1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Phân tích Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm

15 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và đây cũng là cách mà tác giả Ngô Thì Nhậm như cũng đã muốn cho sĩ phu hiền tài thấ y được vua Quang Trung như thật đã biế t tr ọng người tài và rấ t m ự c c ầ u hi ền để cùng vua gi[r]

Trang 1

VĂN MẪU LỚP 11

ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH BÀI CHIẾU CẦU HIỀN CỦA NGÔ THÌ NHẬM

A SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý

B DÀN BÀI CHI TIẾT

1 Mở bài

- Giới thiệu về bài Chiếu cầu hiền và tác giả Ngô Thì Nhậm

- Dẫn dắt vào vấn đề

2 Thân bài

- Những nét khái quát chung

Trang 2

• Xuất xứ: được tác giả Ngô Thì Nhậm viết thay vua Quang Trung vào khoảng năm

1788, 1789 nhằm thuyết phục các trí thức cũ đất Bắc Hà ra cộng tác với triều đình Tây Sơn

• Thể loại: Chiếu: văn bản do vua, chúa ban ra để triều đình hoặc toàn dân đọc và thực hiện mệnh lệnh hoặc yêu cầu trọng đại của đất nước, hoàng tộc hay bản thân nhà vua

• Bố cục: 3 phần

o Phần 1: Vai trò và sứ mệnh của hiền tài đối với đất nước

o Phần 2: Những trăn trở nhằm kêu gọi hiền tài ra giúp nước

o Phần 3: Con đường để tuyển hiền tài và khích lệ hiền tài

• Chủ đề: Bày tỏ tâm huyết của vua Quang Trung mong có được hiền tài ra giúp nước

- Phân tích:

• Đối tượng và mục đích bài chiếu

o Đối tượng: các sĩ phu Bắc Hà, những tri thức mà vì nhiều lẽ mà chưa ra giúp vua, giúp nước

o Mục đích: thuyết phục các sĩ phu Bắc Hà ra giúp vua giúp nước

• Những lí lẽ thuyết phục qua bài chiếu:

o Nêu thiên tính của hiền tài:

✓ Ví người hiền như sao sáng trên trời để ngợi ca và nêu rõ thiên chức của hiền tài theo quy luật của tự nhiên: tinh tú phải chầu về sao Bắc Thần…

✓ Tác giả đã chỉ ra mối quan hệ tất yếu của nhà vua và người hiền: hiền tài phải phục vụ thiên tử theo đúng mệnh trời

o Cách ứng xử của sĩ hiền tài, thực trạng đất nước và chỉ ra vai trò của họ đối với đất nước trong thời đại mới

✓ Cách ứng xử: lãng tránh bằng mọi cách để không ra giúp vua, giúp nước (bỏ đi ở ẩn, mai danh ẩn tích, ra làm quan thì cầm chừng, e dè… )

✓ Đặt câu hỏi theo thế lưỡng phân: hoặc nhà vua ít đức hoặc đang thời loạn lạc

✓ Thẳng thắng tự nhận những khó khăn, hạn chế của triều đại mới do mình đứng đầu

Trang 3

✓ Chỉ ra vai trò của người hiền: một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình  khẳng định

sự cần thiết sử dụng nhân tài, và hiện nay nhân tài có nhưng lại không chịu ra giúp sức

 Lời lẽ trong bài chiếu khiêm nhường, tha thiết, lập luận chặt chẽ, có tình có lí

o Đường lối cầu hiền:

✓ Cho phép hiền tài tự mình dâng sớ tỏ bày việc nước mà không sợ bắt tội

✓ Các quan tiến cử

✓ Tự dâng sớ tiến cử chính bản thân

✓ Các biện pháp cầu hiền cụ thể, đúng đắn, rộng mở, dân chủ…

- Nghệ thuật:

• Là một bài văn nghị luận có tính mẫu mực: các luận điểm, luận cứ logic, chặt chẽ, thuyết phục trong cách bày tỏ thái độ khiêm tốn của người viết

• Các điển cố, sử dụng các hình ảnh so sánh…

• Lời văn ngắn gọn, chặt chẽ

3 Kết bài:

- Nêu nhận xét, đánh giá chung về bài chiếu

- Mở rộng vấn đề bằng liên tưởng và suy nghĩ của cá nhân

C BÀI VĂN MẪU

Bài văn mẫu 1

“Chiếu cầu hiền” là bài chiếu mà vua Quang Trung- Nguyễn Huệ giao cho Ngô Thì

Nhậm viết bài chiếu để chiêu mộ người có đức, có tài ra phục vụ triều đình giúp dân, giúp nước Thay tâm nguyện của đức vua Ngô Thì Nhậm đã thể hiện cho muôn dân thấy được tấm lòng vì dân, vì nước của vua Quang Trung, cũng như sự hiểu biết và tầm nhìn xa trông rộng của đức vua

Yêu cầu đối với một bài chiếu là rất cao, rất khắt khe, đòi hỏi người viết phải am hiểu sâu sắc hoàn cảnh lịch sử xã hội, nắm được những nhu cầu của đất nước lúc bấy giờ, phải dùng được những lời lẽ để thuyết phục được lòng dân, khiến muôn dân tâm phục khẩu phục Ngô Thì Nhậm là một người tài giỏi có trình độ uyên tâm lỗi lạc, là người rất có tài

Trang 4

thuyết phục lòng người Qua tác phẩm “chiếu cầu hiền” chúng ta đã thấy được tài năng

xuất sắc của tác giả vì cách lập luận chặt chẽ lời lẽ rõ rằng, tao nhã

Ngay từ những câu mở đầu của bài chiếu, với những lời lẽ sâu sắc, tác giả đã khiến lòng người phải nể phục

“Từng nghe người hiền ở trên đời cũng như sao sáng trên trời Sao tất phải chầu về Bắc thần, người hiền tất phải do thiên tử sử dụng”

Tác giả đã thay mặt nhà vua khẳng định với muôn dân rằng, người hiền tài là những

tài sản quý giá của đất nước, giống như “sao sáng trên trời”, mà người tài tất phải ra giúp vua trị nước mới xứng đáng với “ý trời” đã sinh ra Cách so sánh đầy sáng tạo của tác giả

đã tăng thêm tính thuyết phục của bài chiếu Hình ảnh “sao sáng trên trời” tượng trương

cho sự tinh anh, khiến nhà vua rất lấy làm trân trọng

Sau khi đã chỉ ra tầm quan trọng của người tài đối với vua, đối với đất nước, tác giả lại đưa ra những khó khăn trong việc thu phục người tài ra giúp nước Nếu không thu phục được hết người tài thì thật là phí hoài Nếu trong cảnh chiến sự thì việc quốc sự còn nhiều nhưng nay đất nước đã thái bình, nhà vua cần có sự hợp sức của nhân tài để đất nước được phồn vinh, thịnh vượng hơn Thế mà người hiền thì ở ẩn hoặc cố giữ lấy khí tiết của mình mà không để ý đến việc quốc gia đại sự Hoặc có những người cũng ra giúp

vua nhưng không tận tâm trong công việc Tác giả viết “cũng có người giữ cửa, ra bể vào sông, chết đuối trên cạn mà không tự biết” Đây là cách phê phán nhẹ nhàng và tế nhị

nhưng ẩn ở phía sau là những hàm ý rất thâm thúy

Nhân tài là báu vật mà ông trời đã ban cho đất nước, vì vậy việc tập hợp người hiền tài giúp nước là công việc rất quan trọng hơn lúc nào hết, nhà vua luôn sớm hôm mong mỏi Vua Quang Trung là vị vua anh minh của dân tộc, sau khi đã dẹp tan giặc, ông rất

quan tâm đến đời sống của nhân dân “Dân khổ chưa hồi sức, đức hóa chưa thấm nhuần, trẫm chăm chăm run sợ, mỗi ngày muôn việc lo toan Nghĩ rằng: sức một ngày không chống nổi tòa nhà to, mưu lược của kẻ thù sẽ không đựng được thái bình” Đoạn văn chứa đựng

tấm lòng nhà vua vì sự bình an dân chúng và sự phồn vinh nước nhà Những lời văn chan chứa tâm huyết của nhà vua Quang Trung cho thấy vua không lúc nào không nghĩ tới cuộc sống của nhân dân và lo toan cho quốc gia đại sự Tấm lòng đó quả là rộng lớn và quý báu của một vị vua một lòng vì dân vì nước, dâng hiến cả cuộc đời cho dân tộc Có một vị vua

Trang 5

và lý tưởng cao đẹp như thế đất nước sẽ luôn được thái bình, dân chúng sẽ luôn được hưởng ấm no hạnh phúc

Qua đó ta thấy được tình yêu nước, thương dân nồng nàn của một đức minh quân tài ba Vua Quang Trung là một trong những vị vua đầu tiên luôn đề cao tính dân chủ trong việc tuyển dụng nhân tài giúp nước, cách nhìn xa trông rộng đó chứng tỏ nhà vua

là người am hiểu quy luật phát triển của lịch sử, để thấy được tương lai sau này của đất nước Vì trong sâu thẳm tấm lòng nhà vua luôn nung nấu mộ khát vọng làm sao cho dân

ấm no, hạnh phúc, đất nước giàu mạnh Đó cũng là mơ ước của nhà vua nhằm canh tân đất nước

Bài “Chiếu cầu hiền” thể hiện cái tâm, cái tài của vua Quang Trung và cũng là cái tài,

cái tâm của Ngô Thì Nhậm Với tài năng của mình Ngô Thì Nhậm đã truyền tải hết được tấm lòng đối với dân với nước của vua Quang Trung, khiến cho muôn dân phải thán phục Với tài năng và đứ độ của vị vua anh minh này dân tộc ta đã có một thời gian được ấm no, hạnh phúc, đó là thời kì thịnh vượng của nước nhà

Bài văn mẫu 2

Ra chiếu cầu hiền là một việc làm quen thuộc của các bậc đế vương lúc mới lên ngôi

và lúc đang ra tay xếp đặt lại chính sự Không có gì đáng ngạc nhiên khi ta thấy văn học

trung đại còn để lại nhiều "tờ" chiếu cầu hiền, được viết bới những tác giả khác nhau,

thừa lệnh những ông vua khác nhau Số lượng tuy nhiều nhưng không phái chiếu cầu hiền nào cũng được hậu thế thưởng thức như một áng văn có giá trị, được các nhà sử học quan tâm tìm hiểu kĩ càng để có thể nhận ra dược thực chất của một triều đại và tầm nhìn của một đấng quân vương Điều này có liên quan đến văn tài của người viết cùng tình huống lịch sử buổi chiếu cầu hiền được ban bố (với loại hình tác phẩm như chiếu cầu hiền, việc tìm hiểu kì càng những yếu tố ngoài văn bản có ý nghĩa rất quan trọng) Chiếu cầu hiền

do Ngô Thì Nhậm viết thay mặt vua Quang Trung là một "tờ" chiếu nổi tiếng Nổi tiếng

bởi nó gắn với tên tuổi của một người có công nghiệp rỡ ràng, hiển hách bậc nhất trong lịch sử nước nhà, nhưng chưa được một số tầng lớp nhất định trong xã hội (nhất là giới

sĩ phu Bắc Hà) tuyệt đối ngưỡng phục, do ông xuất thân không phải từ thành phần quý tộc, lại khởi nghiệp từ một miền đất mới và do vài nguyên nhân khác nữa Nổi tiếng bời

nó ra đời vào điểm cuối của một thời loạn lạc triền miên (kéo dài trong suốt gần hai trăm

Trang 6

năm), khi nhân tâm li tán cùng cực, từ kẻ sĩ đến thứ dân, không mấy người tin và dám tin vào một cái gì chắc chắn Đặc biệt, nổi tiếng do nó được viết bởi một trí thức hàng đầu của đất nước thời đó là Ngô Thì Nhậm - người đã biết vượt lên mọi dị nghị, hăng hái đứng

ra phục vụ tân triều,

Khi đảm trách việc viết Chiếu cầu hiền cho vua mới, Ngô Thì Nhậm có được những thuận lợi lớn: quan hệ giữa ông và Quang Trung là rất tốt đẹp Quang Trung hiểu ông, trọng dụng ông và ông không chỉ phục mà còn biết ơn sâu xa người anh hùng này Nhưng ông không phải chỉ gặp toàn thuận lợi Tiếng gì ông cũng là bề tôi cũ của chúa Trịnh, giờ nói về đức sáng của Nguyễn Huệ, không dễ gì thuyết phục được những người cố chấp

Thêm nữa, ông hiểu những khó khăn riêng của vị vua "áo vải cờ đào" này (mà ở trên đã

đề cập) Ông không có được sự thoải mái hoàn toàn như Nguyễn Trãi ngày xưa khi cũng thảo Chiếu cầu hiền (thay mặt Lê Lợi, lúc cuộc bình Ngô đã thành công trọn vẹn) Ban Chiếu cầu hiền, Lê Lợi hoàn toàn có lí do để không phải tỏ thái độ quá khiêm nhường Nguyễn Trãi hiểu diều đó nên dã thể hiện lời của Lê Lợi như một mệnh lệnh nghiêm khắc:

"Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã " Nguyễn Trãi cũng biết rõ uy lực

của một bậc đế vương vừa hoàn thành đại nghiệp, rất quyết doán trong việc thưởng phạt,

nên đã viết: "Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng", Những điều vừa được trình bày cho

thấy: dù chiếu là một thể loại văn bản hành chính của nhà nước, nó có những dinh lệ riêng, nhưng không phải vì thế mà viết nó chỉ là việc mỏ phỏng theo công thức Tính cách,

tư tướng, tầm nhìn của các vị vua là khác nhau Tình hình đất nước trong mỗi thời lại có những nét đặc thù Bởi vậy, mức độ nhạy cảm về chính trị, khả năng luận thuyết, tài văn chương, của người lĩnh mệnh thảo chiếu luôn có đất đê thể hiện Đọc Chiếu cầu hiền do Ngô Thì Nhậm viết thay mặt Quang Trung, độc già ngày nay có thể hiểu được rất nhiều điều về hai nhân vật xuất chúng này của đất nước - riêng từng người và cả mối quan hệ vua - tôi đầy đồng cảm, đầy tâm đắc giữa họ nữa Chiếu cầu hiền ta đang nói có ba phần lớn, liên kết với nhau theo một lô gích chặt chẽ Phần đầu của văn bản tập trung luận về

người hiền và chức năng của họ Người hiền được tác giả ví "như ngôi sao sáng trôn trời cao" và chức năng của họ được xác định là "làm sứ giả cho thiên tử" Mối liên hệ giữa hai

vấn đề này là gì? Tại sao không ví người hiền với đối tượng nào khác ? Tất cả những điều

Trang 7

này đều đã được tác giả ý thức Người hiền như sao sáng - riêng so sánh này đã toát lên ý tôn vinh và trân trọng rất mực Nhưng trong mạch lập luận của mình, tác giả nói đến nhiều ngôi sao là để dẫn chúng ta tới một ngôi sao chính: sao Bắc Thần (tức là Bắc Đẩu) Bắc Thần trước hết là sao - một ngôi sao có vị trí đặc biệt trên bầu trời, không ai không biết Quan trọng hơn, Bắc Thần còn là hình ảnh tượng trưng cho hoàng đế, theo cách hình dung của đức Khổng Tử Thì ra mấu chốt của mối liên hệ là ở chỗ này Mọi sao trên trời đều chầu về sao Bắc Thần nằm ở vị trí trục quay của trái đất (nói theo kiến thức thiên văn của người ngày nay), vậy sao - hiền - tài từ các miền không chầu về sao - Bắc - Thần - thiên

- tử thì còn chầu về đâu nữa! Đó thực là một lẽ tất yếu Đạo người, luật người phải tương hợp, phải thuận theo đạo trời, luật trời, không thể khác được Từ một so sánh tưởng chừng ngẫu hứng và nặng vé tình cảm, tác giả dẫn người đọc tới một kết luận nghiêm túc

và hết sức lồ gích Như vậy, ngay từ mấy câu đầu, cái hay trong cách lập luận của áng văn

đã được thể hiện Hiệu quả của cách lập luận đó là vừa thuyết phục dược người ta về lí, vừa thuyết phục được người ta về mặt tâm linh Tất nhiên, còn có thể nói thêm: việc tác giả vận dụng một ý trong sách Luận ngữ là rất giàu ý nghĩa Đưa lời Khổng Tử ra từ đầu, tác giả đã tạo nên được tính chính danh cho Chiếu cầu hiền Đối với nhà nho xưa, lời dức Khổng Tử chính là chân lí, nào ai dám không nghe theo Và phái dâu vua mới là ke võ biền

ít học, không biết lễ nghĩa! Sau khi đã dặt được "viên đá tảng" cho toàn bộ hệ thống lập luận của áng văn, cũng ngay trong phần đầu, tác giả viết: "Nếu như che mất ánh sáng, giấu

đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy" Ý thì đòi hỏi mà giọng lại thấm đẫm nhân tình và chứa chan khích lệ Vẫn là một thái

độ chân thành yêu quý hiền tài, xem hiền tài như của báu trời sinh Nếu hiền tài không được biết dến, không cho người ta biết đến thì thật phí hoài Và cũng là có tội với dấng Tạo hoá đã có công sinh ra mình, vun đắp cho mình nữa! Chưa kể việc hiền tài mà không được sử dụng thì đâu còn là hiền tài Hiền tài không phải là cái danh suông Giá trị của nó phải được xác định trong quan hệ và qua hành động Trọng điểm của phần thứ hai trong Chiếu cầu hiền là làm rõ tâm nguyện của Quang Trung mong có bậc hiền tài giúp mình trị nước Đầu tiên tác giả nói tới sự trốn tránh việc đời của các kẻ sĩ giữa thời rối ren, loạn

lạc mới đi qua: "Trước đây thời thế suy vi, Trung châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải ở ẩn trong ngòi khe, trốn tránh việc đời, những bậc tinh anh trong triều đường phải kiêng dè không dám lên tiếng Cũng có kẻ gõ mõ canh cửa, cũng có kẻ ra biển vào sông, chết đuối

Trang 8

trên cạn mà không biết, dường như muốn lẩn tránh suốt đời" Đây là đoạn văn chứa đựng

nhiều tầng ý khác nhau Trên bề nổi thì đó là sự thông cảm Nhưng ở bề sâu thì đó là sự trách cứ, dù không gay gắt Phải là người từng trải nghiệm tình thế cay đắng bắt buộc phải ngậm lời như hàng trượng mã, lại bao quát được đại cuộc mới viết nổi những câu như thế Sự khái quát ở đây đạt tới mức độ rất cao Những kiểu trốn tránh việc đời rất đa dạng, những màu vẻ khác nhau của bi kịch kẻ sĩ đều được điểm tới (điều này phải đọc qua nguyên tác hay bản dịch sát ý mới cảm nhận hết được) Cũng cần phải thấy rằng lời

lẽ trình bày vấn đề trong đoạn văn khá tế nhị, vì nó đụng tới một chuyện nhạy cảm: khi Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc diệt Trịnh, nho sĩ Bắc Hà phần lớn tỏ thái độ bất hợp tác Chuyện trước không thể không nhắc lại, nhưng quan trọng là nhắc với giọng điệu nào Quang Trung, theo những gì biểu lộ trong đoạn văn, là một con người đại lượng Ông chỉ nói về các sự kiện xảy ra cách đó chưa lâu bằng mấy từ biến cố, thời thế khá chung chung (theo bản dịch) Thì cũng coi như một sự xí xoá, dù không hẳn là xí xoá Điển xưa được dùng rất nhiều (da bò bền, hàng trượng mã, ra bể vào sông, ) có tác dụng làm mờ bớt

tính "khó chịu" của các sự việc đã xảy ra, khiến người đọc Chiếu cầu hiền thuở ấy có thể

bớt phần mặc cảm với tân vương Phải nói rằng ở đây, với tư cách là người lĩnh mệnh

soạn chiếu, Ngô Thì Nhậm đã thực hiện được một sự "hoà giải" khéo léo, trên cơ sở hiểu

lòng ông vua tri kỉ Và cũng từ đó, tác giả mới khơi được mạch văn chảy tới những lời bộc

lộ thiết tha này: "Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng ?" Hai câu hỏi được

đặt ra liên tiếp vừa thể hiện được sự thành tâm, khiêm nhường, vừa thể hiện được sự đòi hỏi và thậm chí cả chút thách thức nữa của nhà vua Đúng là những câu hỏi không thể lảng tránh trả lời! Đoạn văn tiếp theo của phần hai bàn sâu vào tình thế lịch sử trước mắt

và sự cấp thiết của việc cầu hiền Lời văn từ mềm mỏng, tế nhị chuyển sang bộc trực, thẳng thắn Toát lên từ đây là nỗi lo lắng thật sự của tân vương đối với vận nước khi nhìn

thấy phía trước bộn bể những công việc cần xử lí, sắp đặt: "Kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết, công việc ngoài biên đương phải lo toan Dân còn nhọc mệt chưa lại sức, mà đức hoá của trẫm chưa kịp nhuần thấm khắp nơi Trẫm nơm nớp lo lắng, ngày một ngày hai vạn việc nảy sinh " Ở đâu, với ai, việc ra chiếu cầu hiền có khi chỉ là một thủ

đoạn nhằm thu phục nhân tâm, còn ở đây thì hoàn toàn không phải thế Ta cảm nhận

Trang 9

được nhịp tim đập mạnh, hơi thở nồng nàn của một con người cụ thể đang hành động, kiên quyết hành động vì một hoài bão lớn, đang hết sức cần một lực lượng giúp rập, phò

tá, thể hiên qua nhịp điệu các câu văn: "Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình [ ] trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao ?" Sự cao giọng trong câu hỏi vừa trích còn phản ánh cái gì khác ngoài nỗi sốt ruột rất thật, niềm tin tưởng nhiệt thành vào "trữ lượng" hiền tài của đất

nước? Đúng là giọng của một con người đầy cá tính, không chịu lùi bước trước các trở ngại trên con đường gây dựng nghiệp lớn của mình Chắc chắn khi viết những câu này, tác giả Chiếu cầu hiền đang ở trong trạng thái thăng hoa Ngô Thì Nhậm nói giùm ước nguyện của quân vương hay nói chính nỗi lòng mình? Quả thật rất khó phân biệt Có thể nói ở đây có một sự cộng hướng khát vọng giữa hai con người, và giữa hai con người ấy

với cả dân tộc Phần thứ ba, cũng là phần cuối của "tờ" chiếu nói rõ chính sách cầu hiển

của Quang Trung Nguyễn Huệ Nội dung của chính sách đó có mấy điểm nổi bật: cho phép mọi người có tài năng thuộc mọi tầng lớp trong xã hội được dâng sớ tâu bày kế sách; cho phép các quan văn võ tiến cử người có nghề hay, nghiệp giỏi; cho phép người tài tự tiến

cử; sẵn sàng cất nhắc người xứng dáng, không kể thứ bậc; "tuỳ tài lục dụng" những kẻ

được tiến cử; không trị tội người có lời sơ suất, Đứng là một chính sách rộng mở, có

nhiều "điểu khoản" chi tiết và giàu tính "khả thi" (nói theo cách của bây giờ) Rõ ràng,

trước khi ra Chiếu cầu hiền, mọi việc đã được dấng quân vương trù liệu khá kĩ Ông đã tự chứng tỏ được tầm nhìn xa rộng cũng như khả năng tổ chức, xếp đặt chính sự của mình Ông cũng đã biết giải toả những băn khoăn có thể có (trong đó có băn khoăn tế nhị về danh dự) cho mọi thần dân, khiến họ cảm thấy an tâm khi tham gia bàn việc nước Từ những lời đã dược nói ra, ta thấy toát lên một giọng khoan hoà, điểm tĩnh rất dỗ lọt tai, giàu tính thuyết phục Ra đời với tư cách là một văn bản hành chính của nhà nước, Chiếu cầu hiền vẫn mang đậm dấu ấn cá nhân của Ngô Thì Nhậm - người thảo ra nó Dấu ấn này không chí thể hiện ở lối tư duy sáng rõ, lối lập luận khúc chiết, chặt chẽ mà còn ở sự nồng nàn của cảm xúc được chưng cất từ niềm tin vào chính sách đúng đắn của tân vương, tân

triều và niềm biết ơn đối với "tấm lòng" đã không nhìn nhận mình chí như một bề tôi,

một công cụ mà như một tri kỉ Có thể nói Chiếu cầu hiền đã hội tụ được đầy đủ những điều kiện để trở thành một áng văn chính luận mẫu mực của muôn đời

Trang 10

Bài văn mẫu 3

Có thể nói rằng trong kho tàng văn học nước ta thì không chỉ có những bài thơ ngôn

từ hay và mượt mà, hay là những áng văn xuôi đậm chất trữ tình Mà còn có những thể loại riêng nhưng lại có thể góp phần đa dạng và phong phú cho nề văn học chung của

nước ta “Chiếu cầu hiền” của vua Quang Trung được xem là một tác phẩm đặc sắc nó là

một bản chiếu vua ban và có sức mạnh to lớn của một quốc gia dân tộc

“Chiếu cầu hiền” đã được viết khi mà vua Lê Chiêu Thống đã “mời” quân Thanh vào

xâm lược nước ta Lúc bấy giờ Nguyễn Huệ đã lên ngôi vua và đã lấy hiệu là Quang Trung Quang Trung đã đem quân ra Bắc để quét sạch hết 20 vạn quân Thanh và cả bọn tay sai

và bè lũ bán nước Khi đã thua trận Lê Chiêu Thống cùng như đã cùng bọn quân Thanh đi theo Tôn Sĩ Nghị Và lúc này thì triều Lê sụp đổ, thay thế vào đó là triều Nguyễn được vua Quang Trung lập lên Có thể thấy rằng trước sự kiện trên đã có một quan thần trong triều

Lê khả năng là do theo trung quân ái quốc lỗi thời với thời Lê Và dường như hai là có thể

do sợ hãi triều đại mới nên dường như tất cả đều trốn tránh ẩn nấp và cũng đã không ra phò tá giúp đỡ vua Quang Trung phát triển đất nước Và khi đã đoán biết tình hình đất nước nhà như vậy Quang Trung cũng như đã liền phái Ngô Thì Nhậm để có thể thay mình viết chiếu cầu hiền dùng làm để kêu gọi những người tài giỏi ra cứu dân, giúp nước

Qua hành động này ta như thấy được vua Quang Trung rất đỗi khôn ngoan khi đã nghĩ ra kế sách này Đồng thời cũng đã thể hiện được việc nhà vua rất trọng người hiền

tài trong thiên hạ Ngô Thì Nhậm được thay vua Quang Trung viết “Chiếu cầu hiền” vì ông

là người tài giỏi cũng là bậc bề tôi trung tahnhf với vua Thể “chiếu” được xem là văn thu

mà vua chúa ban bố một mệnh lệch cho dân chúng Thật dễ thấy được vua Quang Trung

đã đưa ra việc tìm người hiền tài chứ không phải ban bố những mệnh lệnh điều này cũng như đã thấy được vai trò to lớn và cấp thiết nhất là phải tìm được người hiền tài ra giúp dân giúp nước

Trong bài chiếu có thể thấy được đầu tiên mà tác giả nói đến chính là vai trò cũng như là sức mạnh của hiền tài cho quốc gia Chẳng thế màdường như ta thấy ngay tên bài chiếu nọ đã nói lên được tất cả những vai trò to lớn của các bậc hiền tài Và có thể nói rằng đó chính là nhan đề mà ta đã thấy được Thân Nhân Trung trước cũng đã viết đó là

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” Và có thể chính vì thế tác giả cũng như đã nêu cao

Ngày đăng: 23/04/2021, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w