Như vậy qua văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm ngoài việc đề cập đến những vấn đề quan trọng liên quan đến vận mệnh dân tộc, có giá trị văn chương và từ những giá trị văn chương ấ
Trang 1DẠY HỌC VĂN BẢN "CHIẾU CẦU HIỀN" CỦA NGÔ THÌ NHẬM TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
1.1 Xuất phát từ giá trị văn hóa được lưu giữ trong tác phẩm văn chương 3
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
1.1 Một số vấn đề về văn hóa 11
1.1.1 Khái niệm văn hoá 11
1.1.2 Đặc trưng của văn hóa 13
1.1.3.Văn hóa phản ánh sức sống mạnh mẽ của dân tộc 14
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 15
1.2.1 Văn học là đỉnh cao của văn hóa 15
1.2.3 Văn hóa là cơ sở, là nền tảng cho văn học ra đời và phát triển 17
1.3 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa 18
1.3.1 Khai thác giá trị văn hóa truyền thống trong dạy học văn 18
1.3.2 Cảm thụ tác phẩm văn chương từ góc nhìn văn hóa 19
Chương 2 21
KHAI THÁC TRI THỨC VĂN HÓA HƯỚNG DẪN HỌC SINH 21
TÌM HIỂU VĂN BẢN "CHIẾU CẦU HIỀN" CỦA NGÔ THÌ NHẬM 21
2.1 Khảo sát thực trạng dạy học "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm ở nhà trường phổ thông hiện nay 21
2.1.1 Mục đích khảo sát 21
2.1.2 Đối tượng khảo sát 21
2.1.3 Quá trình khảo sát 22
2.1.4 Kết quả khảo sát 23
2.1.5 Nguyên nhân 25
2.2 Định hướng tiếp cận văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm theo hướng tiếp cận văn hóa 26
2.2.1 Hoàn cảnh lịch sử ra đời văn bản " Chiếu cầu hiền" 26
2.2.2 Tư tưởng chủ đề của văn bản " Chiếu cầu hiền" 28
2.2.3 Vai trò của " Chiếu cầu hiền" trong lịch sử dân tộc 29
2.2.4 Tính văn hóa trong văn bản " Chiếu cầu hiền" 30
2.2.5 Sự kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa được biểu hiện ở văn bản " Chiếu cầu hiền" 31
2.2.6 Ngôn từ trong văn bản " Chiếu cầu hiền" giàu chất văn hóa 32
2.2.7 Văn bản " Chiếu cầu hiền" và sự kết tinh những giá trị khác 33
2.3 Những biện pháp dạy học "Chiếu cầu hiền" từ góc nhìn văn hóa 39
2.3.1 Đọc sáng tạo để hiểu rõ tư tưởng chủ đề của văn bản " Chiếu cầu hiền" 39
2.3.1.1 Đọc - phân tích 39
2.3.2 Sử dụng hệ thống câu hỏi đọc hiểu nhằm khơi gợi giá trị nội dung của văn bản và mở rộng tri thức văn hóa cho học sinh 42
2.3.3 Sử dụng chiến thuật đọc hiểu để làm sáng tỏ giá trị nội dung và nghệ thuật trong văn bản " Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm 43
Trang 3Như vậy qua văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm ngoài việc đề cập đến những vấn đề quan trọng liên quan đến vận mệnh dân tộc, có giá trị văn chương và từ những giá trị văn chương ấy giúp chúng ta cảm nhận được những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Lịch sử đã bước sang những trang sử mới, “Chiếu cầu hiền”
mà Ngô Thì Nhậm chấp bút viết thay vua Quang Trung sẽ vẫn là cẩm nang về bài học
xử thế, bài học về nghệ thuật thu phục hiền tài trong thiên hạ để họ tận tâm, tận lực trong công cuộc giữ gìn, bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam lớn mạnh hơn trên nhiều phương diện Ngoài ý nghĩa chính trị của một thời, “Chiếu cầu hiền” còn mang giá trị văn hóa của mọi thời đại “Chiếu cầu hiền” sẽ mãi mãi trường tồn cùng thời gian ( Tìm hiểu “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm từ góc nhìn văn hóa – giáo dục
- Nguyễn Thị Quế Anh) 54
Chương 3 55
THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM VẬN DỤNG TRI THỨC 55
VĂN HÓA ĐỌC HIỂU VĂN BẢN "CHIẾU CẦU HIỀN" 55
CỦA NGÔ THÌ NHẬM 55
3.1 Thiết kế giáo án thể nghiệm 55
3.1.1 Kết quả cần đạt 55
3.1.2 Chuẩn bị bài của Gv và Hs 55
Bám sát bài dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng, Sách giáo viên, văn bản "Chiếu cầu hiền" Sách giáo khoa Ngữ văn 11 Giáo án soạn giảng Ngoài ra giáo viên cũng cần phải trang bị thêm những kiến thức về văn hóa nói chung, văn hóa Việt Nam thời trung đại nói riêng Và định hướng cụ thể vẻ đẹp văn hóa trong văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm được biểu hiện ở những vấn đề nào? 55
- Sách giáo khoa, vở soạn bài, vở ghi chép 56
3.1.3 Thiết kế các hoạt động dạy 56
3.1.4 Giáo án Đọc văn 57
3.2 Giải thích giáo án thể nghiệm 74
3.2.1 Xuất phát từ nhu cầu dạy học liên môn giữa các lĩnh vực Lịch sử, Văn hóa với văn học 74
3.2.2 Xuất phát từ đặc trưng riêng của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông 75
3.3 Đánh giá giáo án thể nghiệm 75
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ giá trị văn hóa được lưu giữ trong tác phẩm văn chương
Mỗi tác phẩm văn học đích thực đều mang trong mình những giá trịvăn hóa cụ thể của một dân tộc, một vùng miền, một đất nước Giá trị đó chothấy tác phẩm văn học không chỉ toát lên vẻ đẹp ngôn từ mà còn cả vẻ đẹptâm hồn qua cách ứng xử và cách tiếp nhận của một dân tộc hay một cộngđồng nhất định Nói cách khác, giá trị văn hóa trong tác phẩm văn chương chophép hiểu rộng hơn giá trị của tác phẩm qua hệ thống hình tượng, hình ảnh,tạo ra những suy tư liên hệ, so sánh với các loại hình nghệ thuật khác cũngnhư các nền văn hóa khác Vì vậy, nghiên cứu giá trị văn hóa trong các tácphẩm văn học là việc làm cần thiết trong giai đoạn giáo dục hiện nay
Văn học là một bộ phận quan trọng lòng cốt của văn hóa "Văn học làmột bộ môn trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa, là bộ phận đặcbiệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về Chân, Thiện,
Mĩ có tác dụng bồi dưỡng tình cảm tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế
hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức xã hội" [43] Đại hội lần Thứ VIcủa Đảng đã chỉ rõ" Không một hình thái tư tưởng nào có thể thay thế văn học
và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu vào việcđổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người"[43]
Tác phẩm văn chương - nơi phản ánh, lưu giữ và kết tinh văn hóa củadân tộc và thời đại Thực tế cho thấy văn học của bất kì dân tộc nào, thời đạinào cũng đều phản ánh và lưu giữ văn hóa của dân tộc đó, thời đại đó Vănhọc Việt Nam trong trường kì phát triển của ngàn năm lịch sử, luôn thể hiệnnhững đặc trưng đầy đủ của văn hóa con người Việt Nam Từ văn hóa phongtục đến văn hóa tín ngưỡng, đến văn hóa nhận thức vũ trụ và xã hội đềuđược văn học phản ánh và lưu giữ
Trang 51.2 Mục tiêu dạy học văn học trong nhà trường
Như tất cả các quốc gia trên thế giới, Việt Nam luôn đề cao vai trò củagiáo dục - coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Vì thế, để theo kịp với xuhướng phát triển của thế giới, gần đây Bộ Giáo Dục Việt Nam đã đưa ra đề ánđổi mới sau năm 2015 với những mục tiêu hết sức cụ thể "dạy học ở phổthông sẽ tập trung thực hiện đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáodục theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực của người học, phát triểncon người toàn diện, đặc biệt là tiềm năng của mỗi cá nhân Dạy và học sẽ đổihướng từ "cung cấp kiến thức sang phát huy năng lực cá nhân của người học,buộc giáo viên phải thay đổi phương pháp, biện pháp dạy học để đáp ứng yêucầu xã hội Coi trọng giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cáchmạng đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hiện, tinh thần tráchnhiệm xã hội Giáo dục sẽ theo hướng tinh giản, cơ bản, hiện đại, tăng cườngthực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào cuộc sống" Trong đề án đổi mới
đó, bộ môn Ngữ văn được xem là một trong những môn sẽ có nhiều thay đổi.Dạy học văn trong nhà trường giai đoạn hiện nay không phải là học "biết đểchơi" mà là "học biết để làm" Trong đánh giá của các nhà giáo dục cũng nhưtrong tư tưởng của nhân dân ta môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông hiện nayvẫn giữ vai trò quan trọng Vì thế, việc học văn trong nhà trường luôn đượcquan tâm và được xem là một trong những môn học chính Bởi bộ môn nàygóp phần tích cực trong việc hình thành nhân cách, giáo dục tư tưởng và nuôidưỡng tâm hồn học sinh Đảm nhận trọng trách lớn cùng với xu hướng pháttriển của thời đại mới, mục tiêu dạy học môn Ngữ văn cũng có những thayđổi phù hợp Hiện nay ở cấp THPT "Mục tiêu trực tiếp, chủ yếu của môn Ngữvăn là hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực đọc - hiểu cũng như tạolập các loại văn bản Chính vì thế, chương trình tạo dựng theo hai loại tíchhợp: Đọc và làm văn" ( Đỗ Ngọc Thống) [8, tr10] Qúa trình dạy Ngữ văn
Trang 6phải hướng tới lợi ích của người học, giúp cho học sinh biết vận dụng nhữngkiến thức và kỹ năng đã được ứng dụng vào cuộc sống Đồng thời qua bộ mônNgữ văn còn hướng cho học sinh phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp củadân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, giáo dục tình cảm cao đẹp chongười công dân tương lai.
Như vậy mục tiêu dạy học văn trong nhà trường phổ thông theo yêucầu của đổi mới giáo dục không chỉ rèn luyện năng lực đọc - hiểu cũng nhưtạo lập văn bản cho người học mà còn giúp người học khám phá giá trị tácphẩm không chỉ từ góc độ văn học mà cả giá trị văn hóa dân tộc trong sự sángtạo và tiếp thu văn hóa nhân loại Để từ đó người học - những công dân tươnglai - ý thức được trách nhiệm của bản thân mình trong việc giữ gìn và pháthuy những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc
1.3 Xuất phát từ giá trị văn hóa được lưu giữ trong văn bản " Chiếu cầu hiền"
Dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu, văn học được xem là một bộphận của văn hóa Do vậy, khi tiếp cận văn bản văn học ta sẽ thấy sự gần gũi
về tư tưởng, tình cảm đối với những giá trị văn hóa cốt lõi của dân tộc Vănhóa đi sâu và ảnh hưởng vào tâm hồn mỗi người từ khi còn nhỏ Trong khotàng văn chương, bất kì một tác phẩm văn học nào cũng đều chứa đựng vănhóa Bởi lẽ, tác phẩm văn học chính là chỉnh thể nghệ thuật ngôn từ tái hiệnđời sống tinh thần của các dân tộc, như là một trong những sản phẩm kết tinhcao nhất của văn hóa một dân tộc người, một đất nước "Chiếu cầu hiền" củaNgô Thì Nhậm cũng là một tác phẩm như vậy Tác phẩm không chỉ chứađựng trong đó đời sống tinh thần của dân tộc mà còn mang nhiều giá trị vănhóa đặc sắc Vì thế, văn hóa cũng là một nội dung quan trọng mà nếu khôngkhai thác, chúng ta sẽ không thấy hết ý nghĩa của văn bản Do vậy, khai thácgiá trị văn hóa được lưu giữ trong văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô ThìNhậm là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa
Trang 7Mặt khác, xuất phát từ thực tiễn dạy học, từ yêu cầu về việc dạy họcđặc biệt là kiến thức liên môn trong môn Ngữ văn là luôn làm cho học sinhnhận thức được tác phẩm văn học trong môi trường văn hóa - lịch sử sản sinh
ra nó, thấy được mối quan hệ mật thiết giữa văn học và lịch sử phát sinh vănhọc với các hình thái ý thức xã hội đồng thời giúp cho học sinh khắc phụcđược tính tản mạn trong kiến thức văn hóa Vì vậy, vận dụng tri thức văn hóavào đọc hiểu tác phẩm là một cách để học sinh hiểu đúng đắn, sâu sắc nộidung văn bản Cho nên người viết lựa chọn đề tài "Dạy học văn bản "Chiếucầu hiền" của Ngô Thì Nhậm từ góc nhìn văn hóa"
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Vấn đề nghiên cứu văn học theo hướng tiếp cận văn hóa
Từ thế kỉ XIX trên thế giới các nhà nghiên cứu đã đưa ra cách tìm hiểuvăn học theo hướng tiếp cận văn hóa Trường phái văn hóa - Lịch sử và Triếthọc thực chứng ở Pháp, người đứng đầu là H.Taine Sự giao tiếp rộng rãi củavăn bản trong môi trường văn hóa Iu.M.Lotman đã nhận ra sự tương tác củacác kênh thông tin như một phạm trù xã hội Ở Anh xuất hiện trường pháiBirminh ham (R.Williams, R.Hoggart), Ở Đức với trường phái Frank Furt(D.Kllur), Ở Nga vào năm 1940 M.Bakhtin viết "Sáng tác của FrabcoisRabelais với văn hóa dân gian thời trung đại và phục hưng"
Ở nước ta, phương pháp tìm hiểu văn học theo góc nhìn văn hóa cũngmạnh nha từ đầu thế kỉ XX Năm 1945, nhà nghiên cứu Trương Tửu trongcông trình "Kinh thi Việt Nam" đã dùng văn hóa để cắt nghĩa văn học Saunày nhiều công trình nghiên cứu của Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, HoàiThanh, Nguyễn Văn Huyên các tác giả như Phan Ngọc (Tìm hiểu phongcách của Nguyễn Du qua "Truyện Kiều") Trần Nho Thìn (Xác lập phươngpháp tiếp cận văn hóa cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Namtrung đại trên cơ sở phân tích Truyện Kiều; Văn học trung đại Việt Nam dưới
Trang 8góc nhìn văn hóa); tác giả Đỗ Lai Thúy (Hồ Xuân Hương; hoài niệm phồnthực), gần đây tác giả Lê Nguyên Cẩn trong bài viết "Tính văn hóa của tácphẩm văn học" đăng trên Tạp chí khoa học số 2, năm 2006 của ĐHSP HàNội, đã chỉ tác phẩm văn học có giá trị cao về văn hóa và tiếp cận văn hóa làhướng khai thác có nhiều ý nghĩa Các luận văn: Dạy học truyện "An DươngVương và Mị Châu Trọng Thủy" theo hướng tiếp cận văn hóa(2008), Luậnvăn Ths, Lỗ Bá Đại, Dạy học tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" cho học sinh vùngcao theo hướng đối thoại văn hóa (2009), Luận văn Ths, Hoàng Thị Huế, Dạyhọc truyện ngắn "Vợ nhặt" của Kim Lân cho học sinh THPT từ cái nhìn vănhóa (2008), Luận văn Ths, Nguyễn Thị Phương "Dạy học bài thơ "Sóng" củaXuân Quỳnh cho học sinh THPT từ góc nhìn văn hóa (2014) cũng đề cậpđến vấn đề văn hóa được biểu hiện thông qua các tác phẩm văn học Như vậy,ngày nay trong dạy học môn văn khi khai thác một văn bản văn học, ngoàiviệc đi tìm giá trị nhận thức, giá trị tình cảm, giá trị thẩm mĩ thì giá trị vănhóa ẩn sâu trong mỗi văn bản cũng được coi là một vấn đề quan trọng.
2.2 Nghiên cứu " Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm
Văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm nổi tiếng không chỉ vìgắn liền với tên tuổi của người anh hùng "áo vải cờ đào " Quang Trung(Nguyễn Huệ) - người đã viết lên trang sử oai hùng, vĩ đại cho dân tộc trongviệc dẹp tan quân Mãn Thanh mà còn nổi tiếng ở chính hoàn cảnh đặc biệt màvăn bản sinh ra - điểm chót của một thời loạn lạc triền miên kéo dài gần haitrăm năm làm cho lòng người li tán, đất nước chia lìa Một lí do nữa khôngthể không nói tới, đó chính là tác phẩm được viết bởi Ngô Thì Nhậm - một tríthức hàng đầu của đất nước thời đó - người đã dám vượt qua mọi dị nghị và lễgiáo phong kiến để phò tá một đấng minh quân mới vì quyền lợi của đất nước.Với những yếu tố trên, "Chiếu cầu hiền" xứng đáng là một phẩm văn chínhluận mẫu mực cho thế hệ hôm nay và mai sau học tập
Trang 9"Chiếu cầu hiền" mới được đưa vào chương trình cải cách sách giáokhoa năm 2000 Đây là một văn bản hay đòi hỏi người học phải có lượng kiếnthức về lịch sử, xã hội, văn hóa sâu rộng mới có thể thẩm thấu giá trị của vănbản Điều này đặt ra cho tất cả các giáo viên THPT nói chung và khối 11 nóiriêng cần phải có sự định hướng phù hợp để giúp học sinh đến được với tácphẩm mà không cảm thấy khô khan, nhàm chán.
Một điều nữa không thể không nói đến là hiện nay văn học trung đạiđang có dấu hiệu xa dần với học sinh do nhiều nguyên nhân Do không tươngđồng trong cách nghĩ, do môi trường văn hóa - lịch sử khác nhau và do thểloại văn học xa lạ với học sinh phổ thông hiện nay Vì vậy, một bộ phận nhỏgiới trẻ ít thiết tha với lịch sử và những nét đẹp về văn hóa của dân tộc Thiếtnghĩ, một hạt giống tốt bao giờ cũng được nảy mầm trên một mảnh đất màu
mỡ thì một tác phẩm văn chương có giá trị chắc chắn phải ra đời trong mộthoàn cảnh đặc biệt Vì vậy, muốn tiếp cận văn bản thì trước hết phải đi vàocái nơi mà văn bản sinh ra Do đó, việc chọn văn bản "Chiếu cầu hiền" đểnghiên cứu từ góc nhìn văn hóa người viết mong muốn có thể góp một phầnnhỏ trong việc tìm ra những cách, những biện pháp phù hợp nhằm đưa họcsinh tiếp cận với những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông ta thuở xưađồng thời hiểu được những giá trị văn chương mà "Chiếu cầu hiền" đem đến
Như vậy, thực tiễn đã chứng minh chưa có công trình nào bàn trực tiếp,
cụ thể dạy học văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm từ góc nhìn vănhóa Do đó, đây sẽ là một hướng tiếp cận mới mẻ và mang lại ý nghĩa to lớncho người học khắc sâu những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng
Trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết tập trung nghiên cứuvăn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm
Trang 103.2 Phạm vi
Do biểu hiện của tri thức văn hóa trong văn bản "Chiếu cầu hiền" củaNgô Thì Nhậm rất sâu đậm nên trong phạm vi luận văn tập trung nghiên cứu,tìm hiểu văn bản ở phương diện thể loại, kết cấu, nội dung, tư tưởng chủ đề
Để từ đó, phục nguyên không gian văn hóa thời trung đại Phương pháp này
có ý nghĩa trong việc giúp học sinh tiếp cận văn hóa xưa và biết trân trọngnhững giá trị văn hóa truyền thống Đồng thời qua đây sẽ giúp ích cho việcphân tích các giá trị văn học từ cái nhìn văn hóa
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Xây dựng thiết kế giáo án dạy học có hiệu quả
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích đặt ra như trên, luận văn đề ra và thực hiện các nhiệm
Trang 11đè tài này người viết mong rằng sẽ góp một phần nhỏ của mình giúp cho họcsinh biết giữ gìn và trân trọng vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
Phương pháp liên ngành, liên môn
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp so sánh đối chiếu
Thực nghiệm sư phạm
6 Đóng góp của luận văn
Khai thác hướng tiếp cận mới cho việc đọc hiểu văn bản "Chiếu cầu hiền".Đưa ra nhứng phương pháp, biện pháp dạy học thích hợp tạo hứng thú,say mê cho học sinh trước một văn bản được xem là khó của chương trìnhNgữ văn 11
Tạo giáo án mẫu giúp học sinh tiếp nhận văn bản một cách hiệu quả nhất
7 Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc luận văn gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, tàiliệu tham khảo
Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề về văn hóa và văn học.
Chương 2: Khai thác tri thức văn hóa hướng dẫn học sinh tìm hiểu vănbản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm
Chương 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm vận dụng tri thức văn hóa đọchiểu văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC
1.1 Một số vấn đề về văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hóa là một phạm trù rộng bao trùm lên tất cả những gì liên quanđến con người Có thể nói, văn hóa là của con người, do con người sáng tạo ra
và vì con người Cho đến nay, các nhà nghiên cứu bằng những góc nhìn khácnhau đã có những cách lí giải và quan niệm riêng về văn hóa Theo như kếtquả thống kê, hiện nay có khoảng hơn 500 định nghĩa khác nhau về văn hóa
Ở Việt Nam, nghiên cứu văn hóa xuất hiện vào nửa đầu thế kỉ XX Người đặtviên gạch đầu tiên là GS Đào Duy Anh với công trình "Việt Nam văn hóa sửcương" (1938) Sau đó, vấn đề văn hóa học và văn hóa Việt Nam ngày càng
có nhiều thành tựu Đặc biệt vào thập niên 90 của thế kỷ XX, văn hóa đượcnghiên cứu một cách toàn diện: từ xác định khái niệm, cấu trúc văn hóa đếnloại hình và biểu tượng văn hóa Thời gian này, hàng loạt các công trìnhnghiên cứu về văn hóa ra đời như: Trần Ngọc Thêm "Cơ sở văn hóa ViệtNam" -1995, Trần Quốc Vượng "Cơ sở văn hóa Việt Nam" - 1997, PhanNgọc "Bản sắc văn hóa Việt Nam" - 1998, Nguyễn San và Phan Đăng "Giáotrinh cơ sở văn hóa Việt Nam" - 2002
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng cho đếnbây giờ văn hóa vẫn là đối tượng phức tạp còn nhiều vấn đề chưa thống nhất.Mặc dù, các ý kiến có thể khác nhau nhưng có một số định nghĩa tiêu biểu vềvăn hóa được giới khoa học thừa nhận, dựa trên các tiêu chí phân loại cụ thể:
Định nghĩa dựa trên sự kế thừa xã hội và tính truyền thông ổn định củavăn hóa "Văn hóa chính là bản thân cách mạng người cho dù là hoang dã
Trang 13nhất, sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức tạp của tập quán,ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống" Edward Sapir (61).
Định nghĩa về những gì văn hóa bao hàm theo Edward B.Tylor thì vănhóa "là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức đức tin, nghệ thuật, đạo đức,luật pháp, phong tục và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con ngườithu nhận với tư cách là một thành viên xã hội" (61)
Dựa trên cấu trúc của văn hóa tiêu biểu là định nghĩa của Ralph Linton
"Văn hóa suy cho cùng là phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thànhviên xã hội, văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nóđược các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa" (61)
Theo quan điểm xã hội học thì "Văn hóa là hình thể chung những ứng
xử đã học được và của những kết quả của chúng mà các yếu tố được thừanhận và được truyền bởi các thành viên của một xã hội nhất định" ( "Từ điểnngôn ngữ Triết học và tâm lí học" - Fonlguie và Saint Jean, Paris 1968)
Triết học của lí luận Marxit quan niệm: "Nói tới văn hóa là nói tới conngười, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất người trong quá trìnhcải tạo tự nhiên, xã hội, hoàn thiện bản thân theo xu hướng vươn tới cái Chân,Thiện, Mĩ (dẫn theo 63)
Định nghĩa của Unesco, năm 2002 "Văn hóa nên được đề cập đến nhưmột tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức vì xúc cảm củamột xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học
và nghệ thuật cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyềnthông và đưa tin" (61)
Các ý kiến có thể khác nhau về cách diễn đạt nhưng nhìn chung vẫn cónhững điểm thống nhất ở chỗ coi "văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất vàtinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với tự nhiên, xãhội và bản thân qua lịch sử lâu dài Văn hóa thể hiện diện mạo của một cộng
Trang 14đồng, nhưng nhìn từ góc độ nào đi nữa thì một định nghĩa về văn hóa cũngphải nêu được những quan niệm về giá trị đã hình thành trong lịch sử, có liênquan đến con người" Tuy nhiên, trong luận văn này người viết không đinghiên cứu sâu về những lĩnh vực văn hoá chuyên biệt Trên cơ sở văn hoáluôn là sự sáng tạo mang tính thẩm mĩ, thể hiện cái đẹp tinh tuý được thẩmđịnh qua thời gian Vì vậy, người viết mong muốn vận dụng tri thức văn hoá
để khai thác giá trị văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm Đây là mộtđịnh hướng còn nhiều mới mẻ cho sự vận dụng tri thức văn hoá vào dạy họcvăn trong giai đoạn hiện nay
1.1.2 Đặc trưng của văn hóa
Văn hóa là một chỉnh thể rộng lớn và toàn diện Trong bất kì hiệntượng nào của đời sống cũng có yếu tố văn hóa hay khía cạnh văn hóa Vìvậy, khi nhắc đến những đặc trưng cơ bản của văn hóa đã có nhiều ý kiếnkhác nhau Điều này dễ lí giải bởi do quan niệm khác nhau và sự lựa chọn,phân tích văn hóa của họ cũng khác nhau Trên cơ sở những nhà nghiên cứu
và cũng để tương thích cùng với nội dung luận văn xin đưa ra một số đặctrưng nổi bật của văn hóa:
Thứ nhất, văn hóa có tính nhân bản bởi như chúng ta thấy trong xã hộivăn hóa được coi là tiêu chuẩn để phân biệt con người và động vật, văn hóa
do con người tạo ra và chỉ có ở con người Văn hóa không có tính di truyền
mà chỉ có tính lưu truyền, nó là sự chuyển giao tự nhiên từ thế hệ này tới thế
hệ khác qua con đường học tập và tự thấm nhuần Con người biết tích lũykinh nghiệm sống, vận dụng năng lực tư duy, sáng tạo tác động và làm biếnđổi hiện thực khách quan theo mong muốn của mình
Thứ hai, tính truyền thống của văn hóa Văn hóa không có cái gì hoàntoàn cụ thể, nhưng lại có mặt ở khắp mọi nơi Văn hóa được hình thành tronglịch sử dưới sự tác động của môi trường tự nhiên và xã hội thông qua cách lựa
Trang 15chọn, cách ứng xử của con người trong quá trình sống Vì vậy, văn hóa mangtính ổn định và tính quá trình, các giá trị văn hóa được lưu giữ, lưu truyền quacác thế hệ làm nên tính truyền thống cho mỗi cộng đồng người Mỗi cộngđồng có truyền thống văn hóa mang đặc trưng riêng biệt về nếp sống, cáchsuy nghĩ và sinh hoạt cộng đồng, ứng xử tạo thành bản sắc văn hóa Bản sắcvăn hóa của cộng đồng dân tộc dễ nhận ra trong sự giao lưu so sánh giữa cáccộng đồng Người Việt Nam chúng ta có truyền thống văn hóa trọng tình cảmhơn lí trí, nặng ý thức cộng đồng hơn ý thức cá nhân, tôn trọng gia đình, dòng
họ, tông trọng người cao tuổi đó là những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
ta luôn được giữ gìn và phát huy
Thứ ba, văn hóa có tính lịch sử Bởi văn hóa là sản phẩm của quá trìnhđược tích lũy qua nhiều thế hệ Văn hóa có bề dày, bề sâu và là gốc rễ củamỗi dân tộc Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa Nhữngsáng tạo của cộng đồng trải qua thời gian, cấu thành nên những giá trị tươngđối ổn định và chính điều đó tạo nên bản sắc văn hóa riêng cho mỗi dân tộc
Thứ tư, văn hóa có tính thẩm mĩ Chúng ta thấy quy luật sáng tạo củavăn hóa là quy luật sáng tạo ra cái đẹp Sự phát triển của con người gắn vớitrình độ sáng tạo và thưởng thức cái đẹp Cho nên, tất cả những giá trị đượcgọi là văn hóa khi nó phù hợp với mĩ cảm của con người Văn hóa đưa conngười vượt ra khỏi sự hoang dã để đến với cái đẹp Những hoạt động đầu tiêncủa con người bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu vật chất thiết thực, nhưngtheo thời gian, bằng khả năng sáng tạo siêu phàm con người đã làm thay đổitất cả Sự thay đổi ấy chính bởi khát vọng hướng về cái đẹp, cái thiện của conngười
1.1.3.Văn hóa phản ánh sức sống mạnh mẽ của dân tộc
Mỗi một dân tộc đều có điều kiện địa lý, hoàn cảnh sống riêng, có điềukiện kinh tế riêng, có thị hiếu thẩm mĩ riêng để từ đó có cách cảm nhận về
Trang 16thế giới tự nhiên riêng và sáng tạo thế giới tự nhiên cũng không trùng lặp vớicác dân tộc khác Mặc dù văn hóa luôn có sự phát triển và giao lưu nhưng tínhtiếp biến trong sự kế thừa từ đời này qua đời khác của văn hóa đã cấu thànhnên cho mỗi dân tộc những bản sắc riêng Văn hóa bản sắc là sắc diện, làmạch máu thể hiện sức sống dân tộc Không có được văn hóa bản sắc, conngười mất đi ý thức về tổ quốc, dân tộc, mất đi ý thức làm chủ, quyền tựquyết tương lai dân tộc và mất đi một phương diện tinh thần quý báu, vô giá
và ý nghĩa cuộc sống nhân sinh Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào
là nền văn hóa của chúng ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loạihay có những đặc sắc nổi bật Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc làmột trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hộihọa phát triển rất cao ảnh hưởng và phổ biến lâu dài đến toàn bộ văn hóathành đặc sắc văn hóa của dân tộc đó Người Việt Nam không có tâm lí kiềnthành, cuồng tín tôn giáo mà cũng không say mê tranh biện triết học Các tôngiáo đều có mặt nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng Người ViệtNam coi trọng hiện thế trần tục, mong ước cuộc sống thái bình, an cư lạcnghiệp, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, chuộng tínnghĩa Như vậy, nhìn vào lối sống, quan niệm ta có thể thấy người Việt Nam
có nền văn hóa của mình Tinh thần của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linhhoạt, dung hóa Ngoài ra, tư tưởng nhân nghĩa là cốt lõi của văn hóa ViệtNam, cốt lõi ấy được giữ gìn, được phát huy truyền thống trong trường kì lịch
sử đi lên phát triển của dân tộc đồng thời là niềm tự hào của nhân dân ViệtNam đối với nhân dân thế giới
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
1.2.1 Văn học là đỉnh cao của văn hóa
Trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, tất cả những gì thuộc về con ngườithì đều mang biểu hiện văn hóa Mà như ta hiểu văn học là một dạng hoạt
Trang 17động tinh thần cao nhất của con người Cho nên văn học được xem là nơi hội
tụ rất nhiều giá trị văn hóa Trong khi đó quan hệ giữa văn học và văn hóa làmối quan hệ hữu cơ mật thiết Văn hóa chi phối hoạt động và sự phát triểncủa văn học, ngược lại văn học cũng tác động đến văn hóa Những nhà văntiên phong của dân tộc bao giờ cũng là những nhà văn hóa lớn bằng nghệthuật ngôn từ họ đấu tranh, phê phán những biểu hiện văn hóa đồng thờikhẳng định những giá trị văn hóa chân chính Ở mỗi tác phẩm văn chươngđều ẩn chứa những đặc trưng của đất nước nơi mà tác phẩm được sinh ra.Không có tác phẩm văn chương nào mà lại không mang trong mình nhữngdấu ấn văn hóa của dân tộc "Tác phẩm văn chương như là một chỉnh thể nghệthuật ngôn từ tái hiện đời sống tinh thần của các dân tộc, như là một trongnhững sản phẩm kết tinh cao nhất của văn hóa một tộc người, một đấtnước"[3] Chính vì vậy chúng ta có thể khẳng định rằng văn học là cái nôi củamọi nền tảng văn hóa, nó góp phần truyền đạt, lưu giữ và nâng cao các giá trịvăn hóa của dân tộc Các phong tục văn hóa khi được đưa vào văn học nó trởnên đẹp hơn và có giá trị hơn Ngày nay, văn học luôn được coi là đỉnh caocủa văn hóa làm cho văn hóa ngày càng phát triển rộng rãi thu hút được nhiềungười biết đến và đi sâu hơn vào đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người
1.2.2 Văn học là nơi phản ánh, lưu giữ các giá trị văn hóa.
Tác phẩm là con đẻ tinh thần của người nghệ sĩ, là sản phẩm của mộtthời đại Nhà văn đắm mình trong không khí thời đại, nắm vững tinh thần thờiđại cùng với môi trường, vốn sống, vốn văn hóa hình thành tư tưởng, thẩm
mĩ trong sáng tác văn chương Yếu tố văn hóa ảnh hưởng lớn đến sự thànhcông của tác phẩm, cách tiếp cận văn hóa trong văn học trong nghiên cứu tácphẩm văn chương sẽ giúp chúng ta khám phá chân lí nghệ thuật một cáchđúng đắn nhất Đối với một tác phẩm văn chương thường chứa đựng trong đónhiều biểu hiện của văn hóa như: văn hóa ứng xử, văn hóa tâm linh, tinh thần,
Trang 18văn hóa phong tục như vậy văn học là nơi giữ gìn các giá trị văn hóa truyềnthống Nghiên cứu văn học để làm nổi bật các giá trị mà nó chứa đựng, cónhư vậy mới khám phá một cách đầy đủ và có chiều sâu một tác phẩm vănhọc Và ở một tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự tồn tại của giá trị vănhóa Ngược lại, tác phẩm đó mang nội dung sâu sắc khi nó được sinh ra trongcái nôi văn hóa lành mạnh, tích cực Như vậy, văn hóa góp phần cho sự sángtạo ra các tác phẩm văn học, văn học là tấm gương phản chiếu đời sống vănhóa và giúp con người nhân thức rõ hơn về hiện thực cuộc sống, ý thức hơn
về cộng đồng, về dân tộc, về truyền thống lịch sử
1.2.3 Văn hóa là cơ sở, là nền tảng cho văn học ra đời và phát triển.
Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc giá trị văn hóa truyền thốngcàng được khẳng định và giữ gìn "Văn hóa là gương mặt của dân tộc"(57),
"văn hóa là cái mà trong một mức độ đáng kể biện minh cho sự tồn tại củamột quốc gia và một dân tộc" [31] A.Gxpor-kin khẳng định rằng: "cho dùhàng tỷ những sinh mệnh những con người riêng lẻ cũng không thay thế đượckho báu bất tận của truyền thống văn hóa" Các phong tục văn hóa chính làdấu ấn lịch sử của cha ông để lại, đó có thể được xem là cơ sở, là nền tảngvững chắc cho sự ra đời tác phẩm văn học Văn hóa bao giờ cũng có trước và
là tiền đề cho văn học phát triển và sáng tạo Một môi trường văn hóa tốt sẽ làcái nôi vững chắc cho nhiều tấc phẩm văn chương mang giá trị Do đó, trêntừng trang văn ở các giai đoạn chúng ta có thể nhận rõ luôn mang đạm dấu ấnvăn hóa Vì thế, muốn khám phá chiều sâu tác phẩm văn học chúng ta phảigiải mã được tri thức về văn hóa, có như thế ta sẽ phục nguyên được khônggian văn hóa trong tác phẩm văn học đó Như vậy văn học luôn chịu ảnhhưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa của thời đại và truyền thống dân tộc,muốn khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn trong chiều sâu mỗi tác phẩm văn chương suycho cùng cũng là một cách để chúng ta đi giải mã các giá trị văn hóa được lưugiữ trong tác phẩm ấy
Trang 191.3 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
1.3.1 Khai thác giá trị văn hóa truyền thống trong dạy học văn
Từ trước đến nay trong dạy học văn truyền thống, chúng ta vẫn có thóiquen đi theo một mô típ quen thuộc đó là dạy văn chỉ chú ý vào khai thác cácvấn đề đạo đức, chính trị, giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo chứ chưa chú ývào giá trị văn hóa truyền thống Để ra đời một tác phẩm văn học, nhà vănbao giờ cũng lấy giá trị văn hóa truyền thống làm nền tảng Bởi văn hóa lànguồn mạch của tất cả các giá trị truyền thống Dòng chảy của văn học cũngbắt nguồn từ đây, cho nên "Văn học nếu có chức năng phản ánh hiện thực thìcũng không thể phản ánh trực tiếp được mà chỉ có thể phản ánh thông qualăng kính văn hóa, thông qua "bộ lọc" của các giá trị văn hóa" (Đỗ Lai Thúy).Như vậy, văn hóa là cái nôi nuôi dưỡng cho văn học, mỗi tác phẩm văn họcluôn mang đậm hơi thở của dân tộc và ẩn chứa trong đó nhiều giá trị văn hóatruyền thống Do đó, có thể coi văn học là nơi lưu giữ tốt nhất các giá trị vănhóa cổ xưa Vậy nên việc dạy và học văn đóng vai trò quan trọng trong việckhai thác các giá trị văn hóa Và việc biết cách khai thác các giá trị văn hóatrong mỗi văn bản văn học cũng sẽ làm phong phú, sinh động hơn cho mộttiết văn Thông thường mỗi khi bắt tay vào nghiên cứu một tác phẩm văn họcbao giờ cũng cần lưu ý đến hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để hiểu sâu giá trịvăn hóa được lưu giữ ở đó Vậy thực tế chứng minh việc khai thác giá trị vănbản văn học là một hình thức gián tiếp để làm nổi bật giá trị văn hóa mà nóchứa đựng Do đó, dù muốn hay không thì ta phải khẳng định rằng văn hóabao giờ cũng tồn tại trong văn học Vì vậy mà việc nghiên cứu văn học khôngthể tách rời văn hóa, luôn song hành để tìm thấy được những dấu ấn riêng.Người dạy, muốn truyền tải được hết cái hay, cái đẹp của một tác phẩm vănhọc thì phải đặt tác phẩm văn học đó vào không gian văn hóa cụ thể, hay nóicách khác phải biết lấy văn hóa làm cơ sở Đây là một hướng khai thác rất cần
Trang 20và cùng phù hợp cho việc dạy học trong gia đoạn hiện nay Chẳng hạn dạy bài
"Chữ Người tử tù" của Nguyễn Tuân, "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài, "Rừng
xã nu" của Nguyễn Trung Thành, đoạn trích "Đất Nước" (trích Trường ca mặtđường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm mà không lấy các giá trị văn hóalàm nền tảng thì không thể khám phá thành công tác phẩm Như vậy, ta có thểkhẳng định khai thác giá trị văn hóa của tác phẩm sẽ làm cho tiết học đó thêmsâu sắc và hấp dẫn Nhưng quan trọng hơn sẽ giúp cho học sinh hiểu, yêu mếncác giá trị văn hóa truyền thống để từ đó các em biết trân trọng, giữ gìn vàbảo vệ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
1.3.2 Cảm thụ tác phẩm văn chương từ góc nhìn văn hóa
Văn học không chỉ thụ động chịu sự chi phối, quy định của văn hóa mà
nó còn tích cực chủ động trong việc lựa chọn các giá trị văn hóa Các giá trịvăn hóa được đề cập đến trong văn học bao giờ cũng là những giá trị tiêu biểu
và đặc sắc nhất, văn học lựa chọn những giá trị đó để đề cao văn hóa của dântộc và tô đẹp thêm truyền thống của đất nước Hiện nay, việc dạy học tácphẩm văn chương trong nhà trường phổ thông đều nhằm mục đích giúp chohọc sinh có thể chiếm lĩnh toàn bộ giá trị ẩn chứa bên trong văn bản Giá trịtrong mỗi văn bản văn học không chỉ về mặt ngôn từ nghệ thuật, thi pháp, thểloại, cá tính sáng tạo của nhà văn, bài học nhận thức mà còn cần giúp học sinhhiểu và cảm nhận vẻ đẹp văn hóa trong mỗi văn bản đó Việc tiếp cận văn hóa
ở tác phẩm văn học là một hướng khai thác mới, với hướng đi này sẽ giúp chogiờ học Ngữ văn thêm phần sinh động, giúp cho người học nhận thức sâu sắchơn vai trò của văn hóa đối với dân tộc Tuy nhiên, cũng cần phải hết sức lưu
ý phân biệt rõ ràng văn học là văn học, chúng ta không thể biến văn học thànhvăn hóa trong giờ học văn Việc tiếp cận văn hóa trong dạy học tác phẩm vănchương nhằm mục đích kiếm tìm những vẻ đẹp văn hóa, giá trị văn hóa củatác phẩm Có thể thấy tiếp cận văn hóa cũng là một con đường để giúp người
Trang 21học khám phá được vẻ đẹp của tác phẩm văn chương, bởi khi ta mang vănbản văn chương soi dưới cái nhìn văn hóa sẽ giúp cho người học khám phámột cách đầy đủ, trọn vẹn cái hay ẩn chứa trong văn bản văn chương đó.
Trang 22Chương 2 KHAI THÁC TRI THỨC VĂN HÓA HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU VĂN BẢN "CHIẾU CẦU HIỀN" CỦA NGÔ THÌ NHẬM
2.1 Khảo sát thực trạng dạy học "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm ở nhà trường phổ thông hiện nay
Thứ nhất: Nhằm có những định hướng phù hợp để cung cấp lượng kiếnthức về lịch sử, xã hội sâu rộng để có thể giúp các em học sinh không chỉ đếnđược với tác phẩm, cảm nhận được trọn vẹn giá trị sâu sắc trong tác phẩm màcòn biết dựa trên kiến thức nền về văn học để cụ thể hóa việc phân tích vănbản từ góc nhìn văn hóa
Thứ hai: Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong giảng dạy hiện nay, cầnphải có kiến thức liên môn trong quá trình giảng dạy Mở rộng kiến thứckhông chỉ ở lĩnh vực văn học mà còn ở lĩnh vực lịch sử, địa lí, Văn hóa Trên cơ sở đó, cho học sinh thấy được mối quan hệ gắn bó giữa các lĩnh vựclịch sử, văn hóa, địa lí và văn học
2.1.2 Đối tượng khảo sát
Để tìm hiểu việc dạy văn bản "Chiếu cầu hiền" ở nhà trường phổ thôngtrong giai đoạn hiện nay, người viết tiến hành khảo sát hai đối tượng cơ bản
Trang 23tham gia trực tiếp vào quá trình dạy và học của nhà trường đó là giáo viên vàhọc sinh.
Đối với giáo viên: Qua trao đổi chuyên môn và trực tiếp dự giờ giảngdạy của giáo viên, người viết nhận thấy rằng để dạy tốt văn bản "Chiếu cầuhiền" giáo viên phải chú trọng đến hoàn cảnh lịch sử, những giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc trên cơ sở đó sẽ cảm nhận được sâu sắc giá trị vănchương Vì vậy, đòi hỏi giáo viên phải có điểm nhìn đúng, tích hợp kiến thứcliên môn để khai thác giá trị văn bản
Đối với học sinh: Với tư cách vừa là người tiếp nhận đồng thời vừa làchủ thể của quá trình dạy học, việc khảo sát cần phải đánh giá được mức độtiếp nhận của học sinh về văn bản
2.1.3 Quá trình khảo sát
Trong quá trình thực hiện luận văn này, người viết đã tiến hành khảosát thực tiễn dạy văn bản "Chiếu cầu hiền" ở lớp 11C2, 11D1 trường THPTViệt Bắc - Lạng Sơn và lớp 11C trường THPT Chuyên Chu Văn An - LạngSơn Cùng với quá trình khảo sát học sinh người viết có tham khảo một sốgiáo án giảng dạy của giáo viên soạn giảng văn bản Qua quá trình tiến hànhkhảo sát ở những trường phổ thông khác nhau, địa bàn khác nhau, đối tượnghọc sinh khác nhau Được tiếp cận trực tiếp vào quá trình dạy và học văn bản
"Chiếu cầu hiền" vì thế kết quả khảo sát mang tính khách quan và chính xáchơn Từ những kết quả thu được, người viết ý thức được rõ thực trạng dạy vàhọc văn bản "Chiếu cầu hiền" trong giai đoạn hiện nay Đồng thời cũng quaviệc khảo sát thực tiến giảng dạy đã giúp cho người viết có cái nhìn sát thựchơn trong việc dạy học một văn bản trung đại cụ thể là văn bản "Chiếu cầuhiền" nói riêng và việc dạy học văn nói chung Điều này có ý nghĩa vô cùngquan trong đối với yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Trang 242.1.4 Kết quả khảo sát
Qua việc phát phiếu điều tra ở lớp 11C2, 11D1 trường THPT Việt Bắc
- Lạng Sơn và lớp 11B, 11C trường THPT Chuyên Chu Văn An - Lạng Sơn,cùng với việc điều tra giáo viên Ngữ văn của cả hai trường Chúng tôi nhận
về được kết quả như sau:
Về phía giáo viên:
Kết quả tổng hợp Trường Việt Bắc
-Lạng Sơn
Trường Chuyên Chu Văn An - Lạng Sơn
Số giáo viên dạy quan
tâm đến giá trị nội
dung, giá trị nghệ thuật
trong văn bản "Chiếu
cầu hiền"
Số giáo viên dạy quan
tâm đến vai trò của lịch
sử để khai thác thông
tin trong văn bản
Số giáo viên dạy không
quan tâm đến dấu ấn
của văn hóa biểu hiện
trong văn bản
Số giáo viên cho rằng
việc dạy văn bản hiện
nay cần chú ý đến tố
văn hóa và nhận thức
được mối quan hệ giữa
văn hóa và văn học
Về phía học sinh:
Trang 25hợp trường THPT
Việt Bắc
Trường THPT Việt Bắc
Trường THPT Chuyên Chu Văn An
Trang 26rằng: Tuy môn văn là môn học chính trong chương trình trung học phổ thôngnhưng hiện nay học sinh lại rất lơ là, thờ ơ không có hứng thú học cũng nhưtìm hiểu văn bản Bên cạnh đó một bộ phận nhỏ các em học sinh còn có tưtưởng cho rằng môn Ngữ văn chỉ là một một học phụ, không có vai trò gì đốivới quá trình nhận thức của các em Vì vậy mà trong quá trình học các emkhông dành thời gian cho bộ môn này Từ thực trạng chung về bộ môn, ngườiviết nhận thấy thật đáng lo ngại Khi được phát phiếu điều tra khảo sát trựctiếp vào văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm, các em học sinh nhìnchung đều có những câu trả lời khá trùng họp nhau Khi học văn bản, các em
đa phần chỉ quan tâm đến giá trị nội dung và nghệ thuật trong văn bản, ngoài
ra các giá trị khác các em không quan tâm đến Vẫn biết với một tác phẩmvăn học bao giờ cũng thế hoàn cảnh lịch sử đóng vai trò quan trọng như làchiếc chìa khóa giúp người học mở vào chiều sâu văn bản Đặc biệt ở văn bản
"Chiếu cầu hiền" lại được viết trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, thếnhưng vẫn có học sinh trả lời không quan tâm đến yếu tố lịch sử khi đi khaithác văn bản Còn vai trò của văn hóa truyền thống là gì? và giá trị của nó tồntại trong văn bản ra sao thì chỉ một số ít học sinh quan tâm đến Một điềukhiến cho người viết trăn trở khi nhận được phiếu khảo sát từ các em, đó làkhi hỏi các em có hào hứng và yêu thích trong việc đi tìm hiểu văn bản
"Chiếu cầu hiền" không thì con số yêu thích đa phần chỉ chiếm được một nửatrong tổng số mỗi lớp Từ thực trạng trên đây, cũng phản ánh một phần củaviệc dạy và học văn hiện Người viết theo đánh giá chủ quan của bản thân xinđược rút ra một vài nguyên nhân chính như sau đối với việc học sinh xa rờivăn bản, không hào hứng đối với việc tìm hiểu văn bản
Thứ nhất: "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm là văn bản thuộc thời kìvăn học trung đại Thời kì văn học này đến giai đoạn hiện nay có một bộ phậnnhỏ học sinh cho rằng là xa rời về tư tưởng, cách nghĩ
Trang 27Thứ hai: Văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm là văn bản mớiđược đưa vào chương trình sách giáo khoa cải cách những năm gần đây, lại làmột văn bản liên qua đến nhiều sự kiện lịch sử thời đại.
Thứ ba: Để chiếm lĩnh trọn vẹn toàn bộ giá trị văn bản đòi hỏi ngườiđọc - hiểu cần phải có lượng kiến thức về lịch sử, xã hội và văn hóa sâu rộng
Thứ tư: Do người truyền đạt đã không đánh thức được tình yêu vănchương và vai trò của các yếu tố lịch sử, văn hóa ở các em học sinh
Như vậy, từ những nguyên nhân về việc tiếp nhận văn bản "Chiếu cầuhiền" của học sinh trên đây đã giúp cho người viết nhận thấy rằng: Để mộtgiờ dạy văn thu hút được học sinh, tạo hứng thú tìm hiểu và niềm say mênhiệt huyết của các em thì trước hết đòi hỏi ở người truyền dạy phải ý thứcđược vai trò của văn bản không chỉ ở lĩnh vực văn chương mà còn ở cả cáclĩnh vực lịch sử, văn hóa bởi đó là những yếu tố qua trọng tạo ra thành côngcho văn bản
2.2 Định hướng tiếp cận văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm theo hướng tiếp cận văn hóa.
2.2.1 Hoàn cảnh lịch sử ra đời văn bản " Chiếu cầu hiền"
Với một tác phẩm văn học khi đi khai thác giá trị nội dung chúng taphải quan tâm đến hoàn cảnh ra đời của Bởi đây được xem là một nhân tốquan trọng quyết định đến cả nội dung lẫn hình thức Với văn bản "Chiếu cầuhiền" của Ngô Thì Nhậm cũng vậy hoàn cảnh ra đời dựa trên bối cảnh nhưsau:
Triều đại Lê – Trịnh lúc bấy giờ tuy đã rơi vào giai đoạn khủng hoảng trầmtrọng và sụp đổ, nhưng uy tín của nó ít nhiều vẫn còn trong nhân dân, nhất làgiới quan lại, sĩ phu của triều cũ Công lao của họ Lê (từ Thái Tổ – Lê Lợitrong sự nghiệp “bình Ngô”), họ Trịnh (trong sự nghiệp Trung hưng nhà Lê)vẫn được người dân tưởng nhớ, thần phục Vua Chiêu Thống dù đớn hèn, bất
Trang 28tài nhưng vẫn còn và vẫn là đại diện chính thống của dòng họ cũ Hơn nữa, tưtưởng “trung quân” ăn sâu vào tâm thức, tư tưởng, tình cảm của người trí thứcđương thời, tạo nên sự bảo thủ trong việc nhìn nhận, thừa nhận một triều đạivừa mới được tạo dựng chỉ trong vòng có một hai năm đầy biến động "thayđổi sơn hà" Trong con mắt người dân Bắc Hà nói chung và quan lại, sĩ phunói riêng, Nguyễn Huệ vẫn chỉ được coi là người “ngoại quốc” (Nam Hà) vàchính quyền của ông là chính quyền “ngoại lai”, chứ không thực sự đại diệncho nước Đại Việt (hay Hoàng Việt, lúc đó mới chỉ giới hạn từ xứ Thuận Hoátrở ra) Chưa nói là, trong con mắt của họ, chính quyền Tây Sơn chỉ là đám
“giặc cỏ” hung hăng, không có truyền thống văn hoá vào “cướp” nước người(Liên hệ với sách Hoàng Lê nhất thống chí) Bởi vậy, triều đại Tây Sơn chưa
dễ gì mà được thừa nhận ngay Trong hoàn cảnh chiến tranh liên miên, triềuđại Tây Sơn được tạo dựng nên từ những trận chiến, những cuộc hành quân.Mặc dù, luôn có ý thức lấy lòng dân, tỏ rõ ân đức và uy vũ, nhưng không phảikhông có lúc quân Tây Sơn làm cho dân chúng khiếp sợ, không phục, nhất làvới những đặc điểm chung như: ít chữ nghĩa, võ biền… Đôi khi, có những cánhân như những “con sâu làm rầu nồi canh”, hay có những sự lục đục, tranhgiành, “huynh đệ tương tàn” trong nội bộ nhà Tây Sơn Tất cả những điều đócũng tạo nên tâm lý không phục, và từ không phục dẫn đến bất hợp tác củanhân dân và sĩ phu Bắc Hà với triều đại mới
Trong buổi đầu của nền đại định, kiến thiết lại đất nước sau bao cơnbinh hoả, nhu cầu cần có người hiền tài là một nhu cầu có thực, rất bức xúc.Hơn nữa, quân xâm lược nhà Thanh bị đánh tan, chúng vẫn chưa từ bỏ dã tâmphục thù và cướp nước ta Việc xây dựng quốc gia hùng mạnh, vững chắccũng là để đối phó với nguy cơ to lớn đó Triều đại Tây Sơn lại đi lên từphong trào khởi nghĩa của dân nghèo, đi lên từ chiến trận, chưa có kinhnghiệm xây dựng, quản lý đất nước (cả đối nội lẫn đối ngoại) nhất là trong
Trang 29thời bình, cho nên vấn đề cần người tài giỏi ra gánh vác công việc lại càng trởnên cấp thiết hơn rất nhiều Bài chiếu do đó cũng phản ánh không khí thờiđại, nhất là nhận thức đúng đắn và sáng suốt của vua Quang Trung về đại cục,
về tình thế của bản thân triều đại và đất nước Trong hoàn cảnh đó, bài "Chiếucầu hiền" ra đời Đối tượng của bài chiếu là “người hiền tài” nói chung,nhưng đối tượng cụ thể, rõ ràng nhất mà bài chiếu nhắm vào chính là nhữngngười sĩ phu, những người có năng lực chưa chịu ra giúp rập, thi thố cho triềuđại mới Với danh nghĩa hoàng đế, vua Quang Trung phải làm thế nào đó để
họ xoá bỏ nỗi nhớ tiếc triều đại cũ, xoá bỏ những thành kiến đối với triều đạimới, thấy được những mặt tích cực, thái độ trân trọng người hiền tài của triềuđại mới, tiến tới ủng hộ và chung tay giúp sức xây dựng triều đại mới Bởivậy, tuy viết dưới hình thức “chiếu” nhưng thái độ của bài chiếu không phải
là ra lệnh, áp đặt và là thuyết phục, yêu cầu và thúc giục
2.2.2 Tư tưởng chủ đề của văn bản " Chiếu cầu hiền"
Văn bản "Chiếu cầu hiền" thể hiện rõ sự khát khao cầu hiền của nhà vua trẻ tàiđức và cái nhìn sáng suốt về vấn đề trọng dụng nhân tài Xuất phát từ tình hình thực
tế lúc bấy giờ, người ra chiếu đã chỉ ra được vị trí, vai trò của người tài trongviệc xây dựng triều đại, xây dựng đất nước Tác giả bài chiếu ví người tài với
“sao sáng trên trời”, nhấn mạnh “đương khi trời còn thảo muội, là lúc quân tửthi thố kinh luân”, đồng thời nhận thức rõ: “sức một cây gỗ không chống nổitoà nhà to, mưu lược một kẻ sĩ không dựng được cuộc thái bình” Vì lợi íchcủa đất nước, của dân tộc vua Quang Trung đã thể hiện sự khiêm tốn, thái độchân thành, thực sự cầu thị đối với các bậc hiền tài Ở đây, không chỉ có vấn
đề người tài mà còn có vấn đề đoàn kết, hoà giải dân tộc, một vấn đề vẫn còn
có ý nghĩa thời sự hiện nay
Văn bản chỉ ra được đường lối tìm nhân tài Đường lối tìm nhân tài củavua Quang Trung rất rộng mở và đúng đắn, điều này thể hiện tập trung ở phần
Trang 30Tất cả mọi tầng lớp nhân dân, từ quan lại đến dân thường đều đượcphép dâng thư tỏ bày ý kiến Những ý kiến chưa đúng đắn, viển vông (“vukhoát”) không bị trách phạt
Cách tiến cử người tài, gồm 3 cách: tự mình dâng thư, tỏ bày công việc;các quan tiến cử
Hứa hẹn tạo điều kiện cho người tài làm việc và được hưởng sự ưu đãi(“để được rạng rỡ chốn vương đình", "cùng hưởng phúc tôn vinh")
Tư tưởng bài chiếu của vua Quang Trung, nhưng cách lập luận thuyếtphục lòng người là của Ngô Thì Nhậm Qua đây cho chúng ta thấy được vuaQuang Trung là người có tầm nhìn xa trông rộng, tư tưởng dân chủ, trọng dụng nhân tài.Còn Ngô Thì Nhậm là con người uyên bác, tài giỏi trong việc dùng văn bản thay nhàvua chiêu hiền đãi sĩ Ông thật xứng đáng được vua Quang Trung tin cậy
2.2.3 Vai trò của " Chiếu cầu hiền" trong lịch sử dân tộc
Mỗi tác phẩm văn học khi ra đời bao giờ cũng được người viết dựa vàohoàn cảnh lịch sử cụ thể Nói như vậy, lịch sử chính là chất xúc tác đóng vaitrò quan trọng để một tác phẩm văn học ra đời Vì thế khi nhìn vào tác phẩm
đó, người đọc có thể tái hiện ngay được giai đoạn ịch sử nó được sinh ra Mànhư chúng ta thấy lịch sử dân tộc ta được chảy dài theo mạch nguồn từ quákhứ đến hiện tại Mỗi tác phẩm văn học đóng vai trò quan trọng được xemnhư chiếc gương phản chiếu để soi bóng trang sử dân tộc Văn bản "Chiếucầu hiền" của Ngô Thì Nhậm cũng vậy Mở từng trang viết trong bài Chiếu, ta
có thể thấy được một giai đoạn lịch sử dân tộc với đầy những biến cố xảy ra,đồng thời càng thêm phần cảm phục hình ảnh người anh hùng áo vải NguyễnHuệ Như chúng ta biết, trước tình thế chúa Trịnh ngày càng lấn át vua Lê,năm 1786 Tây Sơn ra Thăng Long "Phù Lê diệt Trịnh" Sau đó, đất nước lạixảy ra biến cố quân Mãn Thanh sáng xâm lược Nguyễn Huệ lại một lần nữađưa quân ra Bắc để tiêu diệt quân Thanh Thừa thánh đánh hai mươi vạn quân
Trang 31Thanh, dẹp yên thù trong giặc ngoài, thống nhất đát nước, lập ra triều đại TâySơn Mở ra một trang sử mới cho đất nước Bối cảnh lịch sử khi đó mặc dù đãdẹp yên thù trong giặc ngoài nhưng xã hội vừa mới xảy ra loạn lạc, triều đìnhmới "đương ở buổi đầu của nền đại định, công việc vừa mới mở ra Kỉ cươngnơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết, công việc ngoài biên đương phải lotoan Dân còn nhọc mệt chưa lại sức, mà đức hóa của nhà vua mới chưa kịpthấm nhuần khác nơi" Có thể thấy, một giai đoạn lịch sử đầy những khó khănthách thức đặt ra cho triều đại Tây Sơn Nhưng bằng khả năng và mưu trítuyệt vời của một bậc minh quân, vua Quang Trung đã đưa ra những chínhsách , chiến lược để gây dựng triều đại Tây Sơn Với tầm nhìn xa, trông rộng,
tư tưởng sáng suốt của một vị vua mà lịch sử dân tộc đã bước sang nhữngtrang mới Trong những chính sách mà nhà vua đưa ra trong buổi đầu gâydựng đại nghiệp đó là chính sách chiêu hiền đãi sĩ, chính sách này đượcQuang Trung đặc biệt đề cao, nhà vua nêu cao tư tưởng trọng dụng nhữngngười có tài, không phân biệt giai cấp Hiền tài ở đây được ví như tinh hoacủa đất trời và tinh hoa ấy lẽ đương nhiên phải được cống hiến cho dân, chonước Tư tưởng trọng dụng nhân tài được đề cập đến từ xua xưa và ngày naytrong đường lối lãnh đạo, xây dựng đất nước của Đảng ta, tư tưởng ấy vẫncòn giữ nguyên giá trị
2.2.4 Tính văn hóa trong văn bản " Chiếu cầu hiền"
Tính văn hóa của một tác phẩm văn học là tính chất đặc thù gắn liềnvới mỗi tác phẩm văn học, nó cho thấy tác phẩm văn học không chỉ toát lên
vẻ đẹp ngôn từ mà còn cả vẻ đẹp tâm hồn qua cách ứng xử và cách tiếp nhận,
xử lý cuộc sống của một dân tộc hay một cộng đồng nhất định Nó không chỉ
là quan niệm về người thể hiện qua sự khéo léo của nghệ thuật ngôn từ màcòn cả chuẩn mực ứng xử của một cộng đồng, một dân tộc trong một thời kỳlịch sử nhất định Mỗi tác phẩm văn học đều mang trong nó tính văn hóa đặc
Trang 32trưng của dân tộc, của đất nước nơi tác phẩm sinh ra Nếu coi văn hóa là toàn
bộ các giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong suốt tiếntrình lịch sử nhằm tạo ra bản sắc riêng thì tác phẩm văn học là một trongnhững giá trị sáng tạo đó Bởi vậy ở văn bản "Chiếu cầu hiền" của Ngô ThìNhậm tính văn hóa được biểu hiện rất rõ Trước hết chúng ta đi từ những đặcsắc nghệ thuật của một văn bản chính luận, với cách lập luận chặt chẽ, lí lẽsắc sảo, lập trường chính trị vững vàng Trong từng câu, từng đoạn, từng phầncủa "Chiếu cầu hiền" đều toát ra được giá trị thuyết phục lòng người hiền sĩ
Vì thế, tác phẩm đã vượt ra khỏi giới hạn của một thời đại lịch sử cụ thể
2.2.5 Sự kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa được biểu hiện ở văn bản " Chiếu cầu hiền"
"Văn hóa là lịch sử tâm hồn của dân tộc", mỗi một phong tục văn hóađều bắt nguồn từ lịch sử của đời sống xã hội Như vậy, các phong tục văn hóachính là dấu ấn lịch sử của cha ông để lại Ở văn bản "Chiếu cầu hiền" củaNgô Thì Nhậm chúng ta thấy rõ sự kế thừa và phát huy nhiều giá trị văn hóacao đẹp của dân tộc ta Ngô Thì Nhậm nho sĩ có tài, ông đã có công lớn trongviệc giúp vua Quang Trung xây dựng đại nghiệp Với văn bản "Chiếu cầuhiền", đây là một văn bản có dung lượng ngắn nhưng hàm lượng văn hóa ẩnchứa trong văn bản lại vô cùng lớn Ngô Thì Nhậm đã kế thừa một cách trọnvẹn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cha ông dược phát huy ởtất cả các triều đại phong kiến Đó là đạo trung quân - bề tôi trung thành vớivua - trong văn bản Ngô Thì Nhậm đã ví "Người hiền xuất hiện ở đời thì nhưngôi sao sáng trên trời cao Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắtlàm sứ giả cho thiên tử" Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp đã giúp chocác vương triều phong kiến khẳng định được sự uy nghiêm và thịnh trị NgôThì Nhậm đã kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa đó, ông đưa ra lờikhẳng định vai trò của người hiền là ở bên cạnh thiên tử, đưa ra những kếsách hay để cùng thiên tử xây dựng giang sơn xã tắc Ngoài ra, trong bài
Trang 33Chiếu ta còn thấy một nét đẹp văn hóa mang đạm bản sắc của dân tộc Việtchúng ta từ ngàn xưa cho đến bây giờ vẫn còn phát huy đó là việc chiêu hiềnđãi sĩ - đề cao nhân tài của vua Quang Trung Nhà vua đã có tư tưởng rất mớixuống chiếu kêu gọi những người có tài đứng ra giúp đời Đây được xem làmột truyền thống văn hóa chính trị của nhiều triều đại phong kiến nhưng vuaQua Trung với tầm nhìn xa trông rộng, tư tưởng đổi mới đã tuyển chọn nhântài bằng cách xuống Chiếu kêu gọi mà không trải qua thi cử Các triều đạitrước đây muốn ra làm quan phải vượt qua các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đìnhnhưng vua Quang Trung cho phép mọi người thuộc mọi tầng lớp trong xã hộiđược dâng sớ tâu bày kế sách hoặc cho các quan văn võ tiến cử người cónghề hay, nghiệp giỏi Ngoài ra còn cho phép người tài tự tiến cử Như vậy,cùng với việc viết tiếp những trang truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộcvua Quang Trung còn rất ý thức được vai trò của người tài đối với vận mệnhđất nước Như Thân Nhân Trung đã từng nói "hiền tài là nguyên khí quốcgia" Nếu ta ví đất nước như một cơ thể sống thì hiền tài chính là máu trongtim, là hơi trong phổi Hiền tài là cội nguồn, là nền tảng cho sức mạnh, sự tồnvong của một quốc gia, dân tộc Như vậy, mạch nguồn văn hóa truyền thống
âm vang mạnh mẽ trong văn bản "CHiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm Chọncác giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại Ngô Thì Nhậmthay mặt vua Quang Trung viết để muốn nhắm gửi đến con cháu thế hệ hômnay hãy biết giữ gìn và bảo vệ các truyền thống văn hóa tốt đẹp đó
2.2.6 Ngôn từ trong văn bản " Chiếu cầu hiền" giàu chất văn hóa
Từ trước đến nay khi đi tìm hiểu tác phẩm văn chương bao giờ ngườitiếp nhận cũng thông qua phương tiện ngôn ngữ Bởi văn học là nghệ thuậtngôn từ Vì thế để đánh giá một tác phẩm chính là căn cứ vào lớp ngôn từđược sử dụng trong văn bản Và muốn đánh giá tài năng của người cầm bútthì nhìn vào hệ thống ngôn từ mà họ sử dụng ra sao Điều đó khẳng định vaitrò to lớn của ngôn từ trong văn bản văn học
Trang 34Ngôn từ trong văn bản văn học khác với lớp ngôn từ được sử dụng trongcác bộ môn khác, ngôn từ ở đây dòi hỏi phải là lớp ngôn từ nghệ thuật Ở mỗivăn bản văn học, do nội dung biểu hiện khác nhau nên sử dụng lớp ngôn từkhác nhau, tùy vào nội dung hướng đến của nhà văn Trong văn bản "Chiếu cầuhiền" của Ngô Thì Nhậm là loại văn bản nghị luận chính trị - xã hội.
2.2.7 Văn bản " Chiếu cầu hiền" và sự kết tinh những giá trị khác
Mỗi văn bản văn học thường được coi như một bức thông điệp màngười viết muốn gửi tới bạn đọc Chính vì thế ngoài chức năng thông tin ra thìvăn bản còn hàm chứa nhiều giá trị nhân văn sâu sắc Văn bản "Chiếu cầuhiền" của Ngô Thì Nhậm không nằm ngoài quy luật đó Văn bản ra đời trongmột thời điểm lịch sử đặc biệt đã cho ta thấy được tấm lòng thiết tha kêu gọingười hiền ra giúp vua xây dựng vương triều mới, đồng thời qua chính sáchcầu hiền của vua Quang Trung ta thấy được giá trị giáo dục tiến bộ của triềuđại Tây Sơn
Xét ở góc độ giáo dục, tìm hiểu "Chiếu cầu hiền không chỉ là tìm hiểumột văn bản thuộc thể văn thư nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thầndân mà là bắt tay vào tìm hiểu một loại văn bản trong hệ thống quản lí hànhchính thời phong kiến Trong giai đoạn lịch sử thời phong kiến, công vănhành chính gồm có hai loại lớn: Một loại công văn do cấp dưới đệ trình lênnhà vua hoặc triều đình (tấu, chương, biểu, sớ, khải ); một loại do vua truyềnxuống cho bề tôi (chiếu, mệnh, lệnh, chế, biểu, dụ, cáo ) Đồng thời, qua
"Chiếu cầu hiền" thế hệ trẻ hôm nay học tập được nhiều từ chủ trương cầuhiền đúng đắn đến tầm chiến lược sâu rộng, tấm lòng vì dân vì nước của vuaQuang Trung Trong toàn bộ bài "Chiếu cầu hiền" là công văn nhà nước lệnhcho thần dân thực hiện nhưng rất khác với các bài chiếu thông thường, đóitượng thực sự trong "Chiếu cầu hiền" là các trí thức, các bậc hiền tài lươngđống của dân tộc.Vì thế, ngay nhan đề bài đã toát ra cách nói khiêm tốn, thể
Trang 35hiện tình cảm thiết tha, thái độ chân thành cầu hiền đãi sĩ, một lòng vì dân vìnước của vua Quang Trung Có thể nói, "Chiếu cầu hiền" là một bài chiếu đặcbiệt, thể hiện mong mỏi, ước nguyện chứ không phải lệnh Do đó, qua bàichiếu ta không chỉ thấy tài văn của Ngô Thì Nhậm mà còn thấy được tư tưởng
và tầm nhìn xa trông rộng của vua Quang Trung
Trong hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay, tác phẩm “Chiếu cầuhiền” đã được đưa vào giảng dạy chính thức trong trường Trung học phổthông, chương trình cơ bản, lớp 11 Đây thực sự là một điều rất đáng mừngbởi chúng ta, lớp hậu thế sinh sau đã không quên lịch sử Chỉ tiếc rằng tácphẩm này chưa được góp mặt trong Từ điển Bách khoa Việt Nam
207 năm đã trôi đi kể từ khi Ngô Thì Nhậm qua đời Hôm nay, cônglao, sự nghiệp của nhà nghiên cứu, nhà văn hoá, nhà ngoại giao Ngô ThìNhậm không những được lịch sử ghi nhận mà còn in đậm trong trái tim, khối
óc mỗi người dân Việt Nam Đặc biệt in đậm trong tâm trí lớp lớp thanh thiếuniên - chủ nhân của đất nước Việt Nam trong tương lai gần - ngay từ thời tuổitrẻ qua những bài học văn học trong trường phổ thông Khẳng định sự nghiệp
vĩ đại của Ngô Thì Nhậm, cố Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh đã từng xếpông vào hàng ngũ những thiên tài mãi mãi là những ngôi sao sáng trên bầutrời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi Việt Nam
“Chiếu cầu hiền” là một tác phẩm chính luận kết cấu ba phần chặt chẽ,lập luận chắc chắn, lí lẽ sắc bén Phần một - đoạn đầu là cơ sở lý luận của
“Chiếu cầu hiền” Phần này, Ngô Thì Nhậm đã lập luận bằng cách mượn lờiKhổng Tử trong sách Luận ngữ: Lấy đức mà cai trị đất nước, giống như saoBắc Đẩu giữ đúng vị trí của mình, các ngôi sao khác sẽ về chầu Ngô ThìNhậm đã viện ý trời làm nền tảng cho việc cầu hiền của vua QuangTrung Cách này vừa giúp tác giả tôn vinh được bậc thánh hiền của đạo Nho -giống như sao sáng - vừa khẳng định với hiền tài, nho sĩ trong thiên hạ rằng
Trang 36triều đại mới là triều đại lấy đức cai trị đất nước Bằng cách mượn ý trời xemviệc người hiền tài về chầu thiên tử là điều tất yếu, hợp quy luật, hợp lòngngười Nếu người hiền tài tự giấu mình đi là trái với ý trời Điều này giốngnhư che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp trí tuệ, huệ nhãn, có tài mà không đượcđời dùng thì đó cũng không phải là ý trời sinh ra người hiền tài vậy Làm vậy
là trái với đạo thánh hiền, trái với luân thường đạo lý của kẻ sĩ Ngô ThìNhậm thật cao tay “bắt quyết”, ông mượn lời thánh hiền và ý trời để tạo ra cơ
sở lý luận vững chắc cho việc cầu hiền tài của triều đình Lập luận của tác giảvừa tôn vinh người hiền tài trong khắp cõi, vừa gọi vua Quang Trung là thiên
tử, so sánh vua Quang Trung với ngôi Bắc Đẩu đã tạo ra sự tin cậy đặc biệtcho những hiền tài chưa hiểu rõ thời cuộc, còn đang lưỡng lự, phân vân trướcthời cuộc
Phần hai cho người đọc hậu thế thấy rõ thực trạng của kẻ sĩ Bắc Hà vàtấm lòng khao khát cầu hiền của vua Quang Trung Phần này - gồm 4 đoạn ýtiếp theo - trong đó đoạn 2 như là một điểm tựa để bẩy đoạn 3, đoạn ý tiếptheo nhằm thực hiện mục đích thuyết phục, kêu gọi hiền tài ra giúp nước.Điểm tựa bắt nguồn từ những sự việc của quá khứ gần: “Trước đây thời thếsuy vi” Ngô Thì Nhậm đã đưa người đọc ngược dòng lịch sử, trở về với mạtthời Lê - Trịnh bệ rạc, thối nát Người hiền tài như ngôi sao bị che khuất,không được trọng dụng, tôn kính Chính vì thế cách hành xử tích cực nhất của
họ lúc này là giữ gìn lấy khí tiết trong sạch của một nhà nho chân chính bằngcách trốn tránh, ẩn dật hoặc là dè dặt, giữ mình trong chốn quan trường Thờithế lúc này không cho phép họ tự thể hiện mình chứ không phải họ tự vùi lấpmình Vào giai đoạn lịch sử nhiều biến cố, tất yếu các kẻ sĩ trong thiên hạphải tìm chỗ ẩn mình Cách ứng xử của các trí thức Bắc Hà không nằm ngoàiquy luật đó Họ hoặc là bỏ đi ở ẩn hoặc là chỉ giữ mình im lặng, cầm chừng Trong “Chiếu cầu hiền”, Ngô Thì Nhậm đã dùng nhiều hình ảnh gợi cảm để
Trang 37chỉ tình trạng thất thế loạn lạc của kẻ sĩ như: “ẩn trong ngòi khe”, “kiêng dèkhông dám lên tiếng”, “gõ mõ canh cửa”, “ra biển vào sông”, “chết đuối trêncạn” hoặc dùng biện pháp khích tướng để nhấn mạnh lối sống uổng phí tàinăng, không xứng danh là người hiền tài của các hiền sĩ Cách nói của tác giảgần gũi, thân tình, tế nhị và hóm hỉnh Ngô Thì Nhậm đã giúp chúng ta khôngchỉ biết đồng cảm với cách ứng xử của các hiền tài tiền bối mà còn chỉ chochúng ta cách nhìn nhận, đánh giá con người Tưởng như mâu thuẫn bởi mởđầu bài chiếu, đoạn 1 Ngô Thì Nhậm đã tôn vinh và khẳng định sứ mệnh củangười hiền tài mà sang đoạn tiếp theo tác giả dường như lại ủng hộ cách ứng
xử lánh đời của họ trong mạt thời Lê Trịnh; nhưng không phải vậy: Ngô ThìNhậm đã nhìn thấu các hiền sĩ lương đống trong mối quan hệ với hoàn cảnhlịch sử xã hội của họ Cách lập luận của Ngô Thì Nhậm cho thấy: chỉ nhữngnhân tài kiệt xuất như Quang Trung Nguyễn Huệ… mới có khả năng tạo rathời thế, còn phần lớn con người đều ít nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh lớncủa xã hội Cách ứng xử của các bậc hiền tài trước đây như vậy cũng có nghĩa
là họ đã làm chủ được hoàn cảnh trực tiếp của bản thân mình Từ đây, bài học
mà các thế hệ hậu thế sẽ học được chính là cách đánh giá con người, phảinhìn nhận con người trong mối quan hệ qua lại với hoàn cảnh sống để có thái
độ đúng mực
Trong đoạn văn tiếp theo, Ngô Thì Nhậm thay lời nhà vua để bộc lộnhững tâm tư sâu kín, đó là nỗi niềm canh cánh chờ mong sự xuất hiện củahiền tài: “ghé chiếu lắng nghe”, “ngày đêm mong mỏi” rồi hai câu hỏi tu từliên tiếp: “Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nátchưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”- cho thấy sự day dứt, trăn trở khônnguôi trong lòng vua Quang Trung lúc bấy giờ Giọng văn bình dị như một lờitâm tình làm gần hơn khoảng cách giữa vua với các hiền tài -“nguyên khíquốc gia” Chúng ta thấy thái độ khẩn khoản của vua Quang Trung, thấy đức
Trang 38vua là người rất coi trọng hiền tài Như vậy người hiền tài sẽ không lo sợ bịche lấp tài năng hoặc tài năng bị quên lãng, bỏ rơi như thời buổi suy vi Lậpluận thật chặt chẽ và đầy sức thuyết phục Ngô Thì Nhậm còn tăng mức độthuyết phục lên mức cao hơn trong đoạn văn tiếp theo Thời cơ của ngườihiền tài thực sự đã đến Đất nước vừa ổn định, non sông đã có chủ, thay lờivua, tác giả khẳng định công việc vừa mới mở ra, kỷ cương nơi triều chính,công việc ngoài biên cương còn nhiều việc phải lo toan, khắc phục; dân còn
bỡ ngỡ, mệt nhọc, sự giáo hoá của vua chưa thấm nhuần khắp chốn; trọngtrách giang sơn không chỉ mình nhà vua đảm đương, gánh vác, “Một cái cộtkhông thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựngnghiệp trị bình” Khó khăn của đất nước có sức tác động vào trách nhiệmcủa hiền sĩ với non sông gấm vóc Những người hiền tài có tâm đức không thểbàng quan trước tình cảnh nước nhà Tất cả đều là những mảnh đất trống chongười hiền thể hiện tài năng của mình Cơ hội đã đến Ngô Thì Nhậm không
hô hào, kêu gọi mà thay vua đặt ra một câu hỏi day dứt lòng người: “Huốngnay trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấymột người tài danh nào ra phò vua giúp cho chính quyền buổi ban đầu củatrẫm hay sao?” Như vậy, bằng văn tài của mình, một mặt tác giả chỉ chongười hiền thấy được thời cơ, vận hội mới, qua đó đề cao vai trò của họ trongviệc trị nước; mặt khác lại đánh vào tâm lý, khơi gợi lòng tự trọng của họ Lờivăn nhẹ nhàng, giọng điệu linh hoạt, khi mạnh mẽ, gợi ra cái chưa ổn trongcuộc sống ẩn dật, khi lắng lại, thành tâm, khiêm nhường, khi khích lệ, cổ vũngười hiền tài ra giúp chính quyền buổi đầu song lí lẽ, lập luận lại đặc biệt sắcsảo, có sức thuyết phục cao, vừa lay động chí, vừa chuyển tâm ý của hiền tàitrong thiên hạ, khích lệ họ đừng chần chừ, ngần ngại, hãy nhanh nhanh mangsức ra giúp dân, trị nước
Tiếp theo là bước chuyển ý quan trọng, tăng cấp tối đa sức thuyết phục
Trang 39bằng một chính sách cầu hiền đặc biệt: Ai có tài cho phép tự trình bày côngviệc; cho phép các quan tự tiến cử; người hiền tự tiến cử mình Chính sách cụthể, rõ ràng, công bằng, dân chủ - mở rộng cửa cho người hiền tài giúp vua,giúp nước Có thể nói rằng trong phần hai này, nghệ thuật thuyết phục củaNgô Thì Nhậm không chỉ độc đáo mà còn rất đỗi tài năng Lời lẽ thiết tha, lí
lẽ sắc sảo, lập luận chặt chẽ Hòa quyện trong mỗi lời văn là tình và lí: mộtbên là sự cần thiết của nước nhà, một bên là tấm lòng ưu ái canh cánh của nhàvua dành cho các bậc hiền tài Bài học mà chúng ta có được ở đây có lẽ là bàihọc về cách ứng xử ở đời: lấy chí để thuyết phục chí, lấy tâm để thuyết phụctâm, lấy sự công bằng, dân chủ để thuyết phục nhân Đó là nghệ thuật cầuhiền của Ngô Thì Nhậm và vua Quang Trung, nhưng đồng thời cũng là nghệthuật ứng xử của con người với con người trong mọi thời đại
Phần ba là phần nêu hướng sử dụng người hiền tài và lời kêu gọi ngườitài trong thiên hạ ra giúp dân, giúp nước Ngô Thì Nhậm đã đánh tan nhữngbăn khoăn của nhiều hiền tài trong thiên hạ bằng cách giúp vua Quang Trung
mở ra hướng sử dụng người hiền tài một cách rõ ràng, rộng mở và độ lượngvới nhiều biện pháp cụ thể Đối với người có tài năng học thuật, mưu hay hơnđời, lời nói nào dùng được thì cất nhắc, không kể thứ bậc Đối với người cónghề hay nghiệp giỏi, cho phép quan văn, quan võ tiến cử, tuỳ tài sử dụng.Đối với những người tài năng còn bị che kín thì được dâng sớ tự tiến cử…Người hiền theo quan niệm của Quang Trung thật đa diện Quang Trung vàtriều đại mới không chỉ hướng tới những người giỏi chữ nghĩa mà còn hướngtới những người có tay nghề cao Ngoài ra còn khuyến khích người tài tự tiến
cử Quan điểm về người hiền tài của nhà vua thật tiến bộ, hiện đại, hợp lòngdân, tạo con đường rộng mở cho người tài ra phò vua trị nước Những lời kêugọi cuối tác phẩm như một lời hiệu triệu mạnh mẽ, khơi dậy, làm nức lòng kẻhiền tài bốn bể Cái lí của triều đình đưa ra là không còn gì thuận lợi hơn, trời
Trang 40trong sáng, đất thanh bình cho người tài đức xuất hiện Thời cơ đã đến chonhững ai muốn làm nên nghiệp lớn gặp hội gió mây.
Phần kết của văn bản, Ngô Thì Nhậm nhấn mạnh lại thời cơ, vận hội củangười hiền Lời kết có giá trị như một lời nhắc nhở với những hiền tài rằng cơhội lập danh, lập thân của họ thực sự đã đến, họ cần phải chứng tỏ chí khí quân
tử của mình trước lịch sử Lời kết cuối bài chiếu sôi nổi, nhiệt thành khuyếnkhích được tinh thần của người hiền tài trong thiên hạ một cách sâu sắc
“Chiếu cầu hiền” không chỉ cho chúng ta thấy tư tưởng tiến bộ của vuaQuang Trung trong việc sử dụng người hiền tài mà còn cho thấy cái tài trongnghệ thuật viết chiếu của Ngô Thì Nhậm Lời lẽ trong văn bài vừa có cái trangtrọng, cao sang, trí tuệ của kẻ bề trên, lại vừa có cái thành tâm, khiêm nhườngcủa người có đức đang chiêu hiền đãi sĩ Có thể kết luận bài chiếu là một vănbản chính luận đặc sắc trong nền văn học trung đại Việt Nam
2.3 Những biện pháp dạy học "Chiếu cầu hiền" từ góc nhìn văn hóa.
2.3.1 Đọc sáng tạo để hiểu rõ tư tưởng chủ đề của văn bản " Chiếu cầu hiền"
2.3.1.1 Đọc - phân tích
Đọc tác phẩm văn học là hoạt động đặc thù của việc nhận thức văn học.Đây được xem là một biện pháp chủ đạo của quá trình dạy học văn Những nănglực cảm thụ, những rung động thẩm mĩ được hình thành trong lòng người đọc khitiến hành hoạt động đầu tiên này Từ việc đọc văn bản của học sinh sẽ là cơ sở, làtiến đề để cho ngườidạy dẫn dắt học sinh đi từ lớp vỏ ngôn ngữ ban đầu đến việcchiếm lĩnh được giá trị tác phẩm Để từ đó người đọc sẽ thâm nhập được vào sâubên trong hiểu được giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản
Khi đọc cần chú ý đến phương pháp đọc sao cho có hiệu quả Đầu tiên khitiếp cận văn bản là đọc đúng chữ hiểu được chính xác những thông tin từ lớp vỏngoài của ngôn từ Sau đó đọc nhanh để ghi nhớ nội dung văn bản Rồi đạt đếnmức cao hơn của quá trình đọc là đọc diễn cảm., cảm thụ cái hay, cái đẹp của vănbản và cảm xúc về các vấn đề được đề cập đến trong văn bản