1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đáp án modum 3 THPT môn ngữ văn

34 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 168,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Trình bày các khái niệm: đo lường, đánh giá, kiểm tra Đo lường:•Là việc so sánh một sự vật, hiện tượng với một thước đo hay chuẩn mực , có khả năng trình bày kết quả dưới dạng thông tin định lượng. Nói cách khác, đo lường liên quan tới việc sử dụng những con số vào quá trình lượng hóa các sự kiện, hiện tượng hay thuộc tính.•Trong lĩnh vực giáo dục, thước đo trên đây của đo lường thường là tiêu chuẩn hoặc tiêu chí. Tham chiếu theo tiêu chuẩn là đối chiếu kết quả cần đạt của người này với người khác. Ứng với tham chiếu này là các đề thi chuẩn hóa (Ví dụ như IELTS, SAT, ...). Tham chiếu theo tiêu chí là đối chiếu kết quả đạt được của HS với các mục tiêu, yêu cầu cần đạt của bài học, của hoạt động giáo dục. Đánh giá:•Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp và diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá (Ví dụ như kiến thức, kĩ năng, năng lực của HS, kế hoạch dạy học, chính sách giáo dục) Qua đó hiểu biết và đưa ra được các quyết định cần thiết về đối tượng.•Đánh giá trong lớp học là quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin liên quan đến hoạt động học tập và trải nghiệm của học sinh nhằm xác định những gì HS biết hay chưa biết, hiểu hay chưa hiểu làm được hay chưa làm được. Từ đó đưa ra quyết định phù hợp tiếp theo trong quá trình giáo dục HS.•Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin về kết quả học tập của HS và được diễn giải bằng điểm số chữ hoặc nhận biết của GV, từ đó biết được mức độ đạt được của HS trong biểu điểm đang sử dụng hoặc trong tiêu chí đánh giá trong nhận xét của GV. Kiểm tra:Kiểm tra là một cách tổ chức đánh giá (hoặc định giá), do đó nó có ý nghĩa như đánh giá (hoặc định giá). Việc kiểm tra chú ý nhiều đến việc xây dựng công cụ đánh giá như câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra. Các công cụ này được xây dựng trên một căn cứ xác định, chẳng hạn như đường phát triển năng lực hoặc các rubic trình bày các tiêu chí đánh giá.Câu 2: Thầy cô hãy cho ý kiến nhận xét của mình về sơ đồ hình sau:

Trang 1

Đáp án tự luận Mô đun 3 môn Ngữ văn THPT

Câu 1: Trình bày các khái niệm: đo lường, đánh giá, kiểm tra

* Đo lường:

 Là việc so sánh một sự vật, hiện tượng với một thước đo hay chuẩnmực , có khả năng trình bày kết quả dưới dạng thông tin địnhlượng Nói cách khác, đo lường liên quan tới việc sử dụng nhữngcon số vào quá trình lượng hóa các sự kiện, hiện tượng hay thuộctính

 Trong lĩnh vực giáo dục, thước đo trên đây của đo lường thường làtiêu chuẩn hoặc tiêu chí Tham chiếu theo tiêu chuẩn là đối chiếukết quả cần đạt của người này với người khác Ứng với tham chiếunày là các đề thi chuẩn hóa (Ví dụ như IELTS, SAT, ) Thamchiếu theo tiêu chí là đối chiếu kết quả đạt được của HS với cácmục tiêu, yêu cầu cần đạt của bài học, của hoạt động giáo dục

* Đánh giá:

 Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp và diễngiải thông tin về đối tượng cần đánh giá (Ví dụ như kiến thức, kĩnăng, năng lực của HS, kế hoạch dạy học, chính sách giáo dục)Qua đó hiểu biết và đưa ra được các quyết định cần thiết về đốitượng

 Đánh giá trong lớp học là quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giảithông tin liên quan đến hoạt động học tập và trải nghiệm của họcsinh nhằm xác định những gì HS biết hay chưa biết, hiểu hay chưahiểu làm được hay chưa làm được Từ đó đưa ra quyết định phùhợp tiếp theo trong quá trình giáo dục HS

 Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin về kết quảhọc tập của HS và được diễn giải bằng điểm số/ chữ hoặc nhận biết

Trang 2

của GV, từ đó biết được mức độ đạt được của HS trong biểu điểmđang sử dụng hoặc trong tiêu chí đánh giá trong nhận xét của GV.

* Kiểm tra:

Kiểm tra là một cách tổ chức đánh giá (hoặc định giá), do đó nó có ýnghĩa như đánh giá (hoặc định giá) Việc kiểm tra chú ý nhiều đến việcxây dựng công cụ đánh giá như câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra Các công cụnày được xây dựng trên một căn cứ xác định, chẳng hạn như đường pháttriển năng lực hoặc các rubic trình bày các tiêu chí đánh giá

Câu 2: Thầy cô hãy cho ý kiến nhận xét của mình về sơ đồ hình sau:

* Quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩmchất, năng lực HS thể hiện như sau: Đánh giá vì học tập, đánh giá là họctập, đánh giá kết quả học tập

- Đánh giá vì học tập:

 Đánh giá cần diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học để GVphát hiện sự tiến bộ của HS từ đó hỗ trợ, điều chỉnh quá trình dạyhọc Mục đích của đánh giá nhằm cung cấp thông tin để GV và Hscải thiện chất lượng dạy học Kết quả của đánh giá

 này không nhằm so sánh giữa các HS với nhau mà để làm nổi bậtnhững điểm mạnh và điểm yếu của mỗi HS và cung cấp cho HSthông tin phản hồi để HS đó tiếp tục việc học của mình ở các giaiđoạn tiếp theo Với đánh giá này, GV giữ vai trò chủ đạo

 nhưng HS cũng được tham gia vào quá trình đánh giá HS có thể

tự đánh giá hoặc đánh giá lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của GV, qua

đó học tự đánh giá được khả năng học tập của mình để điều chỉnhhoạt động học tập được tốt hơn

- Đánh giá là học tập:

Trang 3

 Đánh giá cần diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học(đánhgiá quá trình) trong đó GV tổ chức để HS tự đánh giá và đánh giáđồng đẳng, coi đó là một hoạt động học tập để HS thấy được sựtiến bộ của mình so với yêu cầu cần đạt của bài học/môn học, từ đó

HS điều chỉnh việc học Với đánh giá này, HS giữ vai trò chủ đạotrong quá trình đánh giá, HS tự giám sát hoặc theo dõi quá trìnhhọc tập của mình theo những tiêu chí do GV cung cấp Kết quả nàykhông được ghi vào học bạ mà chỉ có vai trò như một nguồn thôngtin phản hồi để người đọc tự ý thức khả năng học tập của mình ởmức độ nào từ đó thiết lập mục tiêu học tập cá nhân và lên kếhoạch học tập tiếp theo

 Đánh giá kết quả học tập : là đánh giá những gì HS đạt được tạithời điểm cuối một giai đoạn giáo dục và được đối chiếu với chuẩnđầu ra nhằm xác nhận kết quả đó so với yêu cầu cần đạt củabài/môn học/ cấp học GV là trung tâm trong quá trình đánh giá vàngười học không được tham gia vào các khâu của quá trình đánhgiá

>> Từ đó ta thấy quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá theo hướngphát triển phẩm chất, năng lực HS khác với quan điểm truyền thống vềkiểm tra đánh giá về kĩ thuật đánh giá, quá trình và đối tượng tham giađánh giá

Câu 3: Sự khác biệt giữa mục đích chủ yếu của đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức, kĩ năng là gì?

Về bản chất thì không có mâu thuẫn giữa đánh giá năng lực và đánh giákiến thức kỹ năng, mà đánh giá năng lực được coi là bước phát triển caohơn so với đánh giá kiến thức, kỹ năng Để chứng minh HS có năng lực ởmột mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho HS được giải quyết vấn đề trongtình huống mang tính thực tiễn Khi đó HS vừa phải vận dụng những kiến

Trang 4

thức, kỹ năng đã được học ở nhà trường, vừa phải dùng những kinhnghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường(gia đình, cộng đồng và xã hội) Như vậy, thông qua việc hoàn thành mộtnhiệm vụ trong bối cảnh thực,người ta có thể đồng thời đánh giá được cả

kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm củangười học Mặt khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vàochương trình giáo dục môn học như đánh giá kiến thức, kỹ năng, bởinăng lực là tổng hòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giátrị, chuẩn mực đạo đức,…được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ

sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con người.Có thể tổng hợpmột số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lực người học vàđánh giá kiến thức, kỹ năng của người học như sau:

Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lựcngười học và đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học như sau:

Tiêu chí so

sánh Đánh giá năng lực

Đánh giá kiến thức, kĩ năng

1 Mục đích

chủ yếu nhất

- Đánh giá khả năng HS vậndụng các kiến thức, kỹ năng

đã học vào giải quyết vấn đềthực tiễn của cuộc sống

- Vì sự tiến bộ của người học

so với chính họ

- Xác định việc đạt kiếnthức, kỹ năng theo mụctiêu của chương trình giáodục

- Đánh giá, xếp hạng giữanhững người học với nhau

2 Ngữ cảnh

đánh giá

Gắn với ngữ cảnh học tập vàthực tiễn cuộc sống của HS

Gắn với nội dung học tập(những kiến thức, kỹ năng,thái độ) được học trongnhà trường

3 Nội dung - Những kiến thức, kỹ năng, - Những kiến thức, kỹ

Trang 5

đánh giá

thái độ ở nhiều môn học,nhiều hoạt động giáo dục vànhững trải nghiệm của bảnthân HS trong cuộc sống xãhội (tập trung vào năng lựcthực hiện)

- Quy chuẩn theo các mức độphát triển năng lực của ngườihọc

năng, thái độ ở một mônhọc

- Quy chuẩn theo việcngười học có đạt được haykhông một nội dung đãđược học

5 Thời điểm

đánh giá

Đánh giá mọi thời điểm củaquá trình dạy học, chú trọngđến đánh giá trong khi học

Thường diễn ra ở nhữngthời điểm nhất định trongquá trình dạy học, đặc biệt

là trước và sau khi dạy

6 Kết quả

đánh giá

- Năng lực người học phụthuộc vào độ khó của nhiệm

vụ hoặc bài tập đã hoànthành

- Thực hiện được nhiệm vụcàng khó, càng phức tạp hơn

sẽ được coi là có năng lựccao hơn

- Năng lực người học phụthuộc vào số lượng câuhỏi, nhiệm vụ hay bài tập

đã hoàn thành

- Càng đạt được nhiều đơn

vị kiến thức, kỹ năng thìcàng được coi là có nănglực cao hơn

Câu 4: Nêu tên các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.

Trang 6

Các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, nănglực học sinh:

- Đảm bảo tính toàn diện và tính linh hoạt: Đánh giá phẩm chất, năng lựccủa HS là đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ và sự vận dụng chúng đểgiải quyết thành công các tình huống thực tiễn Do vậy cần sử dụng đadạng, linh hoạt các phương pháp nhằm mục đích mô tả hoàn chỉnh, chínhxác và toàn diện năng lực HS

- Đảm bảo tính phát triển: Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình kiểmtra, đánh giá, có thể phát hiện sự tiến bộ của HS , chỉ ra những điều kiện

để cá nhân đạt kết quả tốt hơn về phẩm chất và năng lực; phát huy khảnăng tự cải thiện của Hs Trong hoạt động dạy học và giáo dục

- Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn: Để chứng minh người học

có phẩm chất và năng lực ở mức độ nào đó, phải tạo cơ hội để họ đượcqỉai quyết vấn đề trong tình huống, bối cảnh mang tính thực tiễn Vì vậy,kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS chútrọng xây dựng những tình huống, bối cảnh thực tiễn để HS được trảinghiệm và thể hiện mình

- Đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học: Mỗi môn học đều có yêu cầuriêng về năng lực đặc thù được hình thành cho HS, vì vậy, việc kiểm trađánh giá cũng phải đảm bảo tính đặc thù của môn học nhằm định hướngcho GV lựa chọn và sử dụng các PP,công cụ đánh giá phù hợp với mụctiêu và yêu cầu cần đạt của môn học

Câu 5: Tại sao có thể nói quy trình 7 bước kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh tạo nên vòng tròn khép kín?

- 7 bước kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh tạo nên vòng tròn khép kín

vì kiểm tra, đánh giá là một phần không thể thiếu được của quá trình dạyhọc nhằm giúp HS tiến bộ Kiểm tra, đánh giá vì sự tiến bộ nghĩa là quá

Trang 7

trình kiểm tra, đánh giá phải cung cấp những thông tin phản hồi giúp HSbiết mình tiến bộ đến đâu, những mảng kiến thức/kĩ năng nào có sự tiến

bộ, mảng kiến thức/kĩ năng nào còn yếu để điều chỉnh quá trình dạy vàhọc Không chỉ GV biết cách thức, các kĩ thuật đánh giá HS mà quantrọng không kém là HS phải học được cách đánh giá của GV, phải biếtđánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá kết quả học tập rèn luyện của chínhmình Có như vậy, HS mới tự phản hồi với bản thân xem kết quả học tập,rèn luyện của mình đạt mức nào/đến đâu so với yêu cầu, tốt hay chưa tốtnhư thế nào Với cách hiểu đánh giá ấy mới giúp hình thành năng lực của

HS, tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp HS nhận ra sựtiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập

- Kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HSđược thực hiện theo quy trình 7 bước Quy trình này được thể hiện cụ thể:Xác định mục đích đánh giá và lựa chọn năng lực cần đánh giá Xây dựng

kế hoạch kiểm tra đánh giá Xác định các tiêu chí/kĩ năng thể hiện củanăng lực Xây dựng bảng kiểm đánh giá mức độ đạt được cho mỗi kĩnăng Lựa chọn công cụ để đánh giá kĩ năng Thiết kế công cụ đánhgiá.Thẩm định và hoàn thiện công cụ Do đó đánh giá năng lực người học

là một khâu then chốt trong dạy học Để đánh giá đúng năng lực ngườihọc, cần phải xác định được hệ thống năng lực chung và năng lực chuyênngành, xác định được các thành tố cấu thành năng lực và lựa chọn đượcnhững công cụ phù hợp để đánh giá, sao cho có thể đo được tối đa cácmức độ thể hiện của năng lực

Câu 6: Thầy, cô hiểu thế nào là đánh giá thường xuyên?

ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

* KHÁI NIỆM: Đánh giá thường xuyên là hoạt động đánh giá diễn ra

trong tiến trình thực hiện dạy học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV và

Trang 8

HS nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động dạy học Đánh giá thường xuyênđược xem là đánh giá vì quá trình học tập hoặc vì sự tiến bộ của ngườihọc.

* MỤC ĐÍCH:

- Thu thập minh chứng liên quan đến kết quả học tập của HS để cung cấpnhững phjarn hồi cho GV và HS biết những gì họ làm được và chưa làmđược so với yêu cầu để điều chỉnh hoạt động dạy và học, đồng thờikhuyến nghị để HS làm tốt hơn trong thời điểm tiếp theo

- Tiên đoán hoặc dự báo những bài học hoặc chương trình tiếp theo đượcxây dựng như thế nào cho phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí của HS

- Đánh giá thường xuyên được thực hiện linh hoạt trong quá trình dạy học

và giáo dục không hạn chế bởi số lần đánh giá

- Đối tượng tham gia đánh giá thường xuyên rất đa dạng: GV đánh giá,

HS đánh giá, HS đánh giá chéo, phụ huynh đánh giá vfa đoàn thể đồngđánh giá

- Phương pháp kiểm tra đánh gí thường xuyên là: phương pháp kiểm traviết, phương pháp hỏi- đáp, phương pháp quan sát, đánh giá qua hồ sơ vàsản phẩm học tập

Trang 9

- Công cụ đánh giá thường xuyên có thể dùng là : Thang đánh giá, bảngđiểm, phiếu đánh giá theo tiêu chí, câu hỏi, hồ sơ học tập

* CÁC YÊU CẦU:

- Cần xác định rõ mục tiêu để lựa chọn PP, công cụ đánh giá phù hợp

- Nhấn mạnh đến tự đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí của bải học vàphương hướng cải thiện để đáp ứng tốt hơn nữa

- Tập trung cung cấp thông tin phản hồi chỉ ra các nội dung cần chỉnh sửađồng thời đưa ra lời khuyên cho hành động tiếp theo

- Không so sánh HS này với HS khác, hạn chế những nhận xét tiêu cực

- Chú trọng đến đánh giá các phẩm chất, năng lực trên nền tảng cảm xúc,niềm tin tích cực

- Giảm thiểu sự trừng phạt, đe dọa, chê bai, tăng sự ngợi khen, động viênHS

* VẬN DỤNG HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN TRONG MÔN NGỮ VĂN:

- Đánh giá thường xuyên được tiến hành trong suốt quá trình dạy học vàtích hợp với quá trình này

Câu 7: Thầy, cô hiểu như thế nào là đánh giá định kì?

* KHÁI NIỆM: Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của học

sinh sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoànthành nhiệm vụ học tập của học sinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quyđịnh trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sự hìnhthành, phát triển năng lực, phẩm chất học sinh

* MỤC ĐÍCH:

Trang 10

Nhằm thu thập thông tin từ HS để đánh giá kết quả học tập và giáo dụcsau một giai đoạn học tập nhất định Kết quả này dùng để xác định thànhtích của HS, xếp loại HS và đưa ra kết luận giáo dục cuối cùng.

* NỘI DUNG,THỜI ĐIỂM NGƯỜI THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ

- Nội dung đánh giá định kì là đánh giá mức độ thành thạo của HS ở cácyêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực sau một giai đoạn học tập (giữa

* PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ:

- Phương pháp: có thể là kiểm tra trên giấy, thực hành, vấn đáp, đánh giáthông qua sản phẩm học tập và thông qua hồ sơ học tập

- Công cụ: có thể là câu hỏi, bài kiểm tra, dự án học tập, sản phẩm họctập

* YÊU CẦU:

- Đa dạng hóa trong sử dụng các phương pháp và công cụ đánh giá

- Chú trọng các phương pháp, công cụ đánh giá được những biểu hiện cụthể về thái độ, hành vi, kết quả, sản phẩm học tập của HS gắn với các chủ

đề học tập và hoạt động trải nghiệm theo hướng phát triển phẩm chất.năng lực của HS

- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá trênmáy để nâng cao năng lực tự học cho HS,

Trang 11

* VẬN DỤNG HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ TRONG MÔN NGỮ VĂN:

- Dạy học trong môn ngữ văn đánh giá định kì được thực hiện ở thời điểmgần cuối hoặc cuối một giai đoạn học tập, do cơ sở giáo dục tổ chức.Đánh giá định kì thường thông qua các đề kiểm tra, các đề thi viết vớihình thức tự luận hoặc kết hợp hình thức trắc nghiệm khách quan và hìnhthức tự luận

- Có thể sử dụng hình thức kiểm tra vấn đáp (đánh giá nói và nghe ) nếuthấy cần thiết và có điều kiện

Câu 8: Thầy/cô hãy cho biết câu hỏi tự luận có những dạng nào? Nêu đặc điểm của mỗi dạng đó.

PP kiểm tra viết có 2 dạng:

* Dạng tự luận:

- Là PP GV thiết kế câu hỏi, bài tập,Mỗi bài kiểm tra tự luận thường ítcâu hỏi, Hs có một sự tự do tương đối khi trả lời các vấn đề đặt ra trongbài kiểm tra

- Câu hỏi tự luận có 2 dạng:

 Câu hỏi tự luận mở rộng: là loại câu hỏi có phạm vi mở rộng vàkhát quát, HS tự do biểu đạt tư tưởng và kiến thức

 Câu hỏi tự luận giới hạn: là loại câu hỏi được diễn đạt chi tiết,phạm vi câu hỏi được nêu rõ để HS biết được độ dài ước chừng củacâu trả lời

Trang 12

 Loại câu nhiều lựa chọn

 Loại câu đúng sai

 Loại câu điền vào chỗ trống

 Loại câu ghép đôi

Câu 9: Thầy/cô hãy đưa ra một ví dụ về phương pháp quan sát trong dạy học Ngữ văn.

Ví dụ về phương pháp quan sát trong dạy học Ngữ văn:

Trước tiên ta cần xác định rõ quan sát có hai dạng:

- Quan sát tiến hành chính thức và định trước: Ví dụ như GV đánh giá

HS khi các em đọc bài hay trình bày báo cáo trước lớp GV quan sát mộttập hợp các hành vi của HS như HS phát âm có rõ ràng không, có thểhiện sự tự tin, hiểu sâu bài không

- Quan sát không định sẵn và không chính thức: Ví dụ như GV thấy

HS nói chuyện thay vì thảo luận bài học, thấy một HS bồn chồn khôngyên và nhìn ra cửa sổ trong suốt giờ học hoặc một em HS có biểu hiện bịtổn thương khi bị bạn trong lớp trêu chọc về quần áo của mình

Câu 10: Thầy/ cô hãy lấy một ví dụ về hỏi - đáp gợi mở và hỏi - đáp tổng kết trong dạy học một bài học Ngữ văn cụ thể.

- Hỏi đáp gợi mở: là hình thức GV đặt những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt HSrút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết từ những sự kiện đã quansát được hoặc những tài liệu đã học, được sử dụng khi cung cấp tri thứcmới Ví dụ như GV hỏi HS những dạng câu hỏi: từ những chi tiết đã phântích, em rút ra kết luận gì về tính cách của nhân vật? , em có cảm nhận gì

về tâm tình của nhà thơ qua các câu thơ vừa phân tích?

- Hỏi đáp tổng kết: Là dạng hỏi - đáp được sử dụng khi cần dẫn dắt HSkhái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học sau một vấn đề, mộtphần, một chương hay một môn học nhất định Phương pháp này giúp HS

Trang 13

phát triển năng lực khái quát hóa, hệ thống hóa tránh nắm bắt những đơn

vị tri thức rời rạc, giúp các em phát huy tính mền dẻo của tư duy Ví dụnhư GV có thể đặt các câu hỏi sau khi kết thúc tác phẩm thơ: Em hãytổng kết lại mạch cảm xúc của nhân vật trữ trình được thể hiện trong bàithơ, hoặc GV có thể đặt câu hỏi sau khi dạy xong về một nhân vật trongtác phẩm văn xuôi: Em có cảm nhận gì về nhân vật này?

Hoặc:

- Bài giảng “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu):

Khi dạy phần: Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh

Tôi sử dụng câu hỏi sau để đưa học sinh đi từ đơn giản đến phức tạp, đếntình huống có vấn đề

Hỏi - đáp gợi mở: Phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ nhiếp ảnh tại

vùng biển nọ là “một cảnh đắt trời cho” Anh (chị) hiểu một “cảnh đắt trời cho” ở đây nghĩa là thế nào? Và vì sao người nghệ sĩ lại gọi cái cảnh tượng ấy như vậy?

Hỏi - đáp tổng kết: Trong phần Tiểu dẫn của bài học, tác giả Sách giáo

khoa giới thiệu: Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” kể lại chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh và những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời Qua bài học, anh (chị) đã hiểu điều đó như thế nào?

Câu 11: Trong thực tế dạy học, thầy/ cô đã sử dụng phương pháp đánh giá hồ sơ học tập cho học sinh như thế nào?

Hồ sơ học tập của học sinh là một bộ sưu tập có mục đích và có tổ chứcnhững công việc của học sinh, được tích lũy trong suốt một thời gian vàthể hiện sự nỗ lực, tiến trình của học sinh và những gì các em đạt được.Tôi đã sử dụng các pp đánh giá hồ sơ qua hai loại:

Trang 14

Hồ sơ đọc: Đọc hiểu văn bản theo loại thể là một yêu cầu cơ bản

đối với việc dạy đọc hiểu văn bản cho học sinh Ở bậc THPT, họcsinh được tiếp cận một số thể loại cơ bản như thơ, truyện ngắn, tiểuthuyết, tùy bút, kịch, với một số tiết nhất định theo quy định.Hồ sơđọc này có thể là một hồ sơ lưu trữ tất cả tài liệu đọc độc lập củahọc sinh; được học sinh dùng để chuẩn bị bài mới, ghi chép lạinhận xét của mình về từng bài học trong sách giáo khoa; hoặc ởmức độ cao hơn là đọc những tác phẩm bên ngoài sách khoa (theogợi ý của giáo viên hoặc theo sở thích cá nhân của học sinh)

Hồ sơ bài viết: Một học kì, theo quy định học sinh THPT phải viết

từ 4 - 5 bài viết một hồ sơ theo dõi sát sao quá trình tạo lập cácloại văn bản được dạy trong sách giáo khoa cũng như sự tiến bộcủa chính người học trong suốt học kì hoặc cả năm học là việc cầnthiết Vào đầu học kì, giáo viên thông báo cho học sinh biết sốlượng bài viết cần thực hiện trong suốt học kì Căn cứ vào đó họcsinh sẽ biết số lượng bài viết tối thiểu mình cần thực hiện trong hồ

sơ bài viết

Sau đó, trước mỗi bài viết (trước đây là bài kiểm tra) giáo viên cần xácđịnh rõ yêu cầu của bài viết, tiêu chuẩn đánh giá để làm căn cứ thực hiệncho học sinh

Sau khi học sinh thực hiện bài viết đầu tiên, giáo viên có thể xem xét vàghi lại lời đánh giá cho học sinh Lời nhận xét này cần bao gồm hai phần:Phần ưu điểm cần phát huy và phần nhược điểm cần khắc phục trongnhững bài viết sau thật ngắn gọn và rõ ràng

Ở giai đoạn này giáo viên có thể cho điểm để học sinh dễ dàng biết đượcmức độ năng lực của mình hoặc không cho điểm tùy theo mục đích riêng

Trang 15

Ở bài viết thứ hai, giáo viên cũng tiến hành thao tác nhận xét tương tự.Tuy nhiên ở bước này giáo viên cần so sánh bài viết này với bài viết trước

để học sinh nhận ra sự tiến bộ (hoặc giảm sút) của mình qua từng bài viết.Lần lượt như thế suốt cả học kì, giáo viên sẽ có phần tổng kết nhận xét sựtiến bộ của học sinh qua từng bài viết Tự bản thân mỗi học sinh cũng sẽđánh giá được năng lực của mình

Câu 12: Theo thầy/cô, sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm có thể đánh giá được năng lực chung và phẩm chất của học sinh không?

Sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm có thể đánh giá được năng lựcchung và phẩm chất của học sinh nhưng tùy vào ngữ cảnh cụ thể

- Đối với sản phẩm giới hạn ở những kĩ năng thực hiện trong phạm vi hẹpnhư : cắt hình, xếp hình, hát một bài sẽ chỉ đánh giá được kĩ năng củaHS

- Đối với sản phẩm đòi hỏi người học phải kết hợp nhiều nguồn thông tin,các kĩ năng có tính phức tạp hơn và mất nhiều thời gian hơn có thể đánhgiá được năng lực chung và phẩm chất của HS bởi vì phải huy động nhiềukiến thức, kĩ năng, thái độ để đáp ứng được yêu cầu đã đưa ra và tốn thờigian để hoàn thành sản phẩm, vì thế trong quá trình hợp tác với các thànhviên khác, GV có thể quan sát thái độ và kĩ năng của từng HS cho đến khisản phẩm được hoàn thành

Câu 14: Theo thầy/cô, trong dạy học Ngữ văn, có những dạng sản phẩm học tập nào?

Trang 16

thể đòi hỏi sự hợp tác giữa các HS và nhóm HS, thông qua đó, HS có thểđánh giá được năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HS.

Câu 15: Trình bày định hướng đánh giá kết quả giáo dục theo Chương trình giáo dục phổ thông (2018).

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng tiếp cận nănglực tập trung vào các định hướng sau:

- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học(đánh giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng cácloại hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ sau từng chủ đề,từng chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh quá trình dạy học (đánhgiá quá trình);

- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lựccủa người học Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểukiến thức, … sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đềcủa thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc caonhư tư duy sáng tạo;

- Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạyhọc sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như

là một phương pháp dạy học;

- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá: sửdụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tincậy, độ khó, độ phân biệt, độ giá trị) và sử dụng các mô hình thống kê vào

xử lý phân tích, lý giải kết quả đánh giá

Câu 16: Trình bày ngắn gọn định hướng đánh giá kết quả giáo dục trong dạy học môn Ngữ văn.

Định hướng đánh giá kết quả giáo dục trong dạy học môn ngữ văn thểhiện trên 4 phương diện

Trang 17

- Mục tiêu đánh giá: Nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giátrị về đáp ứng yêu cầu cần đạt, về phẩm chất, năng lực và những tiến bộcủa HS trong suốt quá trình học tập môn học để hướng dẫn hoạt động họctập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, quản lí và phát triển chương trìnhđảm bảo sự tiến bộ của từng HS và nâng cao chất lượng giáo dục.

- Căn cứ đánh giá: Căn cứ đánh giá kết quả giáo dục trong môn ngữ văn

là yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực đối với HS mỗi lớp học, cấphọc quy định trong chương trình

- Nội dung đánh giá: trong môn ngữ văn, Gv đánh giá phẩm chất, nănglực chung, năng lực đặc thù và sự tiến bộ của HS qua các hoạt động học(Viết, nói, nghe)

- Cách thức đánh giá: đánh giá trong môn ngữ văn được thực hiện bằnghai cách : Đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì

Câu 17: Thầy/cô hãy chia sẻ kinh nghiệm của mình về việc xây dựng

đề kiểm tra.

Để thực hiện tốt việc đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá Trước hếtngười giáo viên cần phải hiểu và nắm vững lý luận chung và phươngpháp luận, nắm chắc mục đích đánh giá trong giáo dục được tiến hành ởnhững cấp độ khác nhau, đối tượng, phương pháp cũng khác nhau và mụcđích khác nhau Nhưng nhìn chung đánh giá là làm sáng tỏ mức độ đạtđược và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kỹnăng và thái độ của học sinh đối chiếu với yêu cầu của chương trình ởtừng môn học.Ngoài ra việc bám theo chuẩn kiến thức, SGK giáo viêncòn phải biết tham khảo các tài liệu có liên quan để biên soạn đề kiểm tracho phù hợp với trình độ học sinh Định hướng đề kiểm tra theo chuẩnkiến thức, kỹ năng, nội dung kiểm tra phong phú và có tính phân hóa chotừng đối tượng học sinh Lâu nay dường như trong các nhà trường phổthông chúng ta chỉ quen với 2 loại đánh giá:

Ngày đăng: 23/04/2021, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w