Tham gia cuộc thi “Tìm hiểu thân thế, sự nghiệp, cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Quang Đạo”, bản thân khái quát về quê hương, gia đình, thân thế, sự nghiệp, cuộc đời hoạt động của đồng chí Lê Quang Đạo và tập trung trả lời 05 câu hỏi liên quan cùng với các thống kê, hình ảnh minh họa nhằm góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên, từ đó khơi dậy lòng tự hào về quê hương, đất nước, củng cố niềm tin đối với Đảng, Bác Hồ và tri ân các chiến sĩ cộng sản tiền bối của Đảng; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp.
Trang 1PHẦN I TRẢ LỜI CÂU HỎI THEO CHỦ ĐỀ
Câu 1: Anh (chị) nêu những hiểu biết của mình về thân thế, sự nghiệp
và cuộc đời hoạt động của đồng chí Lê Quang Đạo?
Trả lời
Bối cảnh lịch sử những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
- Trong nước: Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và từng bước thiết lập
bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành thuộc địa nửaphong kiến
+ Về chính trị: thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏquyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chiaViệt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ mộtchế độ cai trị riêng
+ Về kinh tế: thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt ruộngđất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở côngnghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộcđịa
+ Về văn hoá: thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch,gây tâm lý tự ti, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan Mọi hoạt động yêunước của nhân dân ta đều bị cấm đoán Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngănchặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hànhchính sách “ngu dân” để dễ bề cai trị
Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hoá, giáodục thực dân, xã hội Việt Nam đã diễn ra quá trình phân hoá sâu sắc Giai cấpđịa chủ cấu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân Tuy
Trang 2nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hoá Một bộ phận địachủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chốngPháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.
Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bịthực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề Tình cảnh bần cùng khốn khổcủa giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc vàphong kiến tay sai, tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranhgiành lại ruộng đất và quyền sống tự do
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứnhất của thực dân Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trựctiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột
Giai cấp tư sản Việt Nam bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranhchèn ép, do đó thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thầndân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam baogồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do… đời sống bấp bênh, dễ bịphá sản trở thành người vô sản, có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân,
có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào
Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phậnngười dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóclột Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủyếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn ngàycàng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dânViệt Nam với thực dân Pháp xâm lược Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hộithuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu: Một là, phải đánh đuổi thựcdân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân; Hai là, xoá
bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đấtcho nông dân Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàngđầu
- Trong tỉnh:
Trang 3Bắc Ninh ở vào vị trí trọng yếu của đất nước, cửa ngõ phía Bắc của thủ
đô Hà Nội, là vùng đất giàu truyền thống văn hiến, yêu nước và cách mạng.Năm 1884, Bắc Ninh bị thực dân Pháp chiếm đóng, ngay sau khi chiếm đượcBắc Ninh, thực dân Pháp đã thi hành nhiều chính sách cai trị hà khắc
+ Về chính trị: Chúng chia nhỏ tỉnh Bắc Ninh thành nhiều huyện, xã vớichế độ cai trị khác nhau; triệt để sử sụng bộ máy quản lý làng xã Thực dânPháp còn áp đặt một bộ máy quân sự đồ sộ
+ Về kinh tế: Thực hiện khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đua nhaucướp đất, lập các đồn điền; xây dựng một số nhà máy; mở mang giao thông
+ Về văn hóa: Chúng khuyến khích vui chơi, tăng nồng độ của rượu cồn,thuốc phiện và gái điếm…
Năm 1895, thực dân pháp chia Bắc Ninh làm 2 tỉnh là Bắc Ninh và BắcGiang, lấy sông Cầu làm ranh giới Đến đầu thế kỷ XX, tỉnh Bắc Ninh có 03phủ là Từ Sơn, Thuận Thành, Gia Lâm và 07 huyện là Tiên Du, Văn Giang,Yên Phong, Gia Bình, Lang Tài, Quế Dương, Võ Giàng
Sự phát triển và mở rộng phương thức sản xuất mới đã khiến xã hội BắcNinh biến đổi và phân hóa mạnh mẽ
Đạo
Quê hương
Đồng chí Lê Quang Đạo sinh ra tại xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnhBắc Ninh (nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) một vùngquê giàu truyền thống văn hiến cách mạng
Bắc Ninh là một tỉnh đồng bằng thuộc vùng châu thổ sông Hồng, phíabắc và đông bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía nam và đông nam giáp tỉnh HảiDương và Hưng Yên; phía tây và tây bắc giáp Thủ đô Hà Nội Bắc Ninh có vịtrí đặc biệt quan trọng, là phiên giậu phía bắc của kinh thành Thăng Long-HàNội, một vùng “Địa linh nhân kiệt” Suốt mấy nghì năm dựng nước và giữnước, nhân dân Bắc Ninh từ đời này sang đời khác, thế hệ nối tiếp thế hệ đã đổ
Trang 4nhiều máu xương đánh đuổi kẻ thù để giữ vững chủ quyền độc lập của Tổ quốc,của quê hương Trong quá trình phát triển, Bắc Ninh có nhiều tên gọi khácnhau Thời Hùng Vương – An Dương Vương, Bắc Ninh thuộc bộ Vũ Ninh.Thời Lý, Bắc Ninh có tên lộ Bắc Giang; đến đầu nhà Lê, Bắc Ninh có tên là BắcĐạo Đến năm 1469, dưới triều Lê Thánh Tông, Bắc Ninh đồi thành trấn KinhBắc Thời Nguyễn , vào năm 1823, trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh Năm
1831, trấn Bắc Ninh đổi thành tỉnh Bắc Ninh
Phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nơi đồng chí Lê QuangĐạo sinh ra (có tên nôm là Kẻ Báng) nằm ngay cửa ngõ phía bắc Kinh thànhThăng Long- Hà Nội, trải dọc trên trục quốc lộ 1A, cách Hà Nội 15 km, cóđường xe lửa Hà Nội- Cửa khẩu Quốc tế Hữu nghị chạy qua; là vùng đất vănhiến có từ lâu đời, nơi phát tích vương triều Lý với 9 đời vua (1009-1225), triềuđại đã xây dựng nên nhà nước văn minh Đại Việt Trong Chiếu dời đô, vua Lý
Thái Tổ viết: “Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực
trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt, phồn thịnh Xem khắp đất Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thương đô kinh sư mãi muôn đời Thẫm muốn nhân địa lợi
ấy mà định nơi ở”
Thời Bắc thuộc, Đình Bảng thuộc bộ Vũ Ninh, có tên là Hương DiênUẩn Đến thế kỷ VIII, Đình Bảng có tên là hương Cổ Pháp Thời nhà Đinh(968-980), Đình Bảng thuộc châu Cổ Lãm, nằm trong đạo Bắc Giang ThờiTiền Lê (980-1009), Đình Bảng thuộc Châu Cổ Pháp Năm 1010, Lý Thái Tổđổi châu Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức Thời Lê, Nguyễn, Đình Bảng thuộchuyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc gồm 09 thôn: Thượng, Hạ, Bà
La, Trung Hòa, Đình, Tỉnh Cầu, Thọ Môn, Thịnh Lang, Xuân Đài Năm MinhMệnh thứ 12 (1831), Đình Bảng thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh BắcNinh Năm Đồng Khánh (1886), Đình Bảng nằm trong tổng Phù Lưu, khí đó,
Trang 5tổng Phù Lưu có 07 xã: Phù Lưu, Đại Đình, Đình Bảng, Trang Liệt, Bính Hạ,Dương Lôi, Thụ Chương
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đình Bảng thuộc
về huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Để thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp,Đình Bảng lập thêm 4 nông khu (tương đương đơn vị thôn) gồm: Ao Sen, Trầm,Long Vĩ, Cao Lâm Năm 1955 thêm thôn Chùa Dận, đến năm 1977 thêm thônTân Lập
Đình Bảng là một trong những địa điểm sớm có người đến tụ cư sinhsống Từ xa xưa, Đình Bảng là vùng đất cao, có rừng rậm, sông đầm hồ với địadanh như: Cao Lâm, Rừng Báng, Sông Tiêu Tương, Hồ Trầm, hồ Vậy, Nơiđây có đất đai màu mỡ do được phù sa của sông Hồng và sông Đuống bồi đắp,lại nằm trên ngã ba sông nên rất thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu vănhóa Trong quá trình hình thành và phát triển, với trí thông minh, bàn tay khéoléo và tính cần cù chịu khó, người Đình Bảng đã lao động sáng tạo khôngngừng, tạo nên một vùng quê trù phú, kinh tế phát triển
Cư dân Đình Bảng sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, ngoài ra còntrồng dâu, nuôi tằm, chài lưới, đánh cá, săn bắn, chăn nuôi và nhiều nghề thủcông truyền thống khác Đình Bảng nổi tiếng với các sản phẩm nông nghiệpnhư: lúa tám thơm, nếp cái hoa vàng, củ mài Đình Bảng Hoạt động buôn bántấp nập khiến Đình Bàng sầm uất giống như một thị trấn Từ đầu thời Lý, ĐìnhBảng nổi tiếng là đất thịnh vượng, làng mạc trù phú, đường làng lát đá phiếnxanh Vì vậy từ xưa, đất Kinh Bắc đã có câu “Nhất Cổ Bi, nhì Cổ Loa, ba CổPháp” Người Đình Bảng luôn quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, sống “có lịch có lề”,
“tối lửa tắt đèn có nhau”
Đình Bảng là vùng quê có truyền thống yêu nước, nơi có phong trào cáchmạng phát triển sớm, được Trung ương Đảng chọn để xây dựng khu an toàn củaTrung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ; nơi được chọn để tổ chức nhiều Hội nghịquan trọng như: Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy
Trang 6(tháng11-1940), Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng (tháng 1945) ra Chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”…
3-Có thể nói, lịch sử Đình Bảng là một dòng chảy liên tục, nhân dân luônđoàn kết đấu tranh bảo vệ và xây dựng quê hương ngày thêm giàu đẹp, có cuộcsống ấm no, hạnh phúc
Sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng nên đồngchí Lê Quang Đạo sớm được thừa hưởng và tiếp thu truyền thống tốt đẹp củaquê hương, là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân ái, hiếu học Nhữngtuyền thống quý báu đó có ảnh hưởng lớn đến sự nhình thành nhân cách và lýtưởng của đồng chí Lê Quang Đạo
Gia đình và sự nghiệp:
Đồng chí Lê Quang Đạo, tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyện, sinh ngày8-8-1921, trong một gia đình, dòng họ có truyền thống yêu nước, cách mạng tại
xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Thân phụ đồng chí Lê Quang Đạo
là ông Nguyễn Đức Cung, sinh năm 1895, từng là thư ký Hội đồng hương chính
xã, dân làng quen gọi là ông Thơ La Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Lạc, sinh năm
1893, dân làng gọi là bà Thơ La Ông nội Lê Quang Đạo là cụ Nguyễn ĐứcKhôi (hiệu Tự Phúc Trung)
Ông Nguyễn Đức Cung và bà Nguyễn Thị Lạc sinh được 8 người con (5gái, 3 trai), nhưng 6 người con của ông bà đều đã mất sớm vì ốm bệnh, chỉ cònlại Nguyễn Đức Nguyện và em trai là Nguyễn Đức Nghiêm
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước với nhiều tấm gươnghoạt động cách mạng tiêu biểu đã ảnh hưởng to lớn đến việc hình thành nhâncách Nguyễn Đức Nguyện Bác của Nguyễn Đức Nguyện là Nguyễn Đức Nhạ,từng làm lý trưởng của làng, vì bảo vệ dân làng, che giấu nghĩa quân HoàngHoa Thám, nên bị chính quyền bảo hộ bắt đi tù; bác nữa là Nguyễn Đức Quỳnh,một cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật; cậu là Nguyễn Duy Thân, người có ảnhhưởng lớn đối với Nguyện từ thời học sinh, người trực tiếp giác ngộ Nguyện
Trang 7vào Đoàn Thanh niên dân chủ, rồi Đoàn Thanh niên phản đế và gia nhập ĐảngCộng sản Việt Nam.
Xuất thân từ một gia đình trung lưu, rất coi trọng học chữ, thân phụNguyễn Đức Nguyện rất coi trọng học chữ, Ông luôn truyền cho Nguyện lòngyêu quê hương đất nước Ông thường đưa Nguyện đi thăm và giảng cho Nguyệnnghe các di tích của làng như: Đền Đô thờ 8 vị vua nhà Lý, đền Rồng thờ LýChiêu Hoàng, chùa Cổ Pháp là nơi Lý Công Uẩn ra đời,… qua lời kể của Cha,Nguyễn Đức Nguyện hiểu hơn về quê hương mình, về truyền thống đánh giặc,giữ nước qua những tấm gương sáng ngời
Năm 1930, Nguyễn Đức Nguyện học lớp Đồng ấu ở trường Tiểu họckiêm bị Đình Bảng Trường Tiểu học Đình Bảng là trường duy nhất của khuvực Bắc Ninh khi đó và nhận học sinh của năm huyện: Đông Ngàn, Tiên Du,Quế Dương, Võ Giàng, Yên Phong Khi đó là môi trường tốt đối với NguyễnĐức Nguyện Ở đó Nguyện được tiếp xúc và quen thân với nhiều người bạn ởcác làng, xã trong cả vùng Bắc Ninh
Trường tiểu học kiêm bị Đình Bảng khi đó là môi trường tốt đối vớiNguyễn Đức Nguyện ở đó, nguyện được tiếp xúc và quen thân nhiều người bạn
ở các làng, xã trong cả vùng Bắc Ninh
Nguyễn Đức Nguyện sớm là học trò giỏi Sau này, đồng chí hổi tưởng lại:Năm học lớp nhất bậc tiểu học, thầy giáo cho đề văn “ Mêu tả làng quê em”.Bài làm văn viết bằng Pháp văn Khi thu bài, đọc bài của Nguyện, thầy khenhay Thầy gọi Nguyện lên đọc bài đó trước lớp Cả lớp vỗ tay, đề nghị cho chéplại để học Khi về nhà, biết chuyện cậu Thân bảo Nguyện lồng viết thêm ý nêuquê hương phải gắn liền với chống xâm lược Nguyện đã làm theo ý cậu Thân,khéo léo tuyên truyền lòng yêu quê hương, đất nước
Nguyễn Đức Nguyện rất chăm đọc sách, truyện lịch sử, văn học Cha mẹcho tiền tiêu vặt thì Nguyện dùng để mua hoặc thuê sách báo ở cửa hàng sáchPhạm Văn Hảo ở phủ Từ Sơn mang về nhà đọc Nhiều cuốn sách Nguyện đọc
Trang 8rồi, thường kể lại cho người thân và bàn bè nghe Đọc nhiều hiểu nhiều, nênNguyện học rất giỏi, đặc biệt môn văn
Từ năm 1937 đến 1939: Nguyễn Đức Nguyện học ở Trường Trung học tưthục Thăng Long - Hà Nội (học đến năm thứ ba) Trong thời gian này, NguyễnĐức Nguyên đã tham dự những buổi nói chuyện chính trị ở trụ sở Đảng Xã hộitại Hội quán Trí Tri phố Hàng Quạt; đi dự chợ phiên ủng hộ Trung Hoa khángNhật; tham gia Đoàn Thanh niên dân chủ Hà Nội; dự cuộc nút tinh chống thuế ở
bờ hồ Hoàn Kiếm (gần cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn); dự lễ tang thầy giáo PhanThanh, anh tỏ rõ tinh thần đấu tranh bênh vực quyền lợi nhân dân
Nghỉ hè, Nguyễn Đức Nguyện về quê mở lớp dạy hè cho một số học sinhtrường làng; gia nhập tổ chức Thanh niên phản đế ở xã Đình Bảng, đồng thờivẫn tiếp tục hoạt động trong Đoàn Thanh niên dân chủ ở Trường Thăng Long -
Hà Nội
Say mê với sách báo tiến bộ: thơ văn Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,những tác phẩm văn học hiện thực của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan,thơ của Tố Hữu, Chế Lan Viên; Nguyễn Đức Nguyện đã sởm đến với tư tưởng
mác xít thông qua việc đọc “Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô", truyện “Người
Mẹ” của Goócki, “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh (Trường Chinh) và Vân Đình
(Võ Nguyên Giáp)
Nguyễn Đức Nguyện đã từng là cộng tác viên của báo Con ong, cung cấp
một số tin tức đấu tranh ở làng, viết những bài chế giễu thói hư tật xấu của xãhội, những bài thơ châm biếm
Thời kỳ Mặt trận Bình dân (1936-1939), Nguyễn Đức Nguyên được dựmột lớp huấn luyện chính trị ngắn ngày do chính đồng chí Nguyễn Văn Cừ phụtrách Cuối năm 1939, Chính phủ Bình dân Pháp bị đổ, chính quyển thực dânPháp ở Việt Nam thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh cho dân chủ, giải táncác tổ chức cách mạng, các hội quần chúng, truy bắt một số đảng viên cộngsản Nguyên Đức Nguyện trở về hoạt động ở quê hương Đình Bảng và đượcbồi dưỡng như một cán bộ địa phương của Đảng
Trang 9Tháng 8 năm 1940, Nguyên Đức Nguyện (năm 19 tuổi) được kết nạp vàoĐảng Cộng sản Đông Dương.
Cuối năm 1940, Nguyễn Đức Nguyên là Bí thư Chi bộ Đảng và là Ủyviên Ban Cán sự Đảng phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Thời gian này Đình Bảngđược coi là “an toàn khu” của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ Hội nghịTrung ương lần thứ bảy tại nhà ông Đám Thi trong làng Đinh Bảng đã được bao
vệ tốt Cũng trong thời gian này, Nguyễn Đức Nguyện được gặp và làm việc vớiđồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Ván Thụ, tổ chức cuộc míttinh trong làng hưởng ứng khồi nghĩa Bắc Sơn, hô hào mọi người tham gia vàủng hộ cách mạng
Giữa năm 1941, Nguyễn Đức Nguyện thoát ly gia đình để hoạt động cáchmạng lấy tên là Lê Quang Đạo Cuối năm 1941 đến đầu 1942, đồng chí LêQuang Đạo làm Bí thư Ban cán sự Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
Từ năm 1942 đến 1943, đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư Ban Cán sựĐảng bộ tỉnh Phúc Yên, Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ
Tháng 5 năm 1943 đến tháng 10 năm 1944, đồng chí Lê Quang Đạo làm
Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Ban Cán sự Đảng bộ Thành phố Hà Nội đồng
thời là biên tập viên báo Cứu quốc, báo Cờ giải phóng, trực tiếp giảng bài ở lớp
bồi dưỡng lý luận về Đảng và công tác cách mạng cho các nhóm cốt cán củaĐoàn Thanh niên cứu quốc Hà Nội, Hội Văn hóa cứu quốc Thời kỳ này đồngchí đã cùng Ban Cán sự làm tốt hai nhiệm vụ quan trọng: xây dựng lại Thành ủy
Hà Nội và tổ chức Đảng ở cơ sở; xây dựng các tổ chức quần chúng trong giaicấp công nhân, trong trí thức, sinh viên tạo tiển đề thuận lợi cho Tổng khởinghĩa 19 tháng 8 năm 1945 ở Hà Nội thành công
Tháng 5 đến tháng 8 năm 1945, đồng chí Lê Quang Đạo phụ trách báo
Quyết thắng và mở các lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh ở chiến khu Hoàng
Hoa Thám (Bắc Giang)
Trang 10Giữa tháng 8 năm 1945, đồng chí Lê Quang Đạo làm chính trị viên Chiđội Giải phóng quân Bắc Giang Tham gia lãnh đạo tổng khởi nghĩa ở BắcGiang.
Từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 6 năm 1946, đồng chí Lê Quang Đạotham gia thành lập Thành uỷ Hải Phòng và trở thành Bí thư Thành ủy Đảng bộHải Phòng
Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1946 đồng chí Lê Quang Đạo làm Xứ uỷviên Xứ uỷ Bắc Kỳ, Bí thư Thành uỷ Hà Nội
Từ tháng 12 năm 1946 đến cuối năm 1947: đồng chí Lê Quang Đạo, Xứ
ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ; Phó Bí thư Khu ủy đặc biệt Hà Nội (khu XI) Đồng chí
đã tham gia phái đoàn Chính phủ vào Liên khu I Hà Nội động viên Trung đoànThủ đô chiến đấu và đến thàm cán bộ, chiến sĩ sau khi Trung đoàn Thủ đô antoàn rút khỏi nội thành
Tháng 11 năm 1947, đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư Thành uỷ HàNội Khi địch mỏ rộng vùng chiếm đóng ra ngoại thành, đồng chí bàn vớiThành uỷ và quyết định đưa cán bộ vể cơ sở, xây dựng và khôi phục các chi bộđảng, các đoàn thể, tổ chức lực lượng du kích, làm hầm bí mật, tổ chức đấutranh và chiến đấu trong lồng địch Đồng chí đã đến những làng địch tạm chiếmnhư Yên Phù, Sấu Giá, Sài Sơn nắm tình hình và chỉ đạo thực hiện những chủtrương của Thành uỷ
Năm 1948, đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư liên Tỉnh ủy Hà Nội - HàĐông Cuối năm 1948, đồng chí làm khu ủy viên, rồi ủy viên Thường vụ Liênkhu ủy Liên khu III, phụ trách công tác tuyên huấn
Từ năm 1949 đến tháng 8 năm 1950, đồng chí làm Phó Ban Tuyên truyềnTrung ương Đảng
Từ tháng 9 năm 1950, đồng chí Lê Quang Đạo được điều vào Quân độiNhân dân Việt Nam Giữa tháng 10 năm 1950, đồng chí làm Phó Chủ nhiệmChính trị Bộ Chỉ huy chiến dịch Biên giới, phụ trách công tác tuyên huấn củachiến dịch
Trang 11Từ giữa tháng 10 năm 1950 đến năm 1953, đồng chí làm Cục trưởng CụcTuyên huấn Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ đồng chí vẫn là Cục trưởng Cục Tuyênhuấn, đồng thời trực tiêp làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy chiến dịch,Chính ủy Sư đoàn 308 tham gia suốt chiến dịch
Hoà bình lập lại, tháng 7 năm 1954, đồng chí làm Phó Trưởng đoàn Quânđội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến Việt - Pháp
Tháng 5 năm 1955 đến tháng 8 năm 1978, đồng chí làm Phó Chủ nhiệmTổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, trực tiếp chỉ đạo công táctuyên huấn, địch vận, đối ngoại Năm 1958, đồng chí được phong quân hàmThiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (tháng 9 năm 1960) đồng chí LêQuang Đạo được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương, ủyviên Quân ủy Trung ương
Năm 1961, đồng chí kiêm nhiệm chức Viện trưởng Viện Kiểm sát quân
sự Trung ương
Thời gian kháng chiến chống Mỹ, đồng chí Lê Quang Đạo vẫn là PhóChủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng, ủy viên Quân ủyTrung ương, đồng thời, trực tiếp làm chính ủy, Bí thư Đảng ủy các chiến dịch
có ý nghĩa chiến lược dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Bộ Tổng tưlệnh
Từ tháng 12 năm 1967 đến tháng 10 nàm 1968, đồng chí làm Chính ủy,
Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Mặt trận đường 9 - Khe Sanh Ngoài kết quả tiêudiệt làm thiệt hại nhiều đơn vị địch, Mặt trận đường 9 - Khe Sanh đã hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ nghi binh chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn miềnNam thực hiện Tổng tấn công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Từ tháng 11 nàm 1968 đến tháng 4 nám 1969, đồng chí là Chính ủy, Bíthư Đảng ủy Bộ Tư lệnh 500 đà thực hiện tôt nhiệm vụ giải quyết ách tắc giao
Trang 12thông đoạn nam Quân khu 4 (Nghệ An - Hà Tĩnh) do địch đảnh phá ác liệt, bảođảm tiếp tục chi viện lớn cho chiến trường miền Nam.
Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1971, đồng chí là Chính ủy, Bí thư Đảng ủy
Bộ Tư lệnh Chiến dịch mặt trận đường 9 - Nam Lào Chiến dịch này đã hoàntoàn đánh bại cuộc Hành binh Lam Sơn 719 của quân ngụy hòng cắt đứt đườngvận chuyển chiến lược phía tây Trường Sơn của ta Ta tiêu diệt nhiều trungđoàn-lữ đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu hai vạn tên, bắt sống 1.200 tù binhtrong đó có đại tá Nguyễn Văn Thọ Bước đầu đánh bại âm mưu “Việt Nam hóachiến tranh của đế quốc Mỹ”
Từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1972, đồng chí là Chính ủy, Bí thư Đảng
ủy Bộ Tư lệnh Mặt trận đường 9 - Quảng Trị Chiến dịch này đã tiêu diệt tiêuhao nhiều sinh lực địch Đến ngày 1 tháng 5 năm 1972 đã giải phóng hoàn toàntỉnh Quảng Trị Cùng với thắng lợi ở các chiến trường khác, Mặt trận đường 9-Quảng Trị đã tạo thuận lợi cho mặt trận ngoại giao, buộc Mỹ và chính quyềnSài Gòn ngày 27 tháng 1 năm 1973 phải ký Hiệp định Pari chấm dứt ctụến tranhlập lại hòa bình ỏ Việt Nam
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 20 khóa III họp thảng 3, năm 1972 đãquyết định đồng chí Lê Quang Đạo là ủy viên chính thức của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng
Tháng 7 năm 1973, khi dự Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trungương, đồng chí đã có bài phát biểu quan trọng, thẳng thắn nêu những nhận địnhđúng sai trong chỉ đạo chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ Năm 1974, đồngchí Lê Quang Đạo được thăng quân hàm Trung tướng Quân đội Nhân dân ViệtNam
Năm 1974 - 1975, đồng chí Lê Quang Đạo tiếp tục là ủy viên Trung ươngĐảng và là ủy viên Thường trực Quân ủy Trung ương Đồng chí vẫn làm PhóChủ nhiệm Tổng Cục chính trị kiêm chức Giảm đốc Học viện Chính trị Quânđội Nhân dân Việt Nam
Trang 13Thời gian này, đồng chí Lê Quang Đạo đã tham dự, đóng góp ý kiếntrong các cuộc họp Quân ủy Trung ương và Bộ Chính trị mở rộng bàn về kếhoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, nếu thời cơđến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.
Trong chiến cuộc mùa Xuân 1975, đồng chí luôn có mặt ở Tổng hànhdinh, tham gia chỉ đạo từ trận mở màn Buôn Ma Thuột đến Chiến dịch Hồ ChíMinh toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng tháng 12 nầm 1976đồng chí Lê Quang Đạo được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ươngĐảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Bí thư Trung ương Đảng
Năm 1978, khi rời khỏi quân đội, đồng chí Lê Quang Đạo vẫn là Bí thưTrung ương Đảng và trực tiếp làm Phó Bí thư thường trực Thành ủy Đảng bộ
Hà Nội, Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự Thành phố Hà Nội
Đồng chí chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ lớn của thành phố, về kinh tế,
về công tác tổ chức, quy hoạch cán bộ của thành phố Đồng chí rất chú trọngtìm hiểu tình hình các hợp tác xã, các xí nghiệp có ý tưởng đổi mói cách làm;khuyến khích mọi người dám nghĩ dám làm, nàng động, phát triển sản xuấtnhằm thoát khỏi khó khăn về đời sông kinh tế
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng tháng 3 năm 1982,đồng chí Lê Quang Đạo tiếp tục được bầu là ủy viên Trung ương Đảng và Bíthư Trung ương Đảng, trực tiếp làm Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương, phụtrách công tác dân vận
Năm 1983, đồng chí tham gia xây dựng Chỉ thị 17/CTTW ngày 18 tháng
4 nốm 1983 của Trung ương "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặttrận Tổ quốc Việt Nam" Làm Trưởng Ban Khoa giáo, đồng chí quan tâm đếnmọi ngành khoa học, nhưng theo đồng chí khoa học kỹ thuật là then chốt, nên
có cơ chê chính sách trong khoa học công nghệ, nghiên cứu kinh nghiệm cácnước đã phát triển, sử dụng trí tuệ sáng tạo để vận dụng thực hiện với điều kiện
Trang 14của ta Đồng chí đề xuất phải đổi mối, dân chủ trong lĩnh vực khoa học, cần coitrọng bồi dưỡng sử dụng nhân tài, nhất là đội ngũ trì thức trẻ.
Giữa thập niên 1980, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế
-xã hội rất nghiêm trọng Đồng chí và Ban Khoa giáo Trung ương đã mời cácnhà khoa học, các trí thức có tâm huyết đến cơ quan Ban Khoa giáo Trung ương
- chân tình nói rõ theo yêu cầu của tổ chức, mọi người cần thực sự tự do tưtưởng góp phần giải quyết khó khăn cho đất nưóc, mạnh dạn thẳng thắn phátbiểu ý kiến về những tình hình khó khăn của cuộc sống, những nhược điểm củanền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp và đưa ra những phương sách
để đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng, ở đây lần đầu tiên đề cập các vấn đề
về đổi mới tư duy lý luận, kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, sử dụngnhân tài, nhất là đội ngũ trí thức Đồng chí cùng Ban Khoa giáo tổng hợp ýkiến, báo cáo trực tiếp vởi Tổng Bí thư Trường Chinh Nhiều vấn đề của báocáo đã được thể hiện trong "Báo cáo chính trị đổi mới toàn diện đất nước" màĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng 12 năm 1986 đã thôngqua
Sau này, đồng chí đã nhiều lần trực tiếp trình bày hoặc viết thư góp ý kiếnvới Tổng Bí thư và Bộ Chính trị về đổi mới kinh tế, thực hiện kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế nhiểu thành phần, củng cốphát triển vững chắc kinh tế nhà nưốc, tích cực góp sức đẩy mạnh sản xuất
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 nầm 1986),đồng chí Lê Quang Đạo tiếp tục được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trungương Đảng
Tháng 6 năm 1987, tại kỳ họp Quốc hội khóa VIII, đồng chí Lê QuangĐạo được bầu làm Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trên cương vị Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước,đồng chí đã đóng góp nhiều công sức vào việc soạn thảo Hiến pháp 1992 phùhợp với cương lĩnh đổi mới của Đảng, đáp ứng đòi hỏi của cách mạng, của nhân
Trang 15dân trong giai đoạn mới Trong việc xây dựng pháp luật (Quốc hội khóa VIII vàHội đồng Nhà nước đã thông qua 20 luật và 30 pháp lệnh), đồng chí đã gópphần tích cực trong việc Quốc hội bàn quyết định các vấn đề quan trọng của đấtnước và Quốc hội thực hiện quyền giám sát đốì với toàn bộ hoạt động của Nhànước Đồng chí cũng rất chú trọng đổi mới phong cách làm việc nâng cao hiệuquả hoạt động của Quốc hội Việc điều hành Quốc hội thảo luận, chất vấn thực
sự dân chủ, đổi mối đã phát huy trí tuệ của các đại biểu, tạo được không khí cỏi
mở, đoàn kết trong Quốc hội
Đại hội Mặt trận Tổ quốc lần thứ III (tháng 11 năm 1988) đã bầu đồngchí vào Đoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đến đầunăm 1993, đồng chí thôi giữ chức Chủ tịch Quốc hội, chuyên trách về công tácMặt trận với cương vị Bí thư Đảng ủy, ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trungương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tháng 8 năm 1994, Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IV bầuđồng chí làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc ViệtNam Đồng chí đã hoạt động trên cương vị này cho đến ngày đồng chí từ trần(ngày 24 tháng 7 năm 1999)
Năm 1993, đồng chí đã cùng cán bộ, Đảng đoàn Mặt trận tham mưu cho
Đảng ra Nghị quyết 07 ngày 17 tháng 11 năm 1993 của Bộ Chính trị “Về đại
đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thông nhất trong tình hình mới”, nêu bật quan điểm “Đảng là người lãnh đạo Mặt trận, vừa là thành viên
của Mặt trận, phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc thực chất là phát huy quyền làmchủ của nhân dân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thừa kế sự nghiệp vẻ vang củacác tổ chức mặt trận trước đây, tiếp tục giương cao ngọn cờ đại đoàn kết xâydựng và bảo vệ đất nước theo Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩaViệt Nam”
Trên 60 năm hoạt động cách mạng (1938-1999), đồng chí Lê Quang Đạo
là một cán bộ lãnh đạo tài năng đức độ, ham học hỏi, giàu trí tuệ, trung thựcthẳng thắn, rất mực khiêm tôn, luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến, ý thức tổ chức
Trang 16kỷ luật rất cao Đồng chí sống giản dị, trong sáng hòa hợp đoàn kết với mọi.người Đồng chí đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước vànhân dân giao phó.
Câu 2: Những cống hiến to lớn của đồng chí Lê Quang Đạo đối với Đảng, cách mạng, dân tộc Việt Nam?
Trả lời
Những cống hiến của đồng chí Lê Quang Đạo đối với công tác
tổ chức Đảng ở những địa bàn quan trọng
Đảng lãnh đạo và gây dựng cơ sở cách mạng ở quê hương (1938-1941)
Mỗi khi về quê, Nguyện mang theo nhiều sách báo, tiếng Việt và tiếng
Pháp, như các tác phẩm Người Mẹ của Mácxim Goócki, Vấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình (tức Trưòng Chinh và Võ Nguyên Giáp), Lịch sử Đảng
Cộng sản Liên Xô, các báo Tin tức, Đời I nay, Thợ thuyền, Chiến đấu, để các
đoàn viên trong làng đọc Những điếm canh trong làng trở thành phòng đọcsách báo của thanh niên Thông qua sách báo tiến bộ, các chủ trương, đường lốicủa Đảng được truyền bá đến các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ tronglàng, Các đoàn viên Đoàn Thanh niên dân chủ đầu tiên cùa Đình Bảng ngày đógồm: Nguyễn Đức Nguyện, Nguyên Tiến Thảo, Hoàng Văn Tiến, NguyễnTrọng Tỉnh, Nguyễn Thị Canh Họ thường gặp nhau bàn công tác trong khuvườn Đền Đô Các đồng chí này về sau đều trở thành những đảng viên ưu tú củaĐảng Cộng sản Đông Dương
Đồng thời với phong trào đọc sách báo, Đình Đảng còn có phong trào họcchữ quốc ngữ rất sôi nổi, thu hút đông đảo các giới, mọi lứa tuổi tham gia Vốn
có đầu óc luôn suy ngẫm và hành động thực tế, Nguyễn Đức Nguyện đã sángkiến tổ chức một đám rước đèn trung thu vào đêm Trung thu năm 1938, nhằmmục đích cổ động cho phong trào học chữ quốc ngữ Cụ Nguyễn Tiến Giao, một
Trang 17vị lão thành cách mạng kể lại: “Đêm ấy, dân làng được xem một đám rước đènthật độc đáo với rất đông thanh niên, học sinh Đi đầu là một xe hoa Đó chỉ làmột xe bò kết lá cây trang điểm bằng những bông hoa giấy, trên xe đặt mộtchiếc trống Anh Lộc Beng ngồi trong với cây đàn banjo alto vê réo rắt Thanhniên học sinh nam nữ cầm đèn đi sau chạy theo hò reo ầm vang cả khu đìnhlàng Sự kiện này không được báo trước nên cuốn hút sự tò mò của nhiều người.Dân làng ngạc nhiên tới xem mỗi lúc càng đông Khi dân làng đã kéo tới chậtcứng sân đình, một người nhỏ bé xuất hiện trên xe, đó là Nguyễn Đức Nguyện
Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan Ngày 3-9-1939, Anh,Pháp tuyên chiến với Đức Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Pháp tham giachiến tranh và lập tức thi hành chính sách thống trị phát xít rất phản động ởtrong nước và các thuộc địa Ở Đông Dương, chính quyền thực dân tăng cườngđàn áp lực lượng cách mạng, mà mũi nhọn tấn công là nhằm vào Đảng Cộngsản Đông Dương Chúng ban bố lệnh tổng động viên, thực hiện chính sách
“kinh tế chĩ huy” tăng cường vơ vét sức người, sức của để cung cấp cho cuộcchiến tranh Tại Hà Nội, Pháp ra lệnh giải tán các tổ chức ái hữu tăng thêmmạng lưới mật thám, tổ chức nhiều cuộc vây ráp, bắt bổ Trong bốỉ cảnh đó, các
cơ quan báo chí công khai của Đảng đều bị khám xét và niêm phong, một sôcán bộ hoạt động công khai chưa kịp rút vào hoạt động bí mật đã bị bắt Bằngnhững biện pháp áp bức cứng rắn, Pháp hy vọng sẽ dập tắt phong trào cáchmạng của Đảng Cộng sản Đông Dương
Trước tình, hình đó, tháng 11-1939, Ban Thường vụ Trung ương đã họpnhận định tình hình và đề ra chính sách của Đảng Cộng sản Đông Dương:
“Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đườngnào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm,
vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập Đế quốc Phápcòn, dân chúng Đông Dương chết Đế quốc Pháp chết, dân chúng Đông Dươngcòn” Thời kỳ hoạt động công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp không còn nữa, màthay vào đó là thời kỳ hoạt động bí mật, bất hợp pháp, hình thức tổ chức và
Trang 18tranh đấu là lập Mặt trân thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương để chống đếquốc chiến tranh, đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến thối nát, giải phóngcác dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập
Là nơi có phong trào cách mạng tương đối vững mạnh, lại tiếp giáp vớithủ phủ Hà Nội, là cầu nối giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ, thủ phủ Hà Nội vớicác tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, phong trào cách mạng ở Bắc Ninh đượcTrung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ đặc biệt quan tâm và trực tiếp chỉ đạo Các
cơ sở cách mạng ở Từ Sơn, phố Yên Viên, Cầu Đuống, Đình Bảng, Phù Lưu,Cẩm Giang, Trang Liệt, Phù Khê, Tam Sơn từ hoạt động công khai, hợp phápchuyển vào hoạt động bí mật Chỉ đạo phong trào tỉnh Bắc Ninh là đồng chíTrần Quốc Hoàn Trực tiếp hoạt động ở Từ Sơn, Bắc Ninh là các đồng chíPhạm Văn Đông (Đồng), Kỳ Vân
Tuy chưa được gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng trong quátrình hoạt động, rèn luyện, thử thách, Nguyễn Đức Nguyện đã trưởng thành, trởthành cán bộ cốt cán của phong trào thời kỳ đầu bước vào hoạt động bí mật.Nhân dịp kỷ niệm 22 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (tháng 11-1917 - tháng11-1939), Nguyên Đức Nguyện đã tham gia rải truyền đơn, dán áp phích, treo
cờ đỏ búa liềm ở Đình Bảng, Trang Liệt, Đồng Kỵ, Phù Khê, Yên Viên, nhằmthức tỉnh lòng yêu nước và cổ vũ quần chúng đấu tranh Tháng 8-1940, đồng chíPhạm Văn Đồng đã tổ chức kết nạp các đoàn viên thanh niên dân chủ vào ĐảngCộng sản Đông Dương, như: Nguyễn Duy Thân, Nguyễn Đức Nguyện, NguyễnTrọng Tỉnh (Đình Bảng), Lê Việt, Nguyễn Văn Tâm (Phù Lưu), Nguyễn VănPhúc (Cẩm Giang); Chi bộ ghép Đình Bảng - Phù Lưu - cẩm Giang được thànhlập gồm 7 đồng chí, do đổng chí Phạm Văn Đông trực tiếp làm Bí thư
Chỉ bộ ghép tích cực hoạt động, nhanh chóng xây dựng, phát triển các tổchức quần chúng tại các làng, xã ở Trung Mầu, Dương Húc (Tiên Du), PhùChẩn, Tam Sơn, Đồng Kỵ, Đông Hội, Trang Liệt, Đình Bảng, Phù Lưu, CẩmGiang (Từ Sơn) Chi bộ cũng tích cực bồi dưỡng kết nạp thêm nhiều đảng viênmới, như: Nguyễn Tiến Thảo (Lim), Nguyễn Chương, Nguyễn Văn Xuyến,
Trang 19Nguyễn Hữu Ngoạn, Nguyễn Ly, Nguyễn Đức Phùng (Đình Bảng), Trục Tụ,Bẩy Cối (Cẩm Giang), Nguyễn Chấn, Trần Lê Nhân (Trang Liệt) Do đó, từmột chi bộ ghép Đình Bảng - Phù Lưu - cẩm Giang đã tách ra thành hai chi bộ
là Chi bộ Đình Bảng và Chi bộ ghép Phù Lưu- Cẩm Giang - Trang Liệt
Khoảng tháng 9-1940, tại nhà Văn chỉ, Đền Đô, Chi bộ Cộng sản đầu tiêncủa Đình Bảng được thành lập, gồm ba đảng viên: Nguyễn Duy Thân, NguyễnĐức Nguyện và Nguyễn Trọng Tỉnh (Nguyễn Tiến Cúc), do đồng chí NguyễnĐức Nguyện làm Bí thư Từ đây, Chi bộ Đình Bảng lãnh đạo phong trào cáchmạng ở quê hương theo một đường lối thích hợp Không tiến hành nhũng cuộcđấu tranh trực diện, gay gắt với kẻ thù ngay trong làng nhằm che giấu lực lượng,đánh lạc hướng theo dõi, truy lùng và đàn áp của kẻ thù, Chi bộ đã tập trung sứccho công tác trọng tâm là xây dựng, củng cổ và phát triển một hệ thống cơ sở bímật an toàn, đáng tin cây trong phạm vi làng Đình Bảng, phát triển thêm đảngviên mới Chi bộ đã thành lập các tổ chức quần chúng để vận động nhân dân đitheo con đường giải phóng dân tộc của Đảng
Tháng 9-1940, quân Nhật từ Trung Quốc đánh vào Lạng Sơn nước ta,thực dân Pháp đầu hàng phát xít Nhật Đảng bộ Bắc Sơn đã lãnh đạo nhân dânđứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện lỵ (tháng 10-1940) Nam Bộcũng gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa Trước tình hình đó, đầu tháng 11-1940, Trungương Đảng đã triệu tập hội nghị (Hội nghị lần thứ 7 ban Chấp hành Trung ươngkhóa I) Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ,Phan Đăng Lưu, Trần Đăng Ninh, Hạ Bá Cang Hội nghị khẳng định chủtrương chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dântộc tạm rút khẩu hiệu cách mạng ruộng đất của Hội nghị Ban Chấp hành Trungương Đảng tháng 11-1939 là đúng Hội nghị chỉ rõ kẻ thù chính của cách mạngViệt Nam lúc này là thực dân, phát xít Pháp - Nhật, quyết định hai vấn đề cấpbách: một là, duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những đội du kích,khi cần thiết thì chiến đấu chống khủng bố, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhândân, phát triển cơ sở cách mạng, tiến tới lập căn cứ địa du kích, lấy Bắc Sơn -
Trang 20Võ Nhai làm trung tâm; hai là, chỉ thị cho Xứ ủy Nam Kỳ hoãn ngay cuộc khởinghĩa vì chưa đủ điểu kiện bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi Hội nghị đã cử raBan Chấp hành Trung ương lâm thời, do đồng chí Trường Chinh làm quyềnTổng Bí thư Ban Thường vụ có các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Hoàng QuốcViệt
Nguyễn Đức Nguyện cùng Chi bộ Đình Bảng đã tổ chức đón thành công
và đưa các đồng chí của Trung ương Đảng về ở các cơ sở trong làng để thamgia Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, họp tại nhà cụ Nguyễn Tiến Tuận (Tuân,Đám Thi); phục vụ và bảo vệ an toàn Hội nghị của Đảng Hội nghị đang họp thìmật thám Pháp ập đến Khi tên Luýt (mật thám) và tên Phán Sinh (tay sai) hỏichị Hòa (con gái cụ Đám Thi) ở sân, thì các đồng chí Hoàng Văn Thụ, HoàngQuốc Việt, đã nhanh chóng nhảy qua tường nhà bếp đi ra cổng làng Đồng chíTrường Chinh nép vào đầu hồi cổng, rồi thoát ra ngõ xóm Ngay tối hôm đó cả
ba đổng chí đến nhà anh Hùng, cơ sở cách mạng ở Tam Sơn và tiếp tục cuộchọp Trong cuộc vây ráp, bọn mật thám đã bắt cụ Đám Thi, chị Hòa và anh Pho(là con trai và con gái cụ); bắt đồng chí Nguyễn Duy Thân ở cầu Chạt; bắt đồngchí Nguyễn Thị Canh ở chợ Yên Lã Chúng đánh đập, tra tấn dã man, songkhông moi được tin tức gì
Cuối năm 1940, Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Ninh được thành lập, gồm bađồng chí: Nguyễn Trình (còn gọi là Yên Trình, hoặc Trình Xưa) làm Bí thư, haiđồng chí Nguyễn Đức Nguyên và Vũ Kiên làm ủy viên Sự ra đời của Ban Cán
sự Đảng tỉnh Bắc Ninh đánh dấu bước trưởng thành của Đảng bộ trong việcthống nhất sự lãnh đạo phong trào cách mạng toàn tỉnh về mọi mặt
Được trực tiếp nghe các đồng chí Trung ương truyền đạt nhiệm vụ cáchmạng, đầu năm 1941, tại lăng Lý Thái Tổ, trong Thọ Lăng Thiên Đức, Chi bộĐình Bảng đã nhiều lần bí mật họp quần chúng cách mạng, nghe Bí thư Chi bộNguyễn Đức Nguyện tuyên truyền về nhiệm vụ phản đế, giải phóng dân tộc.Thời kỳ này, Chi bộ Đình Bảng đã phát triển thêm nhiều đảng viên mới
Trang 21Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước sau gần 30 năm bôn ba tìm đường cứunước, giải phóng dân tộc Tháng 5-1941, tại Pác Bó (Cao Bằng), lãnh tụ Hồ ChíMinh triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám Hội nghị khẳng địnhnhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc vànêu rõ sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật, sẽ thành lập Chính phủ nhân dâncủa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hội nghị quyết định thành lập Việt Namđộc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) Các tổ chức quần chúng yêu nướcchông đế quốc trong Mặt trận đêu lấy tên là Hội Cứu quốc Hội nghị kết luận:Chúng ta không được ỷ lại, phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàngnhằm vào cơ hội thuận tiện mà đánh lại quân thù, lúc đó với lực lượng sẵn có ta
có thể lãnh đạo cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương giành sựthắng lợi mà mở đưòng cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám, Tổng Bí thưTrường Chinh đã quyết định xây dựng Khu an toàn (An toàn khu - ATK) củaTrung ương ở vùng nông thôn xung quanh Hà Nội, thuộc các tỉnh Bắc Ninh, HàĐông, Phúc Yên, trong đó có nhiều thôn, xã thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh BắcNinh Khu an toàn đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, của Xứ
ủy Bắc Kỳ, có nhiệm vụ bảo vệ mọi hoạt động của Trung ương Đảng và Xứ ủyBắc Kỳ Tại đây có địa điểm làm việc, hội họp, tổ chức các lớp huấn luyệnchính trị, quân sự, cơ quan giao thông, có nơi ở của cán bộ đến làm việc, cơquan in ấn của Trung ương Một nguyên tắc hoạt động của Khu an toàn là cơquan nào ở đâu, cán bộ, đảng viên nào, chỉ biết đấy, tuyệt đối không được liên
hệ, không được biết nơi khác, người khác
Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, các đồng chí lãnh đạo cấp trên tạmthời quyết định điều động hầu hết các đảng viên của Đình Bảng đi hoạt độngthoát ly, hoặc đi nơi khác, bể sung cho đội ngũ cán bộ huyện, tỉnh và Trungương Cuối năm 1941, đồng chí Nguyễn Đức Nguyện được bầu làm Bí thư BanCán sự Đảng huyện Từ Sơn Đồng chí Nguyễn Ly, rồi đến đồng chí Nguyễn ThịCanh thay đồng chí Nguyện làm Bí thư Chi bộ Đình Bảng
Trang 22Đầu năm 1942, đồng chí Nguyễn Trình, Bí thư Ban Cán sự Đảng tỉnhBắc Ninh bị bắt Đồng chí Nguyễn Đức Nguyện được điều làm Bí thư Ban Cán
sự Đảng tỉnh Bắc Ninh Tháng 4-1942, Xứ ủy điều động đồng chí Liên Cường(tức Vinh) về làm Bí thư Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Ninh thay đồng chí NguyễnĐức Nguyện Theo nguyên tắc hoạt động bí mật, Nguyễn Đức Nguyện phải cómột bí danh Đồng chí Nguyện đã chọn cho mình cái tên Lê Quang Đạo
tham gia báo cứu quốc và báo cờ giải phóng (1942-1944)
Cuối năm 1942, tình hình thế giới và trong nước biến đổi nhanh chóng ỞĐông Dương, mâu thuẫn Pháp-Nhật ngày càng trở nên sâu sắc Bọn quân phiệtNhật ngày càng lấn áp Pháp Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ươngĐảng đã họp để nhận định tình hình, quyết định những vấn đề mới Hội nghịnêu rõ: Chiến tranh thế giới đã phân định rõ hai mặt trân: Mặt trận phát xít xâmlược, gồm các đế quốc phát xít Đức, Y, Nhật vạ các chính phủ thuộc địa tay saicho chúng Mặt trân dân chủ chống phát xít xâm lược, gồm các nước dân chủLiên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới Điđầu trong mặt trận dân chủ chống phát xít là Liên Xô Liên Xô và phe dân chủ
sẽ thắng Kẻ thù của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật - Pháp Hội nghịchủ trương mở rộng Mặt trận dân tộc thông nhất chống Nhật - Pháp và Mặt trậndân chủ chống Nhật ở Đông Dương, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các giới,chuẩn bị khỗi nghĩa, để một khi thời cơ đến, kịp thời đưa quần chúng ra tranhđấu
Khi Trung ương quyết định lấy một phần các tỉnh Phúc Yên, Bắc Ninh,
Hà Đông, ngoại thành Hà Nội để xây dựng An toàn khu chính thức của Trungương (An toàn khu I), tỉnh Phúc Yên hình thành ba khu vực Khu phía nam tỉnh,giáp với Hà Nội, gồm huyện Đông Anh và huyện Yên Lãng, nằm trong An toànkhu I của Trung ương, do Đội công tác Trung ương phụ trách
Khu thứ hai gồm các huyện Kim Anh, Đa Phúc và thị xã Phúc Yên nằmtrong An toàn khu dự bị (An toàn khu II) của Trung ương do Ban Cán sự Đảng
Trang 23tỉnh Phúc Yên phụ trách Khu thứ ba là Nhà máy xe lửa Đông Anh do BanCông vận Xứ ủy phụ trách.
Để tăn cường sự lãnh đạo của Đảng đối với An toàn khu Phúc Yên, tháng
4 -1942, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Phúc Yên
và chỉ định đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư Ban Cán sự tỉnh
Để bảo vệ An toàn khu và củng cố phong trào, đồng chí Lê Quang Đạo
đã họp bàn vối Ban Cán sự Đảng tỉnh Phúc Yên, quyết định mở một đợt tuyêntruyền nhân ngày Quốc tế Lao động 1-5, dưới hình thức rải truyển đơn, treo cờ
đỏ ở những nơi có đông người qua lại, nhằm tuyên truyền về Mặt trân ViệtMinh và ổn định tư tưởng quần chúng Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Lê QuangĐạo, cơ sở cách mạng đã được xây dựng ở hầu hết khu vực do Ban Cán sự phụtrách Trong hàng ngũ Việt Minh, ngoài lực lượng chủ yếu là thanh niên, họcsinh, tiểu tư sản, dân nghèo, còn thu hút được một số người trong bộ máy chínhquyền địch Ban Cán sự Đảng tỉnh Phúc Yên đã cử người tham gia Hội truyền
bá quốc ngữ để vận động các viên chức và tầng lớp trên đi theo cách mạng,đồng thời phá âm mưu lôi kéo họ vào Đảng Đại Việt do Nhật lập ra Hội truyền
bá quốc ngữ đã trở thành tổ chức công khai tuyên truyền cho Mặt trận ViệtMinh An toàn khu được giữ vững, Tổng Bí thư Trường Chinh và các đồng chítrong Ban Thường vụ Trung ương như Hoàng Quốc Việt, Hoàng Văn Thụ đãthường xuyên qua lại, ăn ở trong các gia đình cơ sở An toàn khu Các cán bộcủa Đảng vượt ngục ra ngoài cũng được đưa về An toàn khu Phúc Yên nghỉdưỡng sức chờ Đảng phân công công tác (như Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến
Dũng, ) Cơ quan tuyên truyền của Trung ương, như báo Cờ giải phóng, báo
Kèn gọi lính, báo Quân giải phóng và nhiều tài liệu của Đảng, của Việt Minh
đều được in ấn ở An toàn khu Phúc Yên
Phụ trách Ban Cán sự Đảng tỉnh Phúc Yên một thời gian không lâu, đồng
chí Lê Quang Đạo nhận thêm nhiệm vụ biên tập báo Cứu quốc do đồng chí
Trường Chỉnh phụ trách Tham gia biên tập có Lê Quang Đạo, Lê Toàn Thư(Tân)
Trang 24Tháng 4 -1943, đồng chí Lê Quang Đạo được điều động về Hà Nội Đồngchí Lê Liêm thay đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư Ban Cán sự tỉnh PhúcYên.
Những năm 1940 - 1943, trên địa bàn Hà Nội, việc đưa các nghị quyếtcủa Đảng vào các quận, huyện gặp nhiều khó khăn do địch tiến hành khủng bốliên tục, cơ quan Đảng bộ luôn bị địch phá, bộ máy lãnh đạo phải lập đi lập lại
nhiều lần (tháng 3-1940, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Mạnh Đạt bị địch
bắt, tiếp sau là các đồng chí: Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Bi, Dương Nhật Đại chuyển công tác, Lưu Đức Hiểu Tháng 1-1941, đồng chí Phan Trọng Tuệ làm Bí thư liên tỉnh Hà Nội-Hà Đông-Sơn Tây; tháng 5-1941 đến tháng 2-1942, đồng chí Đào Duy Dếnh làm Bí thư ban cán sự Đảng Hà Nội Từ tháng 6-1942 đến tháng 11-1942 là Phan Bá Quát (sau này khi bị bắt, Phan Bá Quát đã cung khai, làm tổn hại đến cách mạng ở Hà Nội-Hà Đông) Từ đầu năm 1943 đến tháng 4-1943 là đồng chí Nguyễn Thọ Chân) Các tô’ chức Công hội, Thanh
niên phản đế, Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc cũng liên tiếp bị địchbắt, bị tù đày hoặc hy sinh Có thể nói đây là thời kỳ Hà Nội bị kẻ thù khủng bố
ác liệt nhất
Thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Trung ương, tháng 4-1943, Xứ ủyBắc Kỳ điều động đồng chí Lê Quang Đạo về Hà Nội, lập Ban Cán sự Đảnggồm 3 người do đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư (thay đồng chí Nguyễn Thọ
Chân) Đồng chí Lê Quang Đạo vẫn tiếp tục tham gia Ban biên tập báo Cứu
quốc, Cờ giải phóng và phụ trách các lớp huấn luyện Việt Minh ỏ chiến khu
Hoàng Hoa Thám
Tháng 6-1943, Xứ ủy Bắc Kỳ họp hội nghị ồ chùa An Đà, huyện ứngHòa, nay thuộc thành phố Hà Nội Dự hội nghị có các đồng chí: Trần Tử Bình,Ngô Thế Sơn, Lê Quang Đạo, Lê Liêm, Trần Thị Minh Châu, Văn Tiến Dũng.Đồng chí Hoàng Quốc Việt, ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng chủ trì hộinghị Hội nghị bàn biện pháp để mở rộng phong trào cách mạng, đặc biệt ở đô
Trang 25thị Tại hội nghị này, đồng chí Lê Quang Đạo được bổ sung vào Thường vụ Xứ
ủy Bắc Kỳ
Đồng chí Lê Quang Đạo đã cùng Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳtheo sát tình hình Hà Nội, chỉ đạo Ban Cán sự Đảng Hà Nội duy trì và giữ vữngngọn lửa đấu tranh chống phát xít Nhật - Pháp Ban Cán sự Đảng đã tập trungmọi cố gắng trước tiên vào công tác vận động công nhân trong các nhà máy(nhà máy điện, nhà máy nước, nhà máy in ), xây dựng, phát triển tổ chức, đấutranh đòi quyền lợi thiết thực hằng ngày; lựa chọn những cán bộ, đảng viên cónăng lực vào hoạt động trong một số xí nghiệp quan trọng như Nhà máy xe lửa,các nhà máy sửa chữa ô tô, sửa chữa súng đạn của Pháp, Nhật) Mùa thu năm
1943, chi bộ đầu tiên của công nhân được tổ chức, lấy tên là chi bộ LươngKhánh Thiện, do đồng chí Nguyễn Quyết làm Bí thư
Đầu năm 1944, Đảng chủ trương tăng cường huấn luyện để nâng caotrình độ cán bộ nòng cốt chuẩn bị các điều kiện cho việc giành chính quyền.Trên cương vị Bí thư Ban Cán sự Đảng Thành phố Hà Nội, đồng chí Lê QuangĐạo được triệu tập đi dự một lớp huấn luyện chính trị - quân sự tại Ninh Bình.Phần học chính trị do đồng chí Hoàng Quốc Việt phụ trách; phần học quân sự
do đồng chí Trần Tử Bình phụ trách Các lớp huấn luyện chính trị, quân sự đãgóp phần thúc đẩy phong trào cách mạng ở Hà Nội và Bắc Kỳ, chuẩn bị tích cựccho khởi nghĩa giành chính quyền
Trên cương vị Bí thư Ban Cán sự Đảng Thành phố Hà Nội, đồng chí LêQuang Đạo đã thể hiện rõ tài năng lãnh đạo của mình Đồng chí đã chỉ đạo mởcác lớp bồi dưỡng lý luận về Đảng và công tác cách mạng cho Đoàn Thanh niênCứu quốc Hà Nội và Hội Văn hóa cứu quốc
Trong hoàn cảnh liên tục bị địch khủng bố, bắt bớ, tù đày, các đảng viênluôn nêu cao tinh thần chủ động, bám sát cơ sở, tuyên truyền vận động quầnchúng, bảo vệ Đảng, ủng hộ Mặt trận Việt Minh Nhờ đó, phong trào cách mạngđược duy trì bền bỉ ở cả thành thị và nông thôn Nhiều đồng chí dù tạm thời bịmất liên lạc vối tổ chức nhưng vẫn nêu cao tinh thần trách nhiệm của người cán
Trang 26bộ cách mạng, tổ chức in báo, rải truyền đơn bí mật, lãnh đạo quần chúng đấutranh giành quyền lợi thiết thân hằng ngày Tức tối trước những hoạt động cáchmạng của ta, cả phát xít Nhật và Pháp đều giăng lưới mật thám khắp nơi tìm bắtcác đồng chí trong Xứ ủy, Thành ủy, trong đó có đồng chí Lê Quang Đạo Được
sự bao bọc của các cơ sở trong dân, chúng đã bắt hụt đồng chí nhiều lần và đặtbiệt danh cho đồng chí là “Đốc lý đỏ”, một chức danh của người đứng đầu cơquan hành chính của địch ở Hà Nội
Bí thư Thành ủy Hải Phòng, trực tiếp lãnh đạo bảo vệ chính quyền cách mạng (1945-1946)
Cuối năm 1945, đồng chí Lê Quang Đạo được Trung ương điều về HảiPhòng trong tình thế vô cùng khó khăn, phức tạp Ở Hải Phòng, từ cuối năm
1945, ngoài quân Nhật ở các tỉnh ven biển dồn về, còn 2 vạn quân đội TrungHoa Dân quốc ở tỉnh Vân Nam tràn sang, ngày đêm quấy nhiễu, cướp phá, giếtngười, gây cho ta rất nhiều khó khăn Lực lượng Việt Nam Quốc dân đảng (Việtquốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh Hội (Việt cách) ra sức tuyên truyềnxuyên tạc các chính sách của ta, vu khống và bắt cóc cán bộ Lúc này tổ chứcThành ủy vẫn chưa được khôi phục Chính quyền cơ sở chưa được củng cố Lựclượng vũ trang cách mạng đã được hình thành nhưng còn non yếu, số lượng ít,chưa được huấn luyện, trang bị vũ khi còn thô sơ Song đồng chí Lê Quang Đạo
đã nhanh chóng hòa nhập vào công việc
Thực hiện chủ trương của Trung ương và Xứ ủy, đồng chí Lê Quang Đạo
đã bí mật, khẩn trương lập ngay bộ máy lãnh đạo, tổ chức cơ quan Thành ủyHải Phòng để lãnh đạo phong trào cách mạng và củng cố chính quyền Cuốinăm 1945, Thành ủy được lập lại gồm 09 đồng chí, do đồng chí Lê Quang Đạolàm Bí thư
Ngày sau khi Thành ủy tái lập, dưới sự chỉ đạo của Bí thư Lê Quang Đạo,Thành ủy Hải Phòng đã họp và xác định những vấn đề lớn cần giải quyết: xâydựng và phát triển đẩng viên, phục hồi và phát triển cơ sở đảng, củng cố lựclượng cách mạng về mọi mặt, đẩy mạnh các hoạt động của các tổ chức cứu quốc
Trang 27trong mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, trấn áp bọnphản cách mạng, đồng thời thực hiện chính sách đối ngoại khôn khéo với kẻthù.
Nhận thức vai trò quan trọng của lực lượng vũ trang, đồng chí Lê QuangĐạo hết sức chú trọng xây dựng và củng cố các lực lượng xung kích Hải Phòng
đã tổ chức 3 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn, hàng chục đội tự vệ chiến đấu và hàngnghìn tự vệ cứu quốc, sẵn sàng chiến đấu Tổ chức cảnh sát xung phong HảiPhòng (sau đổi tên là Công an xung phong) được thành lập, trở thành một trongnhững lực lượng nòng cốt bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng vàtài sản của nhân dân Trong nội thành, khắp nhà máy, công xưởng, đường phôcũng như trong vùng nông thôn, đâu đâu cũng dấy lên không khí toàn dân vũtrang sôi nổi Cuối năm 1945, để tăng cưòng thông nhất chỉ huy về mặt quân sựcác tỉnh miền duyên hải, Trung ương Đảng và Chính phủ ra quyết định thànhlập Chiến khu III gồm 7 tỉnh: Hải Ninh, Quảng Yên, Hải Phòng, Kiến An, HảiDương, Hưng Yên và Thái Bình Bộ chỉ huy Chiến khu III đóng tại Hải Phòng
Để đối phó với quân đội Trung Hoa dân quốc, đồng chí Lê Quang Đạo đãphổ biến và quán triệt Đảng bộ Hải Phòng nghiêm chỉnh chấp hành chủ trươngcủa Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh: kiên quyết bảo vệ chính quyền,nhưng mềm dẻo đối phó với quân Tưởng Ta nhấn mạnh trách nhiệm của quânđội Trung Hoa là vào Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật Nếu quân đội TrungHoa dân quốc xâm phạm chủ quyền thì ta sẵn sàng đối phó bằng cách tích cực
đề kháng, huy động toàn lực lượng quần chúng biểu tình phản đối
Dưới sự chỉ đạo tài tình, khôn khéo của đồng chí Lê Quang Đạo, về cơbản ta đề phòng được mọi cuộc khiêu khích và tránh xung đột vũ trang vối quânđội Trung Hoa Dân quốc Các đơn vị quân đội hầu hết rút khỏi thành phố, vềđóng ở các vùng nông thôn kế cận Việc canh gác bảo vệ cơ quan và giữ gìn anninh trật tự giao cho lực lượng công an và tự vệ chiến đấu
Vào cuối tháng 2-1946, tình hình cả nước nói chung và thành phố HảiPhòng nói riêng vô cùng rối ren, phức tạp Hiệp định Hoa - Pháp chưa được ký
Trang 28kết chính thức, cuộc thương lượng giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ ta chưa
có kết quả, nhưng Pháp vẫn ngang nhiên tiến vào vùng biển Hải Phòng Nhậnđược tin này, đồng chí Lê Quang Đạo đã lập tức tổ chức họp Thành ủy, các tổchức chính quyền, các đoàn thể quần chúng, lực lượng vũ trang và kêu gọitoàn dân đoàn kết chiến đấu
Đầu tháng 3-1946, hạm đội pháp đến vịnh Bắc bộ Trước tình hình đó,Thường vụ Trung ương Đảng họp và ra Chỉ thị “Tình hình và chủ trương” (ngày3-3-1946) Sau khi phân tích tình hình của ta và địch, bản Chỉ thị nêu rõ chủtrương của ta: “Nếu Pháp giữ chủ trương cho Đông Dương tự trị theo bảnTuyên ngôn ngày 24-3, thì nhất định đánh, và rất có thể đánh lâu dài theo lối dukích nhưng nếu Pháp công nhận Đông Dương tụ chủ thì có thể hòa, hòa để phátán thâm thù của bọn Tàu trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Phápcòn sót lại, chúng định hãm ta vào tình thế cô độc, buộc ta phải đánh với nhiều
kẻ thù một lúc để giữ thực lực của ta tiêu hao” Thường vụ Trung ương Đảngcòn nhắc nhở nhân dân cả nước: “Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán
với Pháp, không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng
kháng chiến bất cứ lức nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến và sửa soạn ấy, và
nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiếncủa dân tộc ta” Nhận được Chỉ thị này, Bí thư Thành ủy Lê Quang Đạo tích cựctriển khai kế hoạch sẵn sàng chiến đấu và chuẩn bị cho nhân dân thành phố triệt
để tản cư, sẵn sàng tiêu thổ kháng chiến khi có lệnh
Đổ bộ lên Hải Phòng, thực dân Pháp đã móc nối với bọn tay chân cũ vàchiêu mộ thêm mới Chúng tự động chiếm đóng một số địa điểm không theoqưy định của Hiệp định, như Nhà máy phốt phát Phong Thành Lợi, Ngân hàngPháp - Hoa và đòi gác chung với ta ở cầu Hạ Lý, cầu xi măng, Nhà hát thànhphố Chúng bắt cóc cán bộ và nhân dân, cướp của, giết người, cho bọn tay
chân đặt mìn phá trụ sở ủy ban nhân dân thành phố, phá trụ sợ báo Dân chủ và
phòng thông tin, ném lựu đạn vào khách sạn Đông Á và một số nhà của cán bộ
Trang 29Thời gian này, công việc của đồng chí Lê Quang Đạo tăng lên gấp bội.Đồng chí làm việc miệt mài, không kể ngày đêm, chỉ đạo Thành ủy thực hiệnnghiêm túc chủ trương “Hòa để tiến” của Trung ương, đồng thời phải hết sứckhẩn trương chuẩn bị sẵn sàng đôí phó nếu chiến tranh xảy ra Thành ủy và Mặttrận Việt Minh tổ chức nhiều cuộc bãi công, mít tinh, tuần hành thị uy và tổchức một đợt giải thích về chủ trương mới của Đảng Đồng chí Lê Quang Đạodành nhiều thời gian đi đến nhiều nơi trong thành phố, gặp các đơn vị Vệ quốcđoàn, tự vệ, thanh niên; có nhiều cuộc nói chuyện để cán bộ, nhân dân thôngsuốt đường lối của Đảng
Có thể nói, dù chỉ có thời gian ngắn trên cương vị Bí thư Thành ủy HảiPhòng, trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nguy hiểm, đồng chí Lê Quang Đạo
đã nhanh chóng nắm bắt tình hình, đề ra sách lược khôn khéo, lãnh đạo tài tìnhphong trào cách mạng, vừa xây dựng đời sống mới cho nhân dân, vừa đối phóvới nhiều kẻ thù Nhờ vậy, Hải Phòng giữ vững được chính quyền nhân dân, mởrộng Mặt trận dân tộc thấng nhất, đẩy lùi nạn đói và nạn dốt, xây dựng được lựclượng vũ trang và nửa vũ trang đông đảo, mạnh mẽ Nhân dân Hải Phòng đãđánh bại âm mưu lật đổ chính quyển của quân dội Tưỏng Giới Thạch và tay sai,bước đầu làm thất bại âm mưu phong tỏa và lấn chiếm Hải Phòng của đế quốcPháp Trong thắng lợi chung đó, có phần đóng góp rất quan trọng của đồng chí
Lê Quang Đạo
(1950-1954)
Hội nghị toàn quốc lẩn thứ ba của Đảng họp (từ ngày 21-1 đến ngày
2-2-1950 nêu lên yêu cầu then chốt lúc này là vấn đề đào tạo cán bộ cho quân đội,liên kết giữa giáo dục tư tưỏng và học tập kỹ thuật Thực hiện Nghị quyết củaHội nghị, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Nghị quyết củng cố Bộ Quốcphòng và kiện toàn bộ máy cơ quan quân sự Trung ương, quyết định đưa một số
Trang 30cán bộ có năng lực của Đảng từ các cơ quan hành chính, dân sự vào quân đội,phụ trách các mặt công tác quan trọng về tham mưu, chính trị, hậu cần.
Ngày 11-7-1950, Tổng cục Chính trị được thành lập trên cơ sở phát triển
từ Cục Chính trị Cục Tuyên huấn trong Tổng cục Chính trị thành lập trên cơ sỏsáp nhập Phòng Tuyên truyền và Phòng Huấn luyện Đồng chí Lê Quang Đạođược Thường vụ Trung ương Đảng cử phụ trách Cục Tuyên huấn, kiêm Giámđốc Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Có thể nói đây là bước ngoặt lớn, mở đầuthời kỳ hoạt động 28 năm liên tục trong quân ngũ của đồng chí
Ngày 7-7-1950, Bộ Tổng tư lệnh mở Chiến dịch Biên giới Cao- Lạng (lấymật danh là Chiến dịch Lê Hồng Phong 2) Ngày 27-7-1950, Thường vụ Trungương Đảng ra Nghị quyết số 45-NQ/TW, thành lập Đảng ủy Mặt trận Đồng chí
Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy Mặt trận, Chỉ huy trưởngkiêm Chính ủy chiến dịch Ngày 28-7-1950, Bộ Tổng tư lệnh tổ chức thành lập
cơ quan chiến dịch, gồm phòng tham mưu, chính trị, hậu cần và chỉ định cáccán bộ phụ trách Đồng chí Lê Liêm được chỉ định làm Chủ nhiệm Chính trị,đồng chí Lê Quang Đạo làm Phó Chủ nhiệm Chính trị, phụ trách công tác tuyênhuấn của Chiến dịch Biên giới
Ngày 5-8-1950, đồng chí Lê Quang Đạo lên đường đi chiến dịch Đây làlần đầu tiên đồng chí được tham gia một chiến dịch tấn công lớn của nhữngbinh đoàn chủ lực, gồm cả bộ binh, pháo binh Trên cương vị là Phó Chủ nhiệmChính trị, đồng chí cùng với Đảng ủy và Phòng Chính trị một trận triển khaicông tác chính trị trên tất cả các mặt, các khâu công tác của bộ đội
Ngày 14-10-1950, Chiến dịch Biên giới kết thúc Sau 29 ngày đêm chiếnđấu, quân đội ta giành thắng lợi to lớn giải phóng một vùng rộng lớn gồm 5 thị
xã, 13 thị trấn và 35 vạn dân, mở rộng căn cứ Việt Bắc, khai thông biên giớiViệt - Trung Cuối tháng 11-1950, đồng chí Lê Quang Đạo tham dự Hội nghịtổng kết Chiến dịch Biên giới tại xã Tổng Quận, huyện Chợ Đồn, tỉnh TháiNguyên Báo cáo tổng kết, đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Nguyễn ChíThanh đều khẳng định sức mạnh, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị
Trang 31trong chiến dịch, chỉ ra một số thiếu sót; từ đó đúc kết nhiều kinh nghiệm có ýnghĩa thiết thực cho các chiến dịch tiếp theo.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, đồng chí Lê Quang Đạo được BanThường vụ Trung ương cử làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trịQuân đội nhân dân Việt Nam Để củng cố cơ quan Tổng cục Chính trị, hướngmọi hoạt động vào thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 26-2-1951, Chủ nhiệmTổng cục triệu tập Hội nghị cán bộ chủ chốt các cơ quan trực thuộc Tổng cục.Đồng chí Lê Quang Đạo tham dự Hội nghị Hội nghị ra nghị quyết về chỉ đạothực hiện công tác đảng, công tốc chính trị sáu tháng đầu năm 1951, củng cố tổchức cơ quan Tổng cục Đối với Cục Tuyên huấn, Hội nghị thống nhất giaonhiệm vụ chung là “tập trung huấn luyện cho việc Đảng ra công khai (giới thiệucho quần chúng, giáo dục cho đảng viên, chuẩn bị việc Đảng ra công khai); xemxét và chấn chỉnh nội dung huấn luyện và phương pháp chỉnh đốn ở các trường;
đề cao chiến thắng của Chiến dịch Trung du và động viên thực hiện nhiệm vụchiến dịch mới; biền soạn và xuất bản những sách và kinh nghiệm chiến dịch;xây dựng bộ máy tuyên huấn các cấp; vận động toàn Đảng, toàn quân viết báo;chấn chỉnh văn công; cung cấp tài liệu tuyên truyền quốc tế
Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, trước hết là xây dựngquân đội vững mạnh về chính trị đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh kháng chiến, đổngchí Lê Quang Đạo được giao nhiệm vụ trực tiếp chuẩn bị tổ chức Hội nghịchuyên đề Tuyên huấn toàn quân Đồng chí vừa tổ chức điều tra nghiên cứu,vừa bàn bạc, thảo luận với một số cán bộ để xác định chủ đề, nội dung của Hộinghị, nhằm nâng cao trình độ giác ngộ của bộ đội Tại Hội nghị Tuyên huấntoàn quân lần thứ nhất (tháng 8-1951), có hai bản báo cáo chính: Tích cực tiếnhành và nắm chắc việc lãnh đạo tư tưởng trong quân đội của Chủ nhiệm Tổngcục Chính trị Nguyễn Chí Thanh và nhiệm vụ, phương châm giáo dục chính trịtrong Quân đội của Cục trưởng Cục tuyên huấn Lê Quang Đạo Phát biểu tạiHội nghị, đồng chí Lê Quang Đạo khẳng định “Công tác giáo dục chính trị làlinh hồn, là mạch sống của bộ đội Muốn nâng cao trình độ giác ngộ chính trị,
Trang 32trình độ tư tưởng để nâng cao sức chiến đấu của toàn quân, cần phải tăng cườnggiáo dục chính trị trong quân đội”
Bước vào đông xuân 1953 - 1954, một cục diện mới diễn ra trên chiếntrường Đông Dương Pháp đổ quân xuống Điện Biên Phủ, xây dựng nơi đâythành tập đoàn cứ điểm vững chắc mà chung cho là “bất khả xâm phạm”.Chúng hy vọng nơi đây, chủ lực của Pháp sẽ đối đầu với chủ lực của ta và giànhthắng lợi quyết định
Ngay sau khi Pháp cho quân nhảy du xuống Điện Biên Phủ, ngày
6-12-1953, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch ĐiệnBiên Phủ và thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tưlệnh Tiếp đó, Bộ Chính trị quyết dịnh thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch do Đạitướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng ủy, Tổng Chỉ huy chiến dịch Đồngchí Lê Liêm được chỉ định làm Chủ nhiệm Chính trị mặt trận Đổng chí LêQuang Đạo làm Phó Chủ nhiệm Chính trị mặt trận
Đồng chí Lê Quang Đạo được Bộ Tư lệnh và Chủ nhiệm Chính trị chiếndịch phân công xuống theo dõi, chỉ đạo đốc đơn vị pháo binh, đưa pháo vào trậnđịa theo kế hoạch tác chiến Đây được xem là một trong những nhiệm vụ rấtnặng nề, khó khăn và vô cùng quan trọng Với phương châm “Đánh nhanh,thắng nhanh”, nếu thời gian đưa pháo vào kéo dài, địch có điều kiện củng cốcông sự và tăng thêm quân sẽ rất khó khăn cho ta Ngày 25-1-1954, nhiệm vụkéo pháo vào trân địa hoàn thành Đồng chí Lê Quang Đạo nhận lệnh của Đạitướng Võ Nguyên Giáp, tạm giữ chức vụ Chính ủy Đại đoàn 308 thay đồng chíSong Hào bị ốm Đại đoàn 308 là đại đoàn có bề dày chiến công, được coi làđơn vị mạnh nhất về đánh công sự vững chắc, là đại đoàn chủ lực đầu tiên củaquân đội ta Trong phương án “Đánh nhanh, thắng nhanh”, đại đoàn được chọnlàm đơn vị chủ công với nhiệm vụ đột phá thẳng vào khu trung tâm tập đoàn cứđiểm Điện Biên Phủ
chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
Trang 33Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong ủy ban Liên hiệp Trung ương, trướcyêu cầu xây dựng quân đội trong giai đoạn mới, ngày 14-5-1955, Chủ tịch HồChí Minh ký sắc lệnh số 232-SL, bổ nhiệm Lê Quang Đạo là Phó Chủ nhiệmTổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Đồng chí được phân công phụtrách công tác tuyên huấn quân đội.
Được tôi rèn qua thực tiễn chiến đấu chống thực dân Pháp, nắm vữngcông tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, Lê Quang Đạo đã cùng tập thểlãnh đạo Tổng cục Chính trị đề xuất nhiểu chủ trương đúng đắn và tổ chức thựchiện đồng bộ các giải pháp như tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, kiệntoàn tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, tuyên truyền giáo dục văn hóa cho bộđội nhằm củng cố, nâng cao sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang trongtình hình mới; đồng thời, chỉ đạo các cấp phải thường xuyên giáo dục cán bộ,chiến sĩ thực hiện tốt công tác dân vận, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội
Cụ Hồ”; chấn chỉnh kịp thời tư tưởng chủ quan, mất cảnh giác sau ngày miềnbắc được hòa bình
Với tầm hiểu biết sâu rộng, kết hợp thực tế với lý luận, đồng chí LêQuang Đạo đã trực tiếp biên soạn một số tài liệu có giá trị về chỉnh huấn, chỉnhquân, nhằm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng
Năm 1958, đồng chí Lê Quang Đạo dự hội nghị chính trị toàn quân thảoluận dự thảo Điều lệ về công tác chính trị, về xây dựng hệ thống các trường đàotạo cán bộ chính trị Cũng trong năm 1958, đồng chí được Nhà nước phongquân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội, từngày 5 đến ngày 10-9-1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Lời khai mạc Đại hội
nêu rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
đấu tranh hòa bình thông nhất nước nhà” Người cũng nhấn mạnh vị trí và
nhiệm vụ cách mạng ở mỗi miền: “Miền Bắc giàu mạnh là cơ sở vững chắc củacuộc đấu tranh thông nhất nước nhà”, miến Nam quyết định trực tiếp đối với sựnghiệp giải phóng miền Nam Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương
Trang 34Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng và đồng chí Lê Duẩnđược bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đồng chí LêQuang Đạo được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
ủy viên Quân ủy Trung ương Điều này thể hiện sự tín nhiệm của Đảng đôì vớiđồng chí Lê Quang Đạo
Sau Đại hội Đảng, công tác xây dựng quân đội được tiến hành song song
ỏ cả hai miền Miền Bắc đẩy mạnh việc xây dựng quân đội tiến lên chính quy,hiện đại Để tàng cường chi viện sức ngưòi, sức của cho tiền tuyến, chấp hànhchỉ thị của Bộ Chính trị vể việc mồ đường vận tải từ Bắc vào Nam, ngày 19-5-
1959, Tổng Quân ủy quyết định thành lập Đoàn vận tải quân sự 559 xuyênTrưòng Sơn và Đoàn vận tải 759 vượt Biển Đông
Công tác tổ chức, cán bộ của quân đội tiếp tục được hoàn thiện, củng cố.
Bộ Quốc phòng yêu cầu tất cả cán bộ cao cấp phải đi học những lớp dài hạnhoặc ngắn hạn tại các trường quân sự cao cấp ở Liên Xô và Trung Quốc Cuốinăm 1960, đồng chí Lê Quang Đạo được cử sang Liên Xô học ở Học viện Quân
sự cấp cao Đồng chí có điều kiện nắm vững hơn những nguyên lý của chủnghĩa Mác - Lênin; sự khác nhau về quan điểm giữa hai đảng Liên Xô và TrungQuốc; những cuộc đấu tranh mới về tư tưởng trong Đảng Cộng sản Năm 1961
Giữa năm 1961, Viện kiểm sát quân sự Trung ương ra đời Đồng chí LêQuang Đạo được phân công kiêm nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự
Trung ương Thời gian này, đồng chí viết một số bài đăng trên tạp chí Quân đội
nhân dân, như bài: “Về công tác tư tưởng và công tác tổ chức” (tháng 9-1962),
nêu lên nguyên tắc quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng là thống nhấtgiữa tư tưởng và tổ chức; yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên trong hoạt động thựctiễn phải kết hợp chặt chẽ, đúng đắn hai mặt công tác này
Trước tình hình địch đánh phá ngày càng ác liệt, đồng chí Lê Quang Đạonhận thấy cần phải có những biện pháp để cổ vũ quyết tâm chiến đấu của cácchiến sĩ trên các chiến trường, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của địch Là ngườiphụ trách công tác tuyên huấn- quân đội, đồng chí Lê Quang Đạo đề nghị Ban
Trang 35Tuyên giáo Trung ương tăng cường chỉ đạo báo chí, đài phát thanh đưa tin vàbình luận quân sự Theo đề nghị của Tổng cục Chính trị, ngoài tin điện về chiếnthắng và điện khen gửi đơn vị, trong công tác tuyên truyền, động viên đồng bào
và chiến sĩ cả nước còn xuất hiện thêm hình thức Thông cáo chiến thắng Các
thông cáo này đều do Cục Tuyên huấn chuẩn bị, đồng chí Lê Quang Đạo trựctiếp thông qua và chuyển sang Bộ Tổng tham mưu, người ký duyệt là Đại tướng
Võ Nguyên Giáp Qua sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, chương trình phátthanh Quân đội nhân dân của Cục Tuyên huấn trực tiếp đưa tin nhanh nhất vềchiến sự đến toàn quân và toàn dân ở cả hai miền đất nước, kịp thời cổ vũ tinhthần chiến đấu của đồng bào và chiến sĩ cả nước
Khi chiến tranh lan rộng, công tác tuyên truyền của quân đội ngày càngbộn bề công việc Công tác địch vân, tuyên truyền còn nhằm vào các đối tượngphía địch nên đòi hỏi cao hơn Tại miền Nam, dưới sức ép của Mỹ, một số nướcnhư Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Thái Lan đã gửi quân đến Việt Nam thamchiến Bộ phận phát thanh quân đội được tăng cường thêm các phát thanh viênnói tiếng nước ngoài Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng việntrợ giúp chung ta một đài phát thanh nhỏ và các phát thanh viên Triều Tiên Đểtăng cường cho công tác này, đồng chí Lê Quang Đạo đã đề nghị điều đồng chíPhạm Chí Nhân từ Cục Tuyên huấn sang làm Cục phó Cục Địch vân, chuyênphụ trách chương trình phát thanh tiếng nước ngoài
Từ năm 1965, đồng chí Lê Quang Đạo là Uỷ viên Thường trực Quân ủyTrung ương
Đồng chí Lê Quang Đạo hoạt động trong Quân đội nhân dân Việt Nam
28 năm (1950-1978) Đó là những năm tháng hào hùng nhất của dân tộc, với
hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.Gần như suốt những năm chiến tranh ấy, đồng chí đã có mặt ở những chiếntrường nóng bỏng nhất với những cương vị quan trọng: Cục trưởng Cục Tuyênhuấn Quân đội nhân dân Việt Nam, phụ trách công tác Tuyên huấn trong chiếndịch Biên giới; Phó Chủ nhiệm Chính trị chiến dịch Biên giới và chiến dịch