1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể

106 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 919,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc quy hoạch, khai thác và phát triển du lịch, nhiều lúc, nhiều nơi còn chưa hợp lý không những không khai thác hết được tiềm năng của các dạng tài nguyên du lịch mà còn có

Trang 1

TRƯƠNG THỊ HƯỜNG

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH

THÁI VƯỜNG QUỐC GIA BA BỂ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : Khoa học môi trường

Người hướng dẫn khoa học : TS Phí Hùng Cường

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nhiều thập kỷ vừa qua, đặc biệt là từ những năm 1950 trở lại đây, du lịch toàn cầu đã phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng bình quân về lượng khách là 6,9%/năm; về doanh thu là 11,8%/năm [41] và đã trở thành một trong

những ngành kinh tế hàng đầu thế giới

Đối với nhiều quốc gia, khu vực, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mang tính đột phá, đồng thời cũng đóng vai trò là một ngành kinh tế có nhiều đóng góp cho việc bảo vệ môi trường (BVMT), thúc đẩy phát triển các vấn đề an sinh xã hội cho cộng đồng dân cư địa phương Tuy nhiên, việc quy hoạch, khai thác và phát triển

du lịch, nhiều lúc, nhiều nơi còn chưa hợp lý không những không khai thác hết được tiềm năng của các dạng tài nguyên du lịch mà còn có những tác động không tốt đến môi trường và cuộc sống của cộng đồng dân cư địa phương Do vậy, trong những thập kỷ gần đây, vấn đề đặt ra cho các địa phương cũng như các quốc gia đối với việc phát triển kinh tế, trong đó có du lịch phải gắn với việc BVMT và đảm bảo an sinh xã hội, phát triển phải đi theo hướng bền vững Trong đó, việc xác định tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái (DLST) dựa vào cộng đồng là một nhiệm vụ cấp thiết

Việt Nam có điều kiện địa lý và tiềm năng du lịch phong phú, hấp dẫn về vẻ đẹp sinh thái tự nhiên, nền văn hóa đa dạng và truyền thống lịch sử lâu đời Được đánh giá là một ngành kinh tế mũi nhọn, có khả năng cạnh tranh cao, du lịch Việt Nam đã tích cực hội nhập và đạt được những kết quả đáng khích lệ Du lịch là một trong ít ngành kinh tế ở nước ta mạng lại nguồn thu trên 2 tỷ USD/năm Hơn 10 năm trước, du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất khu vực, nhưng đến nay khoảng cách này được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt Philippin, chỉ còn đứng sau Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia Theo Tổ chức du lịch thế giới thuộc Liên hợp quốc (UNWTO), hiện nay Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới [51]

Trang 3

Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể nằm ở phía Bắc của tỉnh Bắc Kạn, có tiềm năng đất đai, khí hậu và tài nguyên động thực vật đa dạng và phong phú Nơi đây từng được chọn làm nơi nghỉ mát, vui thú của quan lại, thực dân thời Pháp thuộc Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là việc quan tâm đầu tư, khai thác các thế mạnh của Vườn còn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có

Vì vậy, để đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của tỉnh

Bắc Kạn trong tổng thể kinh tế - xã hội của cả nước, việc “Nghiên cứu, đánh

giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia

Ba Bể”nhằm đảm bảo hài hoà giữa phát triển nhanh, hiệu quả và lâu bền, xoá

đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và thể lực của nhân dân và cải thiện môi trường

là rất cần thiết

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trên thế giới và Việt Nam vào địa bàn VQG Ba Bể nhằm đánh giá tiềm năng và đưa ra các giải pháp cho phát triển DLST ở VQG Ba Bể Góp phần tôn tạo, khai thác có hiệu quả tài nguyên, BVMT, phát triển cộng đồng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan các công trình, các hướng nghiên cứu về phát triển DLST trên thế giới và Việt Nam Vận dụng nghiên cứu vào phát triển DLST VQG Ba Bể

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng hoạt động DLST tại khu vực VQG Ba Bể

- Đề xuất một số định hướng khai thác hiệu quả các tiềm năng phát triển DLST phù hợp với lãnh thổ VQG Ba Bể

Trang 4

4 Yêu cầu của đề tài

- Các nguồn số liệu điều tra, thu thập phải đảm bảo độ chính xác, đầy đủ và phản ánh đúng thực tế vấn đề cần nghiên cứu

- Quá trình đánh giá phải khách quan, dựa trên những số liệu thu thập, tổng hợp được

- Các đề xuất đưa ra phải có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương

5 Ý nghĩa của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ được tiềm năng tự nhiên, tài nguyên, thực trạng hoạt động DLST tại VQG Ba Bể Những vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện về mặt phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu,

sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên ứng dụng cho một khu vực cụ thể

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu về du lịch sinh thái

1.1.1 Trên thế giới

“DLST là một loại hình du lịch có nguồn gốc từ du lịch thiên nhiên, được xem như một phương pháp hữu hiệu nhằm thỏa mãn lòng khao khát cháy bỏng của con người đến với thiên nhiên, gắn BVMT tự nhiên với phát triển bền vững.” [39]

Khi con người bắt đầu quan tâm về vấn đề BVMT, cũng là lúc DLST được nhắc tới ngày càng nhiều hơn, nhất là từ sau hội nghị thượng đỉnh về môi trường tổ chức tại Thụy Điển năm 1972 Nhưng nó chỉ thực sự được nghiên cứu vào thập kỷ

80 của thế kỷ XX, DLST đã được Hector Ceballos Lascurain – một nhà nghiên cứu tiên phong về loại hình du lịch này đưa ra định nghĩa đầu tiên vào năm 1987 – đã thu hút sự quan tâm của nhiều người trên phạm vi toàn thế giới Năm 1990, hiệp hội DLST Quốc tế được thành lập Ở phạm vi quốc gia, một số nước cũng đã thành lập hiệp hội DLST quốc gia như: Brazil, Úc, Vênêzuêla…

Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu DLST mang tính lý thuyết cũng như thực tiễn cao như: Ecotourism: Principles, practices & policies for sustainability; Tourism planning; Ecotourism planning for protected areas; The sustainability of ecotourism in Indonesia; Ecotourism and deverlopment, … hầu hết các tài liệu này đều đã đưa ra các quan điểm, các nguyên tắc về DLST Tuy nhiên tùy thuộc vào mục tiêu, đối tượng khai thác du lịch và tùy từng quốc gia mà có quan niệm khác nhau, nhưng nhìn chung, các tác giả đều cho rằng DLST là một loại hình

du lịch tối ưu, đảm bảo thực hiện được hai chức năng: phát triển và bảo tồn

Các quốc gia đứng đầu về DLST hiện nay là Australia, New Zealand, Thụy Điển, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Canada, Hoa Kỳ, ở khu vực Đông Nam Á có Mailaisia, Mianma… Do nhu cầu đặc biệt cho chăm sóc sức khỏe con người về thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức về thiên nhiên, cũng như BVMT cho người dân trên toàn cầu, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã lấy năm 2002 là “Năm Quốc tế DLST” nhằm tôn vinh ý nghĩa quan trọng của DLST, những ảnh hưởng và các lợi ích mà DLST mang lại đối với vấn đề BVMT

Trang 6

1.1.2 Tại Việt Nam

DLST mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX Vào năm

1995, một dự án thí điểm đầu tiên nằm trong khuôn khổ hợp tác Quốc tế về nghiên cứu, lập quy hoạch cho những cơ hội phát triển du lịch thám hiểm thiên nhiên ở Việt Nam Với các nhà chuyên môn New Zealand, đây là tiền đề của DLST ở Việt Nam Từ đó, ta có các chương trình xây dựng quy hoạch phát triển DLST với công

cụ có giá trị Những đề tài, công trình đã tiếp cận với lĩnh vực du lịch liên quan đến môi trường và con người như: Tài nguyên môi trường và du lịch Việt Nam; Quy hoạch du lịch bền vững; Chiến lược quốc gia về phát triển DLST tại Việt Nam;… Nhìn chung, các công trình này đều mang tính chất định hướng, lý thuyết cao, tính thực tiễn còn hạn chế, hiệu quả áp dụng không cao

Trong nhiều hội thảo đã tiến hành thảo luận về lợi ích cũng như ảnh hưởng của DLST đối với BVMT đã được tổ chức như: Hội thảo về DLST với phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam (1998), Hội thảo Quốc gia về xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam (1999), Hội thảo khoa học về phát triển DLST trong khu dự trữ sinh quyển “cơ hội và thách thức” (2004)…

Với tiềm năng DLST mà thiên nhiên ban tặng, Việt Nam tiến hành quy hoạch DLST trên quy mô toàn quốc dựa trên tiềm năng của các rừng đặc dụng mà tiêu biểu là các VQG: Ba Bể, Ba Vì, Bái Tử Long, Bạch Mã, Côn Đảo, Phong Nha, Tam Đảo, U Minh Thượng… [20]

VBG Ba Bể được xếp là một trong 20 thắng cảnh đẹp nhất Việt Nam [30, 31] nhưng do nằm cách xa các khu trung tâm kinh tế, hành chính, văn hóa của cả nước; việc đi lại gặp nhiều khó khăn nên chưa thu hút được khách du lịch cũng như

sự quan tâm của các nhà đầu tư Trong những năm gần đây, điều kiện vật chất, giao thông đi lại được cải thiện, VQG Ba Bể đã bắt đầu thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư, của khách du lịch và của các nhà khoa học Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã và đang được tiến hành trong khu vực, bao gồm: Luận chứng kinh tế -

kỹ thuật VQG Ba Bể; Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường, đề xuất giải pháp khai thác hợp lý phục vụ phát triển KT - XH và BVMT vùng hồ VQG Ba Bể;

Trang 7

Nghiên cứu vùng đệm và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững ở VQG Ba Bể; Nghiên cứu KT - XH, nguyên nhân sâu xa của sự suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH) ở hai vùng khác nhau của Việt Nam, nghiên cứu mẫu ở khu vực VQG Ba

Bể và KBTTN Na Hang ở phía Bắc và VQG Yok Don ở Tây Nguyên; Quy hoạch phát triển nông – lâm nghiệp và nông thôn huyện Ba Bể giai đoạn 1999 – 2010; … Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước trong lĩnh vực DLST về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, luận văn giải quyết một cách có hệ thống mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn về vấn đề này

và vận dụng vào nghiên cứu trong điều kiện khu vực VQG Ba Bể

1.2 Các vấn đề cơ bản về du lịch sinh thái

1.2.1 Khái niệm về du lịch sinh thái

1.2.1.1 Du lịch

Trên thế giới, khái niệm du lịch được đưa ra từ rất sớm, với rất nhiều khái niệm khác nhau Các định nghĩa truyền thống chỉ xem du lịch đơn giản như một kỳ nghỉ hoặc một chuyến đi để giải trí, làm phong phú thêm nhận thức của con người

Theo Dowling & Weiler “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân

đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứng những nhu cầu của họ” [41]

Hay trong định nghĩa của Pirojnik, một nhà địa lý người Belarus đã đưa ra định nghĩa về du lịch mà trong đó không dùng tới cụm từ di chuyển tạm thời, một trong những yếu tố để phân biệt một chuyến di chuyển bình thường với một chuyến du

lịch là sử dụng thời gian nhàn rỗi: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong

thời gian nhàn rỗi có liên quan đến sự di cư và lưu trú tạm thời ngoài nơi ở thường xuyên nhằm mục đích phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức vằn hóa hoặc hoạt động thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ” [8]

Định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới đã xác định rõ: “Du lịch là hoạt

động của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [38]

Trang 8

Ở Việt Nam khái niệm du lịch được định nghĩa chính thức trong Luật Du lịch

(2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài

nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [14]

Tóm lại, du lịch là hoạt động mang tính không thường xuyên của con người

ở ngoài nơi công tác và nơi cư trú, diễn ra vào thời gian rảnh rỗi, nhằm mục đích tham quan, vui chơi giải trí, phục hồi sức khỏe đồng thời nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh Tác động của du lịch đến địa bàn hoạt động du lịch là trên mọi khía cạnh và tùy thuộc từng loại hình du lịch cụ thể Ngược lại thì địa bàn lại quy định sự có mặt của các loại hình du lịch

1.2.1.2 Tài nguyên du lịch

“Tài nguyên du lịch là các thành phần và các tổ hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, tuyến du lịch, khu du lịch, đô thị du lịch…” [14]

Tài nguyên du lịch được chia làm hai dạng là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Các tài nguyên này có thể đang được khai thác hoặc chưa khai thác Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên DLST phụ thuộc nhiều yếu tố: khả năng nghiên cứu và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn còn tiềm ẩn, yêu cầu phát triển các sản phẩm DLST, trình độ phát triển khoa học công nghệ tạo các phương tiện khai thác tiềm năng tài nguyên…

Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa mạo, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật, hệ sinh thái (HST), cảnh quan thiên nhiên, di sản thiên nhiên có thể được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để phục vụ mục đích du lịch

Tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Bao gồm truyền thống văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng vào mục đích du lịch [17, 29]

Trang 9

Tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề để phát triển du lịch Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu Và nơi nào có tài nguyên du lịch phong phú thì sẽ có điều kiện thuận lợi để tổ chức nhiều loại hình du lịch với nhiều sản phẩm du lịch có giá trị đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

1.2.1.3 Du lịch sinh thái

DLST được hiểu trên nhiều khía cạnh khác nhau dưới các tên gọi khác nhau:

Du lịch thiên nhiên (Nature tourism), du lịch môi trường (Environmental tourism),

du lịch đặc thù ( Particular tourism), du lịch xanh (Green tourism), du lịch thám hiểm (Adventure tourism), du lịch bản xứ (Indigenuos tourism), du lịch có trách nhiệm (Responsible tourism), du lịch nhạy cảm (Senditized tourism), Du lịch bền vững (Sustainable tourism)… [16]

Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được Hector

Ceballos- Lascurain đưa ra năm 1987: “DLST là du lịch đến những khu vực tự

nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hoá được khám phá” Được

biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Nguồn: [8]

Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái

DU LỊCH SINH THÁI

DU LỊCH

Du lịch hỗ trợ bảo tồn & phát triển cộng

Trang 10

Năm 1991, theo Megan Epler Wood: “DLST là du lịch đến các khu vực còn

tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường và văn hoá mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các HST Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế

để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích cho người dân địa phương” [43]

Theo Lindberg, K and Hawkins, 1993: “DLST được phân biệt với các loại

hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề DLST tạo mối quan

hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản thân du khách thành những người đi đầu trong công tác BVMT Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hoá và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính cho du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên” [13]

Định nghĩa của Hiệp hội DLST quốc tế: “ DLST là việc đi lại có trách

nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương” [20]

DLST (ecotourism) được xem như một quan điểm phát triển du lịch bền vững, đảm bảo thực hiện chức năng phát triển kinh tế và bảo tồn[1, 16] Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ ĐDSH và văn hóa cộng đồng, phát triển DLST mang lại những nguồn lợi to lớn về mặt kinh tế, tạo cơ hội tăng thêm việc làm

và nâng cao thu nhập, dân trí và sức khỏe cộng đồng dân cư địa phương thông qua GDMT, văn hóa, lịch sử và nghỉ ngơi giải trí

Ở Việt Nam, tại Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển

DLST ở Việt Nam” từ ngày 7 đến 9-9-1999 cũng đã định nghĩa: “DLST là loại

hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường,

có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [8]

Cho dù khái niệm về DLST còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất, song dựa trên những điểm chung từ các định nghĩa về DLST trên thế giới, Tổ chức du lịch thế giới đưa ra những đặc điểm cơ bản về định nghĩa về DLST như sau:

Trang 11

- DLST bao gồm tất cả những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở đó mục đích chính của khách du lịch là tham quan tìm hiểu về tự nhiên cũng như giá trị văn hóa truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó

- DLST phải bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường

- Thường DLST được các tổ chức chuyên nghiệp và doanh nghiệp có quy

mô nhỏ ở nước sở tại tổ chức cho các nhóm nhỏ du khách Các công ty lữ hành nước ngoài có quy mô khác nhau cũng có thể tổ chức, điều hành hoặc quảng cáo các tour DLST cho các nhóm du khách có số lượng hạn chế

- DLST hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tự nhiên và văn hóa – xã hội

- DLST có sự hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn tự nhiên bằng cách:

+ Tạo những lợi ích về kinh tế cho địa phương, các tổ chức và chủ thể quản

lý, với mục đích bảo tồn các khu tự nhiên đó

+ Tạo ra các cơ hội về việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương + Tăng cường nhận thức của cả du khách và người dân địa phương về sự cần thiết phải bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa [20]

1.2.2 Nguyên tắc, yêu cầu và đặc trưng của du lịch sinh thái

1.2.2.1 Các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái

Những nguyên tắc để đảm bảo phát triển DLST không tách rời những nguyên tắc chung cho phát triển bền vững Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài nguyên rõ rệt và có nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Chính vì vậy sự phát triển DLST đòi hỏi có sự nỗ lực chung

và đồng bộ của toàn xã hội Phát triển DLST cần hướng tới việc đảm bảo đạt được 3 mục tiêu cơ bản sau:

- Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế: đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển

ổn định lâu dài về mặt kinh tế của du lịch, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia và cộng đồng

- Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường: thể hiện ở việc sử dụng

hợp lý các tiềm năng tài nguyên và điều kiện môi trường Việc khai thác, sử dụng

Trang 12

tài nguyên du lịch cho phát triển cần được quản lý sao cho không chỉ thỏa mãn nhu cầu hiện tại mà còn đảm bảo cho nhu cầu phát triển du lịch qua nhiều thế hệ Bên cạnh đó trong quá trình phát triển, các tác động của hoạt động du lịch đến môi trường sẽ được hạn chế đi đôi với những đóng góp cho các nỗ lực tôn tạo tài nguyên, BVMT

- Đảm bảo sự bền vững về xã hội : theo đó sự phát triển du lịch có những đóng

góp cụ thể cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong phát triển

Để đảm bảo đạt được 3 mục tiêu cơ bản trên, phát triển DLST cần tuân thủ các nguyên tắc cụ thể sau:

a Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý

Sự phát triển bền vững nói chung và phát triển DLST nói riêng cần đảm bảo việc lưu lại cho thế hệ tương lai nguồn tài nguyên không kém hơn so với những gì

mà các thế hệ trước được hưởng Điều này có nghĩa là trong quá trình khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên cần phải tính đến các giải pháp nhằm ngăn chặn sự mất

đi của các loại sinh vật, sự suy giảm những chức năng thiết yếu của các HST có giá trị du lịch như các khu rừng nguyên sinh, các vùng đất ngập nước, các rạn san hô

và khả năng bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Điều này cũng còn có nghĩa là tài nguyên và môi trường du lịch cần được hiểu đó không phải là "hàng hóa cho không" mà phải được tính vào chi phí đầu vào của sản phẩm du lịch để có được nguồn đầu tư cần thiết cho việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên, kiểm soát và ngăn chặn sự xuống cấp môi trường Duy trì hoạt động du lịch trong giới hạn "sức chứa" (Carrying Capacity) được xác định

Khái niệm "Sức chứa" ở đây cần được hiểu từ 5 khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm

lý, xã hội và quản lý Trên quan điểm bảo vệ tài nguyên, môi trường đảm bảo cho phát triển bền vững, khái niệm "sức chứa" cần được hiểu từ khía cạnh sinh học và xã hội

b Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải ra môi trường

Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng chất thải từ hoạt động du lịch sẽ góp phần dẫn đến sự suy thoái môi trường mà hậu quả của

nó là sự phát triển không bền vững của du lịch nói riêng và KT - XH nói chung

Trang 13

Đối với một số loại tài nguyên như nước, rừng hoạt động du lịch đòi hỏi nhu cầu cao Ví dụ nhu cầu nước sinh hoạt cho một người dân trung bình là 50 lít/ngày, song nhu cầu này đối với khách du lịch trung bình gấp 4 lần, thậm chí là 10 lần Mỗi sân golf trung bình tiêu thụ 1 lượng nước ngầm để tưới cỏ là 3000m3/ngày Chính vì vậy ở nhiều khu du lịch ở Gam bia, Thái Lan v.v tình trạng thiếu nước sinh hoạt là nghiêm trọng, trong khi nguồn nước thải từ các khu du lịch đó lại rất lớn gây ô nhiễm đất và nguồn nước

c Phát triển phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng

Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hóa và xã hội là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, làm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch, tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch Nơi nào có tính đa dạng cao về

tự nhiên, văn hóa và xã hội, nơi đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao về du lịch và có sức hấp dẫn lớn, đảm bảo cho sự phát triển Chính vì vậy việc duy trì và tăng cường tính đa dạng thiên nhiên, văn hóa và xã hội là hết sức quan trọng cho sự phát triển bền vững lâu dài của du lịch và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngành du lịch

Du lịch cũng góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa bằng việc khích lệ các hoạt động văn hóa dân gian, thúc đẩy việc sản xuất các hàng truyền thống, chia sẻ lợi ích

từ nguồn thu cho việc tôn tạo, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa Du lịch còn tạo thêm công ăn việc làm, góp phần làm đa dạng hóa xã hội Tuy nhiên trong quá trình phát triển của mình, bên cạnh những đóng góp tích cực vào quá trình bảo tồn tính đa dạng, hoạt động du lịch cũng dễ làm tổn hại đến nó nếu không được quản lý và giám sát có hiệu quả

Sự đa dạng văn hóa bản địa cũng bị đe dọa khi người dân bản địa biến nó thành hàng hóa bán cho khách du lịch Việc tiêu chuẩn hóa các sản phẩm văn hóa

để phục vụ khách đang làm mất đi nhiều giá trị văn hóa đặc sắc độc đáo riêng của địa phương Tính đa dạng văn hóa cũng sẽ bị ảnh hưởng khi cộng đồng địa phương

có những điều chỉnh hóa văn hóa bản địa riêng của mình để đáp ứng thị hiếu theo nhu cầu của khách và điều này còn thường dẫn tới sự điểu chỉnh về tinh thần "phục vụ"

Trang 14

Sự đa dạng của hệ thống xã hội và hệ thống sinh thái của một vùng hay ở một địa phương cũng sẽ bị ảnh hưởng khi các ngành nghề truyền thống ít thu nhập như đánh bắt cá, canh tác nông nghiệp bị những công việc dịch vụ du lịch có thu nhập cao hơn lấn át và theo thời gian những nghề này sẽ dần bị mất đi nhường chỗ cho một số nghề "độc tôn"

d Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể KT - XH nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng và địa phương Ngoài ra, đối với mỗi phương án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như với việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đảm bảo môi trường

e Chú trọng việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương trong quá trình phát triển

Để phát triển KT - XH nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng việc khai thác các tiềm năng tài nguyên là điều tất yếu Tuy nhiên, thực tế cho thấy trên một địa bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình không có sự hỗ trợ đối với

sự phát triển kinh tế và chia sẻ quyền lợi với cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho kinh tế và cuộc sống người dân địa phương gặp nhiều khó khăn, kém phát triển Điều này buộc cộng đồng địa phương phải khai thác tối đa các tiềm năng tài nguyên của mình làm đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài nguyên và tổn hại đến môi trường sinh thái Kết quả các quá trình đó sẽ gây những tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của ngành du lịch nói riêng và KT - XH nói chung Chính vì vậy việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương là một nguyên tắc quan trọng trong phát triển bền vững

Bên cạnh đó, việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương còn được thể hiện thông qua những chi phí cần thiết từ nguồn thu du lịch cho việc bảo tồn tài nguyên và duy trì môi trường Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển KT -

XH của địa phương nói riêng và sự phát triển bền vững nói chung của lãnh thổ

Trang 15

f Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động phát triển du lịch

Kinh nghiệm thực tế về phát triển du lịch ở nhiều nước cho thấy sự tham gia của địa phương là cần thiết bởi bản thân người dân địa phương, nền văn hóa, môi trường, lối sống và truyền thống của họ là những nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch

g Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường

Đối với bất kỳ sự phát triển nào, con người luôn đóng vai trò quyết định Một lực lượng lao động được đào tạo có trình độ nghiệp vụ không những đem lại lợi ích

về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Sự phát triển bền vững đòi hỏi ở đội ngũ những người thực hiện không chỉ trình độ nghiệp vụ mà còn nhận thức đúng đắn về tính cần thiết của việc bảo vệ tài nguyên và môi trường

Việc đào tạo đúng hướng sẽ tạo cho đội ngũ cán bộ nhân viên thái độ chăm

lo, có trách nhiệm hơn với đất nước, văn hóa truyền thống, tôn giáo và lối sống cũng như với tài nguyên môi trường Để đảm bảo lợi ích lâu dài của ngành du lịch việc sử dụng và đào tạo cán bộ nhân viên người địa phương là cần thiết bởi họ có những hiểu biết sâu sắc hơn về tự nhiên, văn hóa bản địa cũng như mối quan tâm nhiều hơn tới cộng động địa phương

h Tăng cường tính trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến, quảng cáo du lịch

Xúc tiến, quảng cáo luôn là một hoạt động quan trọng đối với phát triển du lịch, đảm bảo sự thu hút khách, tăng cường khả năng cạnh tranh của các sản phẩm

du lịch Chiến lược quảng cáo, tiếp thị đối với DLST bao gồm việc xác định đánh giá và luôn rà soát để xác định đúng khả năng đáp ứng của các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, cũng như việc cân đối các sản phẩm du lịch cụ thể

Hoạt động quảng cáo, tiếp thị thiếu trách nhiệm sẽ tạo cho khách những hy vọng không thực tế do thông tin không đầy đủ và thiếu chính xác dẫn đến sự thất vọng của du khách về các sản phẩm du lịch được quảng cáo Kết quả của hoạt động này sẽ là thái độ tẩy chay của du khách đối với cộng đồng và những sản phẩm du lịch của địa phương ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của du lịch Việc quảng cáo, tiếp

Trang 16

thị cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm sẽ nâng cao

sự tôn trọng của du khách đối với môi trường thiên nhiên, văn hóa và xã hội và các giá trị nhân văn nơi tham quan, đồng thời sẽ làm tăng đáng kể sự thỏa mãn của khách đối với các sản phẩm du lịch Điều này sẽ góp phần làm giảm những tác động tiêu cực từ hoạt động thu hút khách, đảm bảo cho tính bền vững trong phát triển du lịch

i Coi trọng việc thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu

Công tác nghiên cứu là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của bất cứ ngành kinh tế nào, đặc biệt là những ngành có nhiều mối quan hệ trong phát triển và phụ thuộc vào nhiều điều kiện về tự nhiên, môi trường, văn hóa - xã hội như ngành du lịch Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần có những căn cứ khoa học vững chắc dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan Hơn thế nữa, trong quá trình phát triển nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nảy sinh sẽ có những tác động cần phải nghiên cứu để có những giải pháp phù hợp điều chỉnh sự phát triển Như vậy việc thường xuyên cập nhật các thông tin, nghiên cứu và phân tích chúng là cần thiết, không chỉ đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động kinh doanh mà còn đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong mối quan hệ với cơ chế chính sách, với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường

Những nguyên tắc cơ bản trên đây nếu được thực hiện đầy đủ sẽ là đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch, phát triển bền vững chính là chìa khóa cho sự thành công lâu dài của ngành du lịch[11, 28, 42]

1.2.2.2 Các yêu cầu cơ bản

Yêu cầu đầu tiên cần thiết để tổ chức được DLST là sự tồn tại của các HST

với sức hút cao Đây là lý do DLST thường ở các khu bảo tồn tự nhiên, các VQG nơi tồn tại những khu rừng với tính ĐDSH cao và cuộc sống hoang dã

Yêu cầu thứ hai liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của DLST ở hai điểm:

- Đảm bảo tính giáo dục, nâng cao hiểu biết cho khách DLST, người hướng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương

Trang 17

- Đối với hoạt động DLST đòi hỏi phải có người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, các nhà điều hành DLST phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý thiên nhiên và cộng đồng địa phương với mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống và nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với khách du lịch

Yêu cầu thứ ba nhằm để hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của

hoạt động DLST đến tự nhiên và môi trường, theo đó DLST cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa” “Sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý - sinh học, tâm lý học, xã hội và mức độ quản lý Tất cả những khía cạnh này có liên quan đến lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm

- Yếu tố vật lý - sinh học: Khía cạnh vật lý là số lượng khách thực tế mà điểm đó có thể chứa Khía cạnh sinh học là lượng khách tối đa mà nếu lớn hơn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái

do hoạt động của du khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra

- Khía cạnh tâm lý: sức chứa được hiểu là lượng khách mà nếu vượt quá thì bản thân du khách sẽ bắt đầu cảm thấy hứng thú du lịch của mình bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác Tác động này làm giảm đáng kể sự hài lòng của du khách

- Khía cạnh xã hội: sức chứa là giới hạn lượng khách du lịch mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hóa –

xã hội, KT - XH của khu vực

- Khía cạnh quản lý: là giới hạn lượng khách tới mà khu du lịch có thể phục

vụ, kiểm soát hoạt động của khách để không làm ảnh hưởng tới môi trường và xã hội

Yêu cầu thứ tư là thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của du khách Nâng

cao hiểu biết về tự nhiên, văn hóa bản địa là rất khó khăn song là yêu cầu cần thiết với sự tồn tại lâu dài của DLST [16, 42]

Trang 18

1.2.2.3 Đặc trưng của du lịch sinh thái

Bao gồm cả các đặc trưng chung về du lịch và đặc trưng riêng chỉ có ở DLST

a Đặc trưng của du lịch

 Tính đa ngành

Đặc trưng này được thể hiện ở đối tượng được khai thác phục vụ du lịch (Sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị văn hóa, cơ sở hạ tầng, dịch vụ đi kèm khác…) Đồng thời thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác thông qua sản phẩm du lịch dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông sản, hàng hóa…)

Hoạt động du lịch nói chung đều mang tính mùa vụ, làm cho cường độ diễn

ra các hoạt động du lịch tập trung cao vào một thời gian nào đó trong năm Nhất

là du lịch biển, thể thao theo mùa hoặc vui chơi giải trí cuối tuần Nó được hình thành do nhiều nhân tố vừa tác động riêng rẽ vừa tác động đồng thời: thiên nhiên, kinh tế, xã hội, tâm lý…

Trang 19

b Những đặc trưng riêng của du lịch sinh thái

 Giáo dục cao về môi trường

DLST giúp con người tiếp cận gần gũi hơn với các vùng tự nhiên, các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về ĐDSH và rất nhạy cảm về môi trường Từ đó nâng cao hiểu biết của người dân về những ảnh hưởng xấu mà họ có thể gây ra với môi trường khi tham gia hoạt động du lịch Do đó họ biết được cách hạn chế tới mức thấp nhất những tác động tiêu cực tới môi trường Nên có thể nói DLST là chìa khóa cân bằng giữa phát triển du lịch với BVMT khi mà các hoạt động du lịch ngày càng gây áp lực lớn tới môi trường

 Góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, duy trì ĐDSH

Với tính giáo dục cao, DLST hình thành và nâng cao ý thức trách nhiệm bảo

vệ các nguồn tài nguyên, thúc đẩy hoạt động bảo tồn đảm bảo phát triển bền vững

 Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương

Cộng đồng địa phương chính là chủ sở hữu các nguồn tài nguyên tại địa phương mình Việc thu hút và trao cho họ những quyền lợi sẽ giúp các nhà quản lý tránh đưa ra các quyết định có thể dẫn tới xung đột với địa phương Mặt khác khi cộng đồng địa phương tham gia DLST, họ sẽ có cơ hội làm việc và các sản phẩm dịch vụ của họ được du khách sử dụng Do đó, mức độ lệ thuộc và khai thác tự nhiên của họ sẽ giảm dần và nhận thức về giá trị của môi trường cũng được nâng cao Giải quyết được vấn đề này cũng chính là giảm được sức ép của cộng đồng địa phương lên môi trường [7]

Trang 20

1.3 Vườn quốc gia và du lịch sinh thái

1.3.1 Khái niệm về vườn quốc gia

VQG là một lãnh thổ tương đối rộng trên đất liền hay trên biển mà:

- Nơi có một hay vài HST không bị thay đổi lớn do sự khai thác hoặc chiếm lĩnh của con người Các loài động, thực vật, các đặc điểm hình thái, địa mạo và nơi

cư trú của các loài hoặc trong đó chứa đựng những cảnh quan thiên nhiên đẹp là mối quan tâm cho nghiên cứu khoa học, cho giáo dục và giải trí

- Nơi có ban quản lý thực hiện các biện pháp ngăn chặn hoặc loại bỏ sự khai thác hoặc xâm chiếm của con người trên toàn bộ khu vực và thành công trong việc buộc con người tôn trọng những đặc trưng về sinh thái, địa mạo hoặc thẩm mĩ của khu vực

- Nơi cho phép khách du lịch đến thăm quan dưới những điều kiện nhất định,

để đáp ứng nguyện vọng cũng như cho các mục đích nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, giải trí (theo quy hoạch và sự quản lý của VQG và khu bảo tồn) [7, 42]

VQG được ưu tiên lựa chọn phát triển DLST vì có các đặc điểm sau:

- Có tính đại diện cao cho một hoặc vài HST điển hình, với tính ĐDSH cao,

có sự tồn tại của những loài sinh vật đặc hữu có giá trị khoa học và tham quan nghiên cứu Việc tham quan và nghiên cứu có khả năng tổ chức tốt trong những điều kiện mà tự nhiên ít bị ảnh hưởng nhất

- Gần các trục giao thông, sân bay nội địa và quốc tế hoặc các trung tâm đô thị, có điều kiện tiếp cận dễ dàng và thuận lợi đối với nhiều đối tượng du khách

- Có cảnh quan tự nhiên đẹp, hấp dẫn, nổi tiếng trong nước và quốc tế hoặc

có mối liên quan với các chứng tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng của dân tộc

- Gần với những điểm du lịch hấp dẫn khác trong vùng, để có thể tổ chức một tour du lịch trọn gói mà trong đó có VQG là một điểm DLST quan trọng

- Có điều kiện về hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng hoạt động du lịch [7]

1.3.2 Mối quan hệ giữa phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn thiên nhiên

Mối quan hệ giữa phát triển DLST với bảo tồn tự nhiên không phải lúc nào cũng theo một chiều đơn giản, mà là mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, thường thể hiện ở 3 dạng theo sơ đồ sau:

Trang 21

Nguồn: [8] Quan hệ cùng tồn tại (A): khi có rất ít mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và

bảo tồn tự nhiên hoặc cả hai tồn tại một cách độc lập Trường hợp này xảy ra khi hoạt động du lịch mới phát triển, mức sử dụng tài nguyên còn thấp, ít ảnh hưởng tới môi trường

Quan hệ cộng sinh (B): trong đó cả du lịch và bảo tồn tự nhiên đều nhận

được những lợi ích từ mối quan hệ này và có sự hỗ trợ lẫn nhau Đây là giai đoạn phát triển tiếp theo, du lịch có mối quan hệ với bảo tồn theo hướng tích cực nếu hoạt động du lịch được quản lý, quy hoạch phù hợp với các quy luật tự nhiên có lợi cho bảo tồn tự nhiên và du lịch Khi đó giá trị tự nhiên vẫn được bảo tồn, thậm chí

ở điều kiện tốt hơn trong khi chất lượng sản phẩm du lịch vẫn được đảm bảo, lợi ích cho ngành du lịch và cho khu vực tăng cường

Quan hệ mâu thuẫn (C): khi sự hiện diện của du lịch, nhất là du lịch đại

chúng, làm tổn hại đến nỗ lực bảo tồn tự nhiên Trường hợp này xảy ra khi phát triển du lịch với mục đích đơn thuần về lợi ích kinh tế, không quan tâm với công tác bảo tồn

(A)

DL &BT độc lập với nhau

(C)

DL & BT quan hệ mâu mâu thuẫn

(B)

DL & BT trong mối quan hệ cộng sinh

DL BT

DL: Phát triển du lịch

sinh thái

BT : Bảo tồn thiên nhiên

Tình trạng A có thể chuyển sang tình trạng B, từ đó có thể biến đổi

sang C, hoặc từ tình trạng A chuyển trực tiếp sang C

Hình 1.2: Các quan hệ giữa phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn thiên nhiên

Trang 22

1.3.3 Lợi ích của du lịch mang lại cho vườn quốc gia

Các VQG có rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịch đặc biệt là DLST, VQG và DLST có mối quan hệ hữu cơ với nhau Những lợi ích mà hoạt động DLST có thể đem lại cho VQG bao gồm:

- Bảo tồn thiên nhiên: các nguồn thu từ hoạt động du lịch có khả năng tạo

một cơ chế tự hoạch toán tài chính cho VQG Trong đó, có cả việc duy trì bảo tồn các HST, các diện tích tự nhiên quan trọng, các khu bảo tồn, các VQG

- Tăng cường chất lượng môi trường: du lịch có thể cung cấp những sáng

kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua việc kiểm soát chất lượng nước, không khí, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và vấn đề môi trường khác Du lịch còn cải thiện các tiện nghi môi trường thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc

- Đề cao môi trường: việc phát triển các cơ sở du lịch được thiết kế tốt sẽ

nâng cao giá trị các cảnh quan đồng thời khuyến khích mở rộng vùng đất giáp ranh, tạo điều kiện duy trì độ che phủ thực vật tự nhiên, tăng cường BVMT

- Cải thiện hạ tầng cơ sở: các cơ sở hạ tầng địa phương như sân bay, đường

xá, hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc, xử lý chất thải có thể được cải thiện thông qua hoạt động du lịch

- Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương cũng như

là du khách thông qua việc trao đổi và học tập với nhau Từ đó mọi người có nhận thức tích cực hơn trong việc bảo tồn tài nguyên và môi trường

- Lợi ích kinh tế: du lịch tạo nguồn thu nhập, ngân sách, giải quyết công ăn

việc làm, thu hút ngoại tệ… Điều đó giúp nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương, phát triển kinh tế địa phương, kinh tế vùng và quốc gia, từ đó giảm bớt sức ép lên môi trường VQG

- Giao lưu, trao đổi văn hóa giữa du khách và người địa phương, góp phần

làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của cả hai phía cũng như sự hiểu biết và hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác (kinh tế, chính trị, xã hội, văn minh)

Trang 23

1.3.4 Tác động tiêu cực có thể nảy sinh do hoạt động du lịch ở các vườn quốc gia

DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, nên sự phong phú, đa dạng trong các giống loài, các HST của thế giới tự nhiên chính là giá trị của sản phẩm du lịch Vì vậy DLST tuy mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng và góp phần tích cực vào công tác bảo tồn thiên nhiên nhưng cùng với các hoạt động khác thì cũng gây những tác động tiêu cực tới tài nguyên, môi trường và cuộc sống người dân Tác động tiêu cực lên các khu tự nhiên được bảo vệ có thể phân ra làm hai loại: trực tiếp và gián tiếp Các tác động trực tiếp gây ra bởi sự có mặt của du khách, còn các tác động gián tiếp nẩy sinh từ cơ sở hạ tầng, dịch vụ liên quan đến hoạt động du lịch Cụ thể các tác động như sau:

- Tác động lên thổ nhưỡng: do hoạt động đi bộ, cắm trại, khai phá và chuyển

đổi mục đích sử dụng các vùng đất tự nhiên để xây dựng khách sạn, đường xá, khu vui chơi giải trí… gây ảnh hưởng tới cấu trúc địa chất, không gian sống của hệ sinh vật và người dân địa phương

- Tác động vào nguồn tài nguyên nước: Du lịch là ngành công nghiệp tiêu

thụ nhiều nước, thậm chí tiêu hao nguồn nước sinh hoạt hơn cả nhu cầu nước sinh hoạt của người dân địa phương Nên việc tập trung một lượng khách du lịch lớn sẽ gây sức ép tới tài nguyên nước của địa phương Thêm vào đó là lượng nước thải gia tăng tỷ lệ thuận với lượng nước cấp Nếu như không có hệ thống thu gom nước thải và việc xử lý chất thải không triệt để sẽ làm giảm chất lượng nguồn nước của khu du lịch và vùng lân cận

- Ô nhiễm không khí: Du lịch được coi là ngành “công nghiệp không khói”,

tuy nhiên du lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát thải khí thải động cơ xe máy, tàu thuyền, ô tô, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính

- Tác động lên hệ thực vật, động vật: Hoạt động du lịch, giải trí có thể tạo ra

tác động đến thực vật như bẻ cành cây, giẫm đạp, khí thải từ phương tiện giao thông… Còn hoạt động thăm quan, tiếng ồn của khách, phương tiện giao thông khiến động vật hoảng sợ, thay đổi diễn biến sinh hoạt và địa bàn cư trú, sinh sống của chúng Đặc biệt nghiêm trọng hơn là nhu cầu tiêu dùng xa xỉ các món ăn từ đặc

Trang 24

sản động vật của khách du lịch dẫn đến việc săn lùng, buôn bán làm giảm đáng kể số lượng quần thể động vật và cuối cùng là thay đổi cấu trúc HST ban đầu Hơn nữa khách du lịch và phương tiện vận chuyển khách có khả năng đem đến một số loài sinh vật ngoại lai ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của những HST địa phương

- Ảnh hưởng tới KT - XH địa phương: việc mang lại lợi ích kinh tế từ hoạt

động du lịch sẽ không tránh khỏi sự giảm giá trị các hệ thống văn hóa, mất đi tình trạng ổn định ban đầu của xã hội, xuất hiện sự xung đột giữa cái cũ và cái mới: sự thương mại hóa nghệ thuật, văn hóa, tăng sự phân hóa xã hội về thu nhập, gây biến động giá cả…

1.3.5 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương

DLST không chỉ được hình thành và phát triển trên cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên được bảo vệ, mà nó còn có mối quan hệ với cộng đồng địa phương trong phạm vi lân cận các VQG Những yếu tố thu hút sự quan tâm của khách du lịch với cộng đồng địa phương rất đa dạng như: yếu tố văn hoá, di tích lịch

sử, kiến trúc, tập quán sinh hoạt, ngành nghề truyền thống, tôn giáo, món ăn địa phương… Thêm vào đó, khi khách du lịch đến thăm, cộng đồng địa phương lại cung cấp các dịch vụ như lưu trú, ăn uống , Vì vậy, khách DLST, dù chỉ đi tham quan, khám phá thiên nhiên thì vẫn không tránh khỏi những mối quan hệ qua lại với cộng đồng cư dân địa phương Mối quan hệ này thể hiện qua quan hệ “ cung-cầu”: nhu cầu của du khách và việc đáp ứng các nhu cầu đó của địa phương Mối quan hệ này nếu được duy trì tốt sẽ tạo ra những lợi ích đối với cả hai bên

Trang 25

- Du lịch là động lực cải thiện cơ sở hạ tầng, giao thông, thông tin liên lạc, cơ

sở y tế địa phương, phương tiện và điều kiện giải trí, mang lại lợi ích chung cho cộng đồng địa phương

- Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa khách và dân địa phương, giới thiệu những giá trị truyền thống địa phương, góp phần nâng cao dân trí, cải thiện nhận thức, tạo mối quan hệ xã hội ngày càng tiến bộ

- Tạo khả năng thoả mãn nhu cầu của khách du lịch với chất lượng cao, trong khi đảm bảo lợi ích của địa phương Đó là việc cung cấp các sản phẩm tinh thần và vật chất - đặc trưng của địa phương cho du khách Đồng thời, tạo cơ hội để cộng đồng dân cư tham gia và được hưởng lợi ích từ du lịch

1.3.5.2 Ảnh hưởng tiêu cực

- Du lịch tập trung gây nên sự quá tải cho cơ sở hạ tầng hiện có như khả năng cung cấp nước sạch, điện, nhiên liệu, xử lý chất thải Nhưng nếu cơ sở hạ tầng được thiết kế và quy hoạch lớn hơn nhu cầu và mức sử dụng thấp sẽ gây thua lỗ hoặc dẫn đến việc tăng giá cả bất hợp lý

- Du lịch ảnh hưởng tiêu cực đến văn hoá - xã hội bản địa đã trở nên khá phổ biến ở nhiều quốc gia Sự phát triển du lịch quá mức gây ảnh hưởng đến lối sống truyền thống của dân cư địa phương và thường không phải tốt hơn

Để tránh những tác động tiêu cực của du lịch thông thường, việc thiết kế một

kế hoạch phát triển DLST, đảm bảo các yêu cầu cơ bản là rất cần thiết trước khi khuyến khích mở một khu tự nhiên [39, 40]

Trang 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và KT – XH của VQG

Ba Bể để đánh giá tiềm năng và đưa ra các giải pháp phát triển DLST VQG Ba Bể

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

2.1.2.1 Phạm vi không gian

VQG Ba Bể thuộc phạm vi của 7 xã, bao gồm cả phần vùng lõi và vùng đệm Phần lõi bao gồm toàn bộ xã Nam Mẫu, một phần xã Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ, Đồng Phúc, Hoàng Trĩ Vùng đệm của VQG bao gồm các xã Quảng Khê

và phần còn lại của các xã Khang Ninh và Cao Trĩ Hiện nay VQG Ba Bể đang có

xu hướng mở rộng ranh giới vùng đệm ra các xã Chu Hương, Yến Dương và một số

xã thuộc huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn Nhưng trong điều kiện nghiên cứu của luận văn, giới hạn phạm vi của lãnh thổ nghiên cứu chỉ bao gồm 7 xã: Nam Mẫu, Cao Trĩ, Cao Thượng, Khang Ninh, Quảng Khê, Đồng Phúc và Hoàng Trĩ

2.1.2.1 Phạm vi khoa học

Việc nghiên cứu, phát triển DLST rất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực,

vì vậy, luận văn chỉ dừng lại ở việc đánh giá tiềm năng, hiện trạng phát triển DLST VQG Ba Bể Trên cơ sở đó, kiến nghị định hướng và đưa ra các giải pháp phát triển DLST cho khu vực

2.2 Thời gian tiến hành

Quá trình nghiên cứu luận văn được thực hiện như sau:

- Thu thập số liệu thứ cấp liên quan đến luận văn (Từ 01/07/2010 đến 30/07/2010) – Đợt 1

- Nghiên cứu thực địa: Quá trình được chia làm 3 đợt

+ Đợt 2: Từ 01/05/2011 – 10/05/2011

+ Đợt 3: Từ 25/06/2011 – 17/07/2011

+ Đợt 4: Từ 02/09/2011 – 03/09/2011

Trang 27

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và KT XH của lãnh thổ nghiên cứu

- Tìm hiểu hiện trạng phát triển DLST của VQG Ba Bể

- Đề xuất định hướng và các giải pháp cho phát triển DLST VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020

2.4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp luận

2.4.1.1 Quan điểm tổng hợp

Theo quan điểm này thì mọi vấn đề khi nghiên cứu cần phải được đặt trong mối liên hệ với tất cả các lĩnh vực liên quan Đối với phát triển du lịch cần phải dựa trên cơ sở các kết quả phân tích đồng bộ, toàn diện về các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, xã hội để có thể thấy hết được giá trị thực tế và xác định mức độ thuận lợi cũng như những hạn chế của tài nguyên khi đem vào khai thác phục vụ du lịch Vì vậy, khi thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu tổng hợp tất

cả các mặt tự nhiên, KT – XH và môi trường

2.4.1.2 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Quan điểm lịch sử là xem xét các sự vật, hiện tượng phát triển trong một quá trình tiến hóa lâu dài nhất định Khi nghiên cứu tiềm năng phục vụ DLST cần phải tìm hiểu không chỉ hiện tại mà còn phải dự đoán được sự phát triển của DLST trong tương lai từ đó đề xuất phương pháp khái thác, sử dụng hợp lý các tài nguyên du lịch

2.4.1.3 Quan điểm hệ thống

Tất cả các hiện tượng sự vật đều có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại và phụ thuộc nhau tạo thành một thể thống nhất và hoàn chỉnh Mỗi hệ thống vừa là một cấp đơn vị nhỏ của một hệ thống lớn hơn nó, nhưng đồng thời nó lại có khả năng phân chia thành những cấp nhỏ hơn Trong mỗi hệ thống đều tồn tại hai mối

quan hệ: mối quan hệ giữa các thành phần trong một hệ thống (quan hệ nội tại) và mối quan hệ của hệ thống đó với các hệ thống khác (quan hệ bên ngoài) Các mối

quan hệ này luôn gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh

Trang 28

Giữa thành phần và bộ phận tạo nên hệ thống đều có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau thông qua các dòng vật chất, năng lượng và thông tin Do đó khi tác động vào một thành phần hay một bộ phận nào đó thì các thành phần khác cũng sẽ

bị thay đổi theo một phản ứng dây chuyền Khi nghiên cứu cảnh quan cần nhìn nhận

và xem xét, phản ánh tự nhiên một cách đầy đủ các nhân tố, khía cạnh có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp trong một thể thống nhất hữu cơ

VQG Ba Bể là hệ thống nằm trong vùng Đông Bắc Việt Nam với các đặc trưng về địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng và động thực vật, trong

đó có hồ Ba Bể là một HST đặc biệt Hồ Ba Bể được nuôi sống bởi các dòng chảy của lưu vực sông Năng, được bao bọc bởi hệ sơn văn Phja Bjoóc của vòng cung Ngân Sơn, với hệ động thực vật rừng nhiệt đới thường xanh ưa ẩm bao quanh… Các yếu tố này tác động qua lại, tạo nên một HST cân bằng động Khi một hợp phần

bị thay đổi thì các hợp phần khác bị thay đổi theo để trở về trạng thái cân bằng mới

Vì vậy khi nghiên cứu để phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch, luận văn đã nghiên cứu hiện trạng, đánh giá tiềm năng phát triển dựa trên các điều kiện tự nhiên, KT -

XH khu vực trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng và với môi trường xung quanh Trên cơ sở đó, luận văn có cái nhìn toàn diện về khả năng phát triển KT -

XH, đáp ứng nhu cầu du lịch tại VQG, thấy được những tác động tích cực, tiêu cực

từ đó rút ra những giải pháp đồng bộ trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp với quy luật khách quan

2.4.1.4 Quan điểm lãnh thổ

Bất kỳ một đối tượng địa lý nào đều gắn với một không gian cụ thể Trong không gian đó, các đối tượng địa lý phản ánh những đối tượng đặc trưng của lãnh thổ, phân biệt lãnh thổ này với lãnh thổ khác Với mỗi lãnh thổ nhất định, các đối tượng địa lý có quy luật hoạt động riêng, gắn bó và phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm của lãnh thổ đó Trong mỗi lãnh thổ luôn có sự phân hoá nội tại, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với lãnh thổ xung quanh về cả tự nhiên cũng như KT – XH

Trang 29

Thông qua việc phân tích tiềm năng phát triển DLST của VQG Ba Bể trong mối quan hệ liên vùng, để từ đó lập ra phương án, mô hình cho hoạt động du lịch, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới vấn đề bảo tồn môi trường tự nhiên

2.4.1.5 Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là phát triển sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điều kiện môi trường hiện có để thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ con người đang sống, nhưng lại phải đảm bảo cho thế hệ tương lai những điều kiện tài nguyên và môi trường cần thiết để họ có thể sống tốt hơn ngày nay Khi nghiên cứu tiềm năng DLST phải chú trọng tới khai thác và bảo vệ chúng một cách hiệu quả và bền vững Tức là nhu cầu sử dụng tài nguyên phải thấp hơn sự phát triển (bù đắp), tái tạo tài nguyên đó và các tác động của hoạt động du lịch đến môi trường cần được tính toán sao cho không phá vỡ cân bằng sinh thái

2.4.1.6 Quan điểm kinh tế - sinh thái

BVMT sinh thái và tài nguyên du lịch là hai trong những mục tiêu của DLST Do đó, việc phát triển DLST nhằm mục tiêu đạt hiểu quả kinh tế cần đi đôi với việc BVMT du lịch Các lợi ích đạt được từ hoạt động du lịch quay trở lại phục

vụ bảo tồn VQG, đóng góp lợi ích cho cộng đồng địa phương

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1.1 Phương pháp thu thập, xử lý và thống kê số liệu

Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu làm đề tài Các tài liệu được tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: các giáo trình, số liệu thống kê, công trình nghiên cứu có liên quan, thông tin từ báo chí, Internet,… Các tài liệu sau khi thu thập cần được xử lí qua các bước: phân tích, tổng hợp, so sánh để trở thành những tài liệu, dẫn chứng phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài

Tài liệu về chính sách, văn bản khẳng định được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và địa phương với VQG cũng như các chương trình dự án đã đầu tư cho phát triển DLST tại VQG tôi thu thập được thông qua đợt điều tra 1 và 3 Từ các Sở

Trang 30

TNMT, Văn hóa, thể thao và du lịch, UBND Tỉnh, Trung tâm thông tin tỉnh, sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, UBND các xã cho đến các đơn vị hành chính trong Vườn như phòng kỹ thuật, trung tâm du lịch… trong VQG Ba Bể

2.4.1.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Đây là phương pháp truyền thống, quan trọng với tất cả các ngành nghiên cứu thiên nhiên Trong quá trình thực hiện đề tài, cần phải đi thực tế địa bàn nghiên cứu, tìm hiểu, chụp ảnh các yếu tố tự nhiên ở một số địa điểm Quá trình khảo sát tập trung chủ yếu vào đặc điểm tự nhiên và phân hoá không gian lãnh thổ Kết hợp các phương pháp so sánh, đối chiếu với kết quả nghiên cứu trong phòng để nắm vững đặc trưng cơ bản của lãnh thổ nghiên cứu

Quá trình được thực hiện thông qua việc đi điều tra các đợt 2, 3 tại các thôn bản, theo các tuyến đường mòn xuyên rừng, nghiên cứu các bản đồ Vườn… để có thể hiểu được một cách sâu sát thực tế phục vụ cho các lý luận trong luận văn

2.4.1.3 Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp xã hội học nhằm khảo sát đặc điểm xã hội của các đối tượng

du lịch Phương pháp này dùng để lấy ý kiến của cộng đồng, du khách, các chuyên gia, các thành viên tham gia vào du lịch Nghề nghiệp, tuổi, trình độ học vấn và thành phần du khách, sở thích của du khách cũng như mức độ tham gia của cộng đồng vào các hoạt động du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến du lịch Để tìm hiểu về những vấn đề trên thì phương pháp nghiên cứu tốt nhất là phương pháp điều tra xã hội học, thông qua việc phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương và du khách Qua đó có những thông tin mang tính chi tiết, cá nhân cao, phục vụ tốt hơn cho làm

du lịch tại VQG

Quá trình điều tra xã hội học tôi đã thực hiện các bước sau:

- Lập phiếu điều tra đối với du khách và đối với người dân trong Vườn

- Điều tra người dân trong Vườn với 3 xã Nam Mẫu, Cao Trĩ và Quảng Khê Mỗi xã điều tra 30 hộ dân Đi bộ theo các con đường mòn qua các bản hoặc nếu thuận tiện hơn thì đi xe ôm đến các xã, cùng ăn, ở với những người dân Quá trình điều tra được thực hiện trong đợt điều tra đầu tiên

Trang 31

- Điều tra du khách bằng cách phát phiếu điều tra, chủ yếu là ở các bến thuyền vì ở đây điều tra tương đối thuận lợi - là nơi du khách có nhiều thời gian, đang ngồi đợi thuyền hoặc sau khi đi thuyền xong thì dừng chân bên quán nước ven hồ để có thể giải khát, ăn cá hồ nướng hay món kẹo lạc đặc biệt nơi đây Quá trình điều tra du khách được thực hiện trong đợt điều tra thứ 3 và 4 Đợt 3 điều tra vào thời điểm là vào mùa hè, trong 2 ngày nghỉ cuối tuần vì đây là thời gian mà khách tham quan du lịch nhiều, tận hưởng không khí mát mẻ của Vườn trong ngày

hè Đợt 4 điều tra thực hiện trong 3 ngày, nghỉ lễ 02/09 và 2 ngày cuối tuần tiếp theo vì thời điểm này sẽ có nhiều khách đi du lịch do thời gian nghỉ dài

- Khách được điều tra là ngẫu nhiên, không phân biệt tuổi tác, trình độ…

2.4.1.4 Phương pháp đánh giá tổng hợp các dạng tài nguyên du lịch

Đánh giá tài nguyên du lịch là việc làm khó và phức tạp vì nó liên quan đến yêu cầu, sở thích, đặc điểm tâm lý, sinh lý của con người rất khác nhau, đặc điểm của tài nguyên và điều kiện kỹ thuật Nên các nội dung và phương pháp đánh giá phải không ngừng hoàn thiện Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra 2 kiểu đánh giá tài nguyên du lịch:

- Kiểu tâm lý – thẩm mỹ: Kiểu đánh giá này thường dựa vào cảm quan của

du khách đối với các loại tài nguyên thông qua thống kê và điều tra xã hội

- Kiểu sinh khí hậu: nhằm đánh giá các dạng tài nguyên khí hậu, thời gian thích hợp nhất với sức khỏe của con người, hoặc một kiểu hoạt động nào đó khi

đi du lịch

Mục đích của đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là nhằm xác định mức độ thuận lợi của chúng đối với toàn bộ hoạt động du lịch nói chung hay đối với từng loại du lịch, từng lĩnh vực hoạt động du lịch cụ thể để phục

vụ du lịch nói riêng

Sau khi thu thập đầy đủ số liệu thông qua các đợt điều tra, thì bước tiếp theo, tác giả đã sử dụng phương pháp đánh giá tổng hợp các dạng tài nguyên du lịch như trên để tiến hành phân tích và xử lý số liệu, đưa ra các kết quả như trong luận văn

Trang 32

2.5 Các bước tiến hành

Tài nguyên du lịch

Tự nhiên – Nhân văn

Hiện trạng phát triển du lịch

Đánh giá tiềm năng

- Đánh giá tiềm năng tự nhiên và kinh tế - xã hội

Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng

và đề xuất giải pháp phát triển DLST Vườn quốc gia Ba Bể

Các văn bản pháp luật của Đảng, Nhà nước và địa phương với việc phát triển DLST VQG Ba Bể

Các chương trình dự án đã đầu tư cho phát triển DLST VQG Ba Bể

Định hướng phát triển DLST VQG Ba Bể

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá tiềm năng tự nhiên và kinh tế - xã hội phục vụ phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Ba Bể

3.1.1 Giới thiệu khái quát về Vườn quốc gia Ba Bể

Rừng cấm Ba Bể được thành lập theo quyết định số 41/QĐ -TTg ngày 10 tháng 1 năm 1977 của Thủ tướng Chính phủ do một đơn vi trực thuộc hạt kiểm lâm của tỉnh Bắc Thái cũ quản lý Từ năm 1978 đến năm 1989 thành lập ban quản lý Rừng cấm Quốc gia Ba Bể thuộc chi cục kiểm lâm Cao Bằng VQG Ba Bể chính thức thành lập theo quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật đầu tư xây dựng VQG Ba Bể với diện tích 7610 ha Trong Kế hoạch hành động ĐDSH (1994), VQG Ba Bể đã được đề xuất mở rộng lên 23340 ha và vùng đệm là 9538 ha Hiện nay vườn thuộc quản lý của Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn VQG Ba Bể bao gồm các phân khu chức năng: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt; phân khu phục hồi sinh thái; phân khu dịch vụ hành chính, quản lý; khu mặt hồ; và vùng đệm

- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 3226,3 ha, chủ yếu là khu vực có rừng cây thuộc xã Nam Mẫu, nằm phía Bắc VQG Phần lớn phân khu này được bao bọc bởi các vách đá hiểm trở và các thung lũng sâu, là nơi hoạt động và trú ẩn của nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm như voọc mặt trắng, voọc mũi hếch, khỉ mặt

đỏ, báo hoa mai…Phân khu này có chức năng bảo vệ nghiêm ngặt Toàn bộ diện tích rừng trên núi đất, núi đá vôi, phục hồi những diện tích rừng đã bị tác động, nghiêm cấm mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp và săn bắn trái phép Bảo vệ nguồn gen, tạo nơi an toàn cho các loài thú, tạo điều kiện cho các loài thú bị săn đuổi ở các vùng xung quanh về cư trú Không được xây dựng các khu kiến trúc lớn trong phân khu quanh hồ và duy trì cảnh quan thiên nhiên của hồ Tại đây có 09 trạm kiểm lâm được xây dựng nhằm thực hiện công tác tuần tra, bảo vệ và giám sát tài nguyên rừng và ĐDSH theo luật định

Trang 34

- Phân khu mặt hồ: Nằm trong khu bảo vệ nghiêm ngặt, với diện tích khoảng 500 ha bao gồm hồ Ba Bể và các đảo An Mã, Khẩu Cúm, Bà Góa Phân khu này có chức năng bảo vệ nguồn gen của các loài sinh vật thủy sinh Chống ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là ô nhiễm dầu do các hoạt động du lịch bằng thuyền máy Khuyến khích việc đi lại, du lịch trên hồ bằng thuyền chèo tay, thuyền độc mộc và xe đạp nước Trong phân khu này có các địa điểm, khu vực chứa đựng tiềm năng du lịch như Động Puông, Thác Đầu Đẳng… Phân khu mặt

hồ hiện nay đang được sử dụng chủ yếu cho mục đích du lịch, tuy nhiên giá trị ĐDSH của nó cũng đang được quan tâm

- Phân khu phục hồi sinh thái: Gồm các khu rừng liên tục ở phía Bắc và phía Nam, tiếp giáp với khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 3.623 ha chiếm khoảng 4.083,4 ha và vùng đệm Chủ yếu rừng là rừng nghèo, là địa bàn cư trú của một số loài như Sơn Dương, gà Nòi… Phân khu này nằm ở nơi trước đây rừng đã bị khai thác và chặt phá tuy nhiên còn nhiều loài động, thực vật quý cần được khoanh nuôi, bảo vệ và phục hồi

- Vùng đệm VQG bao gồm diện tích còn lại của các xã Khang Ninh, Cao Trĩ

và Quảng Khê Vùng đệm có chức năng bảo vệ rừng còn lại, giảm phát nương làm rẫy, săn bắn chim thú, bảo vệ trực tiếp rừng đầu nguồn của những con suối chảy vào

hồ Ba Bể, ngăn chặn xói mòn và bồi lấp lòng hồ Tăng cường trồng mới, khoanh nuôi phục hồi rừng

- Phân khu dịch vụ hành chính, quản lý có diện tích 300,4 ha

Khu vực hành chính có trụ sở Ban quản lý, với nhiều công trình được xây dựng nhằm tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho cả Vườn (các văn phòng, kho…) và khu vực phục vụ khách du lịch (nhà nghỉ, nhà ăn, nơi để xe và các phương tiện khác) Ngoài ra còn khu dân cư, hiện nay trong VQG Ba Bể gồm các thôn bản kể trên định cư trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái Để giảm bớt áp lực lên công tác bảo tồn, VQG một mặt tiến hành sắp xếp ổn định các khu dân cư trong Vườn, mặt khác tiến hành kế hoạch xây dựng khu tái định cư Đồn Đèn [37]

Trang 35

VQG chú trọng đẩy mạnh việc tuyên truyền và thực hiện luật, các quy chế bảo

vệ rừng và hương ước bảo vệ rừng của thôn bản Cộng đồng sống ở đây lúc này được tham gia và hưởng lợi từ các chính sách hỗ trợ phát triển cộng đồng của VQG

và Nhà nước như chương trình 661 và DLST… Các quy định cho việc đánh bắt cá

và quản lý nguồn thủy sinh nói chung phải có sự thỏa thuận giữa UBND xã và ban quản lý VQG Các quy định về phát triển du lịch và các ngành thương mại khác trong khu vực dân cư phải có sự đồng ý của chính quyền các xã và ban quản lý VQG Tuy nhiên có thể thấy rõ là hiện nay ở Vườn các đường mòn du lịch xuyên qua các khu dân cư và các công trình khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch

đã được xây dựng (tại Pắc Ngòi) Đây là những công trình nhằm góp phần khuyến khích phát triển du lịch ở thôn bản

Tóm lại, các khu này có 2 nhiệm vụ chính: (1) Tổ chức tốt việc quản lý, bảo

tồn HST tự nhiên, bảo tồn nguồn gen động, thực vật quý hiếm trên cạn, dưới nước

và cảnh quan thuộc phạm vi quản lý của Vườn (2) Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ

về nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tham quan du lịch, tuyên truyền giáo dục BVMT

3.1.2 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

3.1.2.1 Vị trí địa lý

a Vị trí địa lý: 1050

28/31// đến 105047/20// kinh độ Đông

22016/12// đến 22033/45// Vĩ độ Bắc

b Ranh giới vùng lõi:

 Phía Bắc gồm: Một phần diện tích xã Cao thượng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc

Kạn bắt đầu từ đỉnh 800m (Cốc Lùng) theo hướng Đông Nam và hướng Đông đến bản Tàu, từ bản Tàu theo hướng Đông Bắc, qua đỉnh 500m, 800m và 700m (Hin Lặp), bao gồm 21 cột mốc (từ cột mốc 100 đến cột mốc 121)

 Phía Đông gồm: Một phần diện tích xã Cao Trĩ và Khang Ninh, huyện Ba

Bể, tỉnh Bắc Kạn từ chân núi 700m (phía Tây Bắc) và 800m (phía Đông Bắc) theo hướng Đông Nam bao lấy núi Lung Nham tới Buốc Bó ở độ cao 200m từ đây tiếp tục theo hướng Tây theo bờ sông Năng đến bản Vài cột mốc số 14, từ cột mốc số 14

Trang 36

theo hướng Tây Nam đến đỉnh 400 (cột mốc số 18), từ đường phân thuỷ tới đỉnh

600 rồi bám theo chân núi của đỉnh 789, 775,945, 1121 đến Cáng Lò (cột mốc 38), bao gồm 38 cột mốc (từ cột số 1 đến cột thứ 38)

 Phía Nam gồm: Một phần diện tích xã Quảng Khê, Hoàng Trĩ huyện Ba Bể

từ cột mốc số 38 theo đường chân núi qua bản Vài đến bản Pjàn, cắt qua sông Chợ Lèng, cách Hua mạ về phía Nam gần 1 km rồi đi theo hướng Tây theo dông núi lên đỉnh 500 bao gồm 11 cột mốc (từ cột mốc 39 đến cột mốc 49)

 Phía Tây: Giáp xã Nam Cường, Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn và xã Đà Vị, huyện

Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, bao gồm 49 cột mốc (từ cột mốc 50 đến cột mốc 99) Tổng diện tích VQG: 44.750 ha trong đó: 10.048 ha vùng lõi, 34.702 ha vùng đệm

Vị trí địa lý ngoài việc quyết định đặc điểm địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thảm thực vật và các HST trong khu vực thì còn có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch Cụ thể, VQG Ba Bể tuy có vị trí địa lý không thuận tiện cho việc đi lại nhưng nằm trong quần thể khu di tích văn hóa lịch sử Việt Bắc – Chiến khu Việt Bắc nổi tiếng lại là lợi thế cho phát triển du lịch [44]

3.1.2.2 Địa hình

VQG Ba Bể nằm trong vùng núi đá vôi Chợ Rã – Ba Bể - Chợ Đồn – Chợ Điền thuộc miền karst của khối nâng Việt Bắc Khối nâng này được hình thành do sự phá hủy của khối lục địa Đông Nam Á vào cuối kỷ Cambri sớm tạo thành Proterozoi nhô lên mặt, chỉ có một số nơi mới bị các trầm tích che phủ lên trên Hai khối đá Ba Bể - Chợ Rã và Chợ Đồn – Chợ Điền được cấu tạo bằng đá vôi Givet (Đề vôn giữa) nằm bên cạnh khối Phja Bjoóc nên hoạt động xâm nhập của khối này làm cho đá vôi ở đây biến thành đá hoa, được gọi là đá hoa Ba Bể tính theo tuổi tuyệt đối của đá Granit Chỉ mới diễn ra vào kỷ Creta muộn, nghĩa là khối đá này đã trải qua chế độ lục địa trong khoảng 200 triệu năm Điều đó giải thích sự già nua của địa hình karst, sự hình thành các hang động và hồ trên các vùng karst ở đây mà ảnh hưởng của tâm kiến tạo cũng không làm cho địa hình karst trẻ lại như ở nhiều nơi khác

Do địa hình cao, độ dốc lớn nên nhiều chỗ sông Năng và Chợ Lèng có dạng một lát xẻ sâu và đặc biệt ở núi Lũng Nham và Bó Lù sông suối còn chảy dưới dạng

Trang 37

một sông ngầm với chiều dài 300 – 800m, tại nhiều nơi lòng sông đã đào tới các lớp

đá phiến Proterozoi nằm dưới, ở đó đá có độ rắn khác nhau nên đã tạo ra nhiều ghềnh thác như thác Đầu Đẳng, Nà Phòng

Địa hình khu vực VQG Ba Bể và phụ cận khá phức tạp, mức độ phân cắt lớn, bao gồm một phức hệ sông, suối, hồ, núi đá vôi từ dốc mạnh đến dốc đứng Mỗi dạng địa hình mang một sắc thái riêng biệt Xen giữa núi đá vôi có nhiều núi cao trung bình cấu tạo bởi đá phiến, đá granit tạo nên cảnh quan đa dạng và độc đáo

Bảng 3.1: Tổng quan địa hình Vườn quốc gia Ba Bể

Kiểu địa hình Độ cao (m) Tỷ lệ (%)

diện tích

Độ dốc Cấp độ Độ dốc( 0 ) Tỷ lệ (%)

Nhìn chung, địa hình khu vực VQG Ba Bể rất thuận lợi cho các hoạt động du lịch, ở đây có thể phát triển các loại hình du lịch truyền thống (bơi thuyền), du lịch mạo hiểm (leo núi)… Tuy nhiên còn bị hạn chế bởi một số nơi độ cao và độ dốc quá lớn gây khó khăn cho hoạt động du lịch leo núi, đi bộ xuyên rừng, mức độ an toàn cho du khách thấp, cứu hộ khó khăn

Trang 38

 Nhận xét về ảnh hưởng của dịa chất, địa hình tới các hoạt động du lịch

+ Độ an toàn cho du khách thấp, khó khăn cho việc cứu hộ

+ Hoạt động lũ quét thường xuyên xảy ra

3.1.2.3 Khí hậu

Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên Đối với du lịch, khí hậu được xem như một dạng tài nguyên bởi khí hậu quy định tính mùa vụ trong hoạt động du lịch cũng như việc triển khai các loại hình du lịch Các yếu tố khí hậu rất đa dạng bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, gió, khía áp, lượng mưa… trong đó hai yếu tố chính có ảnh hưởng tới các hoạt động du lịch là nhiệt và ẩm [6, 21]

Do nằm trong vành đai giữa trung du Bắc Bộ và vùng núi phía Bắc, vì vậy khí hậu của vùng pha trộn giữa khí hậu vùng núi Cao Lạng và khí hậu trung du Bắc Bộ Cũng như các vùng núi khác của Việt Nam, VQG Ba Bể mang đặc tính gió mùa, có mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm Mặt khác, được bao bọc bởi các dãy núi cao như Phja Bjoóc và Phja Dạ nên khí hậu ở đây khá thuận lợi cho các loại cây rừng nhiệt đới [22, 23]

Trang 39

độ ẩm không khí có lúc xuống còn 10% đã gây tác động mạnh đến lượng bốc hơi và

C (tháng VII), nhiệt độ tháng thấp nhất không dưới 140C

Theo tiêu chuẩn phân mùa, VQG Ba Bể có hai mùa rõ rệt: mùa nóng (tháng V – tháng IX, mùa lạnh (tháng XII – tháng II năm sau), còn lại là các tháng chuyển tiếp

Số liệu thu thập quan trắc ở các điểm: Núi Lũng Nham, Động Puông, điểm

trung bình giữa hồ và điểm xa nhất núi Pù Nộc Chắp như sau:

Bảng 3.2: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

0C TB 14,1 15,9 19.5 23,3 26,3 27,3 27,5 27 25,8 22,8 18,8 15,3 22

Nguồn: [33]

Tuy nhiên do có sự điều tiết của hệ thống sông suối, ao hồ nên khí hậu của VQG nói chung, khu vực hồ Ba Bể nói riêng là tương đối ổn định

Trang 40

c Lượng mưa

VQG Ba Bể có lượng mưa trung bình năm là khá 1378,3mm, thấp hơn so với các khu vực phụ cận Trong 06 tháng mùa mưa (từ tháng IV đến tháng X) lượng mưa chiếm từ 83 – 85% tổng lượng mưa trong năm, còn lại 06 tháng mùa khô lượng mưa rất nhỏ Vì vậy tình trạng ngập úng thường xuyên xảy ra vào mùa mưa kéo theo hiên tượng sạt lở đất dọc theo các thung lũng Lượng mưa thấp nhưng lại tập trung chủ yếu vào mùa mưa với cường độ và tần suất lớn (18 – 19 ngày/tháng),

có ngày lượng mưa lên đến 183mm nên rất dễ gây ra sụt lở đất đá, gây bất lợi cho các hoạt động du lịch, đặc biệt là hoạt động du lịch leo núi và đi bộ trong rừng tham quan động thực vật Thời gian ít mưa kéo dài từ tháng X cho đến tháng IV năm sau Vào thời gian này, lượng mưa ít, cường độ nhỏ, tiết trời trong xanh thích hợp cho các hoạt động du lịch

10.9 27.3 34.6

91.6

190.5 241.6 243.1 268.7

144.6 73.8 38.7 16.5 0

50 100 150 200 250 300

Tháng Lƣợng mƣa (mm)

Hình 3.2: Biểu đồ biến trình lƣợng mƣa các tháng trong năm khu vực

Ngày đăng: 20/12/2014, 23:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13) Lindberg, K. and Hawkins (1993), Du lịch sinh thái: hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý, Cục môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái: hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý
Tác giả: Lindberg, K. and Hawkins
Năm: 1993
15) Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao (Tổng chủ biên) (1995), Địa chất Việt Nam (Các thành tạo magma). Cục Địa chất Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao (Tổng chủ biên)
Năm: 1995
16) Phạm Trung Lương (2000), Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
17) Phạm Trung Lương (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
19) Mark Pofenberger (1996), Kết hợp phát triển và bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào sự tham gia của cộng đồng (các cộng đồng quản lý rừng), IUCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hợp phát triển và bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào sự tham gia của cộng đồng (các cộng đồng quản lý rừng)
Tác giả: Mark Pofenberger
Nhà XB: IUCN
Năm: 1996
20) Vũ Đức Minh (1999), Tổng quan về du lịch, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về du lịch
Tác giả: Vũ Đức Minh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
21) Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu (1988), Tài nguyên khí hậu Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên khí hậu Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1988
22) Đặng Kim Nhung, Nguyễn Thị Hiền (1993), Đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ du lịch tại một số vùng trọng điểm, Trung tâm Địa lý tài nguyên, Viện Khoa học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ du lịch tại một số vùng trọng điểm
Tác giả: Đặng Kim Nhung, Nguyễn Thị Hiền
Năm: 1993
23) Đặng Kim Nhung và nnk. (1996), Đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ công tác điều dưỡng tại một số vùng núi Việt Nam. Viện Địa lý, Trung tâm Khoa học tự nhiiên và công nghệ quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ công tác điều dưỡng tại một số vùng núi Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Nhung, nnk
Nhà XB: Viện Địa lý
Năm: 1996
24) Đào Ngọc Phong (1984), Một số vấn đề sinh khí tượng người, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề sinh khí tượng người
Tác giả: Đào Ngọc Phong
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1984
25) Lê Bá Thảo (1971), Miền núi và con người, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền núi và con người
Tác giả: Lê Bá Thảo
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1971
26) Lê Bá Thảo (2000), Thiên nhiên Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên nhiên Việt Nam
Tác giả: Lê Bá Thảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
27) Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
28) Nguyễn Thế Thôn (2004), Quy hoạch môi trường phát triển bền vững, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch môi trường phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Thế Thôn
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2004
29) Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1999), Tổ chức lãnh thổ du lịch, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ du lịch
Tác giả: Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
30) Tổng cục du lịch Hà Nội (1994). Báo cáo tóm tắt: Dự án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam (1995- 2010). Cục môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt: Dự án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam (1995- 2010)
Tác giả: Tổng cục du lịch Hà Nội
Năm: 1994
31) Tổng cục du lịch Việt Nam (2003), Non nước Việt Nam, NXB Văn Hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
Tác giả: Tổng cục du lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn Hóa – Thông tin
Năm: 2003
32) Thái Văn Trừng (1999), Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam , NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
34) Nguyễn Khanh Vân (2000), Các biểu đồ sinh khí hậu Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biểu đồ sinh khí hậu Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khanh Vân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2000
35) Nguyễn Khanh Vân (2005), Cơ sở sinh khí hậu, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh khí hậu
Tác giả: Nguyễn Khanh Vân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái (Trang 9)
Hình 1.2: Các quan hệ giữa phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn thiên nhiên - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Hình 1.2 Các quan hệ giữa phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn thiên nhiên (Trang 21)
Hình 2.1: Các bước tiến hành - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Hình 2.1 Các bước tiến hành (Trang 32)
Hình 3.1: Biểu đồ biến trình độ ẩm không khí khu vực Vườn quốc gia Ba Bể - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Hình 3.1 Biểu đồ biến trình độ ẩm không khí khu vực Vườn quốc gia Ba Bể (Trang 39)
Hình 3.2: Biểu đồ biến trình lƣợng mƣa các tháng trong năm khu vực - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Hình 3.2 Biểu đồ biến trình lƣợng mƣa các tháng trong năm khu vực (Trang 40)
Bảng 3.4: Đánh giá tổng hợp các yếu tố khí hậu đối với hoạt động du lịch sinh thái - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Bảng 3.4 Đánh giá tổng hợp các yếu tố khí hậu đối với hoạt động du lịch sinh thái (Trang 42)
Bảng 3.6: Các nhóm thực vật tại Vườn quốc gia Ba Bể - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Bảng 3.6 Các nhóm thực vật tại Vườn quốc gia Ba Bể (Trang 44)
Bảng 3.11: Dân cư khu vực Vườn quốc gia Ba Bể chia theo dân tộc - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Bảng 3.11 Dân cư khu vực Vườn quốc gia Ba Bể chia theo dân tộc (Trang 51)
Bảng 3.12: Đánh giá khái quát tiềm năng tài nguyên du lịch sinh thái khu vực - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Bảng 3.12 Đánh giá khái quát tiềm năng tài nguyên du lịch sinh thái khu vực (Trang 56)
Bảng 3.14: So sánh khách nội địa đến Vườn quốc gia Ba Bể với tỉnh Bắc Kạn - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Bảng 3.14 So sánh khách nội địa đến Vườn quốc gia Ba Bể với tỉnh Bắc Kạn (Trang 64)
Bảng 3.16: Thông tin về hình thức tổ chức du lịch - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Bảng 3.16 Thông tin về hình thức tổ chức du lịch (Trang 66)
Hình 3.7: Mô hình tổ chức về mảng du lịch sinh thái Vườn quốc gia Ba Bể - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Hình 3.7 Mô hình tổ chức về mảng du lịch sinh thái Vườn quốc gia Ba Bể (Trang 68)
Hình 3.9: Biểu đồ đánh giá ảnh hưởng   của hoạt động du lịch sinh thái đến đời sống người dân - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Hình 3.9 Biểu đồ đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến đời sống người dân (Trang 81)
Bảng 3.19: Đánh giá các loại hình du lịch tiềm năng ở Vườn quốc gia Ba Bể - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Bảng 3.19 Đánh giá các loại hình du lịch tiềm năng ở Vườn quốc gia Ba Bể (Trang 91)
Bảng 3.20: Đề xuất các loại hình du lịch và hướng khai thác chính tại - nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể
Bảng 3.20 Đề xuất các loại hình du lịch và hướng khai thác chính tại (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w