đối với cấp THPT, cần chú ý những nguyên tắc sau trong quá trình dạy học:

- Phát triển kĩ năng giao tiếp Các kiến thức ngôn ngữ được xem là phương tiện chứ không phải là đích cuối cùng của quá trình học tập

- Các hoạt động học tập phát huy đến mức tối đa sự tham gia của học sinh Nội dung kiến thức của các SGK được chuyển tải qua một hệ thống các bài luyện kĩ năng ngôn ngữ đi kèm với các bài tập luyện theo cách thức thực hiện các nhiệm vụ học tập (Task based)

- Các nhiệm vụ học tập đa dạng và các tình huống mang tính giao tiếp cao nhằm tạo điều kiện cho người học được tham gia một cách tích cực để hoàn thành mục tiêu của bài học

- Phối hợp các kĩ năng trong các giờ dạy Tuy nhiên sự phối hợp các kĩ năng cũng cần tính đến trình độ của học sinh, điều kiện môi trường học tập và thời lượng cho phép

- Chú trọng đến quá trình học tập, quá trình tiếp thu kiến thức mới được đánh giá cao hơn là kết quả cuối cùng

- Tăng cường các loại hình Kiểm tra đánh giá kết quả học tập: trình bày, bài tập lớn, dự án nhỏ,

- Tăng cường sử dụng có hiệu quả các thiết bị, phương tiện và đồ dùng hỗ trợ dạy học

Trang 2

DẠY HỌC TÍCH CỰC

Định nghĩa/khái niệm

DHTC là những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

DHTC hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học

DHTC tạo cơ hội cho người học được giao tiếp, tương tác, hợp tác tới mức tối đa với giáo viên, với các bạn cùng học với các loại hình học liệu của môn học và các tài liệu tham khảo từ nhiều nguồn Đặc biệt là việc tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học thông qua các hoạt động học tập trong nhóm nhỏ, thảo luận, đóng vai, nghiên cứu, dự án, khảo sát học từ thực tế,

Đặc trưng của dạ học tích cực

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Dạy học cổ truyền Các mô hình DHTC

Quan

niệm

Học là qúa trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức,

kĩ năng, tư tưởng, tình cảm

Học là qúa trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin,… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất

Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và

chứng minh chân lí của GV

Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Dạy HS cách tìm ra chân lí

Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ

năng, kĩ xảo Học để đối phó với thi cử Sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến

Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho

sự phát triển xã hội

Nội dung Từ sách giáo khoa + giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV, các tài liệu khoa

học phù hợp, thí nghiệm, internet, thực tế…: gắn với: vốn hiểu biết, nhu cầu, kinh nghiệm của HS, Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương Phương

pháp

PP diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều

PP tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác, hợp tác

Hình thức

tổ chức

Cố định: Giới hạn trong 4 bức tường của lớp học, giáo viên đối diện với cả lớp

Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở phòng thí nghiệm,

ở hiện trường, trong thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với GV

Một số kĩ thuật dạ học tích cực sử dụng trong dạ học môn tiếng Anh

1 Động não

2 Động não viết

Trang 3

TẬP HUẤN ANH VĂN (12-THÁNG 9-2010) ~ 3

3 Động não không công khai

4 Kỹ thuật XYZ

5 Kỹ thuật "bể cá"

6 Kỹ thuật “ổ bi"

7 Tranh luận ủng hộ – phản đối

8 Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học

- Kỹ thuật tia chớp

- Kỹ thuật "3 lần 3“

- Lược đồ tư duy

- FACT or OPINION

- ODD ONE OUT

- MEMORY GAME

1 Động Não

Khái niệm

Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của

các thành viên trong thảo luận Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra "cơn lốc" các ý tưởng) Kỹ thuật động não do Alex Osborn (Mỹ) phát triển, dựa trên một kỹ thuật truyền thống từ Ấn độ

2 Động Não Viết

Khái niệm

Động não viết là một hình thức biến đổi của động não Trong động não viết thì những ý tưởng không được trình bày miệng mà được từng thành viên tham gia trình bày ý kiến bằng cách viết trên giấy về một chủ đề

Trong động não viết , các HS sẽ giao tiếp với nhau bằng chữ viết Các HS đặt trước mình một vài tờ giấy chung, trên đó ghi chủ đề ở dạng dòng tiêu đề hoặc ở giữa tờ giấy Các HS thay nhau ghi ra giấy những gì mình nghĩ về chủ đề đó, trong im lặng tuyệt đối Trong khi đó, các HS xem các dòng ghi của nhau và cùng lập

ra một bài viết chung Bằng cách đó có thể hình thành những câu chuyện trọn vẹn hoặc chỉ là bản thu thập các

từ khóa Các HS luyện tập có thể thực hiện các cuộc nói chuyện bằng giấy bút cả khi làm bài trong nhóm Sản phẩm có thể có dạng một bản đồ trí tuệ

Cách thực hiện

• Đặt trên bàn 1-2 tờ giấy để ghi các ý tưởng, đề xuất của các thành viên;

• Mỗi một thành viên viết những ý nghĩ của mình trên các tờ giấy đó;

• Có thể tham khảo các ý kiến khác đã ghi trên giấy của các thành viên khác để tiếp tục phát triển ý nghĩ;

• Sau khi thu thập xong ý tưởng thì đánh giá các ý tưởng trong nhóm

Ưu điểm

• Ưu điểm của phương pháp này là có thể huy động sự tham gia của tất cả HS trong nhóm

•Tạo sự yên tĩnh trong lớp học

• Động não viết tạo ra mức độ tập trung cao Vì những HS tham gia sẽ trình bày những suy nghĩ của mình bằng chữ viết nên có sự chú ý cao hơn so với các cuộc nói chuyện bình thường bằng miệng

• Các HS đối tác cùng hoạt động với nhau mà không sử dụng lời nói Bằng cách đó, thảo luận viết tạo ra một dạng tương tác xã hội đặc biệt

• Những ý kiến đóng góp trong cuộc nói chuyện bằng giấy bút thường được suy nghĩ đặc biệt kỹ

Nhược điểm

• Có thể HS sa vào những ý kiến tản mạn, xa đề;

• Do được tham khảo ý kiến của nhau, có thể một số HS ít có sự độc lập

Trang 4

3 Động não không côn khai

• Động não không công khai cũng là một hình thức của động não viết Mỗi một thành viên viết những ý nghĩ của mình về cách giải quyết vấn đề, nhưng chưa công khai, sau đó nhóm mới thảo luận chung về các ý kiến hoặc tiếp tục phát triển

• Ưu điểm: mỗi thành viên có thể trình bày ý kiến cá nhân của mình mà không bị ảnh hưởng bởi các ý kiến

khác

• Nhược điểm: không nhận được gợi ý từ những ý kiến của người khác trong việc viết ý kiến riêng

4 Kỹ Thuật XYZ

Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận nhóm X là số người trong nhóm, Y

là số ý kiến mỗi người cần đưa ra, Z là phút dành cho mỗi người Ví dụ kỹ thuật 635 thực hiện như sau:

• Mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến trên một tờ giấy trong vòng 5 phút về cách giải quyết 1 vấn đề

và tiếp tục chuyển cho người bên cạnh;

• Tiếp tục như vậy cho đến khi tất cả mọi người đều viết ý kiến của mình, có thể lặp lại vòng khác;

• Con số X-Y-Z có thể thay đổi;

• Sau khi thu thập ý kiến thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến

5 Kỹ Thuật Bể Cá

Khái niệm

Kỹ thuật bể cá là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm HS ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn những HS khác trong lớp ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận

Cách thực hiện

Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi HS tham gia nhóm quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận, ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc phát biểu

ý kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm Cách luyện tập này được gọi là phương pháp thảo luận "bể cá", vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người thảo luận, tương tự như xem những con cá trong một bể cá cảnh Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi vai trò với nhau

6 Kỹ Thuật Ổ Bi

Khái niệm

Kỹ thuật "ổ bi" là một kỹ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó HS chia thành hai nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi và đối diện nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có thể nói chuyện với lần lượt các HS ở nhóm khác

Cách thực hiện:

• Khi thảo luận, mỗi HS ở vòng trong sẽ trao đổi với HS đối diện ở vòng ngoài, đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác;

• Sau một ít phút thì HS vòng ngoài ngồi yên, HS vòng trong chuyển chỗ theo chiều kim đồng hồ, tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm đối tác mới

7 Tranh Luận Ủng Hộ-Phản Đối

Khái niệm

Tranh luận ủng hộ – phản đối (tranh luận chia phe) là một kỹ thuật dùng trong thảo luận, trong đó đề cập về một chủ đề có chứa đựng xung đột Những ý kiến khác nhau và những ý kiến đối lập được đưa ra tranh luận

Trang 5

TẬP HUẤN ANH VĂN (12-THÁNG 9-2010) ~ 5

nhằm mục đích xem xét chủ đề dưới nhiều góc độ khác nhau Mục tiêu của tranh luận không phải là nhằm

"đánh bại" ý kiến đối lập mà nhằm xem xét chủ đề dưới nhiều phương diện khác nhau

Cách thực hiện:

• Các thành viên được chia thành hai nhóm theo hai hướng ý kiến đối lập nhau về một luận điểm cần tranh luận Việc chia nhóm có thể theo nguyên tắc ngẫu nhiên hoặc theo nguyên vọng của các thành viên muốn đứng trong nhóm ủng hộ hay phản đối

• Một nhóm cần thu thập những lập luận ủng hộ, còn nhóm đối lập thu thập những luận cứ phản đối đối với luận điểm tranh luận

• Sau khi các nhóm đã thu thập luận cứ thì bắt đầu thảo luận thông qua đại diện của hai nhóm Mỗi nhóm trình bày một lập luận của mình: Nhóm ủng hộ đưa ra một lập luận ủng hộ, tiếp đó nhóm phản đối đưa ra một

ý kiến phản đối và cứ tiếp tục như vậy Nếu mỗi nhóm nhỏ hơn 6 người thì không cần đại diện mà mọi thành viên có thể trình bày lập luận

• Sau khi các lập luận đã đưa ra thì tiếp theo là giai đoạn thảo luận chung và đánh giá, kết luận thảo luận

8 Th ng tin phản hồi trong quá trình dạ học

Khái niệm

Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học là GV và HS cùng nhận xét, đánh giá, đưa ra ý kiến đối với những yếu tố cụ thể có ảnh hưởng tới quá trình học tập nhằm mục đích là điều chỉnh, hợp lí hoá quá trình dạy và học

Đặc điểm của việc đưa ra thông tin phản hồi tích cực

• Có sự cảm thông;

• Có kiểm soát;

• Được người nghe chờ đợi;

• Cụ thể;

• Không nhận xét về giá trị;

• Đúng lúc;

• Có thể biến thành hành động;

• Cùng thảo luận, khách quan

Những quy tắc trong việc đưa thông tin phản hồi

• Diễn đạt ý kiến một cách đơn giản và có trình tự (không nói quá nhiều);

• Cố gắng hiểu được những suy tư, tình cảm (không vội vã);

• Tìm hiểu các vấn đề cũng như nguyên nhân của chúng;

• Giải thích những quan điểm không đồng nhất;

• Chấp nhận cách thức đánh giá của người khác;

• Chỉ tập trung vào những vấn đề có thể giải quyết được trong thời điểm thực tế;

• Coi cuộc trao đổi là cơ hội để tiếp tục cải tiến;

• Chỉ ra các khả năng để lựa chọn

Có nhiều kỹ thuật khác nhau trong việc thu nhận thông tin phản hồi trong dạy học

Ngoài việc sử dụng các phiếu đánh giá, sau đây là một số kỹ thuật có thể áp dụng trong dạy học nói chung và trong thu nhận thông tin phản hồi

8.1 Kỹ T uật Tia Chớp

Khái niệm

Kỹ thuật tia chớp là một kỹ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp) ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề

Quy tắc thực hiện:

• Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị;

• Lần lượt từng người nói suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thoả thuận, ví dụ: Hiện tại tôi có hứng

thú với chủ đề thảo luận không?

Trang 6

• Mỗi người chỉ nói ngắn gọn 1-2 câu ý kiến của mình;

• Chỉ thảo luận khi tất cả đã nói xong ý kiến

8.2 Kỹ T uật “3 Lần 3”

Kỹ thuật "3 lần 3" là một kỹ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự tham gia tích cực của HS Cách làm như sau:

• HS được yêu cầu cho ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó (nội dung buổi thảo luận, phương pháp tiến hành thảo luận )

• Mỗi người cần viết ra:

- 3 điều tốt;

- 3 điều chưa tốt;

- 3 đề nghị cải tiến

• Sau khi thu thập ý kiến thì xử lý và thảo luận về các ý kiến phản hồi

8.3 Lược Đồ Tư Duy

Khái niệm

Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính

Cách làm

• Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề

• Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh

• Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường

• Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

Ứng dụng của lược đồ tư duy

Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khac nhau như:

• Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;

• Trình bày tổng quan một chủ đề;

• Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;

• Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;

• Ghi chép khi nghe bài giảng

Ưu điểm của lược đồ tư duy

• Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu

• Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng

• Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại

• Hoc sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng

A Tổ chức dạ học theo ch ẩn kiến thức k năng của môn học đối với cấp THPT

1 Quan hệ giữa Chuẩn kiến thức, kỹ năng, SGK và Chương trình GDPT môn Tiếng Anh

- Dạy theo chuẩn KT-KN là một phần của Chương trình GDPT đảm bảo việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn sẽ tạo nên sự thống nhất; làm hạn chế tình trạng dạy học quá tải, góp phần làm giảm tiêu cực của dạy thêm, học thêm; tạo điều kiện cơ bản, quan trọng để tổ chức kiểm tra, đánh giá theo chuẩn

- Chuẩn KT-KN là căn cứ để hướng dẫn dạy học, kiểm tra, đánh giá, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giỏ

Trang 7

TẬP HUẤN ANH VĂN (12-THÁNG 9-2010) ~ 7

- Dạy học cho HS đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng là đạt được các yêu cầu cơ bản và

tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, đảm bảo không quá tải và không quá lệ thuộc hoàn toàn vào SGK; mức độ khai thác sâu kiến thức, kỹ năng trong SGK phải phù hợp với khả năng tiếp thu của HS, rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS

2 Sử dụng Chuẩn KT-KN để xác định mục tiêu tiết dạy

Chuẩn kiến thức, kĩ năng trình bày trong Chương trình GDPT có tính khái quát theo từng chủ điểm, đó là mục tiêu cần đạt được sau thời gian học hết chủ điểm (Theme)

Cần lưu ý một số điểm khi xác định mục tiêu giờ học như:

- Trước đây, mục tiêu giờ lên lớp nhấn mạnh đến điều GV cần thực hiện trong một giờ học

- Giáo học pháp hiện đại, mục tiêu giờ học là điều HS phải thực hiện và đạt được sau một giờ học tập trên lớp

- Mục tiêu của giờ lên lớp cần nhằm vào các kĩ năng cụ thể tương ứng với các mục của mỗi đơn vị bài học trong SGK chứ không tập trung vào các kiến thức ngôn ngữ

E.g Mục tiêu rèn luyện kĩ năng đọc hiểu (đọc lướt, đọc chi tiết, ) khi dạy mục A, rèn luyện kĩ năng nói khi dạy

mục B, rèn luyện kĩ năng nghe khi dạy mục C, rèn luyện kĩ năng viết khi dạy mục D và luyện phát âm và thực hành các bài tập về ngữ pháp (và từ vựng) khi dạy mục E

3 Lựa chọn nội dung KT-KN

- GV có thể căn cứ vào trình độ học sinh cụ thể của lớp mình mà điều chỉnh tăng hoặc giảm, hoặc thay thế các bài tập cho phù hợp đối tượng học sinh

- Để Phát triển kĩ năng giao tiếp Các kiến thức ngôn ngữ được xem là phương tiện chứ không phải là đích cuối cùng của quá trình học tập

Khi lựa chọn nội dung ngôn ngữ cho giờ lên lớp, cần lưu ý một số điểm sau:

- Những kiến thức ngôn ngữ một mặt đóng vai trò then chốt cho việc hiểu các thông tin của bài mặt khác những kiến thức ngôn ngữ đó HS phải sử dụng trong luyện tập các kĩ năng như nghe, nói, đọc, viết

- Số lượng âm, từ, ngữ pháp đề cập trong mỗi giờ học nhiều hay ít tùy thuộc vào trình độ của học sinh Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp do phải tập trung rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ, GV không nhất thiết phải giới thiệu nhiều từ và cấu trúc mới vì chúng có thể được hiểu trong ngữ cảnh hoặc để phát triển khả năng đoán từ của học sinh

B Tổ chức dạ học theo chuẩn kiến thức k năng của môn học

1 Các kĩ thuật dạy học tich cực sử dụng trong dạy các kỹ năng tiếp nhận (receptive skills): nghe và đọc

Ba giai đoạn trong một bài dạy kỹ năng tiếp nhận thông tin là:

- Trước khi nghe (đọc)

- Trong khi nghe (đọc)

- Sau khi nghe (đọc)

Ở mỗi giai đoạn, GV có thể sử dụng những kĩ thuật khác nhau Có một số thủ thuật có thể sử dụng ở các giai đoạn

Các kĩ thuật sử dụng trong giai đoạn 1:

trước khi nghe /đọc - the pre- stage

GV gợi mở cho HS chia sẻ với nhau hoặc GV cung cấp cho HS một số kiến thức văn hóa nền, dạy trước một số

từ, cấu trúc hoặc cách phát âm khó, v.v

Trang 8

Các kĩ thuật dạy học tích cực sử dụng trong giai đoạn này bao gồm:

● Hoạt động tiên đoán tự do (open prediction): GV chỉ nêu lên chủ đề của bài nghe (đọc) và cho HS cả lớp tự

do đoán xem nội dung của bài đọc sẽ như thế nào

e.g GV nói "Today you are going to read a text about ways of socializing Now make some guesses about the

text." và để HS đoán xem họ sẽ được đọc về những cách thức giao tiếp nào, v.v Để gây hứng thú cho HS, GV có

thể giới thiệu chủ đề của bài bằng tranh ảnh, hoặc những vật dụng thực, v.v

● Đoán xem các nhận định về bài đọc đúng hay sai (true/false statements prediction): GV đưa ra một số

nhận định về nội dung chính của của bài, trong đó có một số câu đúng, một số câu sai HS đoán xem câu nào đúng, câu nào sai (có thể thảo luận nhóm/cặp, so sánh câu trả lời)

● Sắp đặt trật tự câu, ý hoặc tranh vẽ (ordering): GV cho HS xem một số bức tranh hoặc đọc một số câu và

yêu cầu họ sắp xếp chúng theo trật tự đúng Hoạt động này thường dùng khi bài nghe /đọc là một câu chuyện, hoặc về kết quả và nguyên nhân, hay về một quy trình nào đó, v.v

● Trả lời câu hỏi (pre-questions): GV đặt một số câu hỏi về chủ đề bài nghe /đọc, HS vận dụng những kiến

thức đã có sẵn của mình để trả lời các câu hỏi đó

● Bài tập từ vựng : gợi ý cho HS nhớ lại những từ đã học có liên quan đến chủ đề sắp nghe /đọc Gợi mở để

giúp HS xây dựng„mạng lưới‟ từ vựng liên quan đến chủ đề bài nghe/ đọc, trong đó có những từ mới và khó

mà họ sẽ gặp trong bài nghe /đọc Để gây hứng thú cho HS, GV nên sử dụng một số thủ thuật ôn luyện từ

vựng như ô vuông từ vựng (word square), hay noughts and crosses, wordstorm, cross word, puzzle words,

word chain: v.v giúp HS hiểu các khái niệm khó hoặc kiến thức văn hoá (nếu có trong bài) Chú ý: GV nên có

những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt giúp HS suy nghĩ và tự tìm ra câu trả lời

Một Số điều Giáo Viên Cần Lưu Ý

● Để tạo không khí sôi nổi khi bắt đầu bài học, nên cho HS làm việc theo nhóm/cặp, sau đó so sánh câu trả lời, hoặc dùng hoạt động „động não‟ (brainstorming) với cả lớp

● Trong tất cả các hoạt động trước đọc, GV nên tăng cường khuyến khích, gợi mở cho HS suy đoán và thực hiện yêu cầu bài tập chứ không đưa ra câu trả lời đúng HS sẽ phải tìm câu trả lời đúng khi nghe /đọc bài

● Có thể sử dụng một hoặc hai thủ thuật trong một bài học, nên thay đổi các thủ thuật trong các bài khác nhau

để cho bài học hấp dẫn hơn, tránh lối mòn, nhàm chán

Các kĩ thuật sử dụng trong giai đoạn 2:

trong khi nghe /đọc - the while/through- stage Một số dạng bài tập và kĩ thuật dạy học tích cực sử dụng trong giai đoạn 2 bao gồm:

- Đúng/sai (True/ False)

- Đa lựa chọn (Multiple Choice)

- Điền vào chỗ trống (Gaps-Fill)

- Biểu bảng (Grids)

- Hoàn thành câu (Sentence Completion)

- Tìm ý chính (Main Idea)

- Đặt câu hỏi cho câu trả lời có sẵn (Answers Given)

- Khớp câu hoặc ý (Matching)

Giáo Viên Cần Lưu Ý

Nên để một khoảng thời gian xác định cho HS hoàn thành bài tập, sau đó có thể cho HS so sánh đáp án

GV cần phải rèn luyện cho HS kỹ năng đoán nghĩa của từ mới thông qua ngữ cảnh Tuy nhiên nếu bài có

nhiều từ mới không nên để HS phải đoán nghĩa tất cả các từ đó, dễ gây hoang mang, lúng túng cho HS

Trang 9

TẬP HUẤN ANH VĂN (12-THÁNG 9-2010) ~ 9

Kỹ năng nghe thường được coi là khó hơn do HS phụ thuộc hoàn toàn vào tốc độ của băng cassette hoặc

GV Lần thứ nhất, thứ hai nên cho HS nghe cả bài để họ nắm được ý chung cũng như bố cục cả bài và làm bài tập, sau đó nếu HS thấy khó thì mới cho nghe lại từng đoạn, dừng lại sau những chỗ khó Nên hạn chế cho HS nghe từng câu một, vì làm như vậy sẽ khiến HS có thói quen không tốt là phải hiểu nghĩa từng từ, từng câu khi nghe

Các kĩ thuật sử dụng trong giai đoạn 3:

sau khi nghe /đọc - the post- stage

Trong giai đoạn này HS sử dụng những thông tin đã đọc được hoặc nghe được để làm một việc gì đó có nghĩa với thông tin đó

Giai đoạn này yêu cầu HS phải sử dụng các kỹ năng sản sinh (receptive skills) như nói hoặc viết để đưa ra tóm tắt, tổng kết các thông tin hoặc vấn đề vừa nghe hay đọc được, nêu quan điểm của mình về các vấn đề đó, hoặc kể về những kinh nghiệm bản thân tương tự với những điều vừa nghe hoặc đọc được

- Tóm tắt bài nghe /đọc (summarizing): là hoạt động phổ biến sau đọc, vừa củng cố việc hiểu nghĩa của bài

vừa giúp HS luyện tập sử dụng những kiến thức và ngôn ngữ vừa học được trong bài GV cần hướng dẫn tỉ mỉ

Có thể đưa ra một số từ gợi ý để HS dùng những từ đó mà viết tóm tắt; hoặc viết các từ đầu câu để HS chỉ việc hoàn thành các câu đó; hoặc cho một số câu hỏi về những ý chính trong bài, HS viết tóm tắt bằng cách trả lời các câu hỏi đó, v.v hoạt động tóm tắt cũng có thể thực hiện qua nói

- Thảo luận (discussing): HS khá hơn thì có thể dùng hình thức thảo luận nhóm, trao đổi về cảm tưởng, ý kiến,

nhận định của bản thân về vấn đề vừa nghe /đọc, hoặc yêu cầu HS viết hoặc nói về một vấn đề tương tự nhưng

về bản thân hoặc những hoàn cảnh tương tự như trong bài nghe /đọc

- Đối với HS các lớp yếu, GV nên thiết kế lại các nhiệm vụ bài học cho vừa sức, tăng cường trợ giúp như

cung cấp các từ gợi ý, cho trước khung mẫu, đặt câu hỏi gợi mở dạng trả lời có/không (yes/no question), v.v

2 Các kĩ thuật dạ học tích cực sử dụng trong dạ các k năng sản sinh (productiv ski s):

nói v viết

HS luyện tập để có thể dùng ngoại ngữ để diễn đạt ý của mình nên các bước trong bài dạy kỹ năng nói và viết không giống với bài dạy nghe và đọc Ở một số khía cạnh, dạy hai kỹ năng này gần giống dạy các kiến thức ngôn ngữ như từ vựng hoặc ngữ pháp: HS phải được cung cấp ngữ liệu, sau đó luyện tập các ngữ liệu đó và cuối cùng là sử dụng các ngữ liệu đó để diễn đạt ý tưởng của mình một cách tự do hơn Mặt khác vì đây là bài luyện tập kỹ năng nên bài dạy nói / viết cũng có những hoạt động đặc thù

Có thể chia bài dạy nói / viết thành 3 giai đoạn:

- giai đoạn chuẩn bị nói / viết

- giai đoạn luyện nói / viết có kiểm soát

- giai đoạn nói / viết tự do

Để bài luyện nói / viết đạt hiệu quả cao các hoạt động luyện tập cần phải thú vị, hấp dẫn và có ý nghĩa, sát thực với đời sống và hoàn cảnh của HS Bên cạnh đó cũng nên thiết kế các hoạt động có tính thách thức cao hoặc tạo khí thế thi đua giữa các cá nhân, các cặp hay nhóm HS bằng cách tính điểm, có giải thưởng hay phần thưởng cho những bài nói khá nhất, v.v

Một số kĩ thuật sử dụng trong giai đoạn chuẩn bị nói:

- Wordstorm

- Cross word/ puzzle words

- Word chain

- Guessing games

- Memory game

- Situation response

- Mind map

Trang 10

- Information gaps (Grid)

- Describe and draw/guess

- Yes/ no contest

- …

- Khai thác bài nói mẫu: tuỳ theo mục tiêu bài nói mà bài mẫu có thể là những phát ngôn đơn lẻ, một đoạn hội thoại hay một đoạn lời nói ngắn GV sử dụng một số thủ thuật khi khai thác bài mẫu như:

+ Đọc to bài mẫu một lần, chú ý cách phát âm, trọng âm, ngắt giọng phù hợp, HS lắng nghe

+ Đọc mẫu lần thứ hai, cho HS đọc theo

- Dùng câu hỏi gợi mở (open questions) để HS tự rút ra cách sử dụng từ, cấu trúc cũng như ý nghĩa trong bài mẫu

- Làm việc theo cặp/ nhóm: GV cần chú trọng nhiều đến độ chính xác trong lời nói của HS và nên kịp thời sửa các lỗi sai về phát âm, ngữ pháp, từ vựng

- Dạy trước một số từ vựng hoặc ngữ pháp cần thiết cho việc thực hiện bài tập nói (sử dụng các thủ thuật dạy

từ vựng/ngữ pháp)

- Gợi mở để HS đóng góp những ý tưởng chung cho bài nói (có thể sử dụng hoạt động „động não‟ (brainstorming) cho cả lớp hoặc cho HS làm việc theo nhóm, thảo luận và liệt kê các ý tưởng, sau đó đóng góp với cả lớp

Lưu ý khi đưa ra yêu cầu và hướng dẫn cách thực hiện yêu cầu bài nói:

- Nếu bài nói có nhiều yêu cầu, nên dùng cách đưa yêu cầu theo từng bước („step by step intruction‟)

- Không chỉ đưa ra yêu cầu mà còn phải làm mẫu cho HS thấy cách làm của từng bài như thế nào Tuy nhiên,

GV không nên trực tiếp làm mẫu mà giúp các HS khá giỏi trong lớp làm mẫu

- Hỏi một vài câu hỏi để kiểm tra xem HS đã thực sự hiểu cách làm và yêu cầu của bài tập hay không

GV sử dụng một số kĩ thuật sau đâ để giúp HS uy n nói theo y u cầu v sử dụng

những ý hoặc từ vựng, cấu trúc cho trước

- Kĩ thuật tổ chức luyện tập: nên tổ chức cho HS làm việc theo cặp / nhóm để tiết kiệm thời gian và luyện tập

nói được nhiều nhất Lưu ý: GV nên cho HS thay đổi thường xuyên các cặp, nhóm để HS có thể luyện được với nhiều đối tượng khác nhau và học được nhiều hơn Có thể sử dụng các kĩ thuật chia nhóm thật nhanh:

+ Chia theo vần tên A, B, C

+ Chia theo màu áo

+ Chia theo độ dài của tóc, chiều cao

- Vai trò của GV: một số GV quan niệm rằng sau khi đã làm mẫu và hướng dẫn đầy đủ cho HS là GV có thể ngồi

nghỉ ngơi hoặc làm việc khác Điều đó hoàn toàn không đúng, ở giai đoạn này GV đóng vai trò là người giám sát, giúp đỡ, điều phối Trong khi HS làm việc theo cặp/nhóm, GV đi quanh các nhóm giám sát, nhắc nhở sao cho họ không sử dụng quá nhiều tiếng mẹ đẻ trong khi luyện tập ngoại ngữ, không có ai trong nhóm nói quá nhiều hoặc quá ít, nếu HS có vướng mắc gì về ngôn ngữ thì GV giúp HS giải quyết ngay

- Kĩ thuật sửa lỗi: ở giai đoạn này GV không nên trực tiếp sửa lỗi cho HS mà nên bỏ qua các lỗi không quan

trọng Đối với các lỗi lặp đi lặp lại và phổ biến thì nên ghi chép lại, sau đó sửa chung ở trước cả lớp GV nên chỉ nêu câu có lỗi ra ở trước lớp, sau đó khuyến khích HS tự tìm ra lỗi và tự sửa các lỗi đó

Dạ Kỹ Năng Viết

- Kĩ thuật sửa lỗi: ở giai đoạn này GV không nên trực tiếp sửa lỗi cho HS mà nên bỏ qua các lỗi không quan

trọng Đối với các lỗi lặp đi lặp lại và phổ biến thì nên ghi chép lại, sau đó sửa chung ở trước cả lớp GV nên chỉ nêu câu có lỗi ra ở trước lớp, sau đó khuyến khích HS tự tìm ra lỗi và tự sửa các lỗi đó

- Trả lời câu hỏi ( sử dụng kĩ thuật ‘Five questions’ ) GV đặt các câu hỏi, HS trả lời các câu hỏi đó và sau đó

ghép vào thành bài viết Nếu kết hợp luyện cả cấu trúc đoạn thì không để các câu hỏi theo trật tự HS sẽ trả lời các câu hỏi riêng rẽ, sau đó sắp xếp các câu trả lời theo đúng trật tự một đoạn văn

- Dùng từ cho sẵn để viết thành câu hoặc bài liền ý (sử dụng kĩ thuật ‘Ordering): cho trước một số từ cơ

bản trong câu, HS phải sử dụng các từ đó để viết thành câu hoàn chỉnh có nghĩa bài tập loại này có thể có mức

Ngày đăng: 30/04/2021, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w