Đáp án tự luận Mô đun 3 môn Tin học THPT Khái quát về đường phát triển năng lực Đường phát triển năng lực là sự mô tả các mức độ phát triển khác nhau của mỗi năng lực mà HS cần hoặc đã đạt được. Đường phát triển năng lực không có sẵn, mà GV cần phải phác họa khi thực hiện đánh giá năng lực HS. Đường phát triển năng lực được xem xét dưới hai góc độ: Đường phát triển năng lực là tham chiếu để đánh giá sự phát triển năng lực cá nhân HS. Trong trường hợp này, GV sử dụng đường phát triển năng lực như một quy chuẩn để đánh giá sự phát triển năng lực HS. Với đường phát triển năng lực này, GV cần căn cứ vào các thành tố của mỗi năng lực (chung hoặc đặc thù) trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 để phác họa nó với sự mô tả là mũi tên hai chiều với hàm ý, tùy vào đối tượng nhận thức mà sự phát triển năng lực có thể bổ sung ở cả hai phía. Đường phát triển năng lực là kết quả phát triển năng lực của mỗi cá nhân HS. Căn cứ vào đường phát triển năng lực (là tham chiếu), GV xác định đường phát triển năng lực cho mỗi cá nhân HS để từ đó khẳng định vị trí của HS đang ở đâu trong đường phát triển năng lực đó. Xác định đường phát triển năng lực chung Để xác định đường phát triển năng lực chung, giáo viên cần căn cứ vào mỗi thành tố của từng năng lực và yêu cầu cần đạt của mỗi thành tố năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 để phác hoạ nó. Sau đó, giáo viên cần thiết lập các mức độ đạt được của năng lực với những tiêu chí cụ thể để thu thập minh chứng xác định điểm đạt được của học sinh trong đường phát triển năng lực để ghi nhận và có những tác động điều chỉnh hoặc thúc đẩy. Ví dụ, giải quyết vấn đề là một trong những năng lực chung cần hình thành cho học sinh theo yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Để xác định đường phát triển năng lực giải quyết vấn đề, giáo viên cần thiết lập các mức độ với những tiêu chí cụ thể để căn cứ vào đó thu thập các minh chứng về năng lực giải quyết vấn đề theo các mức độ của HS, xem bảng sau đây: Câu hỏi tương tác Module 3 Tin học THPT Câu hỏi: Thầy, cô hãy mô tả biểu hiện của các mức đạt được của năng lực “Giải quyết vấn đề và sáng tạo” khi dạy học nội dung về thuật toán hoặc lập trình.
Trang 1Đáp án tự luận Mô đun 3 môn Tin học THPT Khái quát về đường phát triển năng lực
Đường phát triển năng lực là sự mô tả các mức độ phát triển khác nhau của mỗi năng lực mà HS cần hoặc đã đạt được Đường phát triển năng lực không có sẵn, mà GV cần phải phác họa khi thực hiện đánh giá năng lực HS Đường phát triển năng lực được xem xét dưới hai góc độ:
Đường phát triển năng lực là tham chiếu để đánh giá sự phát triển năng lực cá nhân HS Trong trường hợp này, GV sử dụng đường phát triển năng lực như một quy chuẩn để đánh giá sự phát triển năng lực HS Với đường phát triển năng lực này, GV cần căn cứ vào các thành tố của mỗi năng lực (chung hoặc đặc thù) trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 để phác họa nó với sự mô tả là mũi tên hai chiều với hàm ý, tùy vào đối tượngnhận thức mà sự phát triển năng lực có thể bổ sung ở cả hai phía
Đường phát triển năng lực là kết quả phát triển năng lực của mỗi cá nhân HS Căn cứ vào đường phát triển năng lực (là tham chiếu), GV xác định đường phát triển năng lực cho mỗi cá nhân HS để từ đó khẳng định vị trí của HS đang ở đâu trong đường phát triểnnăng lực đó
Xác định đường phát triển năng lực chung
Để xác định đường phát triển năng lực chung, giáo viên cần căn cứ vào mỗi thành tố của từng năng lực và yêu cầu cần đạt của mỗi thành tố năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 để phác hoạ nó Sau đó, giáo viên cần thiết lập các mức độ đạt được của năng lực với những tiêu chí cụ thể để thu thập minh chứng xác định điểm đạt được của học sinh trong đường phát triển năng lực để ghi nhận và có những tác động điều chỉnh hoặc thúc đẩy
Ví dụ, giải quyết vấn đề là một trong những năng lực chung cần hình thành cho học sinh theo yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông 2018 Để xác định đường phát triển năng lực giải quyết vấn đề, giáo viên cần thiết lập các mức độ với những tiêu chí cụ thể để căn
cứ vào đó thu thập các minh chứng về năng lực giải quyết vấn đề theo các mức độ của HS, xem bảng sau đây:
Câu hỏi tương tác Module 3 Tin học THPT
Câu hỏi: Thầy, cô hãy mô tả biểu hiện của các mức đạt được của năng lực “Giải quyết vấn đề và sáng tạo” khi dạy học nội dung về thuật toán hoặc lập trình.
Hướng dẫn:
Trang 2Có 5 mức độ mức đạt được của năng lực “Giải quyết vấn đề và sáng tạo” khi dạy học nội dung
về thuật toán hoặc lập trình
Định hướng đánh giá kết quả giáo dục trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 trình bày về định hướng đánh giá kết quả giáo dục theo một số điểm chính như sau:
Mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị vềmức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình và sự tiến bộ của HS để hướng dẫnhoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, quản lí và phát triển chương trình,bảo đảm sự tiến bộ của từng HS và nâng cao chất lượng giáo dục
Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được qui định trongchương trình tổng thể và các chương trình môn học, hoạt động giáo dục
Phạm vi đánh giá bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, môn học vàchuyên đề học tập lựa chọn và môn học tự chọn
Đối tượng đánh giá là sản phẩm và quá trình học tập, rèn luyện của HS
Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông quađánh giá thường xuyên, định kì ở cơ sở giáo dục, các kì đánh giá trên diện rộng ở cấpquốc gia, cấp địa phương và các kì đánh giá quốc tế Cùng với kết quả các môn học vàhoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học và chuyên đề học tập lựa chọn, kết quả cácmôn học tự chọn được sử dụng cho đánh giá kết quả học tập chung của HS trong từngnăm học và trong cả quá trình học tập
Việc đánh giá thường xuyên do GV phụ trách môn học tổ chức, kết hợp đánh giá của
GV, của cha mẹ HS, của bản thân HS được đánh giá và của các HS khác
Việc đánh giá định kì do cơ sở giáo dục tổ chức để phục vụ công tác quản lí các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng ở cơ sở giáo dục và phục vụ phát triển chương trình.Việc đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương do tổ chức khảo thí cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức để phục vụ công tác quản lí các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng đánh giá kết quả giáo dục ở cơ sở giáo dục, phục vụ phát triển chương trình và nâng cao chất lượng giáo dục
Phương thức đánh giá bảo đảm độ tin cậy, khách quan, phù hợp với từng lứa tuổi,từng cấp học, không gây áp lực lên HS, hạn chế tốn kém cho ngân sách nhà nước, giađình HS và xã hội
Nghiên cứu từng bước áp dụng các thành tựu của khoa học đo lường, đánh giá trong giáo dục và kinh nghiệm quốc tế vào việc nâng cao chất lượng đánh giá kết quả giáo dục,xếp loại HS ở cơ sở giáo dục và sử dụng kết quả đánh giá trên diện rộng làm công cụ kiểm soát chất lượng đánh giá ở cơ sở giáo dục
Trang 3Định hướng đánh giá kết quả giáo dục trong dạy học môn Tin học theo
Với các chủ đề có trọng tâm là ICT, cần coi trọng đánh giá khả năng vận dụng kiến thức
kĩ năng làm ra sản phẩm Với các chủ đề có trọng tâm là CS, chú trọng đánh giá năng lựcsáng tạo và tư duy có tính hệ thống Với mạch nội dung DL, phải phối hợp đánh giá cách
HS xử lí tình huống cụ thể với đánh giá thông qua quan sát thái độ, tình cảm, hành vi ứng
xử của HS trong môi trường số GV cần lập hồ sơ học tập dưới dạng cơ sở dữ liệu đơn giản để lưu trữ, cập nhật kết quả ĐGTX đối với mỗi HS trong cả quá trình học tập của năm học, cấp học
Kết luận đánh giá của GV về năng lực tin học của mỗi HS dựa trên sự tổng hợp các kếtquả ĐGTX và kết quả ĐGĐK
Việc đánh giá cần lưu ý những điểm sau:
Đánh giá năng lực tin học trên diện rộng phải căn cứ YCCĐ đối với các chủ đề bắt buộc;tránh xây dựng công cụ đánh giá dựa vào nội dung của chủ đề lựa chọn cụ thể
Cần tạo cơ hội cho HS đánh giá chất lượng sản phẩm bằng cách khuyến khích HS giớithiệu rộng rãi sản phẩm số của mình cho bạn bè, thầy cô và người thân để nhận đượcnhiều nhận xét góp ý
Để đánh giá chính xác và khách quan hơn, GV thu thập thêm thông tin bằng cách tổ chứccác buổi giới thiệu sản phẩm số do HS làm ra, khích lệ HS tự do trao đổi thảo luận với nhau hoặc với GV
Đặc điểm của kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Tin học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
Đặc điểm chung
Ở cấp THPT, kiểm tra đánh giá trong môn Tin học phải dựa trên các nguyên tắc sau:
(1) Phối hợp ĐGTX với ĐGĐK, phối hợp nhận xét và chấm điểm để HS điều chỉnh việc học tập của mình nhằm đạt kết quả học tập tốt hơn Tôn trọng đúng mức ĐGTX và những nhận xét Kếtquả đánh giá phải giúp HS tự so sánh được thành công của bản thân với yêu cầu về năng lực
Trang 4(2) Làm cho HS nhận thấy sự công bằng trong đánh giá, sẵn sàng trao đổi, giải thích với HS
về kết quả đánh giá Yêu cầu và khuyến khích HS tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng
(3) Sử dụng phối hợp nhiều phương pháp ĐGTX và định kì như đánh giá sản phẩm, đánh giáqua dự án, đánh giá qua hồ sơ học tập, đánh giá qua quan sát hoạt động học tập, qua bài tập,đánh giá qua trả lời câu hỏi hoặc đối thoại
(4) Đánh giá cao những ý tưởng sáng tạo về sản phẩm, đặc biệt những sản phẩm phục vụ được học tập và cuộc sống một cách thiết thực Đánh giá cao khả năng chủ động tìm hiểu, họchỏi thêm để hoàn thiện kiến thức và kĩ năng trong môn học của HS Khuyến khích các em chia
sẻ ý tưởng hoặc kiến thức mới cho bạn bè
Biểu hiện của năng lực Tin học của học sinh ở cấp THPT
Chương trình môn Tin học ở cấp THPT thể hiện sự phân hoá sâu hơn về định hướng nghề nghiệp Do vậy, chương trình có các YCCĐ chung về năng lực tin học bắt buộc đối với mọi
HS và có các yêu cầu bổ sung riêng tương ứng với HS chọn định hướng Tin học ứng dụng hoặc Khoa học máy tính
Câu hỏi: Một số điểm khác biệt giữa đánh giá tiếp cận nội dung (kiến thức, kĩ năng)
và đánh giá tiếp cận năng lực
Đánh giá theo hướng tiếp cận nội dung
Các bài kiểm tra trên giấy được thực hiện vào cuối một chủ đề, một chương, một
học kì,…
Nhấn mạnh sự cạnh tranh
Quan tâm đến mục tiêu cuối cùng của việc dạy
học Chú trọng vào điểm số
Tập trung vào kiến thức hàn lâm
Đánh giá được thực hiện bởi các cấp quản lí và do giáo viên là chủ yếu, còn tự đánh giá của học sinh không hoặc ít được công nhận
Đánh giá đạo đức học sinh chú trọng đến việc chấp hành nội quy nhà trường, tham gia phong trào thi đua…
Đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực.
Nhiều bài kiểm tra đa dạng (giấy, thực hành, sản phẩm dự án, cá nhân, nhóm…) trongsuốt quá trình học tập
Nhấn mạnh sự hợp tác
Quan tâm đến đến phương pháp học tập, phương pháp rèn luyện của học sinh
Chú trọng vào quá trình tạo ra sản phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo, đến các chi tiết củasản phẩm để nhận xét
Trang 5Tập trung vào năng lực thực tế và sáng tạo
Giáo viên và học sinh chủ động trong đánh giá, khuyến khích tự đánh giá và đánh
giá chéo của học sinh
Đánh giá phẩm chất của học sinh toàn diện, chú trọng đến năng lực cá nhân,
khuyến khích học sinh thể hiện cá tính và năng lực bản thân
Đáp án tự luận Mô đun 3 môn Hoạt động trải
nghiệm hướng nghiệp THPT
Lí thuyết chung về kiểm tra, đánh giá trong giáo dục
Câu 1: Tại sao nói: Kiểm tra, đánh giá là đầu tàu lôi kéo mọi hoạt động khác trong
Đánh giá trong lớp học là quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin liên quan đến hoạt động học tập và trải nghiệm của học sinh nhằm xác định những gì HS biết hay chưabiết, hiểu hay chưa hiểu làm được hay chưa làm được Từ đó đưa ra quyết định phù hợptiếp theo trong quá trình giáo dục HS
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin về kết quả học tập của HS và được diễn giải bằng điểm số/ chữ hoặc nhận biết của GV, từ đó biết được mức độ đạt được của HS trong biểu điểm đang sử dụng hoặc trong tiêu chí đánh giá trong nhận xét của GV
- Kiểm tra: Kiểm tra là một cách tổ chức đánh giá (hoặc định giá), do đó nó có ý nghĩa như
đánh giá (hoặc định giá) Việc kiểm tra chú ý nhiều đến việc xây dựng công cụ đánh giá như câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra Các công cụ này được xây dựng trên một căn cứ xác định, chẳnghạn như đường phát triển năng lực hoặc các rubic trình bày các tiêu chí đánh giá
Quan điểm hiện đại về KTĐG
Câu 2 Việc tăng cường đánh giá thường xuyên trong tổ chức hoạt động giáo dục
hiện nay là theo những quan điểm đánh giá nào? Vì sao?:
Trả lời:
Trang 6* Quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS thểhiện như sau: Đánh giá vì học tập, đánh giá là học tập, đánh giá kết quả học tập.
Đánh giá vì học tập: Đánh giá cần diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học để GV
phát hiện sự tiến bộ của HS từ đó hỗ trợ, điều chỉnh quá trình dạy học Mục đích của đánh giá nhằm cung cấp thông tin để GV và Hs cải thiện chất lượng dạy học Kết quả củađánh giá này không nhằm so sánh giữa các HS với nhau mà để làm nổi bật những điểm mạnh và điểm yếu của mỗi HS và cung cấp cho HS thông tin phản hồi để HS đó tiếp tục việc học của mình ở các giai đoạn tiếp theo Với đánh giá này, GV giữ vai trò chủ đạo nhưng HS cũng được tham gia vào quá trình đánh giá HS có thể tự đánh giá hoặc đánh giá lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của GV, qua đó học tự đánh giá được khả năng học tập của mình để điều chỉnh hoạt động học tập được tốt hơn
Đánh giá là học tập: Đánh giá cần diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học(đánh
giá quá trình) trong đó GV tổ chức để HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng, coi đó là một hoạt động học tập để HS thấy được sự tiến bộ của mình so với yêu cầu cần đạt của bài học/môn học, từ đó HS điều chỉnh việc học Với đánh giá này, HS giữ vai trò chủ đạo trong quá trình đánh giá, HS tự giám sát hoặc theo dõi quá trình học tập của mình theo những tiêu chí do GV cung cấp Kết quả này không được ghi vào học bạ mà chỉ có vai trònhư một nguồn thông tin phản hồi để người đọc tự ý thức khả năng học tập của mình ở mức độ nào từ đó thiết lập mục tiêu học tập cá nhân và lên kế hoạch học tập tiếp theo
Đánh giá kết quả học tập: Là đánh giá những gì HS đạt được tại thời điểm cuối một giai
đoạn giáo dục và được đối chiếu với chuẩn đầu ra nhằm xác nhận kết quả đó so với yêu cầu cần đạt của bài/môn học/ cấp học GV là trung tâm trong quá trình đánh giá và ngườihọc không được tham gia vào các khâu của quá trình đánh giá
⇒ Từ đó ta thấy quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS khác với quan điểm truyền thống về kiểm tra đánh giá về kĩ thuật đánh giá, quá trình và đối tượng tham gia đánh giá.
Đánh giá năng lực học sinh
Câu 3: Sự khác biệt nhất giữa đánh giá kiến thức kĩ năng và đánh giá năng lực là gì? Lấy
Trang 7Đảm bảo tính toàn diện và tính linh hoạt
Đảm bảo tính phát triển
Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn
Đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học
Để đánh giá kết quả học tập của người học trong đào tạo dựa vào năng lực cần dựa
vào những nguyên tắc mang tính tổng quát và cụ thể
Đánh giá là quá trình tiến hành có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của các mục tiêu
đề ra Vậy, phải xác định rõ mục tiêu đánh giá, khi đánh giá phải chọn mục tiêu đánh giá rõràng, các mục tiêu phải được biểu hiện dưới dạng những điều có thể quan sát được
Giáo viên cần phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng chúng có hiệuquả
Khi đánh giá, giáo viên phải biết nó là phương tiện để đi đến mục đích, chứ bản thân không phải là mục đích Mục đích đánh giá là để có những quyết định đúng đắn, tối ưu nhất cho quátrình dạy học
Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của người học, nghĩa là trước tiên phải chú ý đếnviệc học tập của người học Sau đó mới kích thích sự nỗ lực học tập của người học, cuốicùng mới đánh giá bằng chuẩn đạt hay không đạt
Qui trình KTĐG theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS
Câu 5: Để thực hiện kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho người học thì cần phải tiến hành qua những bước nào?
Trả lời:
- 7 bước kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh tạo nên vòng tròn khép kín vì kiểm tra, đánh giá
là một phần không thể thiếu được của quá trình dạy học nhằm giúp HS tiến bộ Kiểm tra, đánh giá vì sự tiến bộ nghĩa là quá trình kiểm tra, đánh giá phải cung cấp những thông tin phản hồi giúp HS biết mình tiến bộ đến đâu, những mảng kiến thức/kĩ năng nào có sự tiến bộ, mảng kiếnthức/kĩ năng nào còn yếu để điều chỉnh quá trình dạy và học Không chỉ GV biết cách thức, các
kĩ thuật đánh giá HS mà quan trọng không kém là HS phải học được cách đánh giá của GV, phải biết đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá kết quả học tập rèn luyện của chính mình Có như vậy, HS mới tự phản hồi với bản thân xem kết quả học tập, rèn luyện của mình đạt mức nào/đến đâu so với yêu cầu, tốt hay chưa tốt như thế nào Với cách hiểu đánh giá ấy mới giúp hình thành năng lực của HS, tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp HS nhận ra
sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập
Trang 8- Kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS được thực hiện theo quy trình 7 bước Quy trình này được thể hiện cụ thể: Xác định mục đích đánh giá và lựa chọnnăng lực cần đánh giá Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá Xác định các tiêu chí/kĩ năng thểhiện của năng lực Xây dựng bảng kiểm đánh giá mức độ đạt được cho mỗi kĩ năng Lựa chọncông cụ để đánh giá kĩ năng Thiết kế công cụ đánh giá.Thẩm định và hoàn thiện công cụ Do
đó đánh giá năng lực người học là một khâu then chốt trong dạy học Để đánh giá đúng năng
lực người học, cần phải xác định được hệ thống năng lực chung và năng lực chuyên ngành,
xác định được các thành tố cấu thành năng lực và lựa chọn được những công cụ phù hợp để đánh giá, sao cho có thể đo được tối đa các mức độ thể hiện của năng lực
Hình thức kiểm tra đánh giá thường xuyên
Câu 6: Theo thầy/cô, đánh giá thường xuyên có nghĩa là gì Tại sao cần phải tăng cường đánh giá thường xuyên?
Trả lời:
* KHÁI NIỆM: Đánh giá thường xuyên là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện
dạy học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động dạy học Đánh giá thường xuyên được xem là đánh giá vì quá trình học tập hoặc vì sự tiến bộ của người học
* MỤC ĐÍCH:
Thu thập minh chứng liên quan đến kết quả học tập của HS để cung cấp những phản hồi cho GV và HS biết những gì họ làm được và chưa làm được so với yêu cầu để điều chỉnhhoạt động dạy và học, đồng thời khuyến nghị để HS làm tốt hơn trong thời điểm tiếp theo.Tiên đoán hoặc dự báo những bài học hoặc chương trình tiếp theo được xây dựng như thế nào cho phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí của HS
Đánh giá thường xuyên được thực hiện linh hoạt trong quá trình dạy học và giáo
dục không hạn chế bởi số lần đánh giá
Trang 9Đối tượng tham gia đánh giá thường xuyên rất đa dạng: GV đánh giá, HS đánh giá, HSđánh giá chéo, phụ huynh đánh giá và đoàn thể đồng đánh giá.
Phương pháp kiểm tra đánh giá thường xuyên là: phương pháp kiểm tra viết, phương
pháp hỏi - đáp, phương pháp quan sát, đánh giá qua hồ sơ và sản phẩm học tập
Công cụ đánh giá thường xuyên có thể dùng là : Thang đánh giá, bảng điểm, phiếu đánhgiá theo tiêu chí, câu hỏi, hồ sơ học tập
* CÁC YÊU CẦU:
Cần xác định rõ mục tiêu để lựa chọn PP, công cụ đánh giá phù hợp
Nhấn mạnh đến tự đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí của bải học và phương
hướng cải thiện để đáp ứng tốt hơn nữa
Tập trung cung cấp thông tin phản hồi chỉ ra các nội dung cần chỉnh sửa đồng thời đưa ralời khuyên cho hành động tiếp theo
Không so sánh HS này với HS khác, hạn chế những nhận xét tiêu cực
Chú trọng đến đánh giá các phẩm chất, năng lực trên nền tảng cảm xúc, niềm tin tíchcực
Giảm thiểu sự trừng phạt, đe dọa, chê bai, tăng sự ngợi khen, động viên HS
Hình thức đánh giá định kì
Câu 7: Theo thầy/cô, đánh giá định kì có nghĩa là gì? Đánh giá định kì nhằm mục đích gì? Trả lời:
* KHÁI NIỆM:
Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của học sinh sau một giai đoạn học tập, rèn
luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học sinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sự hình
thành, phát triển năng lực, phẩm chất học sinh
* MỤC ĐÍCH:
Nhằm thu thập thông tin từ HS để đánh giá kết quả học tập và giá dục sau một giai đoạn học tập nhất định Kết quả này dùng để xác định thành tích của HS, xếp loại HS và đưa ra kết luậngiáo dục cuối cùng
* NỘI DUNG,THỜI ĐIỂM NGƯỜI THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ
Nội dung đánh giá định kì là đánh giá mức độ thành thạo của HS ở các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực sau một giai đoạn học tập (giữa kì, cuối kì)
Đánh giá định kì thường được tiến hành sau khi kết thúc một giai đoạn học tập (giữa
kì, cuối kì)
Trang 10Người thực hiện (giữa kì, cuối kì) định kì có thể là: GV đánh giá, nhà trường đánh giá
và các tổ chức kiểm định các cấp đánh giá
* PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ:
Phương pháp: có thể là kiểm tra trên giấy, thực hành, vấn đáp, đánh giá thông qua sảnphẩm học tập và thông qua hồ sơ học tập
Công cụ: có thể là câu hỏi, bài kiểm tra, dự án học tập, sản phẩm học tập
* YÊU CẦU:
Đa dạng hóa trong sử dụng các phương pháp và công cụ đánh giá
Chú trọng các phương pháp, công cụ đánh giá được những biểu hiện cụ thể về thái độ,hành vi, kết quả, sản phẩm học tập của HS gắn với các chủ đề học tập và hoạt độngtrải nghiệm theo hướng phát triển phẩm chất năng lực của HS
Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá trên máy để nâng caonăng lực tự học cho HS
Phương pháp kiểm tra đánh giá
Câu 8: Tại sao nói phương pháp trắc nghiệm là phương pháp có khả năng đánh
giá được năng lực đặc thù trong tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp?
Trả lời: Phương pháp trắc nghiệm dùng để đánh giá nhận thức của học sinh về nội dung chủ
đề hoạt động, về cách thức và con đường thực hiện các chủ đề Hoạt động trải nghiệm hướngnghiệp như: những hiểu biết về bản thân, về người khác về sự thay đổi của môi trường sốngxung quanh, về nghề nghiệp trong xã hội
Phương pháp trắc nghiệm được sử dụng ở thời điểm đầu làm căn cứ xây dựng và thiết kế hoạtđộng, đánh giá trong quá trình hoạt động như là mức độ tiến bộ trong năng lực nhận thức của học sinh và sử dụng đánh giá vào cuối mỗi giai đoạn để đánh dấu mốc phát triển về nhận thức.Các công cụ thường sử dụng trong phương pháp phù hợp với kiểm tra, đánh giá Hoạt động trảinghiệm hướng nghiệp là: bảng hỏi ngắn, bảng KWLH
Câu 9: Tại sao cần phải sử dụng phương pháp quan sát trong đánh giá kết quả rèn luyện giáo dục của học sinh?
Trang 11Phương pháp quan sát là phương pháp quan trọng trong đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp Năng lực của học sinh được thể hiện thông qua hoạt động thực
tiễn, chính vì vậy việc quan sát sự thể hiện của học sinh trong hoạt động sẽ thu thập được những minh chứng đáng tin cậy về năng lực của học sinh
Phương pháp quan sát là quá trình tổ chức hoạt động cho đối tượng được quan sát bộc lộ những hành vi thái độ theo mục đích đánh giá và người quan sát ghi chép lại những biểu hiện
dó theo cấu trúc nội dung quan sát được thể hiện trong phiếu quan sát
Công cụ thường dùng trong quan sát là bảng kiểm, bảng ghi chép… Để không bỏ sót các chitiết cần quan sát, người quan sát phải liệt kê tất cả những nội dung cần tìm hiểu, mô tả
chung theo các mức độ khác nhau
Câu 10: Phương pháp khảo sát phản hồi của học sinh có vai trò như thế nào đối với quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp?
Trả lời: Phương pháp được sử dụng phổ biến khi cần lấy thông tin phản hồi từ đối tượng khảo
sát với mục đích nhất định Khảo sát phản hồi đo mức độ nhận thức của học sinh về nội dung khảo sát hoặc cũng có thể phân loại học sinh trong các nhóm hoạt động Công cụ của phươngpháp này chủ yếu là bảng hỏi Các câu hỏi trong bảng hỏi được thiết kế theo kĩ thuật thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Câu 11: Tại sao nói phương pháp đánh giá phân tích sản phẩm của học sinh là phương pháp đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào bối cảnh có ý nghĩa?
Sản phẩm là minh chứng rõ ràng nhất về năng lực của cá nhân hoặc nhóm học sinh, vì vậy đánh giá năng lực cần dựa trên sản phẩm của học sinh tạo ra Sản phẩm được tạo ra trong hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp thường đã chứa đựng trong đó những chỉ báo của nhữngnăng lực cần được đánh giá
Phương pháp đánh giá phân tích sản phẩm của học sinh là phương pháp đánh giá kết quả tham gia các hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp của học sinh khi những kết qủa ấy được thểhiện bằng cách sản phẩm như bức vẽ, video, poster, album ảnh, đồ vật, sáng tác, chế tạo, lắp ráp, bài trình bày, dự án nhỏ… Như vậy, sản phẩm là các sản phẩm hoàn chỉnh, được học sinhthể hiện qua việc xây dựng, sáng tạo, thể hiện ở việc hoàn thành được công việc một cách có hiệu quả Các tiêu chí và tiêu chuẩn để đánh giá sản phẩm là rất đa dạng Đánh giá sản phẩm được dựa trên ngữ cảnh cụ thể của hiện thực, cần đánh giá cả quá trình xây dựng và tạo sản phẩm học tập
Thông qua các sản phẩm hoạt động, học sinh có thể tự đánh giá được khả năng thực hiện của mình Trọng tâm của đánh giá sản phẩm là hướng vào những gì học sinh đã làm nên các
em có cơ hội để thể hiện điều đã học theo các cách khác nhau, nhờ đó mà phát huy được tínhsáng tạo cho học sinh
Trang 12Câu 12: Trong thực tế dạy học thầy, cô đã sử dụng phương pháp đánh giá hồ sơ học tập cho học sinh như thế nào?
Trả lời:
HS phải được tham gia vào quá trình đánh giá bằng hồ sơ học tập, thể hiện ở chỗ họ được tham gia lựa chọn một số sản phẩm, bài làm, công việc đã tiến hành để đưa vào hồ sơ của họ.Đồng thời họ được yêu cầu suy ngẫm và viết những cảm nghĩ ngắn về những thay đổi trong bài làm, sản phẩm mới so với giai đoạn trước, hay tại sao họ thấy rằng họ xứng đáng nhận cácmức điểm đã cho HS phải tự suy ngẫm về từng sản phẩm của mình, nói rõ ưu điểm, hạn chế
GV có thể yêu cầu đưa thêm lời nhận xét của cha mẹ vào phần tự suy ngẫm của HS Cha mẹ
có thể cùng chọn bài mẫu đưa vào hồ sơ và giúp HS suy ngẫm về bài làm của mình
Câu 13: Hồ sơ học tập môn Lịch sử 10, nội dung phần Lịch sử Việt Nam của HS có thể bao gồm các minh chứng:
- Sưu tầm các tranh ảnh, bài viết về nội dung phần Lịch sử Việt Nam,…
- Phiếu học tập, phiếu ghi chép ngắn mô tả được các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêubiểu…
- Các báo cáo, nhận xét, đánh giá của HS về sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu…
Như vậy, thông qua xây dựng hồ sơ học tập, HS phát triển được kĩ năng tổ chức, trình bày,… Khi được khuyến khích tạo sản phẩm tốt nhất, HS sẽ tự tin, tự chủ và tự thể hiện bản thân mộtcách rõ rệt Đồng thời, HS có cơ hội minh chứng năng lực bằng các sản phẩm tốt; lập sơ đồ về
sự tiến bộ của mình; giám sát và điều chỉnh hành động và kế hoạch cá nhân; trao đổi học tập với người khác; tạo những thay đổi cần thiết để phát triển năng lực bản thân
Câu 14: Phân tích và làm rõ ưu điểm về tính toàn diện của thông tin đánh giá thông qua phương pháp hội ý giữa các bên có liên quan?
Ưu điểm của phương pháp này là nó đảm bảo tối đa tính toàn diện trong đánh giá Các phẩm chất và năng lực đặc thù của Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp không chỉ biểu hiện trong quá trình học sinh tham gia trải nghiệm ở trường, trong thời gian tổ chức hoạt động mà còn thể hiện ở nhà, ngoài xã hội sau thời gian tổ chức hoạt động do đó cần có sự đánh giá, hội ý thống nhất của tất cả các bên gia đình, nhà trường, xã hội trong việc đánh giá học sinh
Hạn chế lớn nhất của phương pháp này là chịu tác động từ ý kiến chủ quan của người đánhgiá; mất thời gian
Đáp án tự luận Mô đun 3 môn Sinh học THPT
Trang 13Câu 1 Tại sao nói: Kiểm tra, đánh giá là đầu tàu lôi kéo mọi hoạt động khác trong giáo dục?
Kiểm tra, đánh giá là đầu tàu lôi kéo mọi hoạt động khác trong giáo dục vì:
Ở cấp độ quản lí nhà nước, kiểm tra, đánh giá nhằm xây dựng chính sách và chiến lược
đầu tư, phát triển giáo dục, người sử dụng thông tin thường là phòng, sở, Bộ Giáo dục vàđào tạo, đánh giá thường mang tính tổng hợp, theo diện rộng và đảm bảo tính tiêu chuẩnhóa
Ở cấp độ nhà trường, lớp học, kiểm tra, đánh giá phục vụ 3 mục đích: Hỗ trợ hoạt động
dạy và học; Cho điểm cá nhân, xác định thành quả học tập của HS để phân loại, chuyểnlớp, cấp bằng; Hỗ trợ nhà trường đáp ứng đòi hỏi giải trình với xã hội
Ở cấp độ chương trình đào tạo, kiểm tra, đánh giá nhằm điều chỉnh đối với chương trình,
phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá… để mang lại hiệu quả giáo dục cao nhất
Câu 2 Việc tăng cường đánh giá thường xuyên trong dạy học hiện nay là theo những quan điểm đánh giá nào? Vì sao?
* Việc tăng cường đánh giá thường xuyên trong dạy học hiện nay là theo những
quan điểm đánh giá sau:
a) Đánh giá vì học tập: diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học (đánh giá quá trình)
nhằm phát hiện sự tiến bộ của HV, từ đó hỗ trợ, điều chỉnh quá trình dạy học Việc đánh giá nhằm cung cấp thông tin để GV và HV cải thiện chất lượng dạy học Việc chấm điểm (cho điểm và xếp loại) không nhằm để so sánh giữa các HV với nhau mà để làm nổi bật những điểm mạnh và điểm yếu của mỗi HV và cung cấp cho họ thông tin phản hồi để tiếp tục việc họccủa mình ở các giai đoạn học tập tiếp theo GV vẫn giữ vai trò chủ đạo trong đánh giá kết quả học tập, nhưng HV cũng được tham gia vào quá trình đánh giá HV có thể tự đánh giá hoặc đánh giá lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của GV, qua đó họ tự đánh giá được khả năng học tập của mình để điều chỉnh hoạt động học tập được tốt hơn
b) Đánh giá là học tập: nhìn nhận đánh giá với tư cách như là một quá trình học tập HV cần
nhận thức được các nhiệm vụ đánh giá cũng chính là công việc học tập của họ Việc đánh giá cũng được diễn ra thường xuyên, liên tục trong quá trình học tập của HV Đánh giá là học tập tập trung vào bồi dưỡng khả năng tự đánh giá của HV (với hai hình thức đánh giá cơ bản là tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng) dưới sự hướng dẫn của GV và có kết hợp với sự đánh giá của GV Qua đó, HV học được cách đánh giá, tự phản hồi với bản thân xem kết quả học tập của mình đến đâu, tốt hay chưa, tốt như thế nào Ở đây, HV giữ vai trò chủ đạo trong quá trình đánh giá Họ tự giám sát hoặc theo dõi quá trình học tập, tự so sánh, đánh giá kết quả học tập của mình theo những tiêu chí do GV cung cấp và sử dụng kết quả đánh giá ấy để điều chỉnh cách học Kết quả đánh giá này không được ghi vào học bạ mà chỉ có vai trò như một nguồn
Trang 14thông tin để HV tự ý thức khả năng học tập của mình đang ở mức độ nào, từ đó thiết lập mụctiêu học tập cá nhân và lên kế hoạch học tập tiếp theo.
c) Đánh giá kết quả học tập: có mục tiêu chủ yếu là đánh giá tổng kết, xếp loại, lên lớp và
chứng nhận kết quả Đánh giá kết quả học tập diễn ra sau khi HV học xong một giai đoạn học tập nhằm xác định xem các mục tiêu dạy học có được thực hiện không và đạt được ở mức nào GV là trung tâm trong quá trình đánh giá và HV không được tham gia vào các khâucủa quá trình đánh giá
* Việc tăng cường đánh giá thường xuyên trong dạy học hiện nay là theo những
quan điểm trên vì:
Năng lực của HV được hình thành, rèn luyện và phát triển trong suốt quá trình dạy học môn học Do vậy để xác định mức độ năng lực của HV không thể chỉ thực hiện qua một bài kiểm tra kết thúc môn học có tính thời điểm mà phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình đó Việc đánh giá cần được tích hợp chặt chẽ với việc dạy học, coi đánh giá như là công cụ học tậpnhằm hình thành và phát triển năng lực cho HV
Câu 3 Sự khác biệt nhất giữa đánh giá kiến thức kĩ năng và đánh giá năng lực là gì?
* Sự khác biệt nhất giữa đánh giá kiến thức kĩ năng và đánh giá năng lực là
Đánh giá kiến thức, kĩ năng là đánh giá xem xét việc đạt kiến thức kĩ năng của HV theo mục tiêu của chương trình giáo dục, gắn với nội dung được học trong nhà trường và kết quả đánh giá phụ thuộc vào số lượng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành về đơn vị kiến thức, kĩnăng
Còn đánh giá năng lực là đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã được học vào giảiquyết vấn đề trong học tập hoặc trong thực tiễn cuộc sống của HV và kết quả đánh giá người học phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ và bài tập đã hoàn thành theo các mức độ khác nhau
Câu 4 Hãy liệt kê các loại hình KTĐG và phân biệt đánh giá thường xuyên với đánh giá định kì Tại sao cần phải tăng cường đánh giá thường xuyên trong dạy học
- Các loại hình KTĐG:
Xét theo mô đánh giá
Xét theo quá trình học tập
Xét theo mục tiêu dạy học
Xét theo người đánh giá
- Đánh giá thường xuyên hay còn gọi là đánh giá quá trình là hoạt động đánh giá diễn ra
trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV
và HS nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động giảng dạy, học tập
Trang 15- Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của HS sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS so với yêu cầu cần đạt so với quiđịnh trong chương trình giáo dục phổ thông và sự hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất
HS Mục đích chính của đánh giá định kì là thu thập thông tin từ HS để đánh giá thành quả học tập và giáo dục sau một giai đoạn học tập nhất định
- Cần phải tăng cường đánh giá thường xuyên trong dạy học vì Đánh giá thường xuyên đượcxem là đánh giá vì quá trình học tập hoặc vì sự tiến bộ của HS
Câu 5 Cần phải đảm bảo những nguyên tắc nào khi triển khai kiểm tra đánh giá
theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực
Những nguyên tắc khi triển khai kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm
chất, năng lực:
- Đảm bảo tính toàn diện và linh hoạt: Việc đánh giá năng lực hiệu quả nhất khi phản ánh được sự hiểu biết đa chiều, tích hợp về bản chất của các hành vi được bộc lộ theo thời gian.
- Đảm bảo tính phát triển HS: Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình kiểm tra, đánh giá, có thể
phát hiện sự tiến bộ của HS, chỉ ra những điều kiện để cá nhân đạt kết quả tốt hơn về phẩm chất và năng lực; phát huy khả năng tự cải thiện của HS trong hoạt động dạy học và giáo dục
- Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn: Để chứng minh HS có phẩm chất và năng lực ở
mức độ nào đó, phải tạo cơ hội để họ được giải quyết vấn đề trong tình huống, bối cảnh mang tính thực tiễn
- Đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học: Mỗi môn học có những yêu cầu riêng về năng lực đặc thù cần hình thành cho HS, vì vậy, việc kiểm tra, đánh giá cũng phải đảm bảo tính đặc thù
của môn học nhằm định hướng cho GV lựa chọn và sử dụng các phương pháp, công cụ đánh giá phù hợp với mục tiêu và yêu cầu cần đạt của môn học
Câu 6 Để thực hiện kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho người học thì cần phải tiến hành qua những bước nào?
Các bước thực hiện kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất và năng
lực người học:
1 Phân tích mục đích đánh giá, mục tiêu học tập sẽ đánh giá: Các mục tiêu về phẩm chất;
năng lực chung; năng lực đặc thù.
2 Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá: Xác định thông tin, bằng chứng về phẩm chất, năng
lực; Phương pháp, công cụ để thu thập thông tin, bằng chứng về phẩm chất, năng lực…
Trang 163 Lựa chọn, thiết kế công cụ kiểm tra, đánh giá: Câu hỏi, bài tập, bảng kiểm, hồ sơ, phiếu đánh giá theo tiêu chí…
4 Thực hiện kiểm tra, đánh giá: Thực hiện theo các yêu cầu, kĩ thuật đối với các phương pháp, công cụ đã lựa chọn, thiết kế nhằm đạt mục tiêu kiểm tra, đánh giá, phù hợp với từng
loại hình đánh giá
5 Xử lí, phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá: Phương pháp định tính/ định lượng Sử dụng các phần mềm xử lí thống kê…
6 Giải thích kết quả và phản hồi kết quả đánh giá: Giải thích kết quả, đưa ra những nhận định
về sự phát triển của HS về phẩm chất, năng lực so với mục tiêu và yêu cầu cần đạt Lựa chọncách phản hồi kết quả đánh giá: Bằng điểm số, nhận xét, mô tả phẩm chất, năng lực đạtđược…
7 Sử dụng kết quả đánh giá trong phát triển phẩm chất, năng lực HS: Trên cơ sở kết quả thu
được, sử dụng để điều chỉnh hoạt động dạy học, giáo dục nhằm phát triển phẩm chất, năng lựcHS; thúc đẩy HS tiến bộ
Câu 7 Hãy liệt kê các định hướng kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Sinh học.
Về mục đích đánh giá: Đánh giá kết quả giáo dục trong môn Sinh học nhằm cung cấp
thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chươngtrình và sự tiến bộ của HS để hướng dẫn hoạt động học tập
Về căn cứ đánh giá: Căn cứ để đánh giá kết quả giáo dục của HS là các yêu cầu cần đạt
về phẩm chất và năng lực được quy định trong chương trình tổng thể và chương trình môn Sinh học
Về nội dung đánh giá: Bên cạnh đánh giá kiến thức, cần tăng cường đánh giá các kĩ
năng của HS như: làm việc với SGK, tranh ảnh, thí nghiệm thực hành, quan sát, phântích, thu thập mẫu, xử lí và hệ thống hoá thông tin, Chú trọng đánh giá khả năng vậndụng tri thức vào những tình huống cụ thể
Về hình thức đánh giá: Đánh giá sử dụng đa dạng các phương pháp, chủ yếu như sau: Đánh giá thông qua bài viết, Đánh giá thông qua vấn đáp, thuyết trình, Đánh giá
thông qua quan sát
Về sử dụng kết quả đánh giá: Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kì, trên cơ sở đó tổng
hợp kết quả đánh giá chung về phẩm chất, năng lực và sự tiến bộ của HS
Câu 8 Thế nào là đánh giá thường xuyên? Tại sao nói đánh giá thường xuyên lại là một trong những hình thức đánh giá vì sự tiến bộ của người học?
Đánh giá thường xuyên (ĐGTX) hay còn gọi là đánh giá quá trình là hoạt động đánh giá diễn ratrong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV và
Trang 17HS nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động giảng dạy, học tập ĐGTX chỉ những hoạt động kiểm tra đánh giá được thực hiện trong quá trình dạy học, có ý nghĩa phân biệt với những hoạt động kiểm tra đánh giá trước khi bắt đầu quá trình dạy học một môn học nào đó (đánh giá đầunăm/ đánh giá xếp lớp) hoặc sau khi kết thúc quá trình dạy học môn học này (đánh giá tổng kết) ĐGTX được xem là đánh giá vì quá trình học tập hoặc vì sự tiến bộ của người học.
Đánh giá thường xuyên lại là một trong những hình thức đánh giá vì sự tiến bộ của người học vì:
Thu thập các minh chứng liên quan đến kết quả học tập của HS trong quá trình học để cung cấp những phản hồi cho HS và GV biết những gì họ đã làm được so với mục tiêu, yêu cầu của bài học, của chương trình và những gì họ chưa làm được để điều chỉnh hoạt động dạy và học
Chẩn đoán hoặc đo kiến thức và kĩ năng hiện tại của HS nhằm dự báo hoặc tiên đoán những bài học hoặc chương trình học tiếp theo cần được xây dựng thế nào cho phù hợpvới trình độ, đặc điểm tâm lí của HS Có sự khác nhau về mục đích đánh giá của ĐGTX
và đánh giá định kì (ĐGĐK) ĐGTX có mục đích chính là cung cấp kịp thời thông tin phản hồi cho GV và HS để điều chỉnh hoạt động dạy và học, không nhằm xếp loại thành tích hay kết quả học tập ĐGTX không nhằm mục đích đưa ra kết luận về kết quả giáo dục cuối cùng của từng HS
Câu 9 Thế nào là đánh giá định kì? Nội dung của đánh giá định kì khác gì so với
nội dung của đánh giá thường xuyên?
Đánh giá định kì (ĐGĐK) là đánh giá kết quả giáo dục của HS sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS so với yêu cầu cần đạt quy định trong chương trình giáo dục phổ thông và sự hình thành, phát triển nănglực, phẩm chất HS
Nội dung của đánh giá định kì đánh giá mức độ thành thạo của HS ở các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực sau một giai đoạn học tập (giữa kì)/ cuối kì Còn nội dung đánh giá thường xuyên thì đánh giá mức độ của học sinh trong tiến trình thực hiện hoạt động dạy học môn học
Câu 10 Thế nào là kiểm tra viết? Những công cụ nào thường được sử dụng trong
phương pháp kiểm tra viết? Phân biệt câu hỏi tự luận có sự trả lời rộng với câu hỏi
tự luận có sự trả lời giới hạn.
+ Kiểm tra viết là phương pháp kiểm tra phổ biến, được sử dụng đồng thời với nhiều HS cùng một một thời điểm, được sử dụng sau khi học xong một phần nội dung/chương/chương trình học Nội dung kiểm tra có thể bao quát từ vấn đề lớn có tính chất tổng hợp đến vấn đề nhỏ, HSphải diễn đạt câu trả lời bằng ngôn ngữ viết Xét theo dạng thức của bài kiểm tra có hai loại là kiểm tra viết dạng tự luận và kiểm tra viết dạng trắc nghiệm khách quan
Trang 18+ Phân biệt câu hỏi tự luận có sự trả lời rộng với câu hỏi tự luận có sự trả lời giới hạn
Câu tự luận có sự trả lời mở rộng: là loại câu có phạm vi rộng và khái quát HS có thể có
nhiều lời giải đúng, loại câu này được dùng để đánh giá mức độ hiểu và vận dụng kiến thức, tính sáng tạo của HS qua việc phân tích, tổng hợp, khái quát để HS không chỉ xácđịnh đó là câu trả lời đúng mà còn hiểu được tại sao, làm thế nào để có câu trả lời ấy và xác định được đó là câu trả lời cần thiết
Câu tự luận trả lời có giới hạn: là loại câu hỏi được diễn đạt chi tiết, phạm vi câu hỏi được nêu rõ để HS biết được độ dài ước chừng của câu trả lời Loại câu này thường có
nhiều câu hỏi hơn bài tự luận hoặc câu tự luận có sự trả lời mở rộng Nó đề cập tới những vấn đề cụ thể, nội dung hẹp hơn nên đỡ mơ hồ hơn đối với người trả lời; do đó việc chấm điểm dễ hơn và có độ tin cậy cao hơn so với câu luận mở
Câu 11 Những công cụ nào thường được sử dụng trong phương pháp quan sát? Nêu
ưu, nhược điểm của phương pháp quan sát.
Khi sử dụng phương pháp quan sát trong dạy học môn Hóa học, GV có thể sử dụng các loại
công cụ để thu thập thông tin như: Ghi chép các sự kiện thường nhật, thang đo, bảng kiểm tra (bảng kiểm), phiếu đánh giá theo tiêu chí Rubric).
Ưu điểm: Giúp cho việc thu thập thông tin của GV được kịp thời, nhanh chóng Quan sát
được dùng kết hợp với các phương pháp khác sẽ giúp việc kiểm tra, đánh giá được thựchiện một cách liên tục, thường xuyên và toàn diện
Hạn chế: Kết quả quan sát phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan của người quan sát; Chỉ thu được những biểu hiện trực tiếp, bề ngoài của đối tượng.
Câu 12 Những công cụ nào thường được sử dụng trong phương pháp hỏi – đáp? Nêu những lưu ý khi sử dụng phương pháp hỏi - đáp
- Trong đánh giá hỏi đáp thường sử dụng các công cụ như câu hỏi, bảng kiểm hay phiếu đánhgiá theo tiêu chí
- Những lưu ý khi sử dụng phương pháp hỏi – đáp
Đối với câu hỏi cần phải chính xác rõ ràng, sát với trình độ của HS
Diễn đạt câu đúng ngữ pháp, gọn gàng sáng sủa
Câu hỏi phải có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập tư duy của HS
Khi vấn đáp cần chăm chú theo dõi câu trả lời, có thái độ bình tĩnh, tránh nôn nóng cắt ngang câu trả lời khi không cần thiết
Câu 13 Hãy liệt kê các mức độ câu hỏi Phân biệt các dạng câu hỏi Khi thiết kế câu hỏi cần lưu ý những gì?
+ Các mức độ của câu hỏi
Trang 19Câu hỏi "biết/ nhớ”
Câu hỏi "hiểu"
Câu hỏi "vận dụng"
Câu hỏi "phân tích"
Câu hỏi "đánh giá"
Câu hỏi "sáng tạo"
+ Phân biệt các dạng câu hỏi
Câu hỏi tự luận: Câu hỏi tự luận là dạng câu hỏi cho phép HS tự do thể hiện quan điểm
khi trình bày câu trả lời cho một chủ đề hay một nhiệm vụ và đòi hỏi HS phải tích hợp kiếnthức kĩ năng đã học, kinh nghiệm của bản thân, khả năng phân tích, lập luận, đánh giá,
+ Loại câu điền vào chỗ trống: Loại câu này đòi hỏi trả lời bằng một hay một cụm từ cho một
câu hỏi trực tiếp hay một câu nhận định chưa đầy đủ
+ Câu ghép đôi: Loại câu này thường bao gồm hai dãy thông tin gọi là các câu dẫn và các câu đáp Nhiệm vụ của người làm bài là ghép chúng lại một cách thích hợp.
+ Khi thiết kế câu hỏi cần lưu ý:
Câu hỏi được đưa ra một cách rõ ràng;
Câu hỏi hướng tới cả lớp;
Chỉ định một HS trả lời, cả lớp lắng nghe và phân tích câu trả lời;
GV có kết luận về câu trả lời của HS
Câu 14 Trong dạy học sinh học, thường sử dụng những dạng bài tập nào? Bài tập tình huống và bài tập thực tiễn khác nhau như thế nào?
+ Trong dạy học sinh học, thường sử dụng những dạng bài tập:
Trang 20+ Khác nhau giữa Bài tập tình huống và bài tập thực tiễn
Bài tập tình huống: Là một câu chuyện cụ thể và chi tiết, chuyển nét sống động và phức tạp của đời thực vào lớp học” Tình huống được đưa vào giảng dạy dưới dạng những bàitập nghiên cứu tình huống (bài tập tình huống)
Bài tập thực tiễn là dạng bài tập xuất phát từ các tình huống thực tiễn, được giao cho HSthực hiện để vận dụng những điều đã học nhằm hình thành kiến thức mới hoặc củng cố,hoàn thiện, nâng cao kiến thức đã học, đồng thời phát triển năng lực người học”
Câu 15 Đề kiểm tra là công cụ được sử dụng trong hình thức kiểm tra đánh giá nào? Quy trình xây dựng đề kiểm tra được thực hiện qua những bước nào?
+ Đề kiểm tra là công cụ đánh giá quen thuộc, được sử dụng trong phương pháp kiểm tra viết Đề thi gồm các câu hỏi tự luận hoặc các câu hỏi trắc nghiệm hoặc kết hợp cả câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm
+ Quy trình xây dựng đề kiểm tra
Bước 1: Xác định các chuẩn đánh giá
Bước 2: Thiết lập ma trận đề kiểm tra
Bước 3: Biên soạn các dạng câu hỏi/bài tập theo ma trận đề
Bước 4: Xây dựng đề kiểm tra và hướng dẫn chấm
Bước 5: Thử nghiệm, phân tích kết quả, điều chỉnh và hoàn thiện đề
Câu 16 Hãy liệt kê các dạng sản phẩm học tập của học sinh Phân biệt hồ sơ học tập với sản phẩm học tập.
+ Các dạng sản phẩm học tập của học sinh:
Dự án học tập
Sản phẩm nghiên cứu khoa học
Sản phẩm thực hành, thí nghiệm/chế tạo
+ Phân biệt hồ sơ học tập với sản phẩm học tập
Hồ sơ học tập là tập tài liệu về các sản phẩm được lựa chọn một cách có chủ đích của người học trong quá trình học tập môn học, được sắp xếp có hệ thống và theo một trình
tự nhất định Hồ sơ học tập không phải tất cả các sản phẩm đã thực hiện của người học Bất cứ hoạt động học tập nào của HS cũng đều có sản phẩm Sản phẩm học tập là kết quả của hoạt động học tập của HS, là bằng chứng của sự vận dụng kiến thức, kĩ năng mà
HS đã có
Câu 17 Thế nào là hồ sơ học tập? mục đích của việc xây dựng hồ sơ học tập là gì?
Trang 21+ Hồ sơ học tập là tập tài liệu về các sản phẩm được lựa chọn một cách có chủ đích của ngườihọc trong quá trình học tập môn học, được sắp xếp có hệ thống và theo một trình tự nhất định.
+ Mục đích sử dụng: Hồ sơ học tập có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác
nhau, nhưng hai mục đích chính của hồ sơ học tập là:
Trưng bày/giới thiệu thành tích của người học: Với mục đích này, hồ sơ học tập chứa đựng các bài làm, sản phẩm tốt nhất, mang tính điển hình của người học trong quá trìnhhọc tập môn học
Chứng minh sự tiến bộ của người học về một chủ đề/lĩnh vực nào đó theo thời gian Loại hồ sơ học tập này thu thập các mẫu bài làm liên tục của người học trong một giai đoạn học tập nhất định để chẩn đoán khó khăn trong học tập, hướng dẫn cách học tập mới, qua đó cải thiện việc học tập của họ
Câu 18 Bảng kiểm được sử dụng khi nào? hãy thiết kế bảng kiểm đánh giá kĩ năng thực hành của HS trong giờ Sinh học.
+ Bảng kiểm được sử dụng khi:
Đánh giá sự tiến bộ của HS: Họ có thể chỉ ra cho HS biết những tiêu chí nào HS đã thểhiện tốt, những tiêu chí nào chưa được thực hiện và cần được cải thiện
GV còn có thể tổng hợp các tiêu chí trong bảng kiểm và lượng hóa chúng thành điểm sốtheo cách tính % để xác định mức độ HS đạt được
+ Thiết kế bảng kiểm đánh giá kĩ năng thực hành của HS trong giờ Sinh học (xem Clip để biết cách up Ảnh vào bảng trả lời từ 7p40)
Câu 19 Phân biệt các dạng thang đo Thang đo thường được sử dụng khi nào?
+ Các loại thang đánh giá
Dạng 1: Thang đánh giá dạng số: là hình thức đơn giản nhất của thang đánh giá trong
đó mỗi con số tương ứng với một mức độ thực hiện hay mức độ đạt được của sản phẩm
Dạng 2: Thang dạng đồ thị: Mô tả các mức độ biểu hiện của đặc điểm, hành vi theo một
trục đường thẳng Một hệ thống các mức độ được xác định ở những điểm nhất định trên đoạn thẳng và người đánh giá sẽ đánh dấu (X) vào điểm bất kì thể hiện mức độ trên đoạn thẳng đó
Dạng 3: Thang mô tả: là hình thức phổ biến nhất, được sử dụng nhiều nhất của thang
đánh giá, trong đó mỗi đặc điểm, hành vi được mô tả một cách chi tiết, rõ ràng, cụ thể
ở mỗi mức độ khác nhau
+ Thang đo thường được sử dụng khi
Trang 22Đánh giá thực hành: Trong nhiều lĩnh vực học tập, kết quả học tập không được thể hiệnqua bài kiểm tra viết hay vấn đáp mà bằng hoạt động thực hành, Cách tốt nhất để đánhgiá những hoạt động này là quan sát.
Đánh giá sản phẩm: Khi kết quả học tập của HS được thể hiện bằng sản phẩm ví dụ: vởsạch chữ đẹp, bức vẽ, bản đồ, đồ thị, đồ vật, sáng tác,… thì cần có sự đánh giá sản phẩm
Đánh giá sự tiến bộ của HS: Nếu GV lưu giữ bản sao chép thang đánh giá qua một số bài tập/nhiệm vụ khác nhau ở những thời điểm khác nhau, sẽ có một hồ sơ để giúp theo dõi và đánh giá tiến bộ của mỗi HS
Câu 20 Rubrics là gì? Rubric thường được xây dựng qua những bước nào?
+ Khái niệm Rubrics
Phiếu đánh giá theo tiêu chí là một tập hợp các tiêu chí được cụ thể hóa bằng các chỉ báo, chỉ
số, các biểu hiện hành vi có thể quan sát, đo đếm được Các tiêu chí này thể hiện mức độ đạtđược của mục tiêu học tập và được sử dụng để đánh giá và thông báo về sản phẩm, nănglực thực hiện hoặc quá trình thực hiện nhiệm vụ của người học
+ Rubric thường được xây dựng qua những bước:
Bước 1: Phân tích yêu cầu cần đạt của bài học, chủ đề, môn học và xác định các kiến thức, kĩnăng mong đợi ở HS và thể hiện những kiến thức, kĩ năng mong đợi này vào các nhiệmvụ/bài tập đánh giá mà GV xây dựng
Bước 2: Xác định rõ các nhiệm vụ/bài tập đánh giá đã xây dựng là đánh giá hoạt động, sảnphẩm hay đánh giá cả quá trình hoạt động và sản phẩm
Bước 3: Phân tích, cụ thể hóa các sản phẩm hay các hoạt động đó thành những yếu tố, đặcđiểm hay hành vi sao cho thể hiện được đặc trưng của sản phẩm hay quá trình
Bước 4: Chỉnh sửa, hoàn thiện các tiêu chí Công việc này bao gồm:
Xác định số lượng các tiêu chí đánh giá cho mỗi hoạt động/sản phẩm
Các tiêu chí đánh giá cần được diễn đạt sao cho có thể quan sát được sản phẩm
hoặc hành vi của HS trong quá trình họ thực hiện các nhiệm vụ
Bước 5: Xây dựng các mức độ thể hiện các tiêu chí đã xác định
Xác định số lượng về mức độ thể hiện của các tiêu chí
Đưa ra mô tả về các tiêu chí đánh giá ở mức độ cao nhất, thực hiện tốt nhất
Đưa ra các mô tả về các tiêu chí ở các mức độ còn lại
Hoàn thiện bản rubric: bản rubric cần được thử nghiệm nhằm phát hiện ra những điểmcần chỉnh sửa trước khi đem sử dụng chính thức
Trang 23Câu 21 Thế nào là đường phát triển năng lực? Vì sao trong dạy học cần xây
dựng đường phát triển năng lực?
+ Khái quát về đường phát triển năng lực
Đường phát triển năng lực là sự mô tả các mức độ phát triển khác nhau của mỗi năng lực
mà người học cần hoặc đã đạt được Đường phát triển năng lực không có sẵn, mà GV cần phải phác họa khi thực hiện đánh giá năng lực học sinh Đường phát triển năng lực được xem xét dưới hai góc độ:
Đường phát triển năng lực là tham chiếu để đánh giá sự phát triển năng lực cá nhân họcsinh Trong trường hợp này, GV sử dụng đường phát triển năng lực như một quy chuẩn
để đánh giá sự phát triển năng lực học sinh Với đường phát triển năng lực này
Đường phát triển năng lực là kết quả phát triển năng lực của mỗi cá nhân học sinh Với đường phát triển năng lực này, GV căn cứ vào các thành tố của mỗi năng lực và yêu cầu cần đạt của mỗi thành tố của năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông 2018
để phác họa nó
+ Cần phải xây dựng đường phát triển năng lực:
Đường phát triển năng lực là kết quả phát triển năng lực của mỗi cá nhân HS Căn cứ vào
đường phát triển năng lực (là tham chiếu), GV xác định đường hát triển năng lực cho mỗi cá nhân HS để từ đó khẳng định vị trí của HS đang ở đâu trong đường phát triển năng lực đó
Câu 22 Để xây dựng đường phát triển năng lực trong dạy học môn Sinh học ở
trường THPT cần dựa trên cơ sở nào?
Để xây dựng đường phát triển năng lực trong dạy học môn Sinh học ở trường THPT cần dựatrên cơ sở
Thứ nhất: Xác định rõ được cấu trúc của năng lực Sinh học, như là một hệ thống, từ đó
thấy rõ được vị trí của từng năng lực thành phần và sự vận động của các năng lựctrong quá trình phát triển
hứ hai: Xác định rõ các biểu hiện của năng lực GV cần xác định rõ các biểu hiện
của năng lực, để từ đó có thể xác định được các kỳ vọng mà HS cần đạt được.
hứ ba: Cụ thể hóa năng lực kỳ vọng ở từng giai đoạn học tập Khi cụ thể hóa năng lực kỳ
vọng, GV cần dựa vào Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình môn học của toàn cấp và của từng lớp trong cấp học
Câu 23 Để đánh giá về sự tiến bộ của HS GV cần thực hiện những công việc gì?
Để đánh giá về sự tiến bộ của HS GV cần thực hiện những công việc:
1 Thu thập bằng chứng về sự tiến bộ của HS
Trang 242 Phân tích, giải thích bằng chứng
3 Báo cáo sự phát triển năng lực của cá nhân học sinh
3.1 Báo cáo sự phát triển NL tổng thể (báo cáo sự sẵn sàng học tập)
3.2 Báo cáo sự tiến bộ của HS (báo cáo hồ sơ học tập)
Câu 24 Để thu thập bằng chứng về sự tiến bộ của HS, GV nên sử dụng loại công
cụ nào? Tại sao?
Để Thu thập bằng chứng về sự tiến bộ của HS, GV phải vận dụng kinh nghiệm chuyên môn đểnhận đinh kết quả đó của HS (đánh giá bằng nhận xét) Vì thế, công cụ giúp tường minh hóa quá trình thu thập chứng cứ để tăng cường tính khách quan hóa trong đánh giá sự tiến bộ của
HS là Rubric Bởi, Rubric thể hiện rõ quy tắc cho điểm hoặc mã hóa chất lượng hành vi có thể quan sát được của người học, nó bao gồm các chỉ số hành vi và tập hợp các tiêu chí chất lượng về các hành vi đó
Câu 25 Để giải thích cho sự tiến bộ của HS, GV có thể tiến hành những công việc cụ thể nào?
Để giải thích cho sự tiến bộ của HS, GV có thể tiến hành như sau:
Thu thập bằng chứng thông qua sản phẩm học tập và quan sát các hành vi của HS;
Sử dụng bằng chứng để đánh giá kiến thức, kĩ năng HS đã có (những gì HS đã biếtđược, đã làm được) trong thời điểm hiện tại để sẵn sàng cho việc học tập tiếp theo
Sử dụng bằng chứng để suy đoán những kiến thức, kĩ năng HS chưa đạt được và
cần đạt được (những gì HS có thể học được) nếu được GV hỗ trợ, can thiệp phù hợp với những gì HS đã biết và đã làm được
Lập kế hoạch hỗ trợ, can thiệp, để giúp HS tiếp tục học ở quá trình học tập kế tiếp trên
cơ sở những kiến thức, kĩ năng đã có ở quá trình học tập ngay trước đó;
Hợp tác với các GV khác để thống nhất sử dụng các phương pháp, công cụ thu thập bằng chứng, tập trung xác định những kiến thức, kĩ năng HS cần phải có ở quá trình học tập tiếp theo
Câu 26 Muốn đánh giá kết quả hình thành, phát triển một phẩm chất chủ yếu nào đó, cần đánh giá những phương diện nào?
Muốn đánh giá kết quả hình thành, phát triển một phẩm chất chủ yếu nào đó, cần phải có quá trình đánh qua các giai đoạn với các phương diện như:
Đánh giá nhận thức
Đánh giá cảm xúc
Đánh giá thái độ
Trang 25Đánh giá hành vi
Câu 27 Để đánh giá năng lực của HS cần thực hiện như thế nào?
Để có thể làm tốt việc đánh giá năng lực chung, GV cần lập kế hoạch đánh giá và việc này cần có sự thống nhất trong tổ, nhóm chuyên môn và trở thành một nội dung chính của kế hoạch dạy học môn học, kế hoạch giáo dục của nhà trường Quy trình đánh giá năng lực người học bao gồm các bước sau đây:
Xác định mục đích đánh giá và lựa chọn nănng lực cần đánh giá
Định nghĩa năng lực và cấu trúc năng lực
Xác định các phương pháp đánh giá
Xác định và xây dựng các công cụ đánh giá
Thực hiện đánh giá và xử lý số liệu
Câu 28 Việc điều chỉnh phương pháp dạy học Sinh học được dựa trên những cơ sở nào? Hãy chỉ ra những định hướng cho việc điều chỉnh phương pháp dạy học Sinh học thông qua kết quả KTĐG.
- Việc điều chỉnh phương pháp dạy học Sinh học được dựa trên những cơ sở: Đánh giá
là một thành tố quan trọng không thể tách rời của quá trình dạy học Trong quá trình dạy học
GV phải xác định rõ mục tiêu của bài học/chủ đề và nội dung dạy học Từ nội dung dạy học GVthiết kế các học liệu, xác định phương pháp, kỹ thuật cũng như các điều kiện tổ chức quá trình dạy học sao cho hiệu quả Thông qua hiệu quả hoạt động của HS, GV có thể xác định được việc dạy học có hiệu quả hay không, có đáp ứng được mục tiêu đề ra hay không? GV thu thập thông tin phản hồi từ HS để đánh giá, qua đó điều chỉnh phương pháp, kỹ thuật dạy và giúp HS
có phương pháp học tập phù hợp, hiệu quả và cũng thông qua các hoạt động học mà phẩm chất, năng lực của HS được phát triển
- Những định hướng cho việc điều chỉnh phương pháp dạy học Sinh học thông qua kết quả KTĐG: Đánh giá phải diễn ra trong suốt quá trình dạy học, giúp HS liên tục được phản hồi
để tự biết được mình mạnh ở điểm nào, yếu ở điểm nào và là cơ sở để GV và HS cùng điều chỉnh hoạt động dạy và học Đánh giá phải tạo ra sự phát triển, nâng cao năng lực của người học, tức là giúp các HS hình thành khả năng tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau,… phát triển nănglực tự học
Đáp án tự luận Mô đun 3 môn Ngữ văn THPT
Câu 1: Trình bày các khái niệm: đo lường, đánh giá, kiểm tra
* Đo lường:
Trang 26Là việc so sánh một sự vật, hiện tượng với một thước đo hay chuẩn mực , có khảnăng trình bày kết quả dưới dạng thông tin định lượng Nói cách khác, đo lường liênquan tới việc sử dụng những con số vào quá trình lượng hóa các sự kiện, hiện tượnghay thuộc tính.
Trong lĩnh vực giáo dục, thước đo trên đây của đo lường thường là tiêu chuẩn hoặc tiêuchí Tham chiếu theo tiêu chuẩn là đối chiếu kết quả cần đạt của người này với người khác Ứng với tham chiếu này là các đề thi chuẩn hóa (Ví dụ như IELTS, SAT, ) Thamchiếu theo tiêu chí là đối chiếu kết quả đạt được của HS với các mục tiêu, yêu cầu cần đạt của bài học, của hoạt động giáo dục
* Đánh giá:
Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp và diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá (Ví dụ như kiến thức, kĩ năng, năng lực của HS, kế hoạch dạy học, chính sách giáo dục) Qua đó hiểu biết và đưa ra được các quyết định cần thiết về đối tượng
Đánh giá trong lớp học là quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin liên quan đến hoạt động học tập và trải nghiệm của học sinh nhằm xác định những gì HS biết hay chưabiết, hiểu hay chưa hiểu làm được hay chưa làm được Từ đó đưa ra quyết định phù hợptiếp theo trong quá trình giáo dục HS
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin về kết quả học tập của HS và được diễn giải bằng điểm số/ chữ hoặc nhận biết của GV, từ đó biết được mức độ đạt được của HS trong biểu điểm đang sử dụng hoặc trong tiêu chí đánh giá trong nhận xét của GV
* Kiểm tra:
Kiểm tra là một cách tổ chức đánh giá (hoặc định giá), do đó nó có ý nghĩa như đánh giá (hoặc định giá) Việc kiểm tra chú ý nhiều đến việc xây dựng công cụ đánh giá như câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra Các công cụ này được xây dựng trên một căn cứ xác định, chẳng hạn như đường phát triển năng lực hoặc các rubic trình bày các tiêu chí đánh giá
Câu 2: Thầy cô hãy cho ý kiến nhận xét của mình về sơ đồ hình sau:
* Quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS thểhiện như sau: Đánh giá vì học tập, đánh giá là học tập, đánh giá kết quả học tập
- Đánh giá vì học tập:
Đánh giá cần diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học để GV phát hiện sự tiến bộ của HS từ đó hỗ trợ, điều chỉnh quá trình dạy học Mục đích của đánh giá nhằm cung cấp thông tin để GV và Hs cải thiện chất lượng dạy học Kết quả của đánh giá
Trang 27này không nhằm so sánh giữa các HS với nhau mà để làm nổi bật những điểm mạnh vàđiểm yếu của mỗi HS và cung cấp cho HS thông tin phản hồi để HS đó tiếp tục việc họccủa mình ở các giai đoạn tiếp theo Với đánh giá này, GV giữ vai trò chủ đạo
nhưng HS cũng được tham gia vào quá trình đánh giá HS có thể tự đánh giá hoặcđánh giá lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của GV, qua đó học tự đánh giá được khả nănghọc tập của mình để điều chỉnh hoạt động học tập được tốt hơn
- Đánh giá là học tập:
Đánh giá cần diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học(đánh giá quá trình) trong đó
GV tổ chức để HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng, coi đó là một hoạt động học tập để
HS thấy được sự tiến bộ của mình so với yêu cầu cần đạt của bài học/môn học, từ đó HSđiều chỉnh việc học Với đánh giá này, HS giữ vai trò chủ đạo trong quá trình đánh giá, HS
tự giám sát hoặc theo dõi quá trình học tập của mình theo những tiêu chí do GV cung cấp Kết quả này không được ghi vào học bạ mà chỉ có vai trò như một nguồn thông tin phản hồi để người đọc tự ý thức khả năng học tập của mình ở mức độ nào từ đó thiết lập mục tiêu học tập cá nhân và lên kế hoạch học tập tiếp theo
Đánh giá kết quả học tập : là đánh giá những gì HS đạt được tại thời điểm cuối một giaiđoạn giáo dục và được đối chiếu với chuẩn đầu ra nhằm xác nhận kết quả đó so với yêucầu cần đạt của bài/môn học/ cấp học GV là trung tâm trong quá trình đánh giá và ngườihọc không được tham gia vào các khâu của quá trình đánh giá
> Từ đó ta thấy quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất,năng lực HS khác với quan điểm truyền thống về kiểm tra đánh giá về kĩ thuật đánh giá, quátrình và đối tượng tham gia đánh giá
Câu 3: Sự khác biệt giữa mục đích chủ yếu của đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức,
kĩ năng là gì?
Về bản chất thì không có mâu thuẫn giữa đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức kỹ năng, màđánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kỹ năng Để chứng minh HS có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho HS được giải quyết vấn
đề trong tình huống mang tính thực tiễn Khi đó HS vừa phải vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã được học ở nhà trường, vừa phải dùng những kinh nghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng và xã hội) Như vậy, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực,người ta có thể đồng thời đánh giá được cả
kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học Mặt khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chương trình giáo dục môn học như đánh giákiến thức, kỹ năng, bởi năng lực là tổng hòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức,…được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con người.Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữađánh giá năng lực người học và đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học như sau:
Trang 28Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lực người học và đánhgiá kiến thức, kỹ năng của người học như sau:
Tiêu chí so sánh Đánh giá năng lực Đánh giá kiến thức, kĩ năng
- Đánh giá khả năng HS vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào
người học với nhau.
kiến thức, kỹ năng, thái độ) được
học trong nhà trường.
- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ
ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải nghiệm của
- Quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng lực của người học.
độ ở một môn học.
có đạt được hay không một nội dung đã được học.
Câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ trong tình huống hàn lâm hoặc tình huống thực.
Đánh giá mọi thời điểm của quá trình
5 Thời điểm đánh
dạy học, chú trọng đến đánh giá giá
trong khi học.
Thường diễn ra ở những thời điểm nhất định trong quá trình dạy học, đặc biệt là trước và sau khi dạy.
hoàn thành.
vào số lượng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành.
Trang 29- Thực hiện được nhiệm vụ càng khó, càng phức tạp hơn sẽ được coi là có năng lực cao hơn.
thức, kỹ năng thì càng được coi là
có năng lực cao hơn.
Câu 4: Nêu tên các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh:
- Đảm bảo tính toàn diện và tính linh hoạt: Đánh giá phẩm chất, năng lực của HS là đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ và sự vận dụng chúng để giải quyết thành công các tình huống thựctiễn Do vậy cần sử dụng đa dạng, linh hoạt các phương pháp nhằm mục đích mô tả hoàn chỉnh, chính xác và toàn diện năng lực HS
- Đảm bảo tính phát triển: Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình kiểm tra, đánh giá, có thể pháthiện sự tiến bộ của HS , chỉ ra những điều kiện để cá nhân đạt kết quả tốt hơn về phẩm chất vànăng lực; phát huy khả năng tự cải thiện của Hs Trong hoạt động dạy học và giáo dục
- Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn: Để chứng minh người học có phẩm chất và nănglực ở mức độ nào đó, phải tạo cơ hội để họ được qỉai quyết vấn đề trong tình huống, bối cảnhmang tính thực tiễn Vì vậy, kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HSchú trọng xây dựng những tình huống, bối cảnh thực tiễn để HS được trải nghiệm và thể hiệnmình
- Đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học: Mỗi môn học đều có yêu cầu riêng về năng lực đặc thù được hình thành cho HS, vì vậy, việc kiểm tra đánh giá cũng phải đảm bảo tính đặc thù củamôn học nhằm định hướng cho GV lựa chọn và sử dụng các PP,công cụ đánh giá phù hợp vớimục tiêu và yêu cầu cần đạt của môn học
Câu 5: Tại sao có thể nói quy trình 7 bước kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh tạo nên vòng tròn khép kín?
- 7 bước kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh tạo nên vòng tròn khép kín vì kiểm tra, đánh giá
là một phần không thể thiếu được của quá trình dạy học nhằm giúp HS tiến bộ Kiểm tra, đánh giá vì sự tiến bộ nghĩa là quá trình kiểm tra, đánh giá phải cung cấp những thông tin phản hồi giúp HS biết mình tiến bộ đến đâu, những mảng kiến thức/kĩ năng nào có sự tiến bộ, mảng kiếnthức/kĩ năng nào còn yếu để điều chỉnh quá trình dạy và học Không chỉ GV biết cách thức, các
kĩ thuật đánh giá HS mà quan trọng không kém là HS phải học được cách đánh giá của GV, phải biết đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá kết quả học tập rèn luyện của chính mình Có như vậy, HS mới tự phản hồi với bản thân xem kết quả học tập, rèn luyện của mình đạt mức nào/đến đâu so với yêu cầu, tốt hay chưa tốt như thế nào Với cách hiểu đánh giá ấy mới giúp
Trang 30hình thành năng lực của HS, tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp HS nhận ra
sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập
- Kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS được thực hiện theo quy trình 7 bước Quy trình này được thể hiện cụ thể: Xác định mục đích đánh giá và lựa chọnnăng lực cần đánh giá Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá Xác định các tiêu chí/kĩ năng thểhiện của năng lực Xây dựng bảng kiểm đánh giá mức độ đạt được cho mỗi kĩ năng Lựa chọncông cụ để đánh giá kĩ năng Thiết kế công cụ đánh giá.Thẩm định và hoàn thiện công cụ Do
đó đánh giá năng lực người học là một khâu then chốt trong dạy học Để đánh giá đúng năng lực người học, cần phải xác định được hệ thống năng lực chung và năng lực chuyên ngành, xác định được các thành tố cấu thành năng lực và lựa chọn được những công cụ phù hợp để đánh giá, sao cho có thể đo được tối đa các mức độ thể hiện của năng lực
Câu 6: Thầy, cô hiểu thế nào là đánh giá thường xuyên?
ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN
* KHÁI NIỆM: Đánh giá thường xuyên là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện
dạy học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động dạy học Đánh giá thường xuyên được xem là đánh giá vì quá trình học tập hoặc vì sự tiến bộ của người học
* MỤC ĐÍCH:
- Thu thập minh chứng liên quan đến kết quả học tập của HS để cung cấp những phjarn hồi cho GV và HS biết những gì họ làm được và chưa làm được so với yêu cầu để điều chỉnh hoạt động dạy và học, đồng thời khuyến nghị để HS làm tốt hơn trong thời điểm tiếp theo
- Tiên đoán hoặc dự báo những bài học hoặc chương trình tiếp theo được xây dựng như thế nào cho phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí của HS
Trang 31- Đánh giá thường xuyên được thực hiện linh hoạt trong quá trình dạy học và giáo dục khônghạn chế bởi số lần đánh giá.
- Đối tượng tham gia đánh giá thường xuyên rất đa dạng: GV đánh giá, HS đánh giá, HS đánh giá chéo, phụ huynh đánh giá vfa đoàn thể đồng đánh giá
- Phương pháp kiểm tra đánh gí thường xuyên là: phương pháp kiểm tra viết, phương pháphỏi- đáp, phương pháp quan sát, đánh giá qua hồ sơ và sản phẩm học tập
- Công cụ đánh giá thường xuyên có thể dùng là : Thang đánh giá, bảng điểm, phiếu đánh giátheo tiêu chí, câu hỏi, hồ sơ học tập
* CÁC YÊU CẦU:
- Cần xác định rõ mục tiêu để lựa chọn PP, công cụ đánh giá phù hợp
- Nhấn mạnh đến tự đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí của bải học và phương hướng cải thiện để đáp ứng tốt hơn nữa
- Tập trung cung cấp thông tin phản hồi chỉ ra các nội dung cần chỉnh sửa đồng thời đưa ra lời khuyên cho hành động tiếp theo
- Không so sánh HS này với HS khác, hạn chế những nhận xét tiêu cực
- Chú trọng đến đánh giá các phẩm chất, năng lực trên nền tảng cảm xúc, niềm tin tích cực
- Giảm thiểu sự trừng phạt, đe dọa, chê bai, tăng sự ngợi khen, động viên HS
* VẬN DỤNG HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN TRONG MÔN NGỮ VĂN:
- Đánh giá thường xuyên được tiến hành trong suốt quá trình dạy học và tích hợp với quá trình này
Câu 7: Thầy, cô hiểu như thế nào là đánh giá định kì?
* KHÁI NIỆM: Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của học sinh sau một giai đoạn
học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học sinh so vớichuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sựhình thành, phát triển năng lực, phẩm chất học sinh
* MỤC ĐÍCH:
Nhằm thu thập thông tin từ HS để đánh giá kết quả học tập và giáo dục sau một giai đoạn họctập nhất định Kết quả này dùng để xác định thành tích của HS, xếp loại HS và đưa ra kết luậngiáo dục cuối cùng
Trang 32* NỘI DUNG,THỜI ĐIỂM NGƯỜI THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ
- Nội dung đánh giá định kì là đánh giá mức độ thành thạo của HS ở các yêu cầu cần đạt vềphẩm chất, năng lực sau một giai đoạn học tập (giữa kì, cuối kì)
- Đánh giá định kì thường được tiến hành sau khi kết thúc một giai đoạn học tập (giữa kì, cuốikì)
- Người thực hiện (giữa kì, cuối kì)định kì có thể là: GV đánh giá, nhà trường đánh giá và các tổchức kiểm định các cấp đánh giá
* PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ:
- Phương pháp: có thể là kiểm tra trên giấy, thực hành, vấn đáp, đánh giá thông qua sản
phẩm học tập và thông qua hồ sơ học tập
- Công cụ: có thể là câu hỏi, bài kiểm tra, dự án học tập, sản phẩm học tập
* YÊU CẦU:
- Đa dạng hóa trong sử dụng các phương pháp và công cụ đánh giá
- Chú trọng các phương pháp, công cụ đánh giá được những biểu hiện cụ thể về thái độ, hành
vi, kết quả, sản phẩm học tập của HS gắn với các chủ đề học tập và hoạt động trải nghiệm theohướng phát triển phẩm chất năng lực của HS
- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá trên máy để nâng cao năng lực tự học cho HS,
* VẬN DỤNG HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ TRONG MÔN NGỮ VĂN:
- Dạy học trong môn ngữ văn đánh giá định kì được thực hiện ở thời điểm gần cuối hoặc cuối một giai đoạn học tập, do cơ sở giáo dục tổ chức Đánh giá định kì thường thông qua các đề kiểm tra, các đề thi viết với hình thức tự luận hoặc kết hợp hình thức trắc nghiệm
Trang 33- Là PP GV thiết kế câu hỏi, bài tập,Mỗi bài kiểm tra tự luận thường ít câu hỏi, Hs có một sự tự
do tương đối khi trả lời các vấn đề đặt ra trong bài kiểm tra
- Câu hỏi tự luận có 2 dạng:
Câu hỏi tự luận mở rộng: là loại câu hỏi có phạm vi mở rộng và khát quát, HS tự do biểu đạt tư tưởng và kiến thức
Câu hỏi tự luận giới hạn: là loại câu hỏi được diễn đạt chi tiết, phạm vi câu hỏi được nêu
rõ để HS biết được độ dài ước chừng của câu trả lời
* Dạng trắc nghiệm khách quan:
- Mỗi bài trắc nghiệm khách quan bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi thường được trả lời bằngcách tự chọn một phương án cho trước
- Có 4 loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan"
Loại câu nhiều lựa chọn
Loại câu đúng sai
Loại câu điền vào chỗ trống
Loại câu ghép đôi
Câu 9: Thầy/cô hãy đưa ra một ví dụ về phương pháp quan sát trong dạy học Ngữ văn.
Ví dụ về phương pháp quan sát trong dạy học Ngữ văn:
Trước tiên ta cần xác định rõ quan sát có hai dạng:
- Quan sát tiến hành chính thức và định trước: Ví dụ như GV đánh giá HS khi các em đọc
bài hay trình bày báo cáo trước lớp GV quan sát một tập hợp các hành vi của HS như HS phát âm có rõ ràng không, có thể hiện sự tự tin, hiểu sâu bài không
- Quan sát không định sẵn và không chính thức: Ví dụ như GV thấy HS nói chuyện thay vì
thảo luận bài học, thấy một HS bồn chồn không yên và nhìn ra cửa sổ trong suốt giờ học hoặcmột em HS có biểu hiện bị tổn thương khi bị bạn trong lớp trêu chọc về quần áo của mình
Câu 10: Thầy/ cô hãy lấy một ví dụ về hỏi - đáp gợi mở và hỏi - đáp tổng kết trong
dạy học một bài học Ngữ văn cụ thể.
- Hỏi đáp gợi mở: là hình thức GV đặt những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt HS rút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết từ những sự kiện đã quan sát được hoặc những tài liệu đã học, được sử dụng khi cung cấp tri thức mới Ví dụ như GV hỏi HS những dạng câu hỏi: từ nhữngchi tiết đã phân tích, em rút ra kết luận gì về tính cách của nhân vật? , em có cảm nhận gì về tâm tình của nhà thơ qua các câu thơ vừa phân tích?
Trang 34- Hỏi đáp tổng kết: Là dạng hỏi - đáp được sử dụng khi cần dẫn dắt HS khái quát hóa, hệ thốnghóa những tri thức đã học sau một vấn đề, một phần, một chương hay một môn học nhất định Phương pháp này giúp HS phát triển năng lực khái quát hóa, hệ thống hóa tránh nắm bắt những đơn vị tri thức rời rạc, giúp các em phát huy tính mền dẻo của tư duy Ví dụ như GV có thể đặt các câu hỏi sau khi kết thúc tác phẩm thơ: Em hãy tổng kết lại mạch cảm xúc của nhân vật trữ trình được thể hiện trong bài thơ, hoặc GV có thể đặt câu hỏi sau khi dạy xong về một nhân vật trong tác phẩm văn xuôi: Em có cảm nhận gì về nhân vật này?
Hoặc:
- Bài giảng “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu):
Khi dạy phần: Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh
Tôi sử dụng câu hỏi sau để đưa học sinh đi từ đơn giản đến phức tạp, đến tình huống có vấnđề
Hỏi - đáp gợi mở: Phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ nhiếp ảnh tại vùng biển nọ là “một cảnh đắt trời cho” Anh (chị) hiểu một “cảnh đắt trời cho” ở đây nghĩa là thế nào? Và vì sao người nghệ sĩ lại gọi cái cảnh tượng ấy như vậy?
Hỏi - đáp tổng kết: Trong phần Tiểu dẫn của bài học, tác giả Sách giáo khoa giới thiệu:
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” kể lại chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh và những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời Qua bài học, anh (chị) đã hiểu điều đó như thế nào?
Câu 11: Trong thực tế dạy học, thầy/ cô đã sử dụng phương pháp đánh giá hồ sơ học tập cho học sinh như thế nào?
Hồ sơ học tập của học sinh là một bộ sưu tập có mục đích và có tổ chức những công việc củahọc sinh, được tích lũy trong suốt một thời gian và thể hiện sự nỗ lực, tiến trình của học sinh
và những gì các em đạt được Tôi đã sử dụng các pp đánh giá hồ sơ qua hai loại:
Hồ sơ đọc: Đọc hiểu văn bản theo loại thể là một yêu cầu cơ bản đối với việc dạy đọc
hiểu văn bản cho học sinh Ở bậc THPT, học sinh được tiếp cận một số thể loại cơ bản như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, kịch, với một số tiết nhất định theo quy định.Hồ
sơ đọc này có thể là một hồ sơ lưu trữ tất cả tài liệu đọc độc lập của học sinh; được học sinh dùng để chuẩn bị bài mới, ghi chép lại nhận xét của mình về từng bài học trong sách giáo khoa; hoặc ở mức độ cao hơn là đọc những tác phẩm bên ngoài sách khoa (theo gợi
ý của giáo viên hoặc theo sở thích cá nhân của học sinh)
Hồ sơ bài viết: Một học kì, theo quy định học sinh THPT phải viết từ 4 - 5 bài viết một hồ
sơ theo dõi sát sao quá trình tạo lập các loại văn bản được dạy trong sách giáo khoa cũng như sự tiến bộ của chính người học trong suốt học kì hoặc cả năm học là việc cần
Trang 35thiết Vào đầu học kì, giáo viên thông báo cho học sinh biết số lượng bài viết cần thực hiện trong suốt học kì Căn cứ vào đó học sinh sẽ biết số lượng bài viết tối thiểu mình cầnthực hiện trong hồ sơ bài viết.
Sau đó, trước mỗi bài viết (trước đây là bài kiểm tra) giáo viên cần xác định rõ yêu cầu của bàiviết, tiêu chuẩn đánh giá để làm căn cứ thực hiện cho học sinh
Sau khi học sinh thực hiện bài viết đầu tiên, giáo viên có thể xem xét và ghi lại lời đánh giácho học sinh Lời nhận xét này cần bao gồm hai phần: Phần ưu điểm cần phát huy và phầnnhược điểm cần khắc phục trong những bài viết sau thật ngắn gọn và rõ ràng
Ở giai đoạn này giáo viên có thể cho điểm để học sinh dễ dàng biết được mức độ năng lực của mình hoặc không cho điểm tùy theo mục đích riêng
Ở bài viết thứ hai, giáo viên cũng tiến hành thao tác nhận xét tương tự Tuy nhiên ở bước nàygiáo viên cần so sánh bài viết này với bài viết trước để học sinh nhận ra sự tiến bộ (hoặcgiảm sút) của mình qua từng bài viết
Lần lượt như thế suốt cả học kì, giáo viên sẽ có phần tổng kết nhận xét sự tiến bộ của học sinhqua từng bài viết Tự bản thân mỗi học sinh cũng sẽ đánh giá được năng lực của mình
Câu 12: Theo thầy/cô, sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm có thể đánh giá
được năng lực chung và phẩm chất của học sinh không?
Sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm có thể đánh giá được năng lực chung và phẩm chất của học sinh nhưng tùy vào ngữ cảnh cụ thể
- Đối với sản phẩm giới hạn ở những kĩ năng thực hiện trong phạm vi hẹp như : cắt hình, xếphình, hát một bài sẽ chỉ đánh giá được kĩ năng của HS
- Đối với sản phẩm đòi hỏi người học phải kết hợp nhiều nguồn thông tin, các kĩ năng có tính phức tạp hơn và mất nhiều thời gian hơn có thể đánh giá được năng lực chung và phẩm chất của HS bởi vì phải huy động nhiều kiến thức, kĩ năng, thái độ để đáp ứng được yêu cầu đã đưa
ra và tốn thời gian để hoàn thành sản phẩm, vì thế trong quá trình hợp tác với các thành viên khác, GV có thể quan sát thái độ và kĩ năng của từng HS cho đến khi sản phẩm được hoàn thành
Câu 14: Theo thầy/cô, trong dạy học Ngữ văn, có những dạng sản phẩm học tập nào?
Có hai dạng sản phẩm học tập:
- Sản phẩm giới hạn ở những kĩ năng thực hiện trong phạm vi hẹp như : cắt hình, xếp hình, hátmột bài
Trang 36- Sản phẩm đòi hỏi người học phải kết hợp nhiều nguồn thông tin, các kĩ năng có tính phức tạphơn và mất nhiều thời gian hơn Sản phẩm này có thể đòi hỏi sự hợp tác giữa các HS và nhóm HS,thông qua đó, HS có thể đánh giá được năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HS.
Câu 15: Trình bày định hướng đánh giá kết quả giáo dục theo Chương trình giáo dục phổ thông (2018).
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng tiếp cận năng lực tập trung vào cácđịnh hướng sau:
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học (đánh giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng các loại hình thức đánh giá thường xuyên,đánh giá định kỳ sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh quá trìnhdạy học (đánh giá quá trình);
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực của người học Tức làchuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức, … sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo;
- Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là một phương pháp dạy học;
- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá: sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độ giá trị) và sửdụng các mô hình thống kê vào xử lý phân tích, lý giải kết quả đánh giá
Câu 16: Trình bày ngắn gọn định hướng đánh giá kết quả giáo dục trong dạy học môn Ngữ văn.
Định hướng đánh giá kết quả giáo dục trong dạy học môn ngữ văn thể hiện trên 4 phương diện
- Mục tiêu đánh giá: Nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về đáp ứng yêu cầucần đạt, về phẩm chất, năng lực và những tiến bộ của HS trong suốt quá trình học tập môn học
để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, quản lí và phát triểnchương trình đảm bảo sự tiến bộ của từng HS và nâng cao chất lượng giáo dục
- Căn cứ đánh giá: Căn cứ đánh giá kết quả giáo dục trong môn ngữ văn là yêu cầu cần đạt
về phẩm chất, năng lực đối với HS mỗi lớp học, cấp học quy định trong chương trình
- Nội dung đánh giá: trong môn ngữ văn, Gv đánh giá phẩm chất, năng lực chung, năng lực đặc thù và sự tiến bộ của HS qua các hoạt động học (Viết, nói, nghe)
Trang 37- Cách thức đánh giá: đánh giá trong môn ngữ văn được thực hiện bằng hai cách : Đánh giáthường xuyên và đánh giá định kì.
Câu 17: Thầy/cô hãy chia sẻ kinh nghiệm của mình về việc xây dựng đề kiểm tra.
Để thực hiện tốt việc đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá Trước hết người giáo viên cần phải hiểu và nắm vững lý luận chung và phương pháp luận, nắm chắc mục đích đánh giá trong giáo dục được tiến hành ở những cấp độ khác nhau, đối tượng, phương pháp cũng khác nhau và mục đích khác nhau Nhưng nhìn chung đánh giá là làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh đối chiếu với yêu cầu của chương trình ở từng môn học.Ngoài ra việc bám theo chuẩn kiến thức, SGK giáo viên còn phải biết tham khảo các tài liệu có liên quan để biên soạn đề kiểm tra cho phù hợp với trình độ học sinh Định hướng đề kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kỹ năng, nội dung kiểm tra phong phú và có tính phân hóa cho từng đối tượng học sinh Lâu nay dường như trong các nhà trường phổ thông chúng ta chỉ quen với 2 loại đánh giá:
+ Đánh giá thường xuyên: Như kiểm tra miệng, 15 phút
+ Đánh giá định kỳ: Kiểm tra 45 phút, cuối kỳ, cuối năm Đánh giá là một quá trình, theo một quy trình, việc kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với đặc thù bộ môn, phù hợp với lứa tuổi, tâm sinh lý học sinh Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức của học sinh, điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục Khi biên soạn
đề kiểm tra cần theo các quy trình sau:
1 Xác định mục tiêu bài kiểm tra
2 Xác định nội dung bài kiểm tra
3 Xác định cấu trúc bài kiểm tra
4 Xây dựng ma trận đề kiểm tra
5 Đánh giá, cho điểm
6 Xác định hình thức bài kiểm tra
Câu 18: Nêu các loại câu hỏi xếp theo thứ tự từ thấp đến cao theo thang đánh giá của Bloom.
1 Nhớ: ở cấp độ này giáo viên chủ yếu là gợi cho học sinh nhớ lại các khái niệm Với loại câu hỏi này chỉ cần dùng vài từ để trả lời , câu trả lời không cần suy luận mà đơn giản chỉ là
yêu cầu học sinh nhớ lại những gì giáo viên vừa dạy Ví dụ bạn có thể hỏi ”hình vuông có mấy
Trang 38cạnh” sau khi bạn đã giảng về hình vuông, trái đất hình gì sau khi học về Trái đất Các từthường được dùng là: kể lại, mô tả, cho biết, tên là gì, ai…
2 Hiểu: câu hỏi nhận thức hướng đến khả năng hiểu những điều vừa được nghe giảng Đôi
khi đó cũng đơn giản chỉ là hiểu những điều vừa được dạy Học sinh không cần phải hiểu kháiniệm thật sâu sắc hoặc hiểu các mối quan hệ mà trẻ vừa được học Trẻ chỉ cần có khả năng tóm tắt lại hoặc kể lại, ví dụ giáo viên có thể hỏi: bạn nào có thể nói cho cô biết câu chuyện kểcho chúng ta về việc gì, chúng ta hãy mô tả lại (từng đoạn), hãy thảo luận về…, ai có thể giải thích được, làm báo cáo , hãy lựa chọn… đoán, kể lại theo cách của các con, tự tìm từ của mình
3 Vận dụng: có nghĩa là “sử dụng sự trừu tượng trong những tình huống cụ thể hoặc tình
huống đặc biệt” Mục tiêu của mức độ này là học sinh đơn giản sử dụng hoặc ứng dụng những gì giáo viên đã dạy cho trẻ Vận dụng không yêu cầu trẻ phải tự phát triển sự trừu tượng Ví dụ nếu bạn đang dạy trẻ về diện tích của hình chữ nhật, vận dụng có thể bao gồm
cả việc cung cấp cho học sinh các con số để học sinh điền vào công thức và tính toán
Bạn có thể thường dùng tới các yêu cầu ở mức độ này: ứng dụng, giải thích, tính toán, hoàn thành, minh họa, biểu diễn, giải quyết, xem xét, thay đổi, phân loại, thí nghiệm, khám phá
4 Phân tích: khám phá một số khái niệm theo chi tiết để hiểu tốt hơn hoặc rút ra kết luận từ
những khám phá đó Để có thể phân tích trẻ cần hiểu các khía cạnh của khái niệm, có thể kếtnối các ý kiến và xem xét những ý kiến này ảnh hưởng tới nhau như thế nào
Ví dụ sau khi tìm hiểu về núi lửa bạn có thể hỏi: “điều gì làm cho núi lửa phun trào?”
Bạn có thể cần yêu cầu trẻ phân biệt, so sánh, nêu sự đối lập, phê phán, kết hợp, phân loại, sosánh, chọn lựa, tách ra, giải thích, suy ra, đặt câu hỏi
5 Đánh giá: Nghiên cứu chi tiết sự vật để đánh giá giá trị, chất lượng, tầm quan trọng, quy mô
và điều kiện Không đơn giản chỉ là đưa ra ý kiến, mà học sinh cần so sánh và suy xét các ý kiến, đánh giá giá trị của các ý kiến, trình bày, lựa chọn dựa trên những kiến thức thu được
Ví dụ bạn hỏi: Nếu bạn đi cắm trại và chỉ có thể mang theo 4 đồ vật, bạn sẽ mang theo nhữnggì?
Bạn có thể yêu cầu trẻ đánh giá tình huống, ra quyết định sau khi đánh giá tình hình, xếp loạitheo mức độ, kiểm tra, đo đạc, đưa ra lời khuyên, thuyết phục người khác về ý kiến củamình, lựa chọn, giải thích, phân biệt, ủng hộ, kết luận
6 Sáng tạo: Học sinh sẽ được yêu cầu đưa ra sản phẩm mới, ví dụ sắp xếp lại câu chuyện
theo cách khác, xây dựng lại theo cách mới, biến đoạn văn xuôi thành văn vần hoặc bài hát,thay vì hát thì có thể đọc rap… Đối với học sinh lớn bạn có thể yêu cầu trẻ viết lại theo cách
Trang 39của trẻ, đưa ra kết luận mới, phát triển câu chuyện theo một hướng khác, lập kế hoạch của trẻ cho một hoạt động nào đó….
Câu 19: Thầy, cô hãy lấy ví dụ về 1 bài tập tình huống trong dạy học môn Ngữ văn.
Tên bài học: Chiếc thuyền ngoài xa
- Mô tả tình huống: Trong cuộc sống vẫn còn có rất nhiều trường hợp bạo hành gia đình xảy
ra mà nạn nhân đáng thương nhất là những người vợ nhẫn nhịn, cam chịu; những đứa con cótuổi thơ bất hạnh
- Câu hỏi của GV: Nếu em là một trong những đứa con sống trong gia đình hằng ngày
chứng kiến cảnh cha bạo hành, đánh đập mẹ thì em sẽ làm gì?
- GV dự kiến câu trả lời: HS có thể trả lời theo nhiều hướng khác nhau, cần hướng đến suy nghĩ hành động tích cực ví dụ như: Hs sẽ nhờ sự giúp đỡ của hội phụ nữ hoặc các cơ quan cóthẩm quyền giúp đỡ để không còn tình trạng bạo lực gia đình xảy ra
Sản phẩm học tập
Câu 20 Hãy trình bày mục đích sử dụng sản phẩm học tập trong kiểm tra đánh giá.
Mục đích sử dụng sản phẩm học tập trong kiểm tra đánh giá:
- Đánh giá sự tiến bộ
- Đánh giá năng lực vận dụng, năng lực hành động thực tiễn
- Kích thích động cơ, hứng thú học tập
- Phát huy tính tự lực, ý thức trách nhiệm sáng tạo
- Phát triển năng lực giải quyết vấn đề, năng lực cộng tác làm việc
Câu 21: Hãy trình bày cách sử dụng sản phẩm học tập trong kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn.
Cách sử dụng sản phẩm học tập trong kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn:
- Sử dụng sản phẩm học tập để đánh giá sự tiến bộ, khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng,thái độ vào trong các hoạt động thực tiễn sau khi Hs kế thừa một quá trình thực hiện các hoạtđộng học tập
- Để thống nhất về tiêu chí và các mức độ khi đánh giá sản phẩm học tập, GV có thể thiết kếthang đo, bảng điểm và phiếu đánh giá theo tiêu chí