1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ

41 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Vườn Quốc Gia Ba Bể
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Trung Lương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Du Lịch
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 239,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“ Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người từ những lĩnh vực khác nhau. Khái niệm này được hiểu theo nhiều chiều cạnh khác nhau: Một số người cho “ Du lịch sinh thái” đơn giản chỉ là sự kết hợp giữa ý nghĩa của hai từ “ du lịch” và “sinh thái”. Một số khác nhìn rộng hơn cho du lịch sinh thái là du lịch thiên nhiên gồm mọi hoạt động du lịch có liên quan đến tự nhiên như tắm biển, nghỉ núi…đều được hiểu là du lịch sinh thái.

Trang 1

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ

1.1 Du lịch sinh thái

1.1.1 Khái niệm

“ Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóngthu hút được sự quan tâm của nhiều người từ những lĩnh vực khác nhau Khái niệm nàyđược hiểu theo nhiều chiều cạnh khác nhau: Một số người cho “ Du lịch sinh thái” đơngiản chỉ là sự kết hợp giữa ý nghĩa của hai từ “ du lịch” và “sinh thái” Một số khác nhìnrộng hơn cho du lịch sinh thái là du lịch thiên nhiên gồm mọi hoạt động du lịch có liênquan đến tự nhiên như tắm biển, nghỉ núi…đều được hiểu là du lịch sinh thái

Có những ý kiến cho rằng du lịch sinh thái là du lịch đúng đắn có đạo lý, du lịch cótrách nhiệm, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững Một số tổ chức đã sửdụng khái niệm du lịch sinh thái như một công cụ thực hiện bảo tồn và phát triển bền

vững Năm 1984 Hiệp hội du lịch sinh thái có định nghĩa: “du lịch sinh thái là du lịch có

trách nhiệm tại các điểm tự nhiên kết hợp với bảo vệ môi trường và cải thiện phúc lợi của người dân địa phương” [26, tr.1].

Theo Hector Ceballos – Lascurain được coi là người đầu tiên đưa ra các khái niệm

về du lịch sinh thái thì “du lịch sinh thái là loại hình du lịch du lịch có liên quan mật thiết

với các khu vực tự nhiên chưa bị xâm chiếm và có các mục tiêu về nghiên cứu, chiêm ngưỡng cảnh quan, động thực vật hoang dã cũng như tìm hiểu các khía cạnh văn hóa đang

tồn tại (cả trong quá khứ và hiện tại) có trong những vùng tự nhiên đó” [14, tr.5].

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) xác định : “du lịch sinh thái là hình

thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của

cả cộng đồng nhằm phát triển bền vững” Theo tập thể giả thì định nghĩa này còn chung

chung và có chưa đề cập đến tiêu chí giáo dục môi trường và hỗ trợ bảo tồn [13, tr.6]

Theo Quy chế quản lý hoạt động du lịch sinh thái tại các vườn Quốc gia, khu bảotồn thiên nhiên ban hành kèm theo quyết định số 104/2007/QĐ – BNN, ngày 27/12/2007

Trang 2

của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn “ Du lịch sinh thái là hình thức du

lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương nhằm phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai”.

Có thể nói du lịch sinh thái là loại hình du lịch với những hoạt động có sựnhận thức mạnh mẽ về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm với xã hội Thuật ngữ

“Responsible travel”(du lịch trách nhiệm) luôn gắn liền với khái niệm du lịch sinh thái

Tóm lại, du lịch sinh thái được hiểu “ là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ

giáo dục cao về sinh thể và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường

và văn hóa, đảm bảo mang lại lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn” [26, tr.15]

1.1.2 Khách du lịch sinh thái

Theo PGS.TS Phạm Trung Lương (Phó viện trưởng viện nghiên cứu phát triển du

lịch): khác với khách du lịch thông thường, khách du lịch sinh thái là những người quantâm hơn cả đến các giá trị tự nhiên và các giá trị nhân văn ở những khu vực thiên nhiênhang dã Khách du lịch sinh thái có những đặc điểm sau:

- Thường là những người đã trưởng thành, có thu nhập cao, có giáo dục và có sự quan tâmđến môi trường thiên nhiên

- Thường là những người thích hoạt động ngoài thiên nhiên Tỷ lệ khách nam, nữ là ngangnhau và đây thường là những khách du lịch có kinh nghiệm

- Thường có thời gian đi du lịch dài hơn và mức chi tiêu ngày nhiều hơn so với khách dulịch ít quan tâm đến thiên nhiên

- Họ không đòi hỏi thức ăn hoặc nhà nghỉ cao cấp đầy đủ tiện nghi mặc dù họ có khả năngcho trả cho các dịch vụ này Điều này phản ánh nhận thức của họ rằng các cơ sở vật chất mà họ

sử dụng ít ảnh hưởng nhất đến môi trường tự nhiên

1.2 Khái quát về vườn Quốc gia Ba Bể

1.2.1 Lịch sử hình thành

Chiếm diện tích 7.610 ha vườn Quốc gia Ba Bể bao gồm những dãy núi đá vôihùng vĩ, những con sông và hồ, phần lớn diện tích được bảo vệ có độ dốc lớn và đượcrừng che phủ Dải đất bằng phẳng duy nhất ngăn cách các con sông và những vùng

Trang 3

đồng bằng hay ngập lụt quanh hồ, tạo ra khu canh tác cho đồng bào thiểu số mànhững làng bản đẹp như tranh của họ tập trung ở phía dưới những vách đá chót vót.

Trọng tâm thu hút khách du lịch của vườn Quốc gia là Hồ Ba Bể, được baobọc bởi những vách núi đá vôi và được ca ngợi là hồ đẹp nhất Việt Nam Nằm ở độcao 178 m so với mặt biển và là nơi hợp lưu của ba con sông: Ta Han, Nam Cường vàCho Lèng, hồ chỉ có một cửa chảy ra: con kênh dẫn tới sông Năng Ba Bể là hồ chảyliên tục dài 8 km với hai hòn đảo lịch sử An Mã và đảo Quả Phụ Vì Ba Bể là vùngđất đá vôi nên quá trình xâm thực nước đã gây nên hiện tượng lún đất và các hangđộng mà một số có nhũ đá và măng đá Bản thân hồ Ba Bể hình thành do các quátrình hoà tan này Nguồn nước của hồ ổn định, tuy không trực tiếp phục vụ cho nhucầu sản xuất Nông nghiệp và thuỷ điện nhưng lại hấp dẫn khách du lịch, đây là mộtlợi thế không nhỏ cho sự nghiệp phát triển du lịch

Hồ Ba Bể có chiều dài hơn 8 km, rộng 3km, sâu khoảng 20-30 m, diện tích mặt hồkhoảng 500 ha được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi có nhiều hang động và những suốingầm khi ẩn khi hiện Hồ Ba Bể là danh thắng thiên nhiên được công nhận là di tíchlịch sử văn hoá Quốc gia năm 1996, hiện nay Tỉnh Bắc Kạn đang lập hồ sơ đề nghịUNESCO công nhận hồ Ba Bể là di sản thế giới

1.2.2 Vị trí địa lý

Vườn Quốc gia Ba Bể mở rộng nằm ở vùng núi đá vôi thuộc xã Nam Mẫu, KhangNinh, Cao Thượng, Quảng Khê, Cao Trĩ thuộc huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn, có toạ độ địa lý(theo UTM 1/50.000) 105036' kinh độ Đông, 22030' vĩ độ Bắc

Trải dài trên độ cao từ 150m đến 1.500m so với mặt biển Vườn Quốc gia Ba Bể córanh giới bắt đầu từ ranh giới tỉnh Tuyên Quang, qua đỉnh Cambon 1.299m, theo ranh giớicủa các xã Cao Thượng Vườn có diện tích 23.340 ha với một hệ thống rừng nguyên sinhtrên núi đá vôi bọc xung quan hồ nước trong xanh, bên trong lưu giữ được nhiều loại độngthực vật quý hiếm Toàn bộ khu vườn hầu hết là núi đá vôi hiểm trở, một phần nhỏ là cácthunh lũng đất hẹp xen kẽ

+ Phía Đông và Bắc: Giáp các xã Cao Thượng, Cao Trĩ và Khang Ninh tới đỉnh

Pia Linh 833m, kéo dài theo dông núi tới sông Năng, sau đó dọc theo sông Năng tới ĐộngPuông, qua núi đá lên tới đỉnh 402.698 và chân núi đá đỉnh 789m vượt qua đường nhựa NàNầm tới chân đỉnh cao 817m men theo chân núi Khát Vọng (thuộc các đỉnh 916.1098) tới

Pu Cát hạ, chạy thẳng tới sông Lèn Ranh giới vườn Quốc gia qua bản Nưa, men theo vùng

Trang 4

núi đá vôi Quảng Khê, từ đây theo độ cao 400m đến cuối Nam Teo Tút, men theo núi đáPia Bang vòng qua bản Chan ngược lên đỉnh Phja Biooc 1.502m Từ đỉnh cao này theo đai

độ cao 700m phía Đông dãy Phja Biooc thuộc các xã Yến Dương và Chu Hương đến ranhgiới huyện Ba Bể và Chợ Đồn thuộc dông núi Hoa Sơn

+ Phía Tây và Nam: Giáp các xã Quảng Khê; Nam Cường, Xuân Lạc (huyện Chợ

Đồn); Đà Vị (Na Hang - Tuyên Quang) Với ranh giới này vườn Quốc gia Ba Bể mở rộngbao gồm diện tích rừng và đất rừng của 7 xã huyện Ba Bể thuộc vùng núi đá vôi đặc trưngcho vùng Cacxtơ khu Đông Bắc và các núi đất thuộc dãy Phja Bjooc [10,tr.2]

1.3 tiềm năng du lịch vườn quốc gia ba bể

1.3.1 Địa hình địa mạo

Vườn Quốc gia Ba Bể mở rộng bao gồm một phức hệ sông suối, núi đá vôi, núi đất

độ cao từ 150m đến 1500m so với mặt nước biển

Ba Bể là phần cuối của sông chợ Lèng được mở rộng ra trước khi đổ vào sôngNăng, do đó nó vừa mang tính chất sông vừa mang tính chất hồ với tổng diện tích mặt hồ375ha, hướng chảy từ Nam lên Bắc Phía Bắc là sông Năng chảy theo hướng Đông - TâyBắc và đổ vào sông Gâm Sông Năng bắt nguồn từ dãy PiaBioc trước khi đổ xuống thácĐầu Đẳng phải chảy qua Động Puông dài 300m ở núi Lung Nham

Ở Phía Tây còn có 2 suối Tả Nam và Pó Lù Suối Pó Lù bắt nguồn từ huyện ChợĐồn chảy ngầm qua dãy núi đá vôi đổ ra cửa Động Nà Phòng và chảy vào hồ Ba Bể

Hồ Ba Bể có một số đảo đá vôi nhỏ: An Mã, Khẩu Cúm, Pò già mải (đảo Bà goá).Đáy hồ không bằng phẳng, có nhiều đỉnh đá vôi ngầm có chỗ sâu tới 30m, trung bình từ15-20m, chỗ nông nhất cũng đạt 9-10m Ven hồ phần lớn là vách đá hiểm trở nhiều chỗdựng đứng Bao quanh hồ chủ yếu là các núi đá vôi: phía Bắc là núi Lũng Nham, núi ánvới các đỉnh cao 689m, 765m, 822m, phía Đông là núi Keo Dìu và Khau Vạy với các đỉnhcao 600m, 799m và 642m, phía Tây là núi Pù nộc Chấp, Pu Che với các đỉnh cao 1043m,975m, 694m và 677m Hai đỉnh cao nhất trong khu vực là núi đất

Phía Nam và Đông Nam là núi đá Quảng Khê và vùng núi cao trung bình của dãyPhja Bjooc với các đỉnh Phja Bjooc 1502m và Hoa Sơn 1517m và 1525m, đây là thượngnguồn của con sông chợ Lèng, kết hợp với sông, hồ tạo nên cảnh quan đa dạng và phongphú [23,tr.5]

Trang 5

Trong vùng chợ Rã - Ba Bể phổ biến là những thung lũng và các cánh đồng cacxtơtrở thành núi Cacxtơ sót Độ cao trung bình của núi cacxtơ ở đây là 800 - 900m Do địahình độ cao nên nhiều chỗ sông Năng có dạng xẻ sâu, đặc biệt là núi Lũng Nham sôngNăng chảy qua dưới dạng một động ngầm trên chiều dài 300m, gọi là động Puông có chiềurộng 40 - 60m.

Bên cạnh khối núi đá vôi này là khối Granit Phja Bjooc, với vận đồng nâng lênIndoxini, vận đồng tân kiến tạo về sau hình thành các khối xâm nhập Granit thuộc phức hệPia Bioc và Garbo thuộc phức hệ núi Chúa Hệ núi này tuy không cao lắm (biến độngtrong khoảng 1000- 1500m) và mức độ hoạt động địa chất không mạnh như vùng núi TâyBắc Song vì cùng nằm trong mưa ẩm có thời kỳ lũ kéo dài nên quá trình xâm thực, pháhuỷ bóc mòn ở đây cũng không kém phần mãnh liệt [23,tr.8]

1.3.3 Khí hậu

Hồ là phần cuối cùng của lưu vực các suối thuộc hệ núi phía Nam Pia Bioc, HoaSơn và cũng là phần dự trữ nước của con sông Năng, do vậy nước ở đây không bao giờcạn Sự bốc hơi nước của sông hồ và suối diễn ra liên tục tạo nên vi khí hậu của hồ mát mẻ

và ẩm Sự chênh lệch giữa hai mùa không nhiều lắm Các giá trị trung bình:

- Nhiệt độ trung bình năm 220C

- Nhiệt độ không khí trung bình cao nhất 390C

- Nhiệt độ trung bình thấp nhất 0,60C

- Lượng mưa trung bình năm 1378mm

- Độ ẩm tương đối trung bình năm 83,3%

- Số ngày mưa phùn trung bình trong năm 33,3 ngày

- Số ngày có dông, mưa trung bình tại chợ Rã 41,2 ngày.[21,tr.6]

Trang 6

1.3.4 Thủy văn

Hồ Ba Bể là trung tâm của vườn rộng 301ha, cả hồ phụ và sông có diện tích 75ha,

hồ có tốc độ dòng chảy trung bình 0,5m/giây.Về mùa lũ dòng chảy ứ lại và hồ nước dângcao Hồ được coi là bể chứa nước của sông Năng khi mùa lũ và hồ mang hai tính chất rõrệt

- Tính chất của hồ nước lớn thiên nhiên

- Tính chất của một khúc sông rộng, sâu được coi là phụ lưu của sông Năng

Nước hồ có màu xanh gần như quanh năm Độ trong của hồ đo bằng đĩa Secchi từ

150 - 200cm Ngày nước lũ của sông Năng dâng cao và đục ngầu với độ trong bằng thì hồvẫn không có màu phù sa Nhiệt độ nước hồ tầng mặt biến thiên theo nhiệt độ của khôngkhí

* Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi: Phân bố ở độ

cao từ 400m đến dưới 1000m Diện tích còn lại ít do bị tác động, ưu hợp thực vật chủ yếu

có các loài Nghiến (Burretiodendon hsienmu) Trai (fragraeoides Đinh (Markhamia pierrei),ngoài ra còn có các loài Lát Hoa (Chukrasia tabularis), một số loài họ Giẻ (Fagaceae)

* Rừng thứ sinh sau khai thác trên núi đá vôi: rừng đã qua tác động khai thác chọn,

phân bố đều khắp trên diện tích núi đá vôi tập trung một số loài Sấu (Dracontomelumdeperreanum) Thung Tetrameles nudiflora Đinh thôi (Markhamia pierrei) ven hồ các loạiTrâm trắng (Syzygium sp) Si (Ficus sp), Mùng Quân (Flacomtia balansae) Trầm vối( Cleistocalyx opereulatus)

* Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi cao trung bình đã quatác động Phân bố chủ yếu ở độ cao từ 600 - 1500m đây là rừng qua khai thác, các loài câucó: Giẻ,Thích, Côm, Lòng mang ở trên đỉnh cao Thấp hơn có Đinh, Lát, Sấu, ở nhữngrừng phục hồi sau nương rãy có Hu, Trám, Sòi, Chẹo

* Thảm cây bụi cây gỗ rải rác (trên núi đá và núi đất) đa phần là các cây gỗ tạp:Thôi ba, Thôi chanh, Hồng bì rừng và các cây bụi: Tổ kén, Cò ke

Trang 7

* Rừng tre nứa: với các loài Vầu, Trúc sào và một ít diện tích rừng nứa Trúc dây

thường thấy mọc tập trung ở cá vách đá ven lòng hồ và sông Năng

Khu hệ thực vật

Thực vật vườn Quốc gia Ba Bể phần lớn thuộc thành phần khu hệ bản địa Bắc ViệtNam - Nam Trung Hoa và khu hệ India - Mianmar di cư đến, nhân tố đất và đá mẹ đã chiphối mạnh đến sự hình thành rừng và hệ thực vật ở đây

Trong nhóm HA đã được Nhà nước quy định bảo vệ nghiêm ngặt là: Đinh(Markhamia pierrei), Nghiến (Burretiodendon hsienmu), Lát hoa (chukrasia tabulatis), Sanhân (Amomum longiligulare), ngoài ra còn có Trai, Lý, Kẹn

Khu hệ động vật

Kết quả điều tra năm 1995 - 1997 đã thống kê được 65 loài thú, 140 loài chim, 30loài bò sát, 15 loài ếch nhái và 49 loài cá Với tổng số 299 loài thuộc các họ, bộ và nhómđộng vật trên cạn, dưới nước và biết bay

1.3.6 Một số điểm du lịch sinh thái tiêu biểu của vườn Quốc gia Ba Bể

Động Nả Phoòng

Đây là một động đẹp thuộc bản Bó Lù, xã Nam Mẫu cách bến phía Nam hồ Ba Bể

khoảng 800m, là di tích lịch sử cách mạng đồng thời đây cũng là nơi đặt trụ sở Đài tiếngnói Việt Nam trong những năm kháng chiến

Không phải ngẫu nhiên mà cách đây 80 năm danh thắng này được đã được khắcvào bia đá rằng: “ Quan thành tỉnh Bắc Kạn đều là núi, suối khe chồng chất la liệt baoquanh Phía Tây Bắc tỉnh, địa hình cao trội lạ lung mà vùng chính giữa đẹp nhất, một nơi

có mĩ quan về sơn thủy, ấy là nơi hồ Ba Bể vậy Cớ sao lại có tên hồ Ba Bể? Nước hồ liềnnhau như hình con ngựa quỳ, cho nên đặt tên như vậy Giữa hồ đột ngột một núi nhỏ có tên

là núi Yên Ngựa, núi có chùa thờ phật, không biết dựng từ hồi nào Lạ thay! Núi mà nổidanh là nhờ có bể, bể kiếm củi được mà núi thì đánh cá được Tạo vậy hình như cố ý tang

Trang 8

trữ cảnh đẹp để dành cho khách du quan Trong động có người, phàm từ sông vào hồ phải

du thuyền qua đây Hai vách là đá, nước sông rời núi, sâu và lặng, khuất khúc mà sáng sủa,quỷ khắc thần chạm, khéo đến nhường nào! Nơi đây xưa kia thuộc châu Bạch Thông tỉnhThái Nguyên Từ khi đặt tỉnh Bắc Kạn (1900) mới thuộc châu Chợ Rã

đây là một vùng non nước có môi sinh phong phú, thảm thực vật nhiều tầng, cây vàcon rất đa dạng, cảnh quan địa lý kỳ thú

Hồ Ba Bể rộng 500ha, là hồ kiến tạo lớn nhất miền Bắc Việt Nam giữa vùng đáphiến và đá vôi, được Unesco xếp vào danh sách hai mươi hồ nước ngọt đẹp nhất thế giới

Hồ có chiều dài 8km, rộng 3km, sâu khoảng 20 - 30m, hồ ở độ cao 145m so với mặt nướcbiển Đáy hồ không bằng phẳng mà có nhiều núi ngầm, hang động là nơi trú ngụ lý tưởngcủa các loài thủy sinh, động vật dưới nước, đặc biệt trong lòng hồ có rất nhiều loại cá trong

đó có cá chép nặng tới 32kg và loài tảo đỏ đặc hữu

Hồ được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi có nhiều hang động và những suối ngầmkhi ẩn khi hiện Hồ nằm kẹp giữa hai dãy núi lớn ở Việt Bắc là cánh cung sông Gâm vàcánh cung Ngân sơn với những đỉnh núi cao trên 1000m Hồ có cấu tạo khá đặc biệt thắt ởgiữa và phình ra ở hai đầu giống như hình một con Giao long khổng lồ thắt khúc thành 3đoạn tương đương với 3 hồ: Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng Theo tấm bia trên Pò Giả Mải ghi thì

hồ có tên gọi “ Tam hải hồ” nghĩa là hồ ba biển Có lẽ vì vậy mà người dân địa phươngmới gọi hồ là hồ Ba Bể

Đến với hồ Ba Bể du khách không những được thưởng thức khí hậu mát mẻ cùngvới phong cảnh sơn thủy hòa quyện với nhịp sống thanh bình các bản làng dân tộc trên núicao mà còn được đi dạo hồ bằng thuyền độc mộc hay dạo chơi trong rừng quốc gia

vĩ của hang động này Đến thăm động chắc chắn du khách cũng sẽ có sự liên tưởng khácnhau bởi thứ ánh sáng kỳ ảo cùng vô số hình thù kỳ lạ trong động Cây cột ở phía trước

Trang 9

cửa khi vào động giống như cây cột tiền sảnh của một lâu đài nguy nga Và nhìn sang phíabên cạnh là vô số nhũ đá tạo thành những tua rủ khẳng khiu của một cành cây mùa đôngvừa qua mùa thay lá Nhưng xin du khách đừng quên quát sát trên vách trần của lòng động,

du khách sẽ thiếu một phần cảm nhận về động Puông bởi trên vách trần có một đoạn tre đãhóa thạch – đó có lẽ là dấu tích của một trận đại hồng thủy từ thủa hồng hoang Nhưngđiều đặc biệt thú vị là trên vách đá bên trái động, ở đó có một “khuôn cửa” mà hình ảnhbên trong được người dân địa phương khẳng định ấy là Bác Hồ đang ngồi trên ghế tựanhung xanh thanh thản đọc báo

Đảo An Mã

Trước đây là một hòn đảo tự nhiên Đảo có diện tích 1km2, có hình dáng giống hìnhthù một con ngựa quỳ nằm quay lưng nhìn ra giữa hồ, bởi vậy mà người dân địa phươngquen gọi là đảo An Mạ (An Mã) Phỏng theo sự tích hồ Ba Bể thì có lẽ đảo An Mã đâychính là nơi an nghỉ của dân làng mà mẹ con Bà Góa đã dùng chiếc thuyền vỏ trấu cứu vớt

họ Sau này tại nơi đây trở thành miếu thờ 7 vị tướng nhà Mạc có công trong cuộc quyếtchiến chống giặc phương Bắc

Đảo Bà Góa ( Pò Giả Mải)

Đây là một đảo nhỏ nằm giữa hồ Pé Lèng, trên đảo là những tảng đá lô nhô, đượchình thành do kiến tạo tự nhiên Trước đây đảo là nơi diễn ra các trò chơi trong lễ hội xuân

Ba Bể Hiện nay, trên đảo còn đặt tấm bia niên hiệu Khải Định thứ 9 (năm 1925) Hòn đảonày bốn mùa xanh biếc cành lá, chính vì thế có người đã ví “ Gò giả Mải như một cô gáiđẹp đang soi mái tóc xanh mượt mà óng ả trên mặt hồ”

Thác Đầu Đẳng lại có độ cao 53m, dài tới 2km nước chảy xiết qua muôn ngàn mô

đá lô nhô và có vô số những tay lá xanh, những tán cây nghiêng mình soi bóng Nếu chú ýhơn một chút du khách sẽ thấy những luồng cá bơi lội tung tăng, thỉnh thoảng lại có mộtđàn cá nhỏ nhảy lia thia, háo hức như hội vượt vũ môn Người dân còn truyền miệng rằng

ở đáy hồ hiện có một đôi lươn vàng rất to… Thực tế ở đây có loài cá Chiên đang sống ởdòng sông này, có những con nặng tới 10kg

Trang 10

1.4 Tiềm năng du lịch nhân văn vườn Quốc gia Ba Bể

Bên cạnh những tiềm năng du lịch sinh thái tự nhiên - đối tượng chủ đạo của cáchoạt động du lịch sinh thái thì tiềm năng du lịch nhân văn tại một khu du lịch là một cấuthành tách rời Nếu coi văn hóa là kết quả thể hiện quá trình thích ứng của con người vớimôi trường thiên nhiên thì tính đa dạng sinh học và tính đa dạng văn hóa có mối quan hệmật thiết theo những quy luật nhất định Muốn bảo tồn và tăng cường tính đa dạng văn hóacần phải thực hiện việc bảo tồn và làm giàu tính đa dạng sinh học

Phát triển du lịch sinh thái mang tính bền vững với mục tiêu giáo dục, duy trì bảotồn và phát triển môi trường tự nhiên, đồng thời sự phát triển đó cũng có trách nhiệm bảotồn và phát triển vốn văn hóa trong khu vực

Tiềm năng nhân văn trong các khu sinh thái tự nhiên được hiểu bao gồmcộng đồng dân cư với vốn văn hóa truyền thống của họ (như tập tục, lối sống sinh hoạt, lễhội, văn hóa dân gian, các sản phẩm thủ công truyền thống, các di tích lịch sử, kiến trúcnghệ thuật, các đặc sản ẩm thực…)

Vườn Quốc gia Ba Bể thu hút khách du lịch không chỉ bởi nét đẹp độc đáo do thiênnhiên ban tặng mà còn bởi nhiều giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc nơi đây gắn liền vớinhững truyền thuyết, huyền thoại lung linh huyền bí của hồ

1.4.1 Huyền thoại về Hồ Ba Bể

Phong cảnh hồ Ba Bể đẹp là vậy Nhưng ẩn chứa trong đó còn cả một kho tàng vănhóa dân gian và giá trị nhân văn sâu sắc Vậy những giá trị nhân văn ấy do đâu mà có?Bông hoa chúa treo trên vách đá hồ Ba Bể tương truyền ở đâu? Ao tiên, núi Hoa (Phjabjoóc) có ông già tiên còn giữ cây đàn tính thần kỳ … và đặc biệt hơn là sự tích, huyềnthoại về vùng hồ này do đâu mà có?

Truyện dân gian kể rằng: “ Ngày xưa vùng hồ Ba Bể vốn là một vùng đất trù phú

và đông đúc Chim chóc ngày đêm hót ca, gia súc từng bầy từng đàn đêm ngày nhộn nhịp.Cuộc sống của mọi người nơi đây vốn đã đầm ấm lại ngày thêm đầm ấm

Một hôm đang kỳ rỗi việc dân làng liền mở hội để vui chơi, ca hát Ở trên trời thấycảnh trần gian tấp nập vui vẻ như vậy Pựt (Phật) sinh nghi hoặc, nghĩ vậy Phật liền hóaphép để thử lòng người

Trời đã về chiều, hội vui cũng sắp đến lúc tàn, bỗng dưng có một con bò rất đẹpchẳng rõ của ai lạc vào đám hội Thấy bò đẹp mà lại không có chủ nhân lúc đói bụng lũngười xấu trong bản liền rủ nhau bắt thịt rồi chia phần đánh chén Lúc ấy cả bản chỉ có hai

Trang 11

mẹ con bà Góa nghèo khổ đói rách không có quần áo mới để dự hội đành lủi thủi ở trong

xó lều Biết cả bản giờ chỉ vắng mỗi ngôi nhà ấy nên trưởng bản sai người mang đến chohai mẹ con một ít da và chiếc đuôi bò Nhận được phần của mình ba Góa cũng chảng nói gì

mà lẳng lặng đem để lên gác bếp

Ngày hôm sau, có một bà già ăn mặc vô cùng bẩn thỉu và rách rưới chẳng biết từđâu tới Bà đi tới đâu rận rệp rơi lả tả đến đó khiến mọi người trong bản vô cùng kinh tởm

Ai nhìn thấy cũng lắc đầu lè lưỡi và xa lánh Vào đến bản bà lão đi từng nhà hỏi để xem có

ai nhìn thấy con bò đẹp của mình vừa mới bị mất hôm qua không? Hỏi ai cũng đều trả lời

là không biết Cứ thế bà lão lần lượt đi khắp bản mà hỏi Trời tối dần, sức lực của bà giờđây cũng dần cạn kiệt vì nỗi khổ tìm bò Mệt quá bà xin mọi người cho mình nghỉ lại quađêm, nhưng thấy bà già bẩn thỉu, rách rưới, lại là chủ của con bò bị lạc hôm qua nên chẳng

ai cho nghỉ nhờ Đi mãi đi mãi đến tận cuối bản bà mới gặp hai mẹ con bà Góa Vốn sẵntính thương người bà Góa liền mời bà lão vào lều mình ngủ tạm Đêm ấy chờ lúc con đãngủ say, bà Góa mới kể lại cho bà lão biết sự việc xảy ra hôm qua rồi chỉ cho bà thấy chiếcđuôi bò và ít da bò còn nằm trên gác bếp Sớm hôm sau ngủ dây, trước khi ra về bà lão nóivới hai mẹ con bà Góa:

- Ta đến đây không phải hỏi chuyện mất bò, đó chẳng qua là chỉ để thử lòng người mà thôi.Cảm ơn hai mẹ con bà có tấm lòng nhân hậu, đêm nay trước khi đi ngủ nhớ rắc trấu xungquanh nhà cho cẩn thận – nói xong bà lão biến mất

Mãi đến khi ấy hai mẹ con bà Góa mới bàng hoàng hiểu ra sự việc Buổi tối trướckhi đi ngủ hai mẹ con cẩn thận làm theo lời dặn của bà lão Nửa đêm sấm chớp nổi lên ầm

ầm, mưa như trút nước Thế rồi đất dưới chân mọi người rung chuyển và từ từ sụt xuống,nước ngập đầy nhấn chìm nhà cửa và dân làng Cả vùng chỉ duy nhất có nhà mẹ con bàGóa kia là còn nguyên vẹn ( sau này vùng đất ấy trở thành đảo bà Góa) Thấy mọi ngườitrong bản chết nhiều quá, hai mẹ con liền vứt vỏ trấu xuống nước Tức thì vỏ trấu hóathành những con thuyền độc mộc Hai mẹ con chia làm hai ngả đi cứu người Cũng kể từ đó

mà vùng hồ này luôn luôn có những chiếc thuyền độc mộc đi lại

Nhưng kể từ khi vùng đất này trở thành bể lớn thì thủy tộc ở các nơi kéo nhau đếnđây để ở Sau nhiều cuộc giao tranh ác liệt giữa muôn loài thủy quái, cuối cùng thuồngluồng cổ đỏ được trở thành vua cảu vương quốc này

Thời gian sau, thuồng luồng cổ đỏ lấy vợ và sinh hạ được ba người con gái Ngày

nọ thấy các con đã khôn lớn không thể cùng mình sinh sống được nữa, thuồng luồng bố

Trang 12

chia bể nước thành ba vùng để ba đứa con gái cai quản: Từ Cốc Lầy đến Pác Ngòi vá sôngchợ Lèng đặt tên là Pé Lèng; từ Cốc Lầy đến An Mã và cả Nà Phòong, Bó Lù được gọi là

Pé Lù; từ An Mã đến Đầu Đẳng gọi là Pé Lầm Người dân ở đây từ đó quen gọi tắt vùng hồnày là Slam Pé ( nghĩa là hồ Ba Bể) Cái tên hồ Ba Bể từ đó ngày một trở nên gần gũi hơnvới người đời sau” [19, tr.59-60]

Câu chuyện và truyền thuyết trên đây gắn liền với nền văn minh lúa nước của dântộc Việt Nam, là hình tượng của chiếc thuyền độc mộc ngày nay – một dấu ấn của sự sángtạo về phương tiện đi lại giữa lòng hồ sông nước của nhân dân vùng hồ Ba Bể và du kháchnước ngoài rất thích Hình ảnh người đàn bà cứu dân cứu nước trong cơn đại hồng thủy làmột hình ảnh đẹp về người phụ nữ quả cảm và giàu lòng nhân ái đồng thời thể hiện tinh thầnđoàn kết tương thân tương ái của con người Việt Nam trong những cơn nguy khó

1.4.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Tày bản Pác Ngòi – Ba Bể

Có thể nói dân cư dân tộc với các hình thức sinh hoạt văn hóa của họ giữ vai tròquan trọng trong phát triển du lịch tại các điểm du lịch sinh thái

Trong khu vực vườn Quốc gia Ba Bể có nhiều dân tộc sống xen kẽ với nhau như:Tày, Nùng, H’mông, Dao, Kinh… Trong đó cư dân chiếm số lượng đông nhất là người Tày.Đây là cư dân bản địa của vùng đất này Và điều quan trọng hơn cả là những giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc này vẫn còn khá đậm nét như kiến trúc nhà cửa, các nghề thủcông, trang phục truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian, tín ngưỡng dân gian, văn hóa ẩmthực…tất cả đều mang cái rất riêng của vùng và đó chính là những tiềm năng du lịch rấtphong phú, đa dạng và đặc sắc cần được phát triển trở thành những sản phẩm du lịch hấpdẫn du khách

Đến với Ba Bể du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp mênh mông sôngnước giữa núi rừng xanh thẳm với nhiều thảm thực vật quý hiếm và cảm nhận những nétnguyên sơ giữa đại ngàn, hay đi thăm thác Đồng Đẳng, ao Tiên, động Phuông, đảo BàGóa… du khách còn được “quyến rũ” bởi những nếp nhà sàn truyền thống và ở đó khách

có thể được “chiêu đãi” bằng những nét bản sắc độc đáo của người Tày bản địa

Do ở vùng núi, cây rừng rậm rạp, lại tác động nắng mưa gây nên độ ẩm cao, rồi côntrùng, thú dữ…cho nên người Tày có thói quen sống định cư tập trung ở nhà sàn, đó là nếpnhà truyền thống của người Tày

Trang 13

Nằm gọn trong vùng lõi vườn Quốc gia Ba Bể, Pác Ngòi có 80 hộ với 400 nhânkhẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày sinh sống Pác Ngòi là một trong những thôn ít ỏicòn lưu giữ được những phong tục, tập quán mang đậm bản sắc dân tộc Tày.

Trang 14

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ - BẮC KAN

2.2 Thực trạng khai thác du lịch sinh thái vườn Quốc gia Ba Bể

2.2.1 Hiện trạng khách du lịch

Đặc điểm chung về khách

Ba Bể là nơi có tiềm năng du lịch phong phú và độc đáo, giữa các vách núi đá vôidốc đứng là hồ nước ngọt, vùng hồ lặng sóng nằm giữa thiên nhiên Nơi đây là địa điểm lýtưởng đối với hoạt động du lịch sinh thái hồ

Cấu tạo hình thành hồ nước ngọt trên núi đá vôi là sự độc đáo chính tạo lên nét thuhút của hồ, nhưng không chỉ do cấu tạo độc đáo, mà vẻ đẹp của hồ với truyền thuyết hồ Ba

Bể có sức hút rất lớn đối với khách du lịch

Nằm trong quần thể vườn Quốc gia Ba Bể, không khí trong lành vùng hồ tạo cảmgiác mát mẻ, sảng khoái đối với du khách Lượng khách thu hút đến khá đông và có nhữngđặc điểm nổi bật như:

- Khách du lịch đến Ba Bể chủ yếu là khách du lịch tự do hoặc đi theo các nhómnhỏ Vì vậy, lượng khách không lớn

- Du khách đều là những người yêu thích thiên nhiên và hầu hết có động cơ đi dulịch cao, có nhu cầu và mục đích đi du lịch sinh thái rõ rệt

- Là khách du lịch sinh thái nên họ là những người trẻ, hầu hết ở độ tuổi từ 25 - 40,

có sức khoẻ tốt, có giáo dục, có mức thu nhập trung bình nghề nghiệp ổn định

- Hiện tại thị phần khách đến Ba Bể tới 70% là khách Pháp, trong khách du lịchsinh thái nói chung và ở Việt Nam nói riêng là khách Úc, khách Mỹ còn ít tới Ba Bể

- Ba Bể có tính chất chung của các khu du lịch sinh thái, lượng khách không theomùa vụ, mà phân bố khá đồng đều trong năm: khách quốc tế chủ yếu từ tháng 9 đến tháng

3, khách nội địa từ tháng 4 đến tháng 9

Lượng khách

Hiện tại, du khách tới Ba Bể chưa nhiều, chưa xứng với tiềm năng du lịch ở đây Cóthể thấy điều đó qua số liệu khách du lịch trong các thời kỳ dưới đây:

Trang 15

Bảng 3: Hiện trạng khách du lịch tại Ba Bể giai đoạn 2005 -2010

Nguồn: Sở văn hóa thể thao và du lịch Bắc Kạn

Số liệu trên cho thấy lượng du khách đã tăng nhanh chóng trong những năm gầnđây theo đà phát triển của nhu cầu du lịch sinh thái; Trong giai đoạn 1995 -2000, vào thờiđiểm năm 1995 vườn Quốc gia Ba Bể mới chỉ đón được 370 khách quốc tế và 1.830 kháchnội địa, đến năm 2000 số khách quốc tế đến Ba Bể đạt 2.260 khách và khách nội địa đạt18.740 khách Như vậy tổng lượng khách đến Ba Bể tăng gấp 8 lần trong vòng 5 năm, đạtmức tăng trung bình 43,6%/ năm đối với khách quốc tế và 59,2%/năm đối với khách nộiđịa

Trong giai đoạn 2005 -2010, lượng khách du lịch nội địa vẫn chiếm ưu thế và tăngđều Khách quốc tế không ổn định lúc tăng lúc giảm và có xu hưởng giảm dần so với thịphần khách nội địa Ở giai đoạn 1995-2000, năm 1998 khách nước ngoài chỉ chiếm 15 %tổng số khách, đến năm 2000 chỉ còn 10,8 % và đến năm 2010 giảm xuống chỉ còn 3,7 %.Lượng khách quốc tế đến huyện Ba Bể chiếm hầu hết số khách quốc tế của toàn tỉnh Bắc

Trang 16

Kạn (năm 2000 chiếm 90%) Tuy vây, con số tuyệt đối còn thấp, năm 2000 chỉ đạt hơn

2000 lượt khách

Khách quốc tế đến đây chủ yếu là khách du lịch đi theo tour, với mục đích thamquan phong cảnh trên sông và lòng hồ, leo núi, thăm một số động vật quý hiếm, du lịchnghiên cứu và du lịch văn hóa tìm hiểu nếp sống bản địa của một số bản làng dân tộc thiểusố

Theo quốc tịch khách quốc tế đến đây chủ yếu là người Pháp, Lào, Trung Quốc,

Nhật Ngoài ra còn có các khách đến từ Đức, Bỉ, Hà Lan, Thuỵ Sỹ, Singapore, Malaysia

Khách nội địa hiện là thị trường chính của Ba Bể, giai đoạn 1995 -2000 thì năm

1995 chiếm 83% và năm 2000 chiếm tới 89% và giai đoạn 2005 -2010 cho thấy năm 2010chiếm tới 96,3 % trong tổng số khách du lịch tới khu vực Khách du lịch nội địa tới huyện

Ba Bể chủ yếu là khách tham quan, nghỉ cuối tuần hoặc kết hợp công tác thời gian lưu trútrung bình của khách thấp, chỉ trên dưới 1 ngày

Thực trạng du khách nói trên cho thấy hiện tại sức hấp dẫn khách du lịch của huyện

Ba Bể là còn rất hạn chế, các hoạt động kinh doanh du lịch kém phát triển

Xu hướng phát triển khách du lịch

Xu hướng phát triển khách trong thời gian vừa qua có thể đánh giá là rất nhanh về

số lượng Tốc độ gia tăng như vậy là hiếm có đối với các khu du lịch hiện nay ở Việt Nam,

do Ba Bể là khu du lịch còn trong giai đoạn đầu phát triển Hiện tại toàn bộ việc phát triểnkhách hầu như là tự phát, hầu hết khách tự tìm đến hoặc các công ty lữ hành tự lần mò đưakhách tới, nên xu hướng khách không rõ rệt Tuy nhiên, trong những năm gần đây luồngkhách tới Ba Bể đã bắt đầu định hình rõ dần

+ Khu quản lý, điều hành, dịch vụ (tại Ban quản lý vườn Quốc gia Ba Bể)

+ Khu lưu trú (liền ngay Ban quản lý vườn Quốc gia Ba Bể)

+ Khu bến thuyền bên hồ (tại ngay bến thuyền đi Chợ Đồn)

+ Khu bến thuyền và đón tiếp tại thị trấn (tại thị trấn Ba Bể)

Trang 17

Các khu chức năng trên tuy đã có từ lâu, nhưng hình thành không theo các mụcđích du lịch Chúng mới được tôn tạo, nâng cấp theo các hoạt động của vườn Quốc gia Ba

Bể và được gắn kết với nhau bằng đường độc đạo vào vườn Quốc gia Ba Bể và theo sôngNăng

Các công trình kiến trúc

Các công trình kiến trúc gồm khu điều hành, đón tiếp, dịch vụ, khu lưu trú và khubến thuyền chính ven hồ:

Khu điều hành, đón tiếp, dịch vụ

Khu này hiện là một phần công trình của Ban quản lý vườn Quốc gia Ba Bể Chúngđược xây dựng theo kiến trúc công sở hình thức đẹp, khang trang Nhà ăn, hội trườngrộng rãi, thoáng mát, dãy nhà dịch vụ sát cổng ra vào chất lượng tạm bợ

Khu lưu trú

Khu này liền kề khu đón tiếp, điều hành bao gồm 3 cụm nhà:

+ Cụm nhà xây một tầng kiên cố phía ngoài gồm 6 phòng chất lượng cao, có điều hoà vàcác vật dụng theo tiêu chuẩn phòng nghỉ

+ Cụm nhà tạm một tầng gồm 8 phòng làm bằng khung sắt, tường ván gỗ, lợp mái tạm Các vật dụng trong phòng theo tiêu chuẩn bình thường, chủ yếu phục vụ khách nội địa.+ Cụm nhà phía cuối khu lưu trú gồm 2 nhà sàn dựng sát nhau Đây là nhà cũ của đồngbào dân tộc thiểu số làm bằng gỗ, tre lợp tranh, chủ yếu phục vụ học sinh, sinh viên.Toàn bộ khu lưu trú tổ hợp hình chữ L quay ra một hồ nhân tạo nhỏ trồng sen và hoa súng.Xung quanh hồ có đường dạo, thảm cỏ, non bộ rất đẹp

Cảnh quan phía trước khu nghỉ đẹp, phù hợp với khung cảnh chung Phía sau khunghỉ còn đơn sơ với các ống kỹ thuật lộ liễu, cột đỡ các sàn nhà và khung nhà chưa đượcchau chuốt, chưa trồng cây xanh

Khu bến thuyền chính ven hồ

Khu này gồm 3 cụm sau:

+ Cụm bến thuyền: là bến thuyền cũ đi Chợ Đồn Bến được kè tốt cùng đội thuyền chấtlượng đảm bảo phục vụ du khách tham quan trên hồ

+ Cụm dịch vụ tư nhân: là dãy nhà tạm bám theo đường xuống bến, mặt sau quay ra hồ, xảrác thải ra bờ hồ Diện mạo khu này lụp xụp, tạm bợ và mất an toàn (chênh vênh trên bờhồ)

Trang 18

+ Cụm dịch vụ của vườn: là nhà sàn bằng gỗ kiên cố với kiến trúc đẹp Tại đây có cácdịch vụ ăn uống, giải khát Nhà ăn khang trang có tầm nhìn tốt ra hồ Ngay cạnh cụm này

có một khu vệ sinh công cộng chất lượng tốt

Cơ sở lưu trú

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởngtrực tiếp đến hoạt động kinh doanh du lịch Do đó phải đánh giá khả năng cung ứng sảnphẩm dịch vụ du lịch trong khu lưu trú, nhà hàng để xem chất lượng sản phẩm đã đáp ứngđược nhu cầu của khách chưa

Hiện nay, cơ sở lưu trú của tỉnh Bắc Kạn nói chung, của vườn Quốc gia Ba Bể nóiriêng còn thiếu cả số lượng và chất lượng Cơ sở lưu trú chính của khu vực này là nhà nghỉ

và khách sạn của vườn Quốc gia, ngoài ra ở khu vực thị trấn huyện cũng có một số nhànghỉ Nói chung chất lượng buồng phòng vẫn thuộc loại trung bình Năm 2000 cả huyệnmới có 6 cơ sở lưu trú, đến nay cũng có khoảng 60 -70 cơ sở lưu trú Trong mấy năm trởlại đây, cùng với xu hướng phát triển chung của cả nước, do lượng khách quốc tế tăng,khách nội địa cũng có nhu cầu đi nghỉ nhiều hơn nên các khách sạn, nhà nghỉ ở đây cũngđược xây dựng thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu khách du lịch

Bảng 4: Cơ sở lưu trú của huyện Ba Bể - Bắc Kạn 2005 - 2010

Nguồn: Sở văn hóa thể thao và du lịch Bắc Kạn

Trong số cơ sở lưu trú nêu trên có 10 cơ sở trên địa bàn huyện gồm nhà nghỉ củavườn Quốc gia, các khách sạn và nhà nghỉ tư nhân được xây dựng kiên cố: Khách sạn PhjaBjoóc có 135 phòng và 311 giường Hầu hết các phòng đều khép kín, trang bị nội thất gồmđiều hoà, ti vi, bình nóng lạnh, giường đệm cao cấp Đặc biệt có 03 cơ sở không chỉ cónhững tiện nghi trên, mà còn có hệ thống tổng đài điện thoại cho từng phòng là vườn Quốcgia Ba Bể; nhà nghỉ Tuyết Chinh, nhà nghỉ Hải Yến ở trung tâm huyện Giá phòng daođộng từ 120.000đ - 150.000đ/ngày cho phòng loại 1; 80.000đ - 100.000đ/ngày đối vớiphòng loại 2

Trang 19

15 nhà sàn trong địa phận vườn Quốc gia có mặt sàn gỗ rộng, diện tích trung bình

từ 50 đến 200 m2 sức chứa tối đa khoảng 25 đến 45 người/ngày Có 08 nhà ngoài diện tíchmặt sàn còn chia thành 3 - 4 phòng riêng có giường đệm Giá tiền từ 15.000đ đến 20.000đvới khách trong nước; 30.000đ đến 40.000đ với khách nước ngoài

Nhìn chung cơ sở lưu trú của Ba Bể còn chưa đủ sức chứa du khách vào mùa dulịch cao điểm và vào dịp lễ hội xuân Ba Bể, vi vậy, nhiều đoàn đến lại phải quay về thịtrấn, thị xã để nghỉ

Cơ sở ăn uống và dịch vụ

Cơ sở ăn uống bao gồm: các nhà hàng, quán ăn, quán điểm tâm… đó là những cơ

sở ăn uống để đảm bảo các nhu cầu cho khách Nhưng ở vườn Quốc gia Ba Bể còn rất ít cơ

sở ăn uống, lại chưa đủ lớn, chưa được phân bố hợp lý Tại vườn chỉ có 1 nhà hàng, tạikhu vực hồ Ba Bể có 2 cở sở ăn uống và 1 cơ sở thuộc khách sạn Phjabooc khá tốt về phục

vụ, về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, về món ăn độc đáo của vùng miền…

Số lượng cơ sở ít cộng thêm những cơ sở ăn uống tự phát chưa đảm bảo điều kiện vệsinh an toàn thực phẩm làm ảnh hưởng đến sự lưu lại của du khách

khu du lịch Ba Bể các dịch vụ này còn thiếu thốn nhất, khiến du khách phàn nànnhiều nhất: 90% số khách được phỏng vấn cho là các dịch vụ vui chơi giải trí ở đây quánghèo nàn, 10% cho là tạm được và không một khách nào cho là đã đáp ứng được nhu cầugiải trí của họ Cảm nhận chung của khách là cảnh quan khu du lịch là thế mạnh, thu hútkhách, nhưng do thiếu thốn dịch vụ mà chuyến tham quan trở nên đơn điệu, khách khôngmuốn kéo dài thời gian lưu trú

Giao thông

Ba Bể cách Hà Nội 240km, cách Phủ Thông (theo quốc lộ 2) 60km và Chợ Rã (thịtrấn huyện Ba Bể) 18km Trong vườn Quốc gia việc đi lại chủ yếu bằng thuyền máy,thuyền độc mộc và đi bộ trên những con đường mòn xuyên qua các xã Đường giao thông

từ chợ Rã đi chợ Đồn có một đoạn phải qua vườn Quốc gia và qua hồ Ba Bể, đây là mộtkhó khăn trong công tác bảo vệ vườn, cần phải có phương thức khắc phục

Ngoài bãi đỗ xe của vườn Quốc gia, xe đỗ trong khu vực tại các bãi tạm tự nhiênĐường chính từ cổng vào khu điều hành, đón tiếp, bến thuyền được trải nhựađẹp, chất lượng tốt (mới được nâng cấp năm 2000)

Các bến thuyền ngoài bến thuyền chính đều là tự nhiên, chưa được làm bậc lênxuống và các hạng mục kỹ thuật cần thiết

Trang 20

Phương tiện vận chuyển trên hồ của dân là thuyền độc mộc- một hình thức giaothông độc đáo.

Các phương tiện vận chuyển khách chính ngoài ô tô, thuyền chuyên chở khách làchủ lực trong khai thác du lịch tại hồ Ba Bể Đó là các thuyền gắn máy chở được 20 - 30người du ngoạn trên hồ Hiện tại số lượng cũng như chất lượng các tàu thuyền tại đây chưađảm bảo Hầu hết các thuyền còn xấu, chưa có thuyền đẹp và khép kín để phục vụ khách.Các phương tiện vận chuyển này không đáp ứng được nhu cầu tham quan của khách về mỹthuật cho phù hợp với cảnh quan chung và với mức độ chung

Thuyền chưa tiện nghi cho du khách, nhất là đối với khách du lịch quốc tế về ghếngồi và mái chắn để đi trong thời gian tương đối dài; chưa đảm bảo mức độ an toàn cần thiết,

là yêu cầu hàng đầu trong chuyến tham quan du lịch

Nhìn chung, việc đi lại cả trên bộ và trên mặt nước còn gặp nhiều khó khăn như:chưa đủ tuyến đường để đi lại và kiểm tra rừng, biển chỉ dẫn đường, chỉ hướng trong vườncòn ít, gây bất lợi cho khách… Du khách đến với Ba Bể thường tự lo phương tiện, nhất làđoạn đường tự huyện lỵ Ba Bể vào đến hồ dài 16km chưa có tuyến xe nào cố định khiếnkhách du lịch chủ yếu đi xe ôm

Hi vọng trong thời gian tới những tuyến đường đến với Ba Bể dễ dàng hơn, thuậntiện hơn

2.2.3 Các sản phẩm du lịch chính

Các sản phẩm du lịch

Thế mạnh của du lịch Ba Bể là sinh thái hồ, tham quan hưởng khí hậu, tham quan bảnlàng dân tộc Hiện tại các dịch vụ du lịch chính tại Ba Bể bao gồm:

- Đi thuyền trên sông Năng đến động Phuông, thác đầu Đẳng, hồ Ba Bể

- Đi thuyền độc mộc trên sông và hồ để du khách thưởng thức loại phương tiện vậnchuyển mang đậm bản sắc dân tộc

- Đi thuyền gắn máy kết hợp đi bộ đến bản Cám Bân để tìm hiểu phong tục tậpquán của người dân tộc

- Đi bộ theo tour du lịch sinh thái xuyên rừng quan sát động vật

- Đi bộ trong rừng và thưởng thức không khí trong lành tĩnh mịch

- Ngủ qua đêm tại bản Pác Ngòi, giao lưu văn hoá với dân tộc Tày

Tuy chưa được đầu tư khai thác gì mấy về mặt du lịch, nhưng với nguồn tài nguyên

du lịch độc đáo, Ba Bể có sức hút rất lớn đối với du khách

Ngày đăng: 26/04/2021, 11:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Đổng Chi (1997), Sự tích hồ Ba Bể, Nxb Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích hồ Ba Bể
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
Năm: 1997
3. KTS Nguyễn Thu Hạnh (1997), “Giữ vững bản sắc để tạo ra ấn tượng”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (52), tr. 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ vững bản sắc để tạo ra ấn tượng”, "Tạp chí Du lịchViệt Nam
Tác giả: KTS Nguyễn Thu Hạnh
Năm: 1997
4. Bạch Hạc (2004), “Đầu tư phát triển du lịch cần dựa trên những nguyên tắc bền vững”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (8), tr. 26-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư phát triển du lịch cần dựa trên những nguyên tắc bền vững”, "Tạp chí Du lịch Việt Nam
Tác giả: Bạch Hạc
Năm: 2004
5. Việt Hoa (2004), “Nỗi niềm du lịch Bắc Kạn”, tạp chí du lịch Việt Nam, (8), tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi niềm du lịch Bắc Kạn”," tạp chí du lịch Việt Nam
Tác giả: Việt Hoa
Năm: 2004
6. Lê Mậu Hãn (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Lê Mậu Hãn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
7. KOE MAN.A (1998), “Du lịch sinh thái trên cơ sở phát triển bền vững”, Hội thảo du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở Việt Nam, Hà Nội. tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái trên cơ sở phát triển bền vững”, "Hội thảo du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: KOE MAN.A
Năm: 1998
8. Trịnh Trúc Lâm (2002), Địa lý tỉnh Bắc Kạn, Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Trịnh Trúc Lâm
Năm: 2002
9. Nhiều tác giả (2004), Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NxbVăn hóa dân tộc
Năm: 2004
10. Sở thương mại và du lịch Bắc Kạn (1999), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bắc Kạn 1999-2020, Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch BắcKạn 1999-2020
Tác giả: Sở thương mại và du lịch Bắc Kạn
Năm: 1999
11. Sở thương mại và du lịch Bắc Kạn (2003), Kỷ yếu hội thảo phát triển du lịch sinh thái văn hóa Ba Bể, Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo phát triển du lịch sinh tháivăn hóa Ba Bể
Tác giả: Sở thương mại và du lịch Bắc Kạn
Năm: 2003
12. Sở VHTT và DL Bắc Kạn (2005), Bản thảo quy hoạch phát triển du lịch khu vực hồ Ba Bể giai đoạn 2005-2010, Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thảo quy hoạch phát triển du lịch khu vực hồ BaBể giai đoạn 2005-2010
Tác giả: Sở VHTT và DL Bắc Kạn
Năm: 2005
13. Tổng cục du lịch (2005), Non nước Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
Tác giả: Tổng cục du lịch
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
14. Thu Trang (2010), “Bắc Kạn đón 150.000 lượt khách du lịch năm 2010”, www.backan.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Kạn đón 150.000 lượt khách du lịch năm 2010”
Tác giả: Thu Trang
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w