Anh Phan Thanh Nam, chủ một cửa hàng sửa chữa máy tính cũ ở quận 7, TP HCM, với kinh nghiệm lâu năm trong việc sửa mainboard và ổ cứng, cho biết có rất nhiều mẹo để kiểm tra lỗi của nhữn
Trang 1Mẹo' kiểm tra chất lượng khi mua máy tính cũ
Công cụ hữu hiệu cần chuẩn bị cho công việc này là một CD khởi động Hirent Boot Đĩa này rất dễ dàng tìm thấy ở cửa hàng bán phần mềm vi tính
Máy tính second-hand nhập từ Mỹ được bán rất nhiều
tại chợ Nhật Tảo (TP HCM) Ảnh: Huy Trường.
Nhiều người khi chọn mua máy second-hand thường chỉ kiểm tra một số bước đơn giản: máy bật lên khởi động nhanh, xem sơ qua thông tin cấu hình máy trong Windows, chạy thử vài chương trình ứng dụng
Các lỗi tiềm ẩn từ phần cứng như bộ nhớ (RAM), bo mạch chính (mainboard), ổ cứng, màn hình khó có thể thấy được chỉ qua vài bước kiểm tra thông thường như trên
Anh Phan Thanh Nam, chủ một cửa hàng sửa chữa máy tính cũ ở quận 7, TP HCM, với kinh nghiệm lâu năm trong việc sửa mainboard và ổ cứng, cho biết có rất nhiều mẹo để kiểm tra lỗi của những bộ phận này Trước tiên, người mua hãy xem trên bo mạch chính có
tụ nào bị phù hay không Nếu không thể xem được trong thùng máy, bạn cũng có thể làm cách này: tắt máy, khởi động vài lần Nếu các quá trình này diễn ra bình thường thì 80% mainboard này tốt
Trang 2Tụ trên mainboard bị phù, biến dạng và chảy nước.
Ảnh vozforums.
Đối với ổ cứng, anh Nam cho rằng đừng kiểm tra đơn giản dung lượng ở Windows
Explorer Người bán thường có mẹo nhỏ để "hợp thức" máy có ổ cứng bị lỗi: cắt bỏ phân vùng bị lỗi, không cài hệ điều hành vào phân vùng bị lỗi để tốc độ máy vẫn bình thường
Cách đơn giản để kiểm tra thử ổ cứng có bị cắt hay không là vào phần Computer
Management (Click chuột phải Mycomputer chọn Mangage -> Storage - Disk
Managerment) Nếu có phân vùng bị cắt sẽ thấy tương tự hình sau:
Phân vùng bị cắt bỏ (màu đỏ) có chữ unallocated Ảnh
chụp màn hình.
Để kiểm tra kỹ càng hơn, hãy dùng cách sau để tìm lỗi trên toàn bộ các vùng nhớ ổ cứng:
Khởi động máy bằng đĩa Hirent Boot: chọn Hard Disk Tool -> Victoria Gõ phím "P" chọn Primary, sau đó nhấn phím F4 để chương trình có thể kiểm tra phân vùng từ đầu đến cuối
Trang 3Nếu có lỗi màn hình sẽ hiện ra những điểm đỏ hoặc dấu X, vùng có tốc độ đọc chậm sẽ thấy có màu vàng, xanh Bạn nhìn xuống góc phải bên dưới sẽ thấy tốc độ đọc/ghi của ổ đĩa (nếu tốc độ 20.000 Kb/s trở lên thì có thể dùng được)
Kiểm tra lỗi ổ cứng bằng Victoria Ổ cứng này bị lỗi
nhiều nên tốc độ rất chậm: 3.895 Kb/s Ảnh chụp màn hình.
Anh Nguyễn Văn Hiếu, chủ cửa hàng sửa chữa máy tính ở quận Thủ Đức, có hơn 10 năm trong nghề bán máy tính cũ, cũng tiết lộ một số cách để kiểm tra RAM, CPU, Monitor
Theo đó, bạn nên ép máy chạy thật nhiều các chương trình ứng dụng để máy sử dụng tối
đa bộ nhớ đang có Thao tác này có thể kiểm tra được bộ nhớ có bị lỗi ở bất kỳ ô nhớ nào hay không
Thông thường, khi làm bước trên nếu RAM bị lỗi máy sẽ hiện ra màn hình xanh như sau
Trang 4Màn hình thông báo lỗi ram Ảnh chụp màn hình.
Có thể dùng chương trình kiểm tra RAM như Doc Memory 2.2b hoặc Gold Memory 5.07
có trong đĩa Hirent Boot chạy thử khoảng 20% dung lượng của RAM vì RAM thường bị lỗi ở những ô nhớ đầu
Anh Hiếu cũng cho rằng, CPU thường rất ít bị lỗi, nếu đã khởi động được vào Windows là tốt Vấn đề cần kiểm tra là tốc độ thực của nó Tốc độ kiểm tra ở phần Properties của My Computer chưa chắc đã chính xác vì thông tin này có thể chỉnh sửa được trong phần Registry của Windows Bạn có thể sử dụng phần mềm CPU-Z để có được thông tin chuẩn
Màn hình máy tính sau một thời gian sử dụng thường hay bị mờ, độ sáng không ổn định, hay chớp tắt, bị thu nhỏ Khi vừa bật monitor lên hình ảnh gom lại thành một điểm nhỏ giữa sau đó mới từ từ bung ra đầy đủ Tuy hình ảnh rõ nét nhưng đây là dấu hiệu monitor
đã gần hết tuổi thọ, chỉ có thể sử dụng được một đến hai tháng
Bạn đã từng biết qua mùi của chất phosphor thì có thể ngửi thử xem màn hình có mùi đó không Nếu có thì cũng đã tới tuổi cho màn hình ra "ve chai"
Dùng chương trình Mornitor Test để kiểm tra màn hình ở các chế độ màu khác nhau để thấy được lỗi vết sọc, nhòe màu (nếu có) Đối với loại màn hình CRT (màn hình dùng bóng đèn hình) là màu trắng, đen, xanh dương, còn loại màn hình LCD thì sử dụng 4 màu xanh dương, xanh lục, trắng, đen
Nên bật màn hình để khoảng 10 phút trở lên xem có bị mờ, chớp hoặc tối hay không, có độ sáng ổn định, chữ đọc rõ ràng không bị nhòe
Sau khi đã kiểm tra qua các bộ phận trên, bạn nên để máy chạy liên tục trong 24 giờ sẽ dễ dàng thấy lỗi hơn nếu các bước đầu tiên chưa phát hiện
Trong khi đang làm việc với máy vi tính thi đột nhiên màn hình máy vi tính của tôi xuất hiện một bản thông báo như sau :
"A problem has been detected and window has been shut down to prevent to damage to your computor
If this is the first time you "ve seen this stop error screẹn, retart your computor If this screen appears agaịn, follow these steps :
Check to be sure how you adequate space disk If a driver is identified in the top message, disable the driver or check with manufacturer for driver upđate Try changing adapters check with your hardware vendor for BOIS updatẹs Disable BOIS memory optiọn such as caching or shadowing If you need to use safe mode to remove or disable components, restart your computor , press F8 to select advanced startup options and then select safe mode
Technical information :
*** Stop : 0x000000E (0xC0000005,0xF7994BCE,0xF73AA834,0x00000000)
Beginning dump of physical memory
Trang 5Physical memory dump completẹ
Contact your system administrator or technial support group for further assistance "
Và máy hoàn toàn tê liệt
Thường thì tôi restart lại máy, nhưng tôi muốn loại trừ hẳn hiện tượng này, xin cho biết : 1) Làm sao để kiểm được lượng còn trống trên đĩa?
2) Làm thế nào để biết lượng trống đó là thích hợp ?
3) "if a driver is identified in the stop message, disable the driver " : trong message này tôi không thấy có ghi driver nào cả, có đúng không ?
4) "try changing video adapters " câu này có ý gì ?
5) Làm thế nào để kiểm tra BIOS ?
6) "disable BIOS memory options such as caching or shadowing " : câu này có ý nghĩa gì ?
và phải làm như thế nào ?
7) Mỗi lần bị xuất hiện màn hình STOP ERROR SCREEN như thế này , tôi thấy ở phần
"techincal information" đều khác nhau, xin cho biết có phải là dĩa cứng của tôi bị nhiều lỗi hay không ?
Cấu hình máy tính của tôi như sau :
- Intel P4 ; Hdd: 120 GB ( được chia làm 3 ổ : C : 40 GB, D: 40 GB và E : 40 GB) ; Ram : 512Mb * 2
Nguyen Khiem Thang
Hồi âm:
Chào Thắng!
Thông thường với lỗi: “Beginning dump of physical memory Physical memory dump complete:là mỗi vâ ̣t lý Ram Máy ba ̣n đang xài 2 x DDRam 512 rất dễ xãy ra hiê ̣n tượng xung đô ̣t:
+ Có thể là 2 cây khác nhau về số BUS, hoă ̣c số Chip tích hợp trên Ram (Ram 2 mă ̣t và Ram 1 mă ̣t)
+ Nếu cùng số BUS và số Chip thì ba ̣n nên tháo 1 cây và xài thử Nếu tình tra ̣ng vẫn tái diễn thì cây Ram đó đã bi ̣ hư 1 trên những con chíp trên Ram.Tháo cây đó ra và gắn cây còn la ̣i vào
1)Làm sao để kiểm được lượng còn trống trên đĩa?.-Bằng Dos: Dùng HirenBoot Cho ̣n PM 8.2 - WinDows: mở Windows Explorer, right click lên partition (c:, d:)
2) Làm thế nào để biết lượng trống đó là thích hợp ?.-Thông thường thì trống 1Gb để cho Windows Swap là đủ rồi
Trang 63)"if a driver is identified in the stop message, disable the driver " : trong message này tôi không thấy có ghi driver nào cả, có đúng không ?
-Ý nghĩa câu này là ba ̣n có vừa thay hay gắn thiết bi ̣ gì mới vào máy không Nếu có thì stop nó la ̣i hoă ̣c tháo nó ra khỏi PC vì không tương thích với Windows
4) "try changing video adapters " câu này có ý gì ?.- Là thử thay card màn hình khác thử xem (Nhưng trong trường hợp này không cần)
5) Làm thế nào để kiểm tra BIOS ?.- Khi máy tính vừa Boot lên là ba ̣n có thể kiểm tra đươ ̣c BIOS Nếu Nhanh quá thì có thể ấn phím DEL để vô CMOS xem cho rỏ hơn
6) "disable BIOS memory options such as caching or shadowing " : câu này có ý nghĩa gì ?
và phải làm như thế nào ?.- câu này có nghĩa là tháo pin CMOS ra, hoă ̣c clear CMOS để MainBoard tư update thiết bi ̣
Cache là gì?
Cache
Khi nghe giới thiệu về CPU, bạn ắt biết tới các thuật ngữ L1 Cache, L2 Cache, L3 Cache
Cache (đọc là kets, hay còn gọi là cạc) là tên gọi của bộ nhớ đệm – nơi lưu trữ các dữ liệu nằm chờ các ứng dụng hay phần cứng xử lý.Mục đích của nó là để tăng tốc độ xử lý (có sẵn xài liền không cần tốn thời gian đi lùng sục tìm kéo về)
Nói một cách bài bản, cache là một cơ chế lưu trữ tốc độ cao đặc biệt Nó có thể là một vùng lưu trữ của bộ nhớ chính hay một thiết bị lưu trữ tốc độ cao độc lập.Có hai dạng lưu trữ cache được dùng phổ biến trong máy tính cá nhân là memory caching (bộ nhớ cache hay bộ nhớ truy xuất nhanh) và disk caching (bộ nhớ đệm đĩa)
* Memory cache: Đây là một khu vực bộ nhớ được tạo bằng bộ nhớ tĩnh (SRAM) có tốc
độ cao nhưng đắt tiền thay vì bộ nhớ động (DRAM) có tốc độ thấp hơn và rẻ hơn, được dùng cho bộ nhớ chính Cơ chế lưu trữ bộ nhớ cahce này rất có hiệu quả Bởi lẽ, hầu hết các chương trình thực tế truy xuất lặp đi lặp lại cùng một dữ liệu hay các lệnh y chang nhau Nhờ lưu trữ các thông tin này trong SRAM, máy tính sẽ khỏi phải truy xuất vào DRAM vốn chậm chạp hơn.Một số bộ nhớ cache được tích hợp vào trong kiến trúc của các
bộ vi xử lý Chẳng hạn, CPU Intel đời 80486 có bộ nhớ cache 8 KB, trong khi lên đời Pentium là 16 KB Các bộ nhớ cache nội (internal cache) như thế gọi là Level 1 (L1) Cache (bộ nhớ đệm cấp 1) Các máy tính hiện đại hơn thì có thêm bộ nhớ cache ngoại (external cache) gọi là Level 2 (L2) Cache (bộ nhớ đệm cấp 2) Các cache này nằm giữa CPU và bộ nhớ hệ thống DRAM Sau này, do nhu cầu xử lý nặng hơn và với tốc độ nhanh hơn, các máy chủ (server), máy trạm (workstation) và mới đây là CPU Pentium 4 Extreme Edition
Trang 7được tăng cường thêm bộ nhớ đệm L3 Cache.
* Disk cache: Bộ nhớ đệm đĩa cũng hoạt động cùng nguyên tắc với bộ nhớ cache, nhưng thay vì dùng SRAM tốc độ cao, nó lại sử dụng ngay bộ nhớ chính Các dữ liệu được truy xuất gần đây nhất từ đĩa cứng sẽ được lưu trữ trong một buffer (phần đệm) của bộ nhớ Khi chương trình nào cần truy xuất dữ liệu từ ổ đĩa, nó sẽ kiểm tra trước tiên trong bộ nhớ đệm đĩa xem dữ liệu mình cần đang có sẵn không Cơ chế bộ nhớ đệm đĩa này có công dụng cải thiện một cách đáng ngạc nhiên sức mạnh và tốc độ của hệ thống Bởi lẽ, việc truy xuất 1 byte dữ liệu trong bộ nhớ RAM có thể nhanh hơn hàng ngàn lần nếu truy xuất
từ một ổ đĩa cứng Sẵn đây, xin nói thêm, người ta dùng thuật ngữ cache hit để chỉ việc dữ liệu được tìm thấy trong cache Và hiệu năng của một cache được tính bằng hit rate (tốc độ tìm thấy dữ liệu trong cache) Trở lại chuyện bộ nhớ cache Hồi thời Pentium đổ về trước,
bộ nhớ cache nằm trên mainboard và một số mainboard có chừa sẵn socket để người dùng
có thể gắn thêm cache khi có nhu cầu Tới thế hệ Pentium II, Intel phát triển được công nghệ đưa bộ nhớ cache vào khối CPU Nhờ nằm chung như vậy, tốc độ truy xuất cache tăng lên rõ rệt so với khi nó nằm trên mainboard Nhưng do L2 Cache vẫn phải ở ngoài nhân CPU nên Intel phải chế ra một bo mạch gắn cả nhân CPU lẫn L2 Cache Và thế là CPU có hình dạng to đùng như một cái hộp (gọi là cartridge) và được gắn vào mainboard qua giao diện slot (khe cắm), Slot 1 Tốc độ truy xuất cache lúc đó chỉ bằng phân nửa tốc
độ CPU Thí dụ, CPU 266 MHz chỉ có tốc độ L2 Cache là 133 MHz Sang Pentium III cũng vậy Mãi cho tới thế hệ Pentium III Coppermine (công nghệ 0.18-micron), Intel mới thành công trong việc tích hợp ngay L2 Cache vào nhân chip (gọi là on-die cache) Lúc đó, tốc độ L2 Cache bằng với tốc độ CPU và con CPU được thu gọn lại, đóng gói với giao diện Socket 370
Như đã nói, dung lượng của Cache CPU lợi hại lắm nghen Phổ biến nhất là L2 Cache là một chip nhớ nằm giữa L1 Cache ngay trên nhân CPU và bộ nhớ hệ thống Khi CPU xử lý, L1 Cache sẽ tiến hành kiểm tra L2 Cache xem có dữ liệu mình cần không trước khi truy cập vào bộ nhớ hệ thống Vì thế, bộ nhớ đệm càng lớn, CPU càng xử lý nhanh hơn Đó là
lý do mà Intel bên cạnh việc tăng xung nhịp cho nhân chíp, còn chú ý tới việc tăng dung lượng bộ nhớ Cache Do giá rất đắt, nên dung lượng Cache không thể tăng ồ ạt được Bộ nhớ cache chính L1 Cache vẫn chỉ ở mức từ 8 tới 32 KB Trong khi, L2 Cache thì được đẩy lên dần tới hiện nay cao nhất là Pentium M Dothan 2 MB (cho máy tính xách tay) và Pentium 4 Prescott 1 MB (máy để bàn) Riêng dòng CPU dành cho dân chơi game và dân
Trang 8multimedia “prồ” là Pentium 4 Extreme Edition còn được bổ sung L3 Cache với dung lượng 2 MB Đây cũng là CPU để bàn có tổng bộ nhớ cache lớn nhất (L1: 8 KB, L2: 512
KB, L3: 2 MB)
1 KHÁI NIÊM CƠ BẢN VỀ RAM
Tên gọi
Hiện nay nhiều người thường nhầm lẫn về cách gọi tên của các loại RAM Nếu như RDRAM không có gì để nói thì với dòng SDRAM, việc nhầm lẫn ngày càng lớn Khái niệm RAM (Random Access Memory) thì chắc hẳn ai cũng biết DRAM hay SDRAM là khái niệm mở rộng hơn (Synchronous Dynamic Random Access Memory - RAM đồng bộ) Ban đầu và thậm chí hiện nay khi nói đến SDRAM người ta thường nghĩ ngay đến RAM loại cũ với tốc độ 100MHz hay 133MHz; tuy nhiên từ sau khi DDR SDRAM
(Double Data Rate SDRAM) ra đời thì quan niệm này hoàn toàn sai Tham khảo một vài bảng báo giá linh kiện, bạn sẽ thấy các công ty đã góp phần không nhỏ vào việc khiến người dùng hiểu sai vấn đề SDRAM là tên gọi chung của một dòng bộ nhớ máy tính, nó được phân ra SDR (Single Data Rate) và DDR (Double Data Rate) Do đó nếu gọi một cách chính xác, chúng ta sẽ có hai loại RAM chính là SDR SDRAM và DDR SDRAM Cấu trúc của hai loại RAM này tương đối giống nhau, nhưng DDR có khả năng truyền dữ liệu ở cả hai điểm lên và xuống của tín hiệu nên tốc độ nhanh gấp đôi Trong thời gian gần đây xuất hiện chuẩn RAM mới dựa trên nền tảng DDR là DDR-II, DDR-II có tốc độ cao hơn nhờ cải tiến thiết kế
Tốc độ (Speed)
Đây có lẽ là khái niệm được người dùng quan tâm nhất, tuy nhiên có người thắc mắc về cách gọi tên, đối với DDR thì có hai cách gọi theo tốc độ MHz hoặc theo băng thông Ví
dụ, khi nói DDR333 tức là thanh RAM đó mặc định hoạt động ở tốc độ 333MHz nhưng cách gọi PC2700 thì lại nói về băng thông RAM, tức là khi chạy ở tốc độ 333MHz thì nó
sẽ đạt băng thông là 2700MB/s (trên lý thuyết) Tương ứng như thế chúng ta sẽ có bảng sau:
Thường ở Việt Nam thông dụng các loại RAM có bus 333 và 400, những loại có bus cao hơn thường xuất hiện ở những loại cao cấp như Kingston HyperX, Corsair , Mushkin LV nhưng nói chung khá hiếm
Độ trễ (Latency)
CAS Latency là khái niệm mà người dùng thắc mắc nhiều nhất Trước đây, khi đi mua RAM, người mua thường chỉ quan tâm tới tốc độ hoạt động như 100MHz hay 133MHz nhưng gần đây, khái niệm CAS đang dần được người dùng để ý bởi nó đóng vai trò khá quan trọng vào tốc độ xử lý tổng thể của hệ thống; đặc biệt trong ép xung Vậy CAS là gì?
CAS là viết tắt của 'Column Address Strobe' (địa chỉ cột) Một thanh DRAM được coi như một ma trận của các ô nhớ (bạn có thể hình dung như một bảng tính excel với nhiều ô trống) và dĩ nhiên mỗi ô nhớ sẽ có toạ độ (ngang, dọc) Như vậy bạn có thể đoán ngay ra
Trang 9khái niệm RAS (Row Adress Strobe)là địa chỉ hàng nhưng do nguyên lý hoạt động của DRAM là truyền dữ liệu xuống chân nên RAS thường không quan trọng bằng CAS
Khái niệm độ trễ biểu thị quãng thời gian bạn phải chờ trước khi nhận được thứ mình cần Theo từ điển Merriam-Webster thì latency có nghĩa là 'khoảng thời gian từ khi ra lệnh đến khi nhận được sự phản hồi' Vậy CAS sẽ làm việc như thế nào? CAS Latency có ý nghĩa gì?
Để hiểu khái niệm này, chúng ta sẽ cùng điểm nhanh qua cách thức bộ nhớ làm việc, đầu tiên chipset sẽ truy cập vào hàng ngang (ROW) của ma trận bộ nhớ thông qua việc đưa địa chỉ vào chân nhớ (chân RAM) rồi kích hoạt tín hiệu RAS Chúng ta sẽ phải chờ khoảng vài xung nhịp hệ thống (RAS to CAS Delay) trước khi địa chỉ cột được đặt vào chân nhớ và tín hiệu CAS phát ra Sau khi tín hiệu CAS phát đi, chúng ta tiếp tục phải chờ một khoảng thời gian nữa (đây chính là CAS Latency) thì dữ liệu sẽ được tìm thấy Điều đó cũng có nghĩa là với CAS 2, chipset phải chờ 2 xung nhịp trước khi lấy được dữ liệu và với CAS3, thời gian chờ sẽ là 3 xung nhịp hệ thống
Bạn sẽ thắc mắc như vậy phải chăng CAS2 nhanh hơn CAS3 tới 33%, không đến mức như vậy bởi có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu năng tổng thể của bộ nhớ điển hình như: + Chuỗi xử lý thông tin: kích hoạt RAS, chờ khoảng thời gian trễ RAS-to-CAS Delay và CAS Latency
+ Truy cập bộ nhớ theo chuỗi: đôi khi chipset sẽ đọc dữ liệu trong bộ nhớ RAM theo chuỗi (burst) như vậy rất nhiều dữ liệu sẽ được chuyển đi một lần và tín hiệu CAS chỉ được kích hoạt một lần ở đầu chuỗi
+ Bộ vi xử lý có bộ đệm khá lớn nên chứa nhiều lệnh truy cập và dữ liệu; do đó thông tin được tìm kiếm trên bộ đệm trước khi truy cập vào RAM và tần số dữ liệu cần được tìm thấy trên bộ đệm (hit-rate) khá cao (vào khoảng 95%)
Gọi tên theo Gọi tên theo
băng thông tốc độ MHz
PC1600 DDR 200
PC 2100 DDR 266
PC 2700 DDR 333
PC 3000 DDR 366
PC 3200 DDR 400
PC 3500 DDR 466
PC 4000 DDR 500
PC 4200 DDR 533
PC 4400 DDR 550
PC 4800 DDR 600
Trang 10Nói tóm lại việc chuyển từ CAS 3 sang CAS 2 sẽ tăng hiệu năng xử lý cho tất cả các ứng dụng Những chương trình phụ thuộc vào bộ nhớ như game hay ứng dụng đồ họa sẽ chạy nhanh hơn Điều này đồng nghĩa với việc những thanh RAM được đóng dấu CAS2 chắc chắn chạy nhanh hơn những thanh RAM CAS3 Nếu bạn dự định mua đồ chơi cho một cuộc đua ép xung hay đơn giản chỉ cần hệ thống đạt tốc độ tối ưu, hãy chọn RAM CAS2 nhưng nếu chỉ là công việc văn phòng, CAS 3 hoàn toàn vẫn đáp ứng yêu cầu
Tần số làm tươi
Thường thì khi nhắc tới khái niệm tần số làm tươi (RAM Refresh Rate), người ta thường nghĩ ngay đến màn hình máy tính, tuy nhiên bộ nhớ DRAM (Dynamic Random Access Memory) cũng có khái niệm này Như bạn đã biết module DRAM được tạo nên bởi nhiều
tế bào điện tử, mỗi tế bào này phải được nạp lại điện hàng nghìn lần mỗi giây vì nếu không
dữ liệu chứa trong chúng sẽ bị mất Một số loại DRAM có khả năng tự làm tươi dữ liệu độc lập với bộ xử lý thường được sử dụng trong những thiết bị di động để tiết kiệm điện năng
SDRAM Access Time
Việc cho ra đời cách đọc dữ liệu theo từng chuỗi (Burst Mode) đã giúp khắc phục nhiều nhược điểm và tăng hiệu năng cho RAM, chu kì của chuỗi ngắn hơn rất nhiều chu kì trang của RAM loại cũ Chu kì của chuỗi cũng được coi như là chu kì xung nhịp của SDRAM và chính vì thế nó được coi như thang xác định cho tốc độ của RAM bởi đó là khoảng thời gian cần thiết giữa các lần truy xuất dữ liệu theo chuỗi của RAM Những con số -12, -10, -8 ghi trên các chip RAM cho biết khoảng thời gian tối thiểu giữa mỗi lần truy xuất dữ liệu: nhãn -12 xác định chu kì truy cập dữ liệu của RAM là 12ns (nano-giây) đồng nghĩa với việc tốc độ hoạt động tối đa của RAM sẽ là 83MHz Thường RAM có tốc độ cao sẽ sử dụng chip RAM có chu kì truy xuất thấp nhưng với chu kì truy xuất thấp chưa chắc RAM
đã có thể hoạt động ở tốc độ cao do còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Do đó đôi khi bạn sẽ gặp trường hợp thanh RAM có tốc độ thấp nhưng khi đem vào 'thử lửa' ép xung thì lên được tốc độ cao hơn nhiều so với những loại RAM mặc định dán nhãn tốc độ cao Nếu muốn biết thêm thông tin, bạn có thể truy cập vào địa chỉ:
http://www.dewassoc.com/performance/ ory_speeds.htm
NHỮNG MÓN ĐỒ CHƠI KHÔNG THỂ THIẾU
Bạn có thể nhận thấy một điều rất rõ ràng đó là tốc độ của RAM và điện thế sử dụng ngày càng cao hơn Ban đầu chúng ta có DDR200/2,5v thì giờ đây chúng ta đã có DDR500/2,8v (thậm chí là 2,85v đối với một số loại nhất định) hay DDR2-667/1,8v Hai yếu tố này đã góp phần làm cho nhiệt độ của RAM ngày càng tăng, đó cũng chính là lý do tại sao các loại RAM cao cấp thường có lá thép ốp ở mặt ngoài; ngoài lý do bảo vệ thì nó còn góp phần tản nhiệt Tuy nhiên nếu bạn mua được RAM loại thường nhưng có tốc độ tốt và khả năng ép xung cao, bạn có thể tham khảo những giải pháp tản nhiệt dành riêng cho RAM của những nhà sản xuất thứ ba như tản nhiệt cho RAM của CoolerMaster (xem hình)