1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI vườn QUỐC GIA mũi cà MAU

77 414 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 9,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về nội dung, Du lịch sinh thái là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm, đưa du khách đến môi trường còn tương đối nguyên vẹn, vùng thiên nhiên hoang dã, đặc sắc để tìm hiểu, nghiên cứu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN: LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ - DU LỊCH

HỌ VÀ TÊN: HỮU HUYỀN VŨ THOẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH DU LỊCH

Cần Thơ,thán 0 /2 11

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 4

Lời đầu iên ch em gửi lời c m ơn đến oàn hể q ý Thầy,Cô ro g Bộ mô :Lịch sử - Địa ý – Du ịch cù g q ý Thầy, Cô đã ừng giảng dạy em ro g suốt bốnăm em ng i g ế nhà rườn Qu Thầy, Cô đã ru ền đạt ch em n ữn bàihọc v

cù g qu báu đ sẽ à hàn rang giú ch em có được niềm in vữn chắ ch cô g việ ương aicủa em sau này

Đặ biệt em xin chân hàn bày ỏ òn biếtơn sâu sắ đến hầy Ng yễn TrọnNhân Thầy đã ận ìn hướn dẫn, giản dạy, chỉ ra n ữn điểm đ n điểm sai và tru ền đạt n ữn kin n hiệm đi trư c giú em hiểu rõ hơn nhữn vấn đề hiếu sóttro g q á rìn n hiên cứu đề ài để em có hể h àn hàn ch yên đề ốtng iệp

Đồn hời em xin chân hàn c m ơn đến c c Cô,Chú,An , Chị tron Tru g tâm Th n in và Quảng bá Du ịch và Cô g viên Văn h a d ich Mũi Cà Mau Tỉn

Cà Mau đã giú đỡ em rấtn iệt tn ro g su tthời gian em hực ập.Cá an chị đã hướng dẫn và cu g c p đầy đ c c h ng in ài lệu ạo điều kiện h ận ợi ch việ

ng iên cứu đề àicủa em được ốthơn

Qua hờigian n ắn n ủiđược hực ập ạiTrun Tâm Th ng Tin Và Quản Bá

Du Lịch Tỉn Cà Mau và Cô g viên Văn h a d ich Mũi Cà Mau em đã biết được thêm n iều kiến hức b ch của mìn Vớib n năm h c rên g ế n à rường cùn vớithờigian hực ập ại Tru g Tâm Th ng in và Quản bá Du ịch Tỉn Cà Mau đã giú

em h ngắn được k oản c ch giữa ý h yết và hực hành, giú em hiểu và yêu ngàn n hề của mìn hơn

Một ần nữa em xin chân hàn c m ơn.…

Cầ Thơ thá g n m

Hữu Hu ền Vũ Th ại

Trang 5

MỤC LỤC

1.1.KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI 6

1.1.5 Cá n uyên ắtcơ bản của h ạtđộ g d ịch sin hái 11.1.6 Nhữn yêu c u cơ bản để p áttriển d ịch sin hái 1

1.1.7 Phân biệtn ữn điểm giố g và k á n au giữa Du ch Sin háivà

mộtsố oạihìn Du ịch gần ng ĩa vớiDu ịch Sinh hái 11.1.7.1 Mộtsố oạihìn Du ịch gần n hĩa vớiDu ịch Sin hái 11.1.7.2 Nhữn điểm giốn n au giữa Du ịch Sin hái với c c oại hình

Trang 6

1.1.7.3 Những điểm khá n au giữa Du ịch Sin hái với một số oại

2.2 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC

GIA MŨI CÀ MAU

2.2.5.Ng ồ ao đ ng ro g Du ịch của Vườn qu c gia MũiCà Mau 2

2.2.6.Đán giá chu g về hiện rạng k aithá àin uyên du ch 2

2.3.HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC

2.3.3 Hiện rạng về ng ồ nhân ực p ục v d ịch 3

2.3.5 Hiện rạng về h ạtđ n giáo d c môi rườn 3

2.3.6 Hiện rạn về c c ợi ch mang ạicho ngườidân địa p ương 3

Trang 7

2.4.ĐIỂM YẾU,ĐIỂM MẠNH,CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC 32.4.1 Điểm yếu ro g p át riển DLST VQG MũiCà Mau 32.4.2 Điểm mạn ro g p át riển DLST VQG MũiCà Mau 32.4.3 Cơ h itro g p áttriển DLST VQG MũiCà Mau 32.4.4 Thá h hức ro g p áttriển DLST VQG MũiCà Mau 3

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU

Trang 8

MỞ ĐẦU

7 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng ngày nay đã và đang phát triển nhanh chóng trong phạm vi nhiều quốc gia trên thế giới, ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp dân cư trong xã hội Đặc biệt trong hai thập kỷ qua khi mà các nhà máy, các xí nghiệp ngày càng phát triển, dân số không ngừng gia tăng,

đô thị hóa và tập chung dân cư, khi công nghiệp với nhiều nhà máy, khói bụi giao thông đang là vấn nạn thì việc tìm về với tự nhiên là nhu cầu tất yếu

Du lịch sinh thái đang có chiều hướng phát triển và trở thành một bộ phận có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất về tỷ trọng trong ngành du lịch Nơi nào còn giữ được nhiều khu thiên nhiên, có được sự cân bằng sinh thái thì nơi đó sẽ có tiềm năng phát triển tốt về du lịch sinh thái và thu hút được nguồn du khách lớn, lâu vài và ổn định

Từ đó, sẽ mang lại những lợi ích kinh tế to lớn góp phần làm tăng thu nhập quốc dân, tạo nhiều cơ hội về việc làm, cải thiện đời sống, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư ở các địa phương, nhất là ở những nơi có các khu bảo tồn thiên nhiên, các cảnh quan thiên nhiên và di tích văn hóa hấp dẫn

Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 150 vĩ tuyến với ¾ địa hình là đồi núi và cao nguyên, có hơn 3000 km bờ biển và hàng ngàn đảo lớn nhỏ Việt Nam được đánh giá là nơi có nhiều cảnh quan đặc sắc và các hệ sinh thái điển hình với nền văn hóa đa dạng của 54 dân tộc anh em Tính đa dạng sinh học được đánh giá là cao so với nhiều quốc gia trên thế giới Theo số liệu điều tra mới nhất có trên 2000 loài thực vật, trên 550 loài động vật đã được đăng ký, trong đó có nhiều loài đặc hữu quý hiếm ghi trong sách đỏ của thế giới Đây chính là những tiềm năng to lớn

và đặc sắc tạo nên sự thuận lợi phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam nói chung và Cà Mau nói riêng, đặc biệt ở các Vườn quốc gia (Nguồn: http://ngochien.camau.gov.vn/)

Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là một nơi có tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái Ở đây có những hệ sinh thái đặc trưng cho rừng ngập mặn, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa được đầu tư phát triển đúng mức, chưa phát huy được tiềm năng, những thế mạnh sẵn có về du lịch sinh thái tại đây Và hệ sinh thái nơi này vô cùng đa dạng, tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng vẫn chưa được khai thác và bảo vệ một cách hiệu quả Đời sống kinh tế của người dân nơi này còn khó khăn, ý thức bảo vệ môi trường còn kém đã góp phần tàn phá môi trường sinh thái nơi này Bên cạnh đó, việc đầu tư khai thác các loại hình du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau vẫn còn nhiều hạn chế Các điểm du lịch như: Công viên văn hóa du lịch Mũi Cà Mau, Khu du lịch sinh thái Lý Thanh Long, v.v, cũng chỉ mới dừng lại ở việc khai thác phục vụ du lịch tự nhiên, du lịch cảnh quan, v.v Các điểm du lịch này đã và đang bắt đầu bộc lộ một số tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường cảnh quan, văn hóa Nguyên nhân là do quy

mô đầu tư còn nhỏ, thiếu quy hoạch, chưa đồng bộ, đội ngũ những người làm công tác

Trang 9

quản lý chưa có kinh nghiệm và chưa có đủ cơ sở lý luận vững chắc về du lịch sinh thái, chưa tiến hành điều tra khảo sát đánh giá kỹ lưỡng và toàn diện về tài nguyên du lịch tự nhiên cũng như các điều kiện khác để phát triển du lịch sinh thái

Vì vậy, việc “nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Mũi Cà Mau” để có những định hướng và giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại và đồng

thời phát huy được những thế mạnh nhằm giúp du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Mũi

Cà Mau phát triển trong thời gian tiếp theo là rất cần thiết

8 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu đã có về du lịch sinh thái, mục tiêu chủ

yếu của đề tài là “nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Mũi Cà Mau”

dưới góc độ địa lý du lịch

9 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập chung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau đây:

Đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Mũi Cà Mau (Các số liệu dẫn chứng trong đề tài ở phần hiện trạng chỉ giới hạn đến năm 2010)

Đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm khai thác hợp lí lãnh thổ

du lịch theo hướng đảm bảo các yêu cầu của du lịch sinh thái

họ là nhằm tiến tới mục tiêu phát triển bền vững Mô hình có mối quan hệ mắc xích với phát triển bền vững là mô hình du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái mới được bàn đến từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ

XX Những nhà nghiên cứu tiên phong và điển hình về lĩnh vực này là Ceballos

Trang 10

Lascurain, Buckley, Boo, v.v, cùng rất nhiều các nhà khoa học khác: Cater, Chalker, Dowling, Western, Linberg Hawkins, Whelan, Wight, Weating, Duff, Cochrane, v.v Các nhà nghiên cứu, nhà khoa học này đã đưa ra được hệ thống lý luận và thực tiễn về DLST Bên cạnh đó, các tổ chức quốc tế quan tâm đến vấn đề này như: Hiệp hội DLST Quốc tế (TIES), Quỹ Bảo vệ Động vật Hoang dã (WWF), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), v.v cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu và công bố

về khái niệm, các bài học thực tiễn cũng như những hướng dẫn quy hoạch và quản lý

về DLST

4.4 Ở Việt Nam

DLST chỉ nổi lên từ những năm 90 của thế kỷ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường Đã có nhiều hội nghị, hội thảo về DLST được tổ chức tại Việt Nam Hội nghị quốc tế về du lịch bền vững ở Việt Nam do Tổng cục Du lịch Việt Nam kết hợp với quỹ Hanns Seidel (Cộng hòa Liên Bang Đức) tổ chức tại Huế (tháng 05/1997) Các vấn đề về DLST, du lịch với môi trường được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm thảo luận Hội thảo về DLST với phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam diễn ra tại Hà Nội (tháng 04/1998), v.v Trong đó, có rất nhiều tham luận của các tác giả (Nguyễn Thượng Hùng, Đặng Huy Huỳnh, Lê Văn Lanh, Võ Trí Chung, v.v.) Các báo cáo tham luận chủ yếu tổng quan một số khía cạnh lí luận về DLST và đã có một số nghiên cứu đánh giá về tiềm năng DLST ở Việt Nam (Phạm Trung Lương, Koeman, v.v.)

Bên cạnh đó đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng sách, giáo trình, luận

án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, v.v của các tác giả: Phạm Trung Lương, Nguyễn Thị Sơn,

Lê Huy Bá, Nguyễn Song Toàn, Trần Quang Hiệu, Phạm Thị Bích Hằng, v.v, đã nghiên cứu về DLST ở các mức độ khác nhau

11 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU

5.3 Quan điểm hệ thống

Đối tượng nghiên cứu của khoa học địa lí du lịch là hệ thống lãnh thổ du lịch

Hệ thống này bao gồm nhiều thành phần (tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa) có mối liên hệ qua lại chặc chẽ với nhau Do đó, bất kỳ một sự thay đổi nào dù lớn hay nhỏ của một thành phần tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác trong toàn

bộ hệ thống Đối với VQG Mũi Cà Mau, chỉ cần sự thay đổi về chế độ thủy văn sẻ dẩn đến sự thay đổi về môi trường, cảnh quan và từ đó sẻ ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm du lịch và tất nhiên củng ảnh hưởng đến lượng khách đến hàng năm, v.v Do

đó, trong nghiên cứu cần phải thấy được mối quan hệ này để đưa ra các giải pháp đúng đắn giúp cho các thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch phát triển một cách đồng

bộ

5.4 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Trang 11

Các đối tượng trong địa lý du lịch có những đặc trưng riêng nhưng quá trình tồn tại và phát triển của chúng gắn liền với một lãnh thổ nhất định Lãnh thổ du lịch VQG Mũi Cà Mau là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch (tài nguyên

du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lao động, khách du lịch, v.v), đồng thời là nơi mà các hoạt động liên quan đến du lịch có thể diễn ra Do đó, trong quá trình nghiên cứu, cần phải xem xét và đánh giá tất cả các đối tượng có liên quan đến hoạt động du lịch trên địa bàn VQG để đảm bảo tính toàn diện và khách quan

5.4 Quan điểm kinh tế - sinh thái bền vững

Phát triển du lịch VQG Mũi Cà Mau nói chung không ngoài mục đích kinh tế nhưng còn phải tính khả năng chịu đựng của HST đất ngập nước và mục đích bảo tồn tài nguyên của VQG Bên cạnh đó, còn phải tích cực tạo công ăn việc làm và mang lại lợi ích cho cư dân vùng điệm và giữ gìn văn hóa truyền thống của họ DLST chỉ phát triển khi địa bàn có HST đa dạng, đặc thù, văn hóa bản địa nguyên vẹn Bởi vậy, các lợi ích đạt được từ du lịch phải quay trở lại hỗ trợ bảo tồn tài nguyên ở VQG nhằm đảm bảo môi trường du lịch phát triển bền vững

5.5 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Mọi sự vật hiện tượng đều có lịch sử hình thành, phát triển và biến đổi của nó

Đó là quy luật tất yếu của sự phát triển Do đó, cần phải nghiên cứu quá khứ làm căn

cứ cho việc đánh giá tình hình phát triển, biến đổi ở hiện tại Nghiên cứu hiện tại để biết thực trạng và làm cơ sở dự báo, định hướng cho tương lai Luận văn vận dụng quan điểm này để: phân tích, đánh giá quá trình hình thành, phát triển và thay đổi về mặt không gian lãnh thổ của VQG; sự biến đổi về lượng khách và doanh thu du lịch theo thời gian; mối tương quan của cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch với tốc độ tăng trưởng của du khách để có định hướng đúng đắn cho việc đầu tư phát triển các dịch vụ

12 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.5 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Tài liệu phục vụ cho nghiên cứu rất đa dạng, có thể bao gồm: tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành, tạp chí và báo cáo khoa học liên ngành, sách chuyên ngành, các bài giảng, mạng internet nhiều lĩnh vực khác nhau để đảm bảo khối lượng thông tin là

đủ, chính xác Đòi hỏi người nghiên cứu phải thu thập và xử lý, vận dụng phương pháp này giúp người nghiên cứu khái quát được cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu và số liệu thống kê, v.v Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, tiến hành lựa chọn và xử lí (phân tích, tổng hợp, so sánh) nhằm chắc lọc ra những thông tin cần thiết cho nội dung đề tài

Các tài liệu có liên quan mật thiết đến địa bàn nghiên cứu của đề tài bao gồm:

Trang 12

Báo cáo tổng kết: điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Cà Mau – thời kỳ 2003 - 2010 và định hướng đến 2020

Cẩm nang xúc tiến du lịch – thương mại và đầu tư Cà Mau

6.6 Phương pháp khảo sát thực địa

Đối với đề tài nghiên cứu ở một địa bàn cụ thể nhất thiết phải có quá trình thực địa Quá trình này giúp người nghiên cứu thu thập thêm tài liệu có liên quan đến đề tài, đồng thời kiểm chứng tính chính xác của thực tế so với sách vở Bên cạnh đó, còn giúp người nghiên cứu phần nào phát huy tính độc lập của mình trong nghiên cứu và có cái nhìn xác đáng, toàn diện hơn thực tế

Trong quá trình thực hiện được đề tài, em đã tiến hành đi thực địa ở một số xã của hai huyện Năm Căn và Ngọc Hiển Điển hình như xã Đất Mũi, xã Viên An, xã Đất Mới, v.v Để thu thập tài liệu, chụp ảnh, hỏi chuyện, tham quan và đồng thời cũng đến

các điểm du lịch nổi tiếng khác của tỉnh Cà Mau (Vườn chim Công viên văn hóa Cà

Mau, Vườn quốc gia U Minh hạ, Vườn dâu Cái Tàu, Hòn Đá Bạc, Căn cứ Tỉnh ủy Lung Lá Nhà Thể, Khu mộ và nguyên mẫu cuộc đời Bác Ba Phi, v.v.)

6.7 Phương pháp bản đồ

Phản ánh những đặc điểm không gian, sự phân bố các nguồn tài nguyên du lịch,

cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ cho việc quy hoạch và phát triển du lịch sinh thái Là cơ sở để phân tích và phát hiện quy luật hoạt động của hệ thống lãnh thổ

du lịch, trên cơ sở đó đưa ra định hướng phát triển DLST VQG mũi Cà Mau trong tương lai

Đây là phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu địa lí nói chung và địa lí du lịch nói riêng Bản đồ thể hiện sự phân bố, mối liên hệ và động thái của các hiện tượng

tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau Vì thế, bản đồ vừa là nguồn tư liệu quý giá giúp người nghiên cứu có thể khai thác những thông tin cần thiết, đồng thời là phương tiện thể hiện một cách trực quan, khái quát một số đối tượng nghiên cứu của đề tài Các bản đồ được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài bao gồm:

Phương pháp thống kê thể hiện các số liệu dưới dạng bảng biểu về doanh thu du lịch, số lượng nhân viên, cán bộ trong Ban du lịch, v.v, của VQG

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.2 KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI

1.1.7 Khái niệm du lịch

Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, xã hội có nhiều tiến bộ hơn trước, chính

vì vậy việc thỏa mãn nhu cầu của con người trong cuộc sống ngày nay là rất cao và cần thiết Sau khoảng thời gian làm việc và học tập căng thẳng, con người muốn tự thưởng cho mình những chuyến du lịch

Từ xa xưa, du lịch đã được xem là một sở thích, hay niềm đam mê của con người Đó là sự khám phá những vùng đất mới, những nền văn hóa mới hay đơn giản chỉ là sự nghỉ dưỡng Tuy nhiên, trước đây du lịch có thể chỉ dành cho những người trong giới quý tộc, thượng lưu Nhưng ngày nay, du lịch đã được phát triển rộng hơn,

nó không chỉ dành cho một tầng lớp nào cả, mà nó đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa xã hội của tất cả mọi người trên trái đất này Không chỉ góp mặt vào đời sống xã hội, du lịch còn được xem là một ngành kinh tế quan trọng của một số quốc gia phát triển hiện nay

Có thể nói rằng, du lịch là một ngành công nghiệp, công nghiệp du lịch và nó chỉ đứng sau ngành công nghiệp dầu khí và công nghiệp ô tô Nguồn lợi mà du lịch đem về có thể vực dậy nền kinh tế đang ốm yếu của các nước đang phát triển hiện nay Vậy du lịch được định nghĩa như thế nào? Đó cũng là một câu hỏi đang được bàn luận nhiều và đến nay vẫn chưa được thống nhất

Trong ngôn ngữ của nhiều quốc gia, thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành “tornus” và sau đó được mỗi quốc gia chuyển đổi thành những ngôn ngữ khác nhau Chẳng hạn như : tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh), mypuzy (tiếng Nga), v.v Ngày này

ta thường bắt gặp thuật ngữ “tourist” (trong tiếng Anh cũng có nghĩa là du lịch) Theo Robert Lanquar, từ “tourist” lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng những năm 1800

Ở mỗi quốc gia đều có những quan niệm thật lý thú về du lịch Không quan niệm nào giống quan niệm nào, mỗi quan niệm đều thể hiện một phần nào đó về du lịch Trong Tiếng Việt, thuật ngữ “ tourist “ được dịch thông qua tiếng Hán có nghĩa

Trang 14

như sau: du là đi chơi, lịch là từng trải Còn người Trung Quốc gọi “ tourist “ là du lãm, tức là để nâng cao nhận thức Từ góc độ là người đầu tiên kinh doanh du lịch, Thomas Cook cho rằng du lịch giúp cho du khách thụ hưởng những hứng thú tình cảm

xã hội cao nhất, là tổ chức mà người ta phải dành cho nó những trách nhiệm lớn nhất

Du lịch đối với người Nhật là một “ngành công nghiệp tin tức”, có thể phản ánh tình thế chính trị, nếp sống xã hội và những thay đổi về mặt tài chính Đặt biệt để nhấn mạnh sự giao tiếp giữa người với người trong du lịch, người Anh coi trọng sự tiếp đãi nhiệt tình, nên gọi du lịch là “ngành lễ tân với một nhiệt tình tốt đẹp” Xuất thân từ một quốc gia đứng đầu về kinh tế và tài chính, người Mỹ cho rằng những cuộc khủng hoảng về mặt chính trị, kinh tế, xã hội như các cuộc nội chiến, các cuộc chiến tranh trong khu vực, nạn khủng bố, việc tăng giá xăng dầu, cùng với những thiên tai như bão lụt, động đất, núi lửa, v.v, đều có tác động trực tiếp đến du lịch, vì thế mà họ gọi du lịch là “ngành công nghiệp béo bệu” Còn người Nam Tư thì xem du lịch là “tấm hộ chiếu đi đến một thế giới hòa bình” Mỗi quan niệm của mỗi quốc gia là mỗi khía cạnh của du lịch Nhưng nếu nhìn một cách tổng quát, tập hợp những quan niệm này thì ta

sẽ thấy rõ hơn về khái niệm du lịch

Tuy nhiên trong vòng 6 thập kỉ vừa qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội Quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO (International of Union Official Travel Organization) năm

1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch luôn luôn được tranh luận Trong những hoàn cảnh (thời gian, không gian) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi quốc gia và mỗi nhà nghiên cứu đều có những cách hiểu khác nhau về khái niệm du lịch Một người nghiên cứu về du lịch đã từng nhận định rằng : “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” Đầu tiên du lịch được hiểu là việc đi lại của một cá nhân hay một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình để đi đến những khu vực xung quanh để nghỉ ngơi, thư giãn, khám phá những điều mới lạ hay

để chữa bệnh Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều những khái niệm khác nhau Nhà nghiên cứu Ausher và Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện đã đưa ra những khái niệm về du lịch khá ngắn gọn và xúc tích Ausher định nghĩa rằng “du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân”, còn Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện thì cho rằng “du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người” Trong quyển sách “Du lịch và kinh doanh du lịch”, PTS Trần Nhạn đã đưa ra khái niệm về du lịch như sau “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương mình đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền” Dưới góc độ nghiên cứu của những nhà kinh tế, khái niệm du lịch được hiện lên là một ngành kinh

tế hiện đại, một ngành công nghiệp không khói Du lịch đối với họ là một ngành kinh

tế đem lại lợi nhuận rất lớn nếu biết khai thác hết tiềm năng của nó

Trang 15

Lúc đầu, số người đi du lịch rất hạn chế, sau đó dần dần tăng lên Với việc hoàn thiện các phương tiện và mạng lưới giao thông, những cuộc đi như vậy kéo dài hơn, xa hơn Lúc này du lịch mang tính nhận thức và trở thành một hiện tượng lặp lại thường xuyên, phổ biến Trên bình diện quốc gia hay quốc tế, vấn đề cấp thiết đang đặt ra là phải tạo các điều kiện nhằm thỏa mãn tới mức cao nhất nhu cầu của người du lịch về giao thông, ăn uống, quần áo, giày dép, đồ lưu niệm và nhiều mặt hàng khác Du lịch không chỉ tạo nên sự vận động của hàng triệu triệu người từ nơi này sang nơi khác, mà còn nảy sinh ra nhiều hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với nó

Như vậy du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép Một mặt, nó mang ý nghĩa thông thường là: việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí… Mặt khác, du lịch được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là hoạt động gắn chặt với những kết quả kinh tế (sản xuất, tiêu thụ) do chính nó tạo ra

Trong điều kiện kinh tế phát triển, du lịch là một hoạt động không thể thiếu được trong cuộc sống bình thường của mỗi người dân Ở các chuyến du lịch trong hoặc ngoài nước, con người không chỉ dừng lại ở việc nghỉ ngơi, giải trí mà còn thỏa mãn cả những nhu cầu to lớn về mặt tinh thần Mỗi quốc gia, dân tộc đều có những đặc trưng riêng biệt về tự nhiên, lịch sử, văn hóa, truyền thống, v.v, thu hút khách du lịch Thông qua việc phát triển du lịch quốc tế, sự hiểu biết và mối quan hệ giữa các dân tộc ngày càng được mở rộng, Năm 1979, Đại hội của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) đã thông qua hiến chương du lịch và chọn ngày 27/9 làm ngày du lịch thế giới với các chủ đề cho từng năm gắn du lịch với việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, vì nền hòa bình và tình hữu nghị trên toàn thế giới Du lịch không còn là hiện tượng lẻ loi, đặc quyền của cá nhân hay nhóm người nào đó Ngày nay nó mang tính phổ biến và tính nhận thức với mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người, cũng cố hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc

Như vậy, khái niệm du lịch có thể được xác định như sau : “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa (I.I Pirogionic, 1985)

1.1.8 Khái niệm du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái là một khái niệm tương đối mới nhưng đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau Cho đến nay khái niệm về Du lịch sinh thái vẫn còn hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Mặc dù những tranh luận vẫn còn tiếp tục nhằm đưa ra định nghĩa chung được chấp nhận về Du lịch sinh thái, nhưng đa số các ý kiến tại diễn đàn quốc tế chính thức về Du lịch sinh thái điều cho rằng Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh

Trang 16

thái Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được những giá trị thiên nhiên và văn hóa Để

từ đó không gây ra những tác động xấu đối với hệ sinh thái và văn hóa bản địa

Về nội dung, Du lịch sinh thái là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm, đưa

du khách đến môi trường còn tương đối nguyên vẹn, vùng thiên nhiên hoang dã, đặc sắc để tìm hiểu, nghiên cứu hệ sinh thái và các nền văn hóa bản địa độc đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và bảo tồn, phát triển đối với tự nhiên và cộng đồng địa phương

Nói cách khác, Du lịch sinh thái là loại hình du lịch với những hoạt động có nhận thức

mạnh mẽ về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội Thuật ngữ “Responsible travel” (Du lịch có trách nhiệm) luôn gắn liền với khái niệm Du lịch sinh thái

Tóm lại, du lịch sinh thái không hoàn toàn đồng nghĩa với du lịch thiên nhiên hay du lịch xanh như nhiều người lầm tưởng, mặc dù cũng lấy các hệ sinh thái tự nhiên làm đối tượng Nói đến du lịch thiên nhiên hay du lịch xanh là chỉ mới nói đến đối tượng du lịch, cũng tương tự như ta nói về du lịch văn hóa, du lịch lễ hội hay du lịch biển, v.v, các loại hình du lịch đó có thể tiến hành theo phương thức bền vững hay không bền vững

Có thể coi Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản sau: Phát triển dựa vào những giá trị hấp dẫn của thiên nhiên và văn hóa bản địa

o Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái

o Có giáo dục và diễn giải về môi trường

o Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng

Có thể biểu diễn khái niệm DLST bằng sơ đồ sau đây:

Du lịch thiên nhiên

Du lịch hỗ trợ bảo tồn và phát triển cộng đồng

Du lịch có giáo

dục môi trường

Du lịch được quản lý bền vững

Trang 17

Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được Hector Ceballos

-Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”

Hội DLST Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa như sau: “DLST là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi, nó phải đóng góp cho bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi địa phương”

Cùng với thời gian, Du lịch sinh thái càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhiều quốc gia cũng đưa ra khái niệm DLST dựa vào đặc thù và mục tiêu phát

triển của quốc gia mình Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế (The International Ecotourism Society-TIES) đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”

(“Ecotourism such as responsible travel to natural areas that conserves the environment and improves the well-being of local people”)

Như vậy, có thể thấy rằng từ định nghĩa đầu tiên được đưa ra năm 1987 cho đến nay, nội dung của định nghĩa đã có sự thay đổi: từ chỗ chỉ đơn thuần coi hoạt động Du lịch sinh thái là loại hình ít tác động tới môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực hơn, theo đó Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương…

Ở Việt Nam, Du lịch sinh thái là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỹ

90 của thế kỉ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu

về du lịch và môi trường Do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc độ khác nhau, khái niệm Du lịch sinh thái vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất

Để sự thống nhất về khái niệm Du lịch sinh thái làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như: ESCAP, WWWF, IUCN, v.v, có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về Du lịch sinh thái và các lĩnh vực có liên quan, tổ

chức hội thảo quốc gia về “Xây dụng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7 đến ngày 9/9/1999 Một trong những kết quả quan trọng của Hội thảo

là lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về Du lịch sinh thái ở Việt Nam, theo đó:

“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

1.1.9 Các loại hình du lịch sinh thái

Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh như : Vịnh Hạ Long – di sản của thế giới, Cần Giờ - khu dự trữ sinh quyển thế giới, một số vườn Quốc gia có hệ sinh thái

Trang 18

đa dạng nuôi dưỡng nhiều loại động, thực vật quý hiếm với không gian thoáng đãng rừng xanh ngút ngàn, biển cả êm đềm…Bên cạnh thiên nhiên hấp dẫn còn có những nét tín ngưỡng đặc sắc, những di tích khảo cổ, di sản văn hóa lịch sử,…khêu gợi tính

tò mò, ham hiểu biết của con người Tất cả tạo nên một nước Việt Nam xinh đẹp, rất gần gũi nhưng tinh khôi, rất độc đáo lại hiền hòa, duyên dáng…là điểm du lịch sinh thái đầy háp dẫn, quyến rũ du khách trong và ngoài nước Nhưng mỗi nơi mỗi vẻ, thích hợp cho các loại hình du lịch sinh thái, du khách có thể đến tham quan, nghiên cứu, hội họp, giải trí…(Du lịch sinh thái, Lê Huy Bá, 2006, Tr 185, 186, 187)

Một số loại hình du lịch sinh thái phổ biến ở Việt Nam như : Du lịch dã ngoại, tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, tỉnh dưỡng

Loại hình du lịch này phục vụ khách du lịch thuần túy chỉ đơn giản là tìm về với thiên nhiên có không khí trong lành, tươi mát, để được hòa mình với thiên nhiên hoang dã, rừng xanh, suối mát, bãi biển mênh mông…Loại hình du lịch này có thể thu hút mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội trong và ngoài nước; và là địa điểm thường đến

là những khu bảo tồn thiên nhiên, các khu vui chơi giải trí…có cảnh quan thơ mộng,

có nhiều biệt thự để nghỉ ngơi, nghỉ dưỡng

Du lịch tìm hiểu, nghiên cứu theo chuyên đề sinh thái, lịch sử, khảo cổ, văn hóa loại du lịch này dành cho các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, sinh viên, học sinh yêu thích tiềm hiểu về thiên nhiên, các cán bộ nghiên cứu các đề tài khoa học, các vấn

đề liên quan đến lịch sử, văn hóa, sinh thái, đời sống của các loài động – thực vật…của vùng đất rừng ngập mặn, vùng sinh quyển Du khách tham gia loại hình du lịch này, thường đến các khu bảo tồn thiên nhiên có hệ sinh thái đặc biệt : có loài động, thực vật quý hiếm hay các khu di tích lịch sử, các khu di sản văn hóa thế giới,v.v (Nam Cát Tiên, Cát Bà, Bạch Mã, địa đạo Củ Chi, Phú Quốc, v.v.)

Du lịch hội nghị, hội thảo

Một số khu bảo tồn thiên nhiên có hệ sinh học đa dạng, đặc biệt có : các loài thú quý hiếm có nguy cơ bị tiệt chủng, một số di sản văn hóa, lịch sử thế giới thu hút các nhà đầu tư thế giới hoặc các nhà nghiên cứu sinh thái, thực vật, động vật,…đến để bàn luận về các vấn đề mà cả thế giới đang quan tâm và giúp đỡ Việt Nam trong quy hoạch, bảo vệ những di sản thế giới ( Vịnh Hạ Long, Cần Giờ, Phú Quốc, v.v.)

Du lịch về thăm chiến trường xưa

Loại hình du lịch này dành cho những du khách là những chiến sĩ trong và ngoài nước đã từng sống, chiến đấu ở những vùng rừng núi, hải đảo trong chiến tranh Sau thời gian chuyển công tác hoặc đi kinh tế ở nơi khác muốn trở về nơi xưa để ôn lại

kỷ niệm một thời Hoặc du khách ngưỡng mộ cuộc chiến đấu của dân tộc, hay học sinh, sinh viên đến đây để nghe thuyết minh viên địa phương kể về những cuộc chiến đấu và các chiến công hiển hách của nhân dân ta Du khách thường đến những khu bảo

Trang 19

tồn thiên nhiên có căn cứ cách mạng hay các khu di tích lịch sử ( Phú Quốc, Bạch Mã, Nam Cát Tiên…)

Du lịch sinh thái rạn san hô

Du lịch tham quan các hệ sinh thái san hô là một hình thức du lịch khá mới mẻ,

có tính hấp dẫn cao và thu được nhiều lợi nhuận việc tận dụng các rạn sinh thái san hô cho phát triển Du lịch sinh thái là hình thức bảo tồn không chỉ cho các tảng đá san hô

mà còn cho cả những sinh vật biển sống nhờ các bãi đá này Hệ sinh thái san hô là hệ sinh thái phong phú nhất trên trái đất, nó được ví như những khu rừng nhiệt đới về sự

đa dạng và mức đô sinh sản

Nhưng trong những năm gần đây, do sự nóng lên của toàn cầu, sự ô nhiễm môi trường từ các hoạt động ven biển và sự khai thác quá mức của con người đã làm suy thái và biến mất nhiều rạn san hô có tầm qua trọng và với quy mô không nhỏ Hiện nay, ở Việt Nam có thể khẳng định một số khu vực có điều kiện phát triển du lịch sinh thái rạn san hô là:

 Đảo Cát Bà (Hải Phòng)

 Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu)

 Vùng vịnh Văn Phong – Đại Lãnh (Khánh Hòa)

 Các quần đảo miền Trung

 Đảo Phú Quốc

1.1.10 Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái

 Tính giáo dục cao về môi trường:

Du lịch sinh thái hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên

và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi trường Hoạt động du lịch gây nên những áp lực lớn đối với môi trường, và Du lịch sinh thái được xem là chiếc chìa khóa để cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường

 Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học:

Hoạt động Du lịch sinh thái có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững

 Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương:

Cộng đồng địa phương chính là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương mình Phát triển Du lịch sinh thái hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang sơ, có giá trị cao về đa dạng sinh học, điều này đặc ra một yêu cầu cấp bách là phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó Hơn ai hết, chính những người dân địa phương là người hiểu rõ nhất nguồn tài nguyên của mình Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng to lớn trong việc giáo dục du

Trang 20

khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, đồng thời góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức của cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng

1.1.11 Các nguyên tắt cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái

 Có hoạt động giáo dục và diễn giải nâng cao hiểu biết về môi trường, qua

đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn

Đây là nguyên tắc cơ bản của hoạt động Du lịch sinh thái, tạo ra sự khác biệt giữa Du lịch sinh thái với các loại hình dựa vào tự nhiên khác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ có được sự hiểu biết cao hơn về giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Với những hiểu biết

đó thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi biểu hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển các giá trị tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực

 Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái

Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, hoạt động DLST tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái chưa phải là những

ưu tiên hàng đầu thì ngược lại, Du lịch sinh thái coi đây là một trong những nguyên tắc

cơ bản, quan trọng cần phải bảo vệ vì:

Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính thức là mục tiêu hoạt động của Du lịch sinh thái

Sự tồn tại của Du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động Du lịch sinh thái

Với nguyên tắc này mọi hoạt động sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động đối với môi trường, đồng thời góp phần thu thập từ hoạt động Du lịch sinh thái sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển của hệ sinh thái

 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng

Đây được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động Du lịch sinh thái, bởi vì các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng vốn có Hậu quả của quá trình này tác động trực tiếp đến Du lịch sinh thái

Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương

có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của Du lịch sinh thái

 Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của Du lịch sinh thái Nếu như các loại hình du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi

Trang 21

nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc các công ty lữ hành Ngược lại, Du lịch sinh thái dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương

Ngoài ra, Du lịch sinh thái luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương như: đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ cho

du khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho du khách,v.v, thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển Du lịch sinh thái Sức ép của cộng đồng đối với môi trường vốn đã tồn tại từ bao đời nay

sẽ giảm đi và chính cộng đồng địa phương sẽ là những người chủ thật sự, những người bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa của nơi diễn ra hoạt động Du lịch sinh thái

1.1.12 Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái

1.1.6.5 Yêu cầu đầu tiên

Để tổ chức được Du lịch sinh thái phải có sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với đa dạng sinh thái cao

Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu tự

nhiên và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agricultural ecology), sinh thái khí hậu (ecolimate), và sinh thái nhân văn (human ecology)

Đa dạng sinh thái là một bộ phận và một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học; ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự sống như:

đất, nước, khí hậu, địa hình, v.v, đó là các hệ sinh thái (eco-system) là nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janeiro về môi trường)

Như vậy có thể nói Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên

nhiên (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các

hệ sinh thái điển hình với đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học nói chung Điều này giải thích tại sao hoạt động Du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở

các khu bảo tồn thiên nhiên (natural resevre), đặc biệt là các Vườn quốc gia (natural park), nơi còn tồn tại những khu rừng với tính năng đa dạng sinh học cao và cuộc sống

hoang dã Tuy nhiên, điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình Du lịch

sinh thái phát triển ở vùng nông thôn (rural tourism) hoặc các trang trại (farm tourism)

điển hình

Trang 22

1.1.6.6 Yêu cầu thứ hai

Có liên quan tới những nguyên tắc cơ bản Du lịch sinh thái ở 2 điểm:

Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao hiểu biết cho khách Du lịch sinh thái, người hướng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn là người am hiểu đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương Điều này rất quan trọng và có

ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của DLST, khác với loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên Trong nhiều trường hợp cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có những hiểu biết tốt, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò người phiên dịch giỏi

Hoạt động Du lịch sinh thái đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết các giá trị tự nhiên và văn hóa trước khi những giá trị này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại, các nhà điều hành Du lịch sinh thái phải có sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ lâu dài các giá trị tự nhiên, văn hóa khu vực và cải thiện cuộc sống nâng cao sự hiểu biết của người dân địa phương với khách du lịch

Các công thức chung để tính sức chứa như sau:

Tính sức chứa thường xuyên:

Trong đó:

CPI: sức chứa thường xuyên (Instantaneous carrying capacity)

AR: diện tích của khu vực (size of area)

CPI =

a AR

Trang 23

a: tiêu chuẩn không gian (diện tích cho một người)

Tính sức chứa hàng ngày:

Trong đó:

CPD: sức chứa hàng ngày (Dialy capacity)

TR: công suất sử dụng mỗi ngày (Turnover rate of users per day)

Tính sức chứa hàng năm:

Trong đó:

CPY: sức chứa hàng năm (Yearly capacity)

PR: ngày sử dụng (tỷ lệ ngày sử dụng liên tục trong một năm – sử dụng cả đêm

là 1/365 * OR)

OR: công suất sử dụng giường (Occupancy rate)

Các công thức trên có thể áp dụng cho những hoạt động có yêu cầu sử dụng diện tích

Trong trường hợp có trước nhu cầu du lịch thì diện tích cần thiết để đáp ứng nhu cầu đó có thể tính theo công thức sau:

 Đứng ở góc độ tâm lý:

Sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá thì bản thân du

khách bắt đầu thấy khó chịu vì sự “đông đúc” (khó quan sát được các loài thú hoang

TR AR

Trang 24

dã, đi lại khó khăn hơn, sự khó chịu nảy sinh do rác thải, v.v.) Những tác động này

làm giảm đáng kể sự hài lòng của du khách

Đứng ở góc độ xã hội: sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt

đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hóa – xã hội, kinh tế - xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị xâm nhập và phá vỡ

 Ngoài ra, đứng ở góc độ quản lý:

Sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt qua giới hạn này thì năng lực quản lý (lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý, v.v.) của khu du lich sẽ không đáp ứng được yêu cầu của du khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát khả năng hoạt động của du khách, kết quả là sẽ ảnh hưởng đến môi trường và xã hội

Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, vì vậy mà khó có thể xác định một con số chính xác về sức chứa cho một khu vực Mặc khác những khu vực khác nhau sẽ có chỉ số chứa khác nhau Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm

Một điểm cần lưu ý trong quá trình xác định sức chứa – tức là quan niệm về sự

“đông đúc” – của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau như: giữa các nước châu Âu và châu Á, giữa các nước phát triển

và các nước đang phát triển Rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà quyết định về quản lý Điều này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách thị trường khác nhau, phù hợp với tâm lý và quan niệm của họ Du lịch sinh thái không thể đáp ứng được yêu cầu của tất

cả Để đơn giản, Boullons (1985) đưa ra công thức chung để xác định sức chứa du lịch của một khu vực do du khách sử dụng và tiêu chuẩn trung bình cho từng cá nhân (thường la m2/người)

Tiêu chuẩn không gian trung bình cho mỗi du khách thường được xác định bằng thực nghiệm và thay đổi phụ thuộc vào hình thức hoạt động du lịch

Ví du:

 Nghĩ dưỡng biển* :30 – 40m2/người

 Picnic* :50 – 60m2/người

 Thể thao* :200 – 400m2/người

 Hoạt động cắm trại ngoài trời* :100 – 200m2/người

(*Bao gồm cả không gian hoạt động cần thiết: cảnh quan, tắm biển, v.v.)

Sức chứa =

Trang 25

Và do đó tổng số khách có thể tham quan mỗi ngày được tính:

Hệ số luân chuyển (c – capacity) được xác định bằng:

Trong đó:

OVT: Thời gian mở cửa cho khách tham quan (Visiting Time)

ATS: Thời gian trung bình cho một cuộc tham quan (Average Time of a sightseeing)

1.1.6.8 Yêu cầu thứ tư

Thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của du khách Việc thỏa mãn mong muốn của khách Du lịch sinh thái về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hóa bản địa thường rất khó khăn, song lại yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành Du lịch sinh thái Vì vậy, những dịch vụ để làm hài long du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì họ tham quan

1.1.8 Phân biệt những điểm giống và khác nhau giữa Du lịch Sinh thái và một số loại hình Du lịch gần nghĩa với Du lịch Sinh thái

1.1.7.4 Một số loại hình Du lịch gần nghĩa với Du lịch Sinh thái

- Du lịch Thiên nhiên (Nature tourism)

- Du lịch Dựa vào thiên nhiên (Nature Based tourism)

- Du lịch Môi trường (Environmental tourism)

- Du lịch Đặc thù (Partienlar tourism)

- Du lịch Xanh (Green tourism)

- Du lịch Thám hiểm (Adventure tourism)

- Du lịch Bản xứ (Indigenous tourism)

- Du lịch Có trách nhiệm (Responsible tourism)

- Du lịch Nhạy cảm (Sensitized tourism)

- Du lịch Nhà tranh (Cotage tourism)

- Du lịch Bền vững (Sustainable tourism)

1.1.7.5 Những điểm giống nhau giữa Du lịch Sinh thái với các loại hình Du lịch gần nghĩa với Du lịch Sinh thái

- Tài nguyên Du lịch chủ yếu là tài nguyên tự nhiên

- Sản phẩm Du lịch để thoả mãn nhu cầu của du khách du lịch sinh thái đều có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng

- Các sản phẩm được tiến hành trao đổi mua bán thông qua các hình thức dịch

vụ Du lịch

Số lượng khách tham quan hàng ngày = Sức chứa*Hệ số luân chuyển

c =

ATS OVT

Trang 26

1.1.7.6 Những điểm khác nhau giữa Du lịch Sinh thái với một số loại hình Du lịch gần nghĩa với Du lịch Sinh thái

- Tính giáo dục và trách nhiệm cao hơn

- Việc tổ chức hoạt động Du lịch Sinh thái đòi hỏi rất cao về ý thức trách nhiệm của cả người tổ chức và du khách

- Tổ chức hoạt động Du lịch Sinh thái phức tạp hơn nhiều trên phương diện an ninh và an toàn, chi phí bảo hiểm, hướng dẫn

- Khách Du lịch Sinh thái không chỉ là những người yêu thiên nhiên đơn thuần

mà còn là những người muốn chia xẻ trách nhiệm bảo tồn thiên nhiên, văn hoá, muốn khám phá những bí mật của thiên nhiên, đồng thời ham thích mạo hiểm

(Nguồn: Lê Văn Nhương (2007), Du lịch sinh thái, Bài giảng)

Chương 3 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH

THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU 2.2 KHÁI QUÁT VỀ VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU

2.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển

VQG Mũi Cà Mau là một VQG tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Được thành lập theo quyết định số 142/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 14 tháng 7 năm 2003 trên cơ sở nâng cấp khu bảo tồn thiên nhiên Đất Mũi (thành lập theo quyết định số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986)

Ngày 26 tháng 5 năm 2009, cùng với cù lao Chàm, VQG này được UNESCO đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển

2.1.5 Mục tiêu thành lập

Bảo tồn lâu dài mẫu chuẩn sinh thái có tầm quan trọng quốc gia, khu vực và thế giới trên cơ sở các giải pháp khoa học, kinh tế và xã hội để bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước vùng đất mũi đang trong quá trình diễn thế tự nhiên

Phục vụ các hoạt động tham quan, du lịch sinh thái và hợp tác quốc tế, xây dựng và thực nghiệm các mô hình bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn, phát huy giá trị và chức năng kinh tế của hệ sinh thái đất ngập nước Qua đó cải thiện điều kiện sinh sống của nhân dân trong vùng

Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường, hạn chế xói lở, thúc đẩy quá trình bồi tụ bờ biển, để bảo vệ đời sống và sản xuất của nhân dân các vùng đất liền, bảo vệ khu cư trú của ngư dân ở vùng ven biển, tạo nền tảng cho quá trình phát triển bền vững ở vùng ven biển

Trang 27

Bảo vệ đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng ngập mặn, nơi cư trú cho các loài sinh vật ở vùng ven biển, cung cấp dinh dưỡng cho các loài thủy sản, hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất ở vùng ven biển

Xây dựng cơ cấu xã hội nghề rừng ổn định, phù hợp với các mục tiêu quản lý, bảo vệ và phát triển rừng thông qua việc cải thiện và nâng cao tính bền vững của các

hệ canh tác Lâm - Ngư nghiệp, tăng năng suất của rừng để nâng cao lợi ích kinh tế của những diện tích rừng ngập mặn ở vùng đệm của Vườn quốc gia

Góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về các giá trị của rừng và của hệ sinh thái đất ngập nước và các phương pháp sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước

Góp phần củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự xã hội ở vùng cực Nam của Việt Nam

Xây dựng VQG Mũi Cà Mau để phục vụ các hoạt động tham quan, du lịch sinh thái và hợp tác quốc tế, xây dựng và thực nghiệm các mô hình bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn, phát huy giá trị và chức năng kinh tế của hệ sinh thái đất ngập nước

Phát huy vai trò phòng hộ bảo vệ môi trường, hạn chế xói lở, thúc đẩy quá trình bồi tụ bờ biển, để bảo vệ đời sống và sản xuất của nhân dân các vùng đất liền, bảo vệ khu cư trú của ngư dân ở vùng ven biển, tạo nền tảng cho quá trình phát triển bền vững

2.1.6 Các khu chức năng

2.1.3.4 Phân khu chức năng trên đất liền

Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 12.203 ha Thuộc tiểu khu 2 và tiểu khu 3 của khu rừng đặc dụng Đất Mũi và khu rừng phòng hộ bãi bồi

Phân khu phục hồi sinh thái: 2.859 ha Thuộc tiểu khu 4 và phần ven biển tiểu khu 1 của khu rừng đặc dụng Đất Mũi

Phân khu hành chính dịch vụ: 200 ha Thuộc khu vực ven Rạch Tàu, khu kênh Hai Thiện, khu Rạch Bàu Lớn và khu Rạch Mũi

2.1.3.5 Phân khu chức năng phần trên biển

Trang 28

Phạm vi tính từ mép bờ biển phía tây ra phía biển, chức năng chủ yếu của phân khu này là bảo tồn tài nguyên sinh vật biển và hệ sinh thái ven bờ, duy trì và nghiên cứu quá trình địa mạo và sinh thái tự nhiên của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, bao gồm các điểm sau:

Cửa Sào Lưới thuộc huyện Cái Nước Tọa độ: Từ 104°47′30″ kinh đông và 8°48′ vĩ bắc

 Cách bờ biển 4.700 mét Tọa độ: Từ 104°45′ kinh đông và 8°48′ vĩ bắc

 Ngoài biển Tọa độ: Từ 104°42′ kinh đông và 8°40′ vĩ bắc

 Ngoài biển Tọa độ: Từ 104°42′ kinh đông và 8°35′ vĩ bắc

 Ngoài biển Tọa độ: Từ 104°48′ kinh đông và 8°33′30″ vĩ bắc

Đầu rạch Trương Phi thuộc huyện Ngọc Hiển Tọa độ: Từ 104°48′ kinh đông và 8°34′30″ vĩ bắc

VQG Mũi Cà Mau có vị trí tại mũi đất cực Nam của lãnh thổ Việt Nam

 Tọa độ: từ 8°32′ đến 8°49′ vĩ bắc và từ 104°40′ đến 104°55′ kinh đông Tổng diện tích tự nhiên: 41.862 ha, trong đó:

 Diện tích phần trên đất liền: 15.262 ha

 Diện tích phần ven biển: 26.600 ha

2.2.2 Tài nguyên Du lịch Tự nhiên

2.2.2.1 Đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học đặc trưng là hệ động thực vật rừng ngập mặn Đây là hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên có giá trị cao về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, môi trường và rất quan trọng trong phòng hộ bờ biển, chắn gió, chắn sóng chống xói

lở, cố định đất trong quá trình hình thành đất liền tiến ra Biển Đông Đây là một trong những địa điểm quan trọng thuộc chương trình quốc gia về bảo tồn da dạng sinh học của nước ta, nơi nghiên cứu về các loài chim nước ven biển của Việt Nam và khu vực Châu á - Thái Bình Dương Tạo nên một vùng sinh thái cửa sông, ven biển duy nhất ở Việt Nam với những nét đặc trưng của hệ động thực vật rừng ngập mặn

Theo ghi nhận năm 2006 của Trung tâm nghiên cứu rừng ngập mặn Cà Mau, hệ sinh thái nơi đây có 22 loài cây ngập mặn, 13 loài thú, 74 loài chim, 17 loài bò sát, 5 loài lưỡng cư, 14 loài tôm, 175 loài cá, 133 loài động thực vật phiêu sinh Trong đó có nhiều loài động thực vật có trong Sách Đỏ Việt Nam và những loài chim quý như giang sen (Mycteria leucocephala), bồ nông chân xám (dân gian còn gọi là chàng bè,

Trang 29

Pelecanus philippensis) Giữa rừng là một vườn chim lớn, có tới hàng ngàn con đến trú ngụ ban đêm

Ngày 20-07-2009, Ban quản lý vườn quốc gia Mũi Cà Mau cho biết, trên lâm phần vườn quốc gia Mũi Cà Mau đã xuất hiện một số loài động vật quý hiếm như khỉ đuôi dài, cà khu, cò Trung Quốc, quắm trắng, bồ nông chân xám, giang sen, với số lượng khá đông Đây là những loài động vật được ghi trong Sách đỏ của Việt Nam và thế giới Tại thời điểm này, hệ thực vật của vườn gồm 66 loài thực vật được chia thành hai loại: cây rừng ngập mặn chính thức gồm 22 loài và 28 loài cây khác tham gia trên vùng đất này; hệ động vật ngập mặn có 13 loài thú, 17 loài bò sát, 8 loài ếch nhái, 67 loài chim, 14 loài tôm và 258 loài cá

2.2.2.2 Địa hình

Do ranh giới phía bắc của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau huyện Ngọc Hiển là sông Cửa Lớn và sông Bồ Đề nên địa bàn bị tách biệt như một cù lao Nhìn chung địa hình bằng phẳng, nhưng địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông rạch tự nhiên và kênh mương chằng chịt, có nhiều con sông rất rộng (sông Cửa Lớn có chiều rộng từ

400 - 1.000m)

Cao trình trung bình từ 0,5 - 0,7m, thường xuyên ngập triều biển, riêng vùng ven biển Đông có địa hình cao hơn (từ 1,2 - 1,5m)

2.2.2.3 Khí hậu thời tiết

Khí hậu thời tiết của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau mang đặc trưng khí hậu gió mùa cận xích đạo, nhiệt độ trung bình 26,90C Khu vực Vườn quốc gia Mũi Cà Mau huyện Ngọc Hiển là nơi có lượng mưa cao nhất trong tỉnh Cà Mau cũng như trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long Lượng mưa cao hơn về phía Tây Nam ở khu vực Mũi

Cà Mau (từ Khai Long đến Mũi Cà Mau), với lượng mưa trung bình nhiều năm là 2.300mm, lượng mưa giảm dần về phía Đông Bắc của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, tại khu vực tiếp giáp với huyện Năm Căn có lượng mưa trung bình 2.200mm Yếu tố khí hậu có ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động kinh tế xã hội của huyện Ngọc Hiển là sự phân mùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa) với 2 hướng gió thịnh hành khác nhau, tác động rõ nhất là đối với nghề khai thác biển

- Mùa khô, từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, gió thịnh hành hướng Đông và Đông Bắc, vận tốc trung bình từ 1,6 - 2,8m/s, trong mùa khô biển tương đối lặng, thời tiết tốt, thuận lợi cho khai thác biển, nuôi trồng thuỷ sản, đẩy mạnh các hoạt động du lịch

- Mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, gió thịnh hành hướng Tây Nam, tốc độ gió trung bình từ 1,8 - 4,5m, lượng mưa lớn, trong mùa mưa thỉnh thoảng xuất hiện áp thấp gần bờ, giông, lốc, gió xoáy cấp 7 - cấp 8, ảnh hưởng đối với nghề khai thác biển

Trang 30

Chế độ mưa và gió thịnh hành theo mùa đã tác động đến các công trình hạ tầng nghề cá, nhất là ở các đảo, hình thành nên các bến cá, bến neo đậu khác nhau để tàu thuyền neo đậu phù hợp theo mùa

2.2.2.4 Thủy, hải văn

Vùng Mũi Cà Mau là nơi duy nhất có cả bờ biển phía Đông và phía Tây, vì vậy chịu tác động trực tiếp của cả triều biển Đông (bán nhật triều không đều) và triều biển Tây (nhật triều không đều) Thuỷ triều Biển Đông lớn, vào các ngày triều cường biên

độ triều vào khoảng 300 - 500cm, các ngày triều kém biên độ triều cũng đạt từ 180 - 220cm Thuỷ triều phía Vịnh Thái Lan yếu hơn, biên độ triều lớn nhất khoảng 100cm Mực nước triều hàng năm cao trùng với mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) Trong thời kỳ có gió chướng có thể gây ra hiện tượng nước dâng Thuỷ triều trên sông Cửa Lớn tại Năm Căn có thời gian triều lên kéo dài 5 giờ 43 phút và thời gian thuỷ triều xuống là 6 giờ 40 phút (chu kỳ triều 12 giờ 23 phút)

Dọc theo bờ biển của Mũi Cà Mau có nhiều cửa sông lớn đổ ra biển như Ông Trang, Cá Mòi, Rạch Tàu, Rạch Gốc, Bồ Đề Trong đó cửa Bồ Đề rộng 600m, sâu 19 - 26m, cửa Ông Trang rộng 600 - 1.800m, sâu 4 - 5m Sông Cửa Lớn dài 58km nối từ cửa Bồ Đề ở phía Biển Đông với cửa Ông Trang ở Vịnh Thái Lan Đây là tuyến sông lớn nhất tại khu vực Năm Căn - Ngọc Hiển Triều biển xâm nhập sâu vào đất liền theo

hệ thống sông rạch, do biên độ triều cao nên phần lớn đất đai của huyện thường bị ngập triều Do biên độ triều các sông chịu ảnh hưởng triều biển Đông lớn hơn nên biên

độ triều trên các sông cũng có xu hướng giảm dần từ Đông sang Tây

Độ mặn nước sông biến đổi theo mùa, mùa khô nước các sông có độ mặn cao hơn, tuy nhiên đối với khu vực Vườn quốc gia Mũi Cà Mau huyện Ngọc Hiển do gần sát biển nên sự chênh lệch độ mặn nước sông giữa các mùa biến đổi không lớn như các vùng sâu trong nội địa

Đặc điểm địa hình, thuỷ văn của huyện nói chung và vùng Đất Mũi nói riêng thuận lợi cho phát triển giao thông đường thuỷ, du lịch sông nước, phát triển nuôi trồng thuỷ sản, rừng ngập mặn… Những đặc thù của điều kiện thuỷ văn đã được nhân dân địa phương ứng dụng vào sản xuất và đời sống từ lâu đời, tạo nên những nét đặc thù của vùng sông nước miền Tây Nam Bộ nói chung và của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau nói riêng, đó là: việc xuồng ghe đi lại theo con nước, đóng đáy sông, đáy biển, lấy nước và xả nước các đầm tôm… đã tiết kiệm được nhiều về chi phí và sức lao động, phù hợp với sinh trưởng phát triển tự nhiên của hệ sinh thái rừng ngập mặn, nhất

Trang 31

 Cụm đảo Hòn Khoai

Hệ thống biển - đảo của VQG Mũi Cà Mau gồm hai cụm đảo nổi tiếng: Cụm đảo Hòn Khoai và Hòn Chuối, hai cụm đảo này vừa có vị trí quan trọng trong an ninh quốc gia vùng trời, vùng biển và ven bờ biển của Tổ quốc, vừa là các thắng cảnh hoang sơ hấp dẫn cũng như các di tích lịch sử, có tiềm năng to lớn trong phát triển du lịch sinh thái biển - đảo nơi này Cụm đảo Hòn Khoai với các đảo nhỏ nằm gần nhau trong một hệ thống hết sức sinh động giữa biển khơi là Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi, Hòn Quy, Hòn Đá Lẻ, với tổng diện tích khoảng 577 ha, trong đó Hòn Khoai có diện tích lớn nhất khoảng 420 ha với độ cao hơn mặt biển khoảng 318m Cụm đảo Hòn Khoai thuộc địa bàn xã Tân Ân huyện Ngọc Hiển, cách đất liền khoảng 20km Ở đây có thể thưởng thức mặt trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây trên mặt biển bao la hùng vĩ Đảo Hòn Khoai là một thắng cảnh xinh đẹp nên thơ và hữu tình với các loài cây đa dạng xanh tươi, với những dốc đá lối mòn vắt vẻo từ bãi cát vàng óng ả, êm dịu với nước biển trong vắt, uốn lượn ở chân núi ven biển dẫn lên đỉnh núi, với mạch nước ngầm hòa thành suối nhỏ, ngọt lành, mát rượi, ngày đêm rả rích len lỏi chảy theo các hẻm đá cung cấp nước ngọt cho người đi biển ghé qua đảo, với những thảm rừng nhiều tầng cây đan xen cả cây hoang dã thiên nhiên và các cây ăn trái quen thuộc trong rừng và đặc biệt cả những cây cỏ dược liệu quý hiếm như cây huyết rồng, vừa hoang dã bí hiểm nhưng lại vừa thơ mộng gần gũi với con người ở vùng đất cuối trời Tổ quốc (Nguồn: http://www.thiennhien.net/)

 Bãi biển Khai Long

Khai Long nằm trong khu vực sinh thái rừng ngập mặn mũi Cà Mau, là một cửa biển nhỏ, được bao bọc bởi rừng cây mắm, đước bạt ngàn, vùng đất còn hoang sơ thích hợp cho việc khai thác du lịch Cửa biển Khai Long thuộc địa phận ấp Khai Long, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, chạy dài từ cửa Ông Thọ tới lâm viên Đất Mũi

Khai Long được tạo hóa ban tặng cho một vị trí hết sức đặc biệt Đứng ở cửa biển Khai Long vào sáng sớm, du khách sẽ được ngắm mặt trời chói đỏ nhô dần lên từ mặt biển phía đông Vào lúc chiều tà, du khách lại được ngắm nhìn hoàng hôn buông xuống trên biển cả Mặt trời lúc này như vầng kim vàng rực từ từ lặn xuống mặt biển phía tây Tại đây, du khách lại có thể chiêm ngưỡng cụm đảo Hòn Khoai đứng giữa biển khơi mênh mông Biển Khai Long hằng năm lấn dần ra biển, khoảng cách giữa đảo Hòn Khoai và bờ dường như ngày càng gần hơn

Biển Khai Long mang một vẻ đẹp bình dị với bãi cát vàng rộng mênh mông và khá bằng phẳng Khi thủy triều xuống, cát phơi mình dưới nắng chạy dài với những hình thù kỳ lạ và đẹp mắt Khu vực này còn là thiên đường của nhiều loài sinh vật biển đến sinh sản Nơi đây có một bãi nghêu rộng lớn

Biển Khai Long có hệ sinh thái đa dạng Đó là hệ sinh thái rừng ngập mặn với nhiều loài cây như: vẹt, mắm, bần đặc biệt là cây đước - biểu tượng của rừng ngập

Trang 32

mặn Khai Long còn có những hàng dương chạy dài bên dải cát vàng, đêm ngày vi vút reo ca, hòa âm cùng sóng biển

Hiện nay, tại Khai Long đã có khu du lịch Lý Thanh Long, được xây dựng trên diện tích 76ha, trong đó có khu nuôi trồng thủy sản kết hợp du lịch sinh thái Khu du lịch Lý Thanh Long có khu nhà nghỉ, nhà hàng, khu vui chơi giải trí; tượng Nam Hải Phật đài Quan Thế Âm Bồ Tát, tạc bằng đá Tây Tạng, cao 18m Ngoài việc đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của người dân và du khách, Nam Hải Phật đài còn tạo thêm cảnh quan đẹp, sinh động, tăng sức hấp dẫn cho vùng biển Khai Long

Tuy nhiên, biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến khu vực ĐBSCL và vùng ven biển Cà Mau nên đòi hỏi các ngành chức năng sớm có biện pháp bảo tồn và khắc phục

để vùng biển Khai Long hoang sơ, giàu tiềm năng sinh thái này luôn hấp dẫn du

khách (Nguồn:Báo Đất Mũi)

 Cồn Ông Trang

Cồn Ông Trang thuộc Điểm du lịch vườn quốc gia mũi Cà Mau nằm ở cửa sông Cái Lớn thông ra bãi bồi phía Tây thuộc xã Viên An, huyện Ngọc Hiển Cồn Ông Trang bao gồm 2 cồn, là điểm du lịch sinh thái, sông nước hấp dẫn

Thiên nhiên đã ban tặng cho cửa biển Ông Trang những cồn cát được cây mắm bao phủ một màu xanh biêng biếc, trông xa như những bức tranh thuỷ mặc giữa bầu trời nước bao la Gắn với cồn Ông Trang là bãi bồi phía Tây Mũi Cà Mau, tại đây hàng năm đất được bồi lấn ra biển từ 50 – 80 m Bãi bồi là nơi hội tụ của nhiều loài thủy sản

về đây sinh sản Mỗi khi mùa đông về du khách được ngắm nhìn hàng đàn chim đi trú trên đường bay từ phương Bắc lạnh giá về phương Nam ấm áp Đàn chim sẽ dừng chân tại đây tìm thức ăn rồi lại tiếp tục hành trình về châu Úc xa xôi Với điều kiện tự nhiên có một không hai, bãi bồi không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, nghiên cứu khoa học

mà còn là điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách khi đặt chân đến Cà Mau

Trong tương lai, cồn Ông Trang và bãi bồi phía Tây Mũi Cà Mau sẽ là điểm du lịch sinh thái đầy hứa hẹn của VQG Mũi Cà Mau (Nguồn: http://ctip.camau.gov.vn/)

2.2.2.6 Hệ sinh thái rừng ngập mặn

Tính đa dạng sinh học ở các hệ sinh thái rừng ngập mặn ở VQG Mũi Cà Mau khá đa dạng và phong phú Đến với Mũi Cà Mau là đến với cột mốc ghi dấu điểm cuối của Tổ quốc, đến với bạt ngàn thảm rừng ngập mặn và bãi triều lấn biển hoang sơ với rất nhiều loại động thực vật cùng sinh sống Bãi Bồi Mũi Cà Mau là nơi giao thoa của hai chế độ triều biển Đông và biển Tây vịnh Thái Lan, chi phối và bồi đắp nên theo diễn thế hình thành đất, diễn thế biến đổi môi trường nước và diễn thế nguyên sinh phát triển rừng ngập mặn đã tạo ra nguồn lợi vô cùng phong phú và đa dạng, chứa đựng tiềm năng to lớn về kinh tế, sinh thái, những bí ẩn khoa học cần được nghiên cứu

và khám phá ở đây Năm 2003, khu bảo tồn thiên nhiên Đất Mũi đã được chuyển thành

“VQG Mũi Cà Mau”, nhằm mục tiêu bảo tồn lâu dài mẫu chuẩn sinh thái quốc gia và

Trang 33

quốc tế, phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, bảo vệ đa dạng sinh học của

hệ sinh thái rừng ngập mặn, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng

2.2.3 Tài nguyên Du lịch nhân văn

2.2.3.1 Di tích lịch sử – văn hoá

 Tượng đài khởi nghĩa hòn khoai

Tượng đài khởi nghĩa Hòn Khoai được xây dựng ở huyện Năm Căn Đây là cuộc khởi nghĩa có ý nghĩa quan trọng , đánh dấu móc son trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại, nhưng đó là tiến sung báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc thuộc địa bị áp bức ở Đông Dương Sau những tháng ngày bị cầm tù và tra tấn rất dã man, ngày 12/7/1941 các chiến sĩ ưu tú của cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai đã bị thực dân pháp đưa ra xử bắn Bia tưởng niệm các chiến sĩ Hòn Khoai được xây dựng ở đường Ngô Quyền, phương 9, thành phố Cà Mau, để tưởng niệm và ghi nhớ công lao của các chiến sĩ đã hy sinh anh dũng trong cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai ngày 13/12/1940 Cuộc khởi nghĩ Hòn Khoai tượng trưng cho tinh thần anh dũng, bất khuất của các liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập tự do cho hôm nay

 Tượng đài Bến Vàm Lũng – Đường Hồ Chí Minh trên biển

Đường Hồ Chí Minh trên biển trải dài từ Bắc tới Nam với điểm xuất phát đầu tiên là bến K15 thuộc phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng Đây là nơi xuất phát của những chuyến tàu không số, chở vũ khí, quân dụng chi viện cho chiến trường miền Nam từ năm 1962 đến năm 1972 Ngày 11/10/1962, chiếc tàu gỗ đầu tiên chở 30 tấn vũ khí đã xuất phát từ Hải Phòng, sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, tàu đã cập bến Vàm Lũng thuộc ấp Dinh Hạng, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau và chuyển giao toàn bộ vũ khí cho Quân khu 9 Chuyến tàu đầu tiên cập bến Vàm Lũng an toàn có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thông đường Hồ Chí Minh trên biển, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước

2.2.3.2 Làng nghề truyền thống

 Nghề hầm than

Theo các nhà nghiên cứu, nghề hầm than và đóng đáy trên sông là những nghề thủ công có mặc từ lâu đời ở Năm Căn tỉnh Cà Mau Trong suốt thời gian phát triển, chúng để lại nhiều dấu ấn khó phai mờ trong ký ức và tình cảm của dân bản xứ Tạo sự bất ngờ thú vị cho khách thập phương mỗi khi tận mắt chứng kiến hoạt động của làng nghề

Năm căn xưa, tức huyện Năm Căn và huyện Ngọc Hiển bây giờ là trung tâm của nghề hầm than Bởi đây là quê hương của rừng ngập mặn với cây Đước là linh hồn, và đây là nguyên liệu chính tốt nhất để làm than Lúc cự thịnh (cách đây vài chục năm), rừng đước Năm Căn có hàng chục xóm hầm than như: Vàm Đầm, Xóm thủ, Xóm Lớn, Hàng Vịnh, Ông Định, Nhưng Miên, Tắc biển, v.v, mỗi tháng cho ra lò hơn

Trang 34

6.000 tấn than Tuy nhiên, do rừng ngày càng thu hep, nên hiện tại chỉ còn một vài xóm trong số đó được phục hồi Đỏ lửa thường xuyên nhất là các xóm lò than (hiện đã vào hợp tác xã) Vàm Ông Định (Tân Ân Tây), Xóm Thủ (Tam Giang Tây), Vàm Đầm (xã Tam Giang)

Hầm than là nghề cực nhọc, vất vả, nhưng những người thợ lò vẫn quyết chí bám nghề Hiện tại, nghề than đang khôi phục mạnh mẽ, thông qua sản xuất tập trung,

có kiểm sót chặt chẽ của chính quyền địa phương Theo đó, việc hình thành các dịch

vụ du lịch đi kèm càng trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết Đây là cơ hội thuận lợi để du khách tìm hiểu thêm một nghề truyền thống độc đáo của vùng đất Cà Mau

 Nghề đánh bắt thủy sản

VQG Mũi Cà Mau tập chung nhiều loại hải sản với trữ lượng lớn các loại tôm,

cá, mực, cua, ghẹ, v.v Khả năng khai thác thủy, hải sản là nguồn lợi rất lớn cho thu nhập cho người dân địa phương Ngư dân trong vùng sử dụng các phương tiện đánh bắt như: ghe, thuyền, lưới, câu, v.v, phục vụ đánh bắt gần bờ Ngoài ra còn có các đội tàu lớn được trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: máy tầm ngư, máy định

vị, v.v, để phục vụ đánh bắt xa bờ Nguồn thủy sản đánh bắt hiện nay là rất lớn, cung cấp cho thị trường trong nước và đáp ứng nhu cầu xuất khẩu

có tiếng ngon nhất Mắm Ba Khía Rạch Gốc nay đã trở thành thương hiệu có tiếng ở Đồng bằng sông Cửu long

 Nghề làm khô

VQG Mũi Cà Mau rất đa dạng về chủng loại tôm cá, ngoài việc thu hoạch tôm

cá làm thức ăn tươi, người dân Đất Mũi còn chế biến bằng cách phơi khô Đây là cách

đễ bảo quản sản phẩm được lâu và đễ giành khi mùa mưa bão đến không thể ra khơi đánh bắt Tôm sau khi luộc chín, đem phơi khô và loại bỏ vỏ, sau đó lại tiếp tục đem phơi nắng cho khô Tôm khô thường được làm từ tôm sú, tôm thẻ, tôm bạc, nhưng ngon nhất là loại tôm đất Cá khô cũng là một món ăn không thể thiếu trong mỗi bữa

ăn của người dân Các loại cá được phơi khô ở vùng Đất Mũi này như: cá hố, cá kèo,

cá khoai, cá đuối, cá chỉ vàng, cá chỉ trắng, v.v Cá khô, tôm khô thường được du khách chọn mua về làm quà đầy ý nghĩa của miền quê sông nước dành tặng cho người

thân

Trang 35

2.2.3.3 Ẩm thực – Đặc sản

Thưởng thức ẩm thực là một trong những nghệ thuật đầy sức quyến rũ, khám phá những món ăn mới lạ không thể thiếu trong mỗi con người khi đặt chân đến bất kỳ vùng đất nào Mỗi loại điều có phong vị riêng, mang một dấu ấn riêng của vùng đất đã sản sinh ra nó Chẳng thế mà khi nhắc đến mảnh đất chót mũi Phương Nam, người ta không thể không nhắc đến những món ăn ngon như: ba khía muối, tôm tích, cá kèo nướng ống tre, cá kèo chiên muối ớt, hàu mù tạc, vọp nướng chấm muối tiêu chanh, v.v, đậc sản của vùng đất mũi Cà Mau Để mỗi du khách du chỉ một lần đến với Cà Mau, đều có chung một cảm nhận “thiên – địa – nhân” hợp nhất khi đứng trên mũi con

tàu Tổ quốc – Mũi Cà Mau

2.2.4 Cơ sở hạ tầng

2.2.4.1 Hệ thống giao thông vận tải

Mặc dù VQG Mũi Cà Mau nằm ở cực nam của Tổ quốc với rất nhiều khó khăn trong phát triển mạng lưới giao thông, đặc biệt là khó khăn do mạng lưới kênh rạch chằng chịt đòi hỏi thời gian, kỹ thuật và vốn đầu tư lớn cho làm đường Tuy vậy, hiện nay VQG Mũi Cà Mau cũng có một hệ thống giao thông tương đối thuận tiện

Giao thông đường bộ ở VQG Mũi Cà Mau đã có nhiều chuyển biến Hiện tại, các con đường nối liền các xã, các ấp cở bản hoàn thành Xã liền xã, ấp liền ấp Nhưng con đường quốc lộ (QL) 1A dẫn chưa nối liền với VQG Mũi Cà Mau Điểm cuối cùng của con đường QL 1A từ Bắc vào Nam hiện nay chỉ về đến thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căm

2.2.4.2 Hệ thống cung cấp Điện

VQG Mũi Cà Mau nằm ở điểm cuối của hệ thống cung cấp điện lưới quốc gia

Hệ thống cung cấp điện năng trên toàn địa bàn huyện và các xã vẫn tồn tại hai nguồn điện: điện lưới quốc gia và điện diezel tại chỗ (nguồn điện dự phòng) Đến nay, nguồn điện và lưới điện trên địa bàn huyện và các xã đã được củng cố phát triển, cơ bản bước đầu đảm bảo cung cấp điện phục vụ các hoạt động sản xuất và sinh hoạt

Hiện nay VQG Mũi Cà Mau được sự quan tâm của tỉnh vẫn đang tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn thiện hệ thống cung cấp điện đến các khu vực trong toàn huyện và các

xã Chương trình điện khí hoá nông thôn ở đây không ngừng phát triển Đến nay điện lưới quốc gia đã về đến trung tâm của các xã

Mức độ tiêu thụ điện năng trên phạm vi toàn tỉnh tăng nhanh: tổng số hộ được

sử dụng điện tăng từ 87% năm 2009 lên 93% năm 2010 Tuy nhiên, nguồn cung cấp điện trong huyện còn thiếu do vậy vẫn phải khống chế công suất tiêu thụ trong giờ cao điểm, chất lượng điện áp chưa ổn định do chưa đủ công suât trạm, việc phát triển mạng lưới truyền tải, lưới phân phối điện còn chậm

Trang 36

2.2.4.3 Hệ thống cấp thoát Nước

Hệ thống cấp thoát nước của VQG Mũi Cà Mau hiện nay còn rất hạn chế Lượng nước khoan qua xử lý chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng lượng nhu cầu tiêu dùng Phần lớn nguồn nước sinh hoạt phụ thuộc vào lượng nước mưa và người dân còn phải trữ nước mưa để dành dùng trong thời gian mùa khô Nước thải cũng không có đường riêng và không qua xử lý trước khi đổ ra môi trường tự nhiên gây ô nhiễm môi trường

Hệ thống thoát nước thải tại các xã và khu dân cư chưa được thiết kế riêng mà vẫn dùng chung với hệ thống thoát nước mưa và chỉ đáp ứng được khoảng 31% nhu cầu Nước thải từ sinh hoạt của dân cư đến nước thải từ các nhà máy chế biến thuỷ hải sản, bệnh viện, chợ nông sản, khu giết mổ gia súc, nơi rửa xe,v.v, để được thải trực tiếp ra sông mà không qua bất cứ hình thức sử lý nào dẫn đến ô nhiễm môi trường, các thông số về độ ô nhiễm môi trường vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép

2.2.4.4 Hệ thống Bưu chính Viễn thông

Mạng lưới bưu chính – phát hành báo chí trên địa bàn huện Ngọc Hiển đã cơ bản đảm bảo phục vụ nhu cầu của nhân dân Dịch vụ chuyển tiền nhanh, chuyển phát nhanh và tiết kiệm bưu điện đã được nâng cao và khai thác có hiệu quả

Mạng lưới viễn thông của huyện được phát triển và ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ Hiện nay ở huyện đã có hệ thống tổng đài vinaphone, mobiphone, vittel và mạng 3G đã phủ sóng đến các xã trong toàn khu vực Số lượng dung lượng lớn và tổng đài điện tử kỹ thuật số ở các xã, đảm bảo liên lạc thông suốt giữa các huyện trong tỉnh với các tỉnh trong cả nước và quốc tế Đây là điều kiện khá thuận lợi cho VQG Mũi Cà Mau phát triển kinh tế hiện đại nói chung và phát triển kinh tế du

lịch sinh thái nói riêng

2.2.5 Nguồn lao động trong Du lịch của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau

Số lượng và chất lượng lao động trong ngành du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch Trong những năm gần đây, số lượng lao động trong ngành du lịch gia tăng một cách đáng kể Cùng với sự gia tăng không ngừng về số lượng, chất lượng lao động cũng được nâng cao, trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, thái độ và khả năng giao tiếp của nhân viên phục vụ được hoàn thiện từng bước để đáp ứng các yêu cầu của khách du lịch

Nét đặc thù của VQG Mũi Cà Mau là một hệ sinh thái tự nhiên đặc biệt, trong

đó đáng chú ý là hệ sinh thái rừng ngập mặn, các cửa sông ven biển, hệ thống các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị thì vùng đất Mũi Cà Mau rất thích hợp cho việc phát triển DLST Chính vì vậy, lực lượng lao động trong ngành DL của VQG Mũi Cà Mau đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của toàn ngành

Nguồn nhân lực ngành du lịch tại VQG Mũi Cà Mau nhìn chung còn thiếu và nhiều hạn chế về chuyên môn và nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm linh hoạt trong quản lý,

Trang 37

kinh doanh Đội ngũ hướng dẫn viên du lịch chưa được đào tạo đầy đủ nên chưa truyền đạt được cho du khách cảm nhận hết được vẻ đẹp và bản sắc văn hoá truyền thống của quê hương của mình Đặc biệt là đội ngũ cán bộ có trình độ ngoại ngữ còn thiếu nên việc giao tiếp với khách còn rất nhiều hạn chế

2.2.6 Đánh giá chung về hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch

Đánh giá chung về nguồn tài nguyên du lịch VQG Mũi Cà Mau là rất giàu về tài nguyên rừng và biển Hệ sinh thái rừng ngập nước có diện tích gần 42.000 ha rừng ngập mặn Với đặc trưng là cây đước, cây mắm là chủ yếu ở vùng đất này Trong rừng

có nhiều loại động vật, thực vật phong phú với trữ lượng lớn là đặc sản của rừng ngập nước VQG Mũi Cà Mau trở thành nổi tiếng trên thế giới và chỉ đứng sau rừng ngập mặn cửa sông Amazôn (Brazil) VQG Mũi Cà Mau có vị trí trung tâm đường biển trong vùng Đông Nam Á và sát với đường biển quốc tế, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển

Tuy nhiên, việc khai thác các tài nguyên cho phát triển du lịch ở Cà Mau còn nhiều hạn chế Một số điểm tài nguyên hấp dẫn nhưng hầu như chưa được đưa vào khai thác Một số điểm đã được đưa vào khai thác nhưng quy mô nhỏ, hiệu quả kinh tế chưa cao

Sở dĩ có tình trạng trên là do rất nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan Một trong những nguyên nhân cơ bản là do sự yếu kém của cơ sở hạ tầng Tính đến thời điểm này, nhiều điểm tài nguyên du lịch hấp dẫn ở VQG Mũi Cà Mau chưa

có đường bộ tiếp cận Mặc dù có thể khai thác các điểm này thông qua mạng lưới đường thuỷ một cách tương đối thuận tiện và còn làm tăng độ hấp dẫn của các tour du lịch, song các tour đường thuỷ có giá thành cao hơn rất nhiều lần so với đường bộ do chi phí tàu thuyền lớn hơn nhiều so với chi phí cho xe ô tô hoặc xe gắn máy Điều này

đã làm hạn chế lượng du khách đến với các điểm du lịch của VQG Mũi Cà Mau và phần nào làm nản lòng các nhà đầu tư

Một nguyên nhân nữa là do sự thiếu vắng của một định hướng mang tính chiến lược cho khai thác tài nguyên, phát triển du lịch ở địa phương Chính vì thiếu định hướng nên việc khai thác tài nguyên ở đây mang tính tự phát triển là chủ yếu Đây chính là nguyên nhân khiến cho các sản phẩm du lịch ở đây còn nghèo nàn, chưa xứng đáng với tiềm năng tài nguyên vốn có và việc xây dựng các sản phẩm có một số điểm tài nguyên chưa hướng đến mục tiêu xa hơn là phát triển bền vững

2.5 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU

2.3.8 Hiện trạng khách du lịch

Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là một trong các địa điểm thu hút khách du lịch đến tham quan và nghiên cứu về cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học

Trang 38

Theo thống kê của trung tâm du lịch và giáo dục môi trường, lượng khách du lịch đến tham quan ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau ngày càng tăng Số lượng khách du lịch đến Vườn quốc gia Mũi Cà Mau từ năm 2006 đến 2010 được trình bày trong bảng sau:

Bảng 1: Số lượng khách đến VQG Mũi Cà Mau giai đoạn 2006 - 2010

Nguồn: Trung tâm thông tin và quảng bá du lịch tỉnh Cà Mau

Nhìn chung khách nội địa tăng điều qua các năm, bên cạnh đó khách quốc tế cũng có xu hướng tăng nhưng tăng không ổn định Nhưng theo thống kê của của VQG thì 7 tháng đầu năm 2009 khách nội địa cũng như khách quốc tế giảm mạnh có thể do ảnh hưởng của cúm AH1N1 lan rộng trên toàn cầu và do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế

Được sự quan tâm và chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh, sự chỉ đạo điều hành chặt chẽ, kịp thời của UBND tỉnh; trong năm qua, ngành du lịch tại VQG Mũi Cà Mau

đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và có tốc độ phát triển khá cao Tông lượt khách đến với VQG Mũi Cà Mau năm 2010 là 38300 lượt khách, đạt 122% kế hoạch năm, tăng 29,97% so với năm 2009

Nguồn: Trung tâm thông tin và quảng bá du lịch tỉnh Cà Mau

Do nơi này chưa có cơ sở lưu trú, mà chỉ có hai nhà hàng nhưng của tư nhân nên không thể tính được doanh thu từ khách du lịch Doanh thu ở VQG Mũi Cà Mau chủ yếu phụ thuộc vào giá vé tham quan tại Công viên Văn hóa Mũi Cà Mau

2.3.10 Hiện trạng về nguồn nhân lực phục vụ du lịch

Ngày đăng: 02/04/2018, 04:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm