1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu Văn hóa Dân tộc Hoa

18 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 126,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. Bố Cục I. Tên gọi (tộc danh), nguồn gốc lịch sử, dân số phân bố dân cư. 1.1 Tên gọi (tộc danh),Nguồn gốc lịch sử 1.2 Dân số và phân bố dân cư 1.3 Lược sử dân tộc Hoa ở Nam Bộ II. Đặc điểm đời sống kinh tế (mưu sinh) 2.1 Đặc điểm chung 2.1.1 Trồng trọt 2.1.2 Chăn nuôi 2.1.3 Thủ công gia đình 2.1.4 Chiếm đoạt tự nhiên 2.1.5 Buôn bán, dịch vụ 2.2 Đặc điểm kinh tế người Hoa Nam Bộ III. Đặc điểm xã hội truyền thống 3.1 Tổ chức, thiết chế xã hội 3.1.1 Đặc điểm chung trong tổ chức, thiết chế xã hội người Hoa 3.1.1.1 Thôn trại 3.1.1.2 các tổ chức thiết chế xã hội 3.1.1.3 dòng họ và gia đình 3.1.2 Tổ chức xã hội cổ truyền của người Hoa Nam Bộ 3.1.2.1 tổ chức thiế chế xã hội 3.1.2.2 dòng họ và gia đình 3.2 Nghi lễ, tập tục đời người 3.2.1 Đặc điêm chung của nghi lễ, tập tục đời người của người Hoa 3.2.1.1 sinh đẻ 3.2.1.2 cưới xin 3.2.1.3 tang ma 3.2.2 Nghi lễ, tập tục vòng đời người của người Hoa vùng Nam Bộ 3.2.2.1 hôn nhân 3.2.2.2 mừng thọ 3.2.2.3 tang ma IV. Văn hóa vật chất 4.1 Nhà ở 4.2 Chùa đình 4.3 Trang phục 4.4 Đồ ăn, uống, hút 4.5 Đồ dùng sinh hoạt V. Văn hóa tinh thần 5.1 Ngôn ngữ, chữ viết 5.2 Nghệ thuật dân gian 5.3 Văn học dân gian 5.4 Tín ngưỡng, tôn giáo 5.5 Lễ hội 5.6 Tri thức dân gian VI. Các xu hướng biến đổi của dân tộc Hoa

Trang 1

Bài Thuyết Trình Môn Văn Hóa các Dân Tộc Thiểu Số Vùng Nam Bộ

Đề Tài:

Tìm Hiểu Văn Hóa Dân Tộc Hoa (Thuộc Nhóm Ngôn Ngữ Hoa - Hán)

Danh sách nhóm:

1 Vì Văn Hào

2 Đặng Thị Thùy Hương

3 Vi Văn Quang

4 Hà Văn Anh

5 Nguyễn Thảo Ly

6 Triệu Tà Sếnh

A Bố Cục

I Tên gọi (tộc danh), nguồn gốc lịch sử, dân số phân bố dân cư 1.1 Tên gọi (tộc danh),Nguồn gốc lịch sử

1.2 Dân số và phân bố dân cư

1.3 Lược sử dân tộc Hoa ở Nam Bộ

II Đặc điểm đời sống kinh tế (mưu sinh)

2.1 Đặc điểm chung

2.1.1 Trồng trọt

2.1.2 Chăn nuôi

2.1.3 Thủ công gia đình

2.1.4 Chiếm đoạt tự nhiên

2.1.5 Buôn bán, dịch vụ

2.2 Đặc điểm kinh tế người Hoa Nam Bộ

III Đặc điểm xã hội truyền thống

3.1 Tổ chức, thiết chế xã hội

3.1.1 Đặc điểm chung trong tổ chức, thiết chế xã hội người Hoa

3.1.1.1 Thôn trại

3.1.1.2 các tổ chức thiết chế xã hội

3.1.1.3 dòng họ và gia đình

3.1.2 Tổ chức xã hội cổ truyền của người Hoa Nam Bộ

3.1.2.1 tổ chức thiế chế xã hội

3.1.2.2 dòng họ và gia đình

3.2 Nghi lễ, tập tục đời người

3.2.1 Đặc điêm chung của nghi lễ, tập tục đời người của người Hoa 3.2.1.1 sinh đẻ

3.2.1.2 cưới xin

3.2.1.3 tang ma

3.2.2 Nghi lễ, tập tục vòng đời người của người Hoa vùng Nam Bộ

Trang 2

3.2.2.1 hôn nhân

3.2.2.2 mừng thọ

3.2.2.3 tang ma

IV Văn hóa vật chất

4.1 Nhà ở

4.2 Chùa đình

4.3 Trang phục

4.4 Đồ ăn, uống, hút

4.5 Đồ dùng sinh hoạt

V Văn hóa tinh thần

5.1 Ngôn ngữ, chữ viết

5.2 Nghệ thuật dân gian

5.3 Văn học dân gian

5.4 Tín ngưỡng, tôn giáo

5.5 Lễ hội

5.6 Tri thức dân gian

VI Các xu hướng biến đổi của dân tộc Hoa

Trang 3

B Nội dung

I Tên gọi (tộc danh), nguồn gốc lịch sử, dân số phân bố dân cư

1.1 Tên gọi (tộc danh)

Trên thế giới, tên gọi và khái niệm người Hoa đã từng là vấn đề tranh cãi, chưa kết thúc Nhiều học giả chỉ thừa nhận người Hoa, thuộc Hán tộc Ở nhiều quốc gia, những người di cư đến từ Trung Hoa, bất luận họ thuộc tộc người nào, đều được gọi theo tên các triều đại, khi họ

ra đi: người Hán, người Tùy, người Đường, người Tống, người Nguyên, người Minh, người Thanh, Những tên gọi này thực ra chỉ phù hợp với những bộ phận người Trung Hoa di cư ở các thời điểm lịch sử cụ thể, không thể đại diện cho mọi thời kỳ Nếu gọi là người Hán cũng không

ổn, bởi trong số những người Trung Hoa cư trú ở nước ngoài, có cả những người thuộc Hồi tộc, Choang tộc, Mông tộc, Tạng tộc, Mãn tộc, Trong thực tiễn một số quốc gia gọi những người nhập cư từ Trung Hoa

là người, Gốc Hoa Trong sử sách Trung Hoa xưa kia thường dùng khái niệm người Hạ, người Ân, người Thương, người Chu, hay nhà

Hạ, nhà Ân, nhà Thương, nhà Chu, để chỉ người hay đế chế, thời đại Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa, tên người, tên nước, tên thời đại nhất loạt được gọi là Tần Từ thời nhà Tần về sau, trong các tài liệu của phương Tây, Tần (Chin) được dùng để chỉ người Trung Hoa, với các chuyển âm : Chin, China, Chinese, Chinois, tất cả đều có tiền tố chung là Chin (Tần) Và các thuật ngữ, khái niệm chỉ người Trung quốc

di cư tới các quốc gia khác được thống nhất sử dụng: Overseas

Chinese (người Trung Hoa nhập cư chưa có quốc tịch sở tại); Chinese Overseas: người Hoa ( người Trung Hoa nhập cư đã có quốc tịch sở tại); hoặc: Résident Chinois, Ressorsants Chinois, Trong sử sách Trung Hoa cổ, từ sau đời Trần, dân ngụ cư được gọi là kiều ngụ, người ngụ cư gọi là kiều nhân Theo các từ điển Hán ngữ hiện đại, thuật ngữ Hoa Kiều xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1878 (đến nay thuật ngữ này

đã tồn tại 135 năm)

Xưa kia, ở Việt Nam, người Trung Hoa cũng được gọi theo cách ở chính quốc của họ: người Hán, người Đường, người Tống, Ngoài các cách gọi chính thống, trong dân gian Việt Nam còn gọi họ là: người Tàu, Khách (Hakka, Khee, kejia ); người Minh Hương; người Thanh Hà, Hiện nay, ở VN cộng đồng Hoa kiều đã được nhà nước Vn công nhận là dân tộc Hoa Họ tự gọi mình là Han Chý (zhì/ Hán Tử/ người Hán) hoặc Chung Coọc rấn (Zhong Guos rén/ người Trung quốc), người Minh Hương, Người Hoa ở VN đa số có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng

Đônng và Quảng Tây (CHND Trung Hoa) Tổ tiên của họ, một số vốn là những nông dân nghèo đói, phiêu bạt mưu sinh; số khác có thể là hậu duệ những chiến binh Thái Bình Thiên Quốc chống lại nhà Thanh, bị đàn áp nên phải di cư sang VN

Trang 4

1.2 Dân số và phân bố dân cư

 Dân số

Theo số liệu tổng điều tra dan số và nhà ở Việt Nam 2009, toàn quốc

có 823.071 người Hoa

 Phân bố dân cư

Họ cư trú tập trung đông nhất ở TP Hồ Chí Minh: 414.045 người và

cư trú rộng khắp trên 53 tỉnh thành phố khác trong cả nước:

+ Ở Nam Bộ : Đồng Nai: 95.162 người: Sốc Trăng: 64.910 người: Kiên Giang: 29.850,

+ Ở vùng duyên hải miền Trung và Tây nguyên : Bình Thuận: 10.243 người, Ninh Thuận: 1.847 người, Lâm Đồng; 14.929 người, Đắk Nông: 4.686 người,

+ Ở các tỉnh Phía Bắc: Hà Giang: 7.062 người, Điện Biên: 2.445 người, Thái Nguyên: 2.064 người, Tuyên Quang: 5.982 người, 1.3 Lược sử dân tộc Hoa ở Nam Bộ

Hoa là tên gọi chính thức của dân tộc được Đảng, Nhà nước và Quốc hội ta công nhận Người Hoa còn có tên gọi khác như Hán, Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông Đó là những cong dân Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc đã di cư và sống hào hợp với các dân tọc Việt Nam

từ lâu đời Đó là những người có quan hệ gán bó với lịch sử khai phá đồng bằng sông Cửu Long, với cuộc đấu tranh chống áp bức và bóc lột, chống sâm lược ở Nam Bộ, người Hoa sinh sống thành từng cụm dân

cư và sen kẽ với người Khmer,người Kinh từ lâu đời Phần lớn người Hoa đều nói được tiếng khmer và tiếng Việt và cũng không có phân biệt tộc người trong hôn nhân

Người Hoa miền Tây Nam Bộ sống ở nông thôn Một số tập trung ở ven biển và những thị trấn, thị tứ đầu mối các đường giao thông thủy và bộ Phần đông người Hoa ở các tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, kiên Giang Có gốc từ Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Đông ngay nay Ở các tỉnh Bến Tre, Long An, Tiền Giang chủ yếu là số người Hoa gốc Quảng Đông và Phúc Kiến

Căn cứ theo quê hương xuất phát, người Hoa còn có hai tên gọi phân biệt: người Tiểu(tức người Triều Châu) và người Quảng(tức người

Quảng Đông) theo thống kê của người Pháp năm 1926 thì vào lúc đó có

15 đơn vị hành chính thì 2/15 (tức vùng Bạc Liêu, Cà Mau) chưa thấy thống kê dân số người kinhvaf 6/15 (tức vung Mĩ Tho, Gò Công, Sa Đéc, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau) không có thông kê người Khmer song hai nhóm Minh Hương và Trung Quốc đều có người sinh sống ở 15 đơn

vị hành chính Nhóm Minh Hương vào thời điểm trên nhiều hownnhoms Trung Quốc 13.682 người Ở các địa phương như Sóc Trăng , Trà Vinh,

Cà Mau, Bến tre, dân số người Minh Hương thường đông gấp hai lần người Trung Quốc ở địa phương Song, trong các thông kê dân số tự khai là người Minh Hương đã không còn được ghi nhận trong các văn bản hành chính cũ Đồng thời những nhóm dân cư trước đây tự khai là

Trang 5

người Trung Quốc thì nay tự khai là người Hoa kiều Trước năm 1954

số Hoa kiều ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long còn lại không nhiều (ước tính khoang 20.000 người) số đông đều tự khai là người Việt

Hầu hết người Hoa đều nói thạo tiếng Việt và dùng tiếng Việt để sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày Nhiều người Hoa còn nói thạo tiêng Khmer, song cũng chỉ là ngôn ngữ giao tiếp có tính hạn chế trong những vùng dân cư khu biệt Sự có mặt của người Hoa vung đòng bằng chau thổ sông Cửu Long là một quá trình di cư Từ Trung Quốc vào Việt Nam trong những thời gian và các lý do khác nhau là quá trinh cư trú, phân

bố dân cư của tộc người; là quá trình hòa hợp dân tộc là “quá trình xã hội” với các mối quan hệ trên nhiều phương diện để cùng tồn tại mưa sinh và phát triển

Nửa sau thế kỷ XVII (1680) lần đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện những nhóm di dân người Hán từ các vùng Nam Trung Quốc đến Đó là một cuộc di dân đông và đọt biến diễn ra ở một vung đồng bằng vừa bắt đầu khai phá và vung môi sinh thiên nhiên vẫn còn bỏ hoang với diện tích lớn Thành phần người Hán ở miền Nam Trung Quốc đến khai phá ở đồng bằng này là những binh lính(khoang 7.000 người) trung thành với nha Minh và bị thất bại trong các ohong trào đấu tranh chống chế độ Mãn Thanh Lúc đầu họ đổ bộ bàng thuyền lên Hội

An và bị triều đình nhà Nguyễn buộc sòi toàn bộ vào đất Gia Định để khai khản vùng đất tỉnh Tiền Giang hiện nay Tiếp đó, năm 1715 một cuộc di dân đông người từ vùng đất Triều Châu lại đổ bộ lên tỉnh Hà Tiên(Kiên Giang)

Những người Hán đầu tiên xuất hiện ở đồng bằng sông Cửu Long là những người có tinh thần dân tộc sâu sắc, đấu tranh với giai cấp phong kiến phản động Mãn Thanh và tư bản phương Tây Hộ đến đồng bằng song Cửu Long khi phong trào nông dân ở nước ta đang diễn ra quyết liệt chống lại vua quan nhà Nguyễn Qúa trình hòa hợp dân tộc giữa nông dân Việt nghèo khổ và bị đàn áp, bóc lột với những người dân Triều Châu, Quảng Đông từ miền đất xa mới đến đã được bắt đầu bằng

sự đồng cảm sâu sắc, có mang tính giai cấp Các điều kiện đó đã thúc đẩy quá trình hòa hợp dân tộc, làm xuất hiện này cang nhiều gia đình hỗn hợp Hán-Việt, xuất hiện ngày càng đông những lớp cư dân lai

chủng, những vùng dân cư có văn hóa và phong tục tập quán hỗn hợp giữa hai dân tộc

Cuối thế kỷ XVIII, những lớp dân cư gốc Triều Châu và Quảng Đông phần lớn đã trở thành người Minh Hương (tức lai Việt) hoặc là người Việt hoàn toàn Ý thức tự giác về thành phần tộc người và tâm lý của họ

tự nhận mình là người Việt rất mạnh mẽ

Dưới thời Pháp, chúng áp dụng chính sách khai thác và bóc lột

thuộc địa Nam kỳ, Pháp thực hiện âm mưu lợi dụng khả năng thương nghiệp của người Hoa, phục vụ việc vơ vét lúa gạo xuất khẩu và triệt để khai thác tâm lý chia rẽ kỳ thị dân tộc giữa người Hoa và người Việt

Trang 6

Chúng ra sức nâng đỡ thương nhân người Hoa gốc Phúc Kiến và

Quảng Đông, một số ít trở thành địa chủ làm trung gian giúp người Pháp giao lưu hàng hóa với những chi nhánh thương mại người Hoa ở miền Tây Thương nhân, địa chủ người Hoa đã đi sâu vào quần chúng lao động người Hoa, lợi dụng tình cảm đồng hương, đồng tộc nhằm tranh giành nông phẩm và cạnh tranh với người Việt, mua lúa non và nông phẩm của người Khơ me với giá rẻ mạt Do vậy mà quan hệ hòa hợp dân tộc giữa lao động người Hoa, người Việt, người Khmer đã bị đầu độc, tạo nên tâm lý kỳ thị và chia rẽ dân tộc sâu sắc

Mỹ và Ngụy quyền trước đây đã thực hiện những thủ đoạn kinh tế - chính trị vừa đồng hóa cưỡng bức người Hoa vừa tách họ ra khỏi cộng đồng dân tộc Việt Nam

Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, người Hoa lao động ở đồng bằng SCL rất phấn khởi và tin tưởng vào cuộc sống mới Vì họ đã được tham gia đóng góp với những hoạt động cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta đã đưa đến thắng lợi vẻ vang Họ nhận thấy vị trí và vai trò trách nhiệm làm chủ nông thôn của mình trong chế độ mới, tin tưởng vào thắng lợi cách mạng Việt Nam và chính sách của Đảng và nhà nước ta

II Đặc điểm đời sống kinh tế (mưu sinh)

2.1 Đặc điểm chung

Người Hoa có nhiều phương thức mưu sinh khác nhau Ở nông thôn phần lớn sống bằng trồng trọt, có sự bổ trợ của chăn nuôi và một và nghề thủ công (đường mía, làm miến dong, ) Bộ phận ở các thành thị thì buôn bán các tạp phẩm, thuốc bắc, dịch vụ hoặc các xưởng thủ công, chữa oto, xe máy, xe đạp Ở thành phố Hồ Chí minh, Đà Nẵng, Hội An, Hà Nội, Họ kinh doanh khách sạn dịch vụ là chính

2.1.1 Trồng trọt

Có thể nói, kỹ thuật canh tác cây trồng của người Hoa khá phát triển Ruộng nước (thìn sủi) của họ ở phía Bắc, chủ yếu là ruộng thung lũng Xưa kia, họ canh tác các giống lúa (vổ): khẩu lài, khẩu pét, khẩu pay, khẩu lai, khẩu múi, Nay họ dùng nhiều giống mới cho năng xuất khá cao Hàng năm họ làm vụ chiêm và vụ mùa Việc canh tác các giống lúa mới, tạo điều kiện để nông dân người Hoa thâm canh tăng vụ

Đối với người Hoa, vườn đồi xưa và nay có vị trí đặc biệt quan trọng Vườn nhà là loại hình tồn tại ở tất cả các hộ người Hoa ở nông thôn Vườn của hị thường trồng cải xanh (sính xoi), caair bắp (pác xoi), cải trắng (pạc xoi), đậu tương (tâu phu), Bên cạnh ruộng nước và vườn nhà, người Hoa ở trung du, miền núi cũng làm nương rẫy (soi dìu) Ở đó

họ trồng đậu tương (tâu phu), mía (chá), ngô, khoai, bầu, bí,

Trong canh tác nông nghiệp, người Hoa đã đạt đến trình độ kỹ thuật cao Họ biết dùng nhiều loại phân như phân chuồng, phân băc, phân xanh, và gần đây là các loại phân hóa học hay phân vi sinh Mặt khác,

họ cũng rất thành thạo trong việc dùng thuốc trừ sâu và các loại thuốc

Trang 7

kích mầm.

2.1.2 Chăn nuôi

Trong cơ cấu vật nuôi truyền thống của người Hoa, lợn (chí), gà (cáy), và chó (cẩu) là những loại quen thuộc hơn cả

Lợn, gà được nuôi chủ yếu phục vụ cho nhu cầu cúng bái, tết lễ, ma chay, cưới xin hoặc để mổ bán Mỗi gia đình thường nuôi một con lợn nái, các lứa lợn sau khi sinh được giữ lại toàn bộ nuôi cùng mẹ Gà được nuôi tương đối phổ biến với số lượng nhiều Họ nuôi gà phục vụ những ngày lễ tết, cưới xin, ma chay, sinh đẻ và khi có việc cần một ít tiền thì có thể mang ra chợ bán Họ chăn nuôi đại gia súc (trâu-sủi ngầu, bò-voòng ngầu), để cung cấp sức kéo và phân bón cho trông trọt

Nhiều gia đình người Hoa ở Trung du, miền núi nuôi ong lấy mật (voỏng phống)

2.1.3 Thủ công gia đình

Ở nông thôn, thủ công gia đình của người Hoa chỉ mang tính bổ trợ

Cơ cấu các nghề thủ công của họ đa dạng với nhiều nghề khác nhau: rèn đúc, đường mía, làm kẹo, làm miến, làm mì gạo, chế tác đồ gỗ và đan lát,

Xưa kia, nghề rèn đúc của họ có thị trường khá rộng Bên cạnh những mặt hàng thông thường như dao, cuốc, liềm, răng bừa, các thợ thủ công người Hoa rất giỏi chế tác một số loại công cụ đặc dụng như dao thái mì, đai và trục kéo mía, yên ngựa, gùi, thúng, mủng, đồ đánh bắt thủy sản,

Ở các thành phố, thị xã Người Hoa mở các xường cơ khí, các cơ

sở sửa chữa xe cộ,

Ở miền Tây Nam Bộ, họ mở các xưởng sửa chữa tàu, thuyền, Buôn bán vật tứ cơ khí, máy móc, vật tư nông nghiệp,

2.1.4 Chiếm đoạt tự nhiên

Việc khai thác sản phẩm sẵn có trong tự nhiên của bộ phận người Hoa ở nông thôn, trung du, miền núi, cũng là hoạt động phụ trợ Sản phẩm thu hái của họ gồm: móc, báng, cọ, củ mài, củ lỗ, quả gắm, các loiaj rau rừng, măng, hạt dổi, gừng, tía tô, thuốc nam,

Xưa kia, ở khu vực rừng núi, họ dùng súng kíp, bẫy, nỏ, Săn bắt các loại muông thú Ở những nơi có điều kiện họ dùng lưới, vó,

câu, đánh bắt thủy sản

2.1.5 Buôn bán, dịch vụ

Đối với người Hoa, buôn bán là ưu thế của họ Nhất là bộ phận sống

ở thành thị Họ rất năng động trong các hoạt động thương mại, kinh doanh, dịch vụ Đời sống kinh tế của bộ phận này khá hơn hẳn so với những người làm nghề nông

Về cách thức tổ chức, hoạt động trao đổi buôn bán của họ chủ yếu diễn ra thông qua hệ thống cửa hàng, cửa hiệu, các trung tâm thương mại và các chợ phiên

Đối tượng buôn bán đủ loại: từ tạp phẩm, đồ gia dụng, nông lâm thổ sản, các loại hóa chất, vải, giấy, Cho đến ô tô, máy kéo, tàu thuyền,

Trang 8

Hiện nay, việc trao đổi, buôn bán của người Hoa càng có điều kiện phát triển Ở thành phố Hồ Chí Minnh, và các thành phố lớn khác, người Hoa

là lực lượng chính trong kinh doanh dịch vụ, khách sạn, nhà hàng, 2.2 Hoạt động kinh tế của người Hoa ở Nam Bộ

Sự hình thành các nhóm hoạt động kinh tế theo địa phương, ngề nghiệp khác nhau là đặc trưng của người Hoa gắn với quá trình di cư sang Việt Nam trong thế kỷ XVIII và XIX

Những người đồng hương họ tìm đến nhau và tập hợp lại trong các bang, hội, Giúp nhau công việc làm ăn và tạo dựng cơ sở kinh tế ban đầu Đặc biệt là giữa các nhóm địa phương (Quảng Đông, Phúc kiến, Triều châu, Hải Nam, Hẹ) Có sự phân chia các lĩnh vực hoạt động kinh

tế khác nhau

Ngoài thành phố Sài Gòn, người hoa thường sống trong các thị trấn, thị xã và lấy hoạt động thương mại dịch vụ làm chính Hoạt động tại các trung tâm kinh tế lớn như Sài Gòn - Chợ Lớn, thậm chí cả các tỉnh khác trong vùng Nam Bộ đều được “Trung tâm thương mại người Hoa” điều hành

Hoạt động kinh tế của người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh là nét điển hình để nhận diện hoạt động kinh tế của họ ở Nam Bộ:

+ Nhóm Quảng Đông có dân số đông nhất, kinh tế chính là các tiệm tạp hóa, cung cấp các nhu cầu yếu phẩm, các vật dụng đơn giàn và có mặt hầu khắp khu vực Chợ Lớn những năm 50 của thế kỷ trước

+ Nhóm Triều Châu hoạt động chế biến lương thực, thực phẩm (làm bánh, ướp cá khô, chè khô, làm đường, ), vận tải đường bộ, đường thủy và hoạt động xuất nhập cảng

+ nhóm Phúc Kiến: có nhiều thương gia hoạt động mua bán lúa gạo toàn Nam Bộ và Campuchia Họ mua lúa của nông dân tập trung về Chợ Lớn để xay xát, xuất khẩu và thu mua phế liệu kim loại,

+ Nhóm Hải Nam: kinh doanh các quán ăn (nhậu) bình dân, cà phê vỉa hè, nhiều người giỏi nghề đầu bếp làm việc cho các nhà hàng Âu, + Nhóm người Hẹ: kinh doanh các loại thuốc Bắc và Đông Nam dược và độc quyền trong việc sản xuất bánh mì cho các nhà hàng lớn

Sự phân công các lĩnh vực kinh tế trên có tính tương đối vào thời kỳ ban đầu, về sau được mở rộng nhiều ngành nghề và không phân biệt nhóm địa phương, Những năm 60, 70 của thế kỷ XX, tư sản người Hoa đã phát triển nhiều ngành nghề mới ở Nam Bộ như Thực phẩm, thuốc lá, dệt, giấy, hóa chất, đồ gốm sứ, sắt thép, cơ khí, ngân hàng, tín dụng

Sau năm 1975, các ngành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại dịch vụ, Được quan tâm và tiếp tục phát triển

III Tổ chức xã hội

3.1 Tổ chức, thiết chế xã hội

3.1.1 Đặc điểm chung trong Tổ chức, thiết chế xã hội của người Hoa 3.1.1.1 Thôn trại

Trang 9

Mặc dù có số dân gần một triệu người, nhưng cộng đồng người Hoa

cư trú khá phân tán Ngoại trừ thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung người Hoa nhất, còn lại cư trú ở các địa phương khác, nhất là các tỉnh, thành phố phía Bắc Ở Trung du miền núi Bắc Bộ, Trung Bộ và các tỉnh miền Tây Nam Bộ, họ sống xen ghép với các tộc người khác trong các thôn, trại, Trước năm 1954, các thôn trại của người Hoa, các công xã nông thôn, tụ cư trên cơ sở quan hệ láng giềng Đó chính là tổ chức xã hội tự quản cao cấp nhất của họ Các thôn trại của họ được tổ chức và vận hành, phù hợp với lối sống riêng của họ, và thích ứng với bộ máy hành chính của nhà nước Việt Nam

Cho đến 1955, xã hội của người Hoa về cơ bản đã có sự phân hóa giàu, nghèo khá sâu sắc Trong các thôn trại (nhất là vùng Nam Bộ), nhiều gia đình có nguồn tư liệu sản xuất cố định lớn (vài chục - hàng trăm mẫu ruộng), không thể tự canh tác, mà phải thue mướn, phát canh thu tô Thực chất đây là quan hệ giữa nông dân và địa chủ

Thời thuộc Pháp, tổ chức xã hội của người Hoa khá chặt chẽ Tại Việt Nam, cộng đồng người Hoa có nguồn gốc thuộc một tỉnh Trung Hoa, đều thuộc một Bang Bang là tổ chức tự quản lớn nhất của người Hoaowr Việt Nam Mỗi Bang có một bang trưởng đứng đầu Các thôn trại người Hoa đều thuộc về một Bang nào đó, do trại trưởng đứng đầu Trưởng trại đại diện cho các thành viên, quan hệ với chính quyền sở tại Việc tổ chức, và vận hành thiết chế tự quản ở mỗi thôn trại được duy trì trên cơ sở của lệ tục, độc lập thành hương ước Các điều khoản trong hương ước khá cụ thể, tỷ mỷ

Người Hoa đến vùng đất Nam Bộ vào thập kỷ 70 của thế kỷ XVII Họ

cư trú đông đúc tại các đô thị: Sài Gòn, Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch giá, Những người có nguồn gốc ở tỉnh bên Trung Hoa (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quý Châu, ), sống thành các làng riêng, gọi là Minh Hương, người đến trước thường được tôn làm Minh Hương tiên hiền Về phương diện hành chính, mỗi cộng đồng người Hoa ở tỉnh gốc lập thành một Bang, có một bang trưởng là người đại diện để liên hệ với chính quyền sở tại Trưởng bang có sổ hàng bang ghi chép về các hộ, giống như sổ hộ khẩu Thời Pháp thuộc và thời Mỹ Ngụy, bộ phận người Hoa sống ở các đô thị lớn (Sài Gòn, Gia Định, Cần Thơ, ) trở thahf những nhà tư sản công nghiệp và thương nghiệp, làm chủ các khách sạn, các hãng buôn lớn; một số ở miền Tây Nam Bộ buôn ngũ cốc,phụ tùng xe máy, lâm thổ sản Họ trở thành các tư sản mại bản Thời ấy, bộ phận người Hoa này có quyền lợi gắn chặt với chế độ thực dân

Từ khi hòa bình được lập lại đến nay, sau những biến động về lịch

sử (1979), toàn bộ người Hoa ở Trung du miền núi Bắc Bộ, đều xen cư với các dân tộc anh em, họ không có tồn tại riêng Họ quần tụ thành các xóm nhỏ ghép với các thôn bản người Tày hay người Sán Dìu Đôi khi,

họ còn xen ghép cả với người Việt, người Sán Dìu, người Sán Chay và người Ngái Bộ phận người Hoa sinh sống ở các đô thị, tính phân tán còn sâu sắc hơn

Trang 10

3.1.1.2 Các tổ chức xã hội

Các bang, hội quán của người Hoa ở Việt Nam ra đời vào loại sớm nhất, so với Hoa kiều ở các quốc gia khác Đó là các Minh Hương xã, Thanh Hà xã, Tam Sơn, Lệ Chu, Mỗi bang có trường học, bệnh viện, nhà xuất bản, báo chí, cơ sở tín dụng, đỉnh chùa, nghĩa địa, câu lạc bộ,các từ đường, Thời nhà Nguyễn, 1787 đã có 4 hội đoàn của người Hoa được thành lập Đời vua Gia Long (1814) đã ban hành điều luật cơ cấu, tổ chức những hội đoàn của người Hoa ở Việt Nam và cho phép 7 bang mới của người Hoa được thành lập: Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Quỳnh Châu, Phúc Châu và Hakka Các Bang trưởng, do đại hội các thành viên bâu chọn, và được vua nhà Nguyễn phê chuẩn Đến đời Minh Mạng, việc phê chuẩn cho chức bang trưởng được giao cho chính quyền sở tại

Đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam xuất hiện Nam kỳ thương vụ tổng hội (1900), Việt Nam - Trung Hoa Tổng thương hội (1903), và phòng thương mại người Hoa (1925), Ngoài các tổ chức công khai trên, người Hoa ở Việt Nam còn có hội kín Thiên địa hội, Ra đời từ đầu thế kỷ XX ở Nam

kỳ, đến những năm 1940, tổ chức này phát triển các chi nhánh ở Chợ Lớn, các tỉnh thành phố ven biển miền Trung Khi ở Việt Nam có Đảng Cộng sản lãnh đạo, Hoa kiều được tổ chức lại thành: Hội Giải liên (1950), Hội Ái Liên, hội Hoa Liên (1950), Đoàn thanh niên tân dân chủ Hoa kiều (1949), Hoa kiều dân chủ phụ nữ liên hiệp hội (1950), Năm

1948, Nha Hoa kiều vụ trung ương được thành lập, theo đó các tổ chức

Lý sự hội, Hoa tân hội, Lần lượt ra đời Năm 1958 tổng hội Hoa liên ở Việt Nam ra đời

3.1.1.3 Dòng họ và gia đình

 Dòng họ

Dòng họ của người Hoa là hình thức tông tộc khép kìn, huyết thống tính theo dòng cha Tại những vùng quê cũ, thiết chế dòng họ có truyền thống lâu đời và có tác dụng lớn trong đời sống của mỗi gia đình Tuy nhiên, với những lưu dân đến Việt Nam lập nghiệp, dòng họ có xu hướng ngày càng xa nhóm gốc, các chi ngành cũng ngày càng xa nhau Hầu hết các dòng họ Hoa đều không có liên hệ với những người cùng tông tộc ở Trung Hoa

Người Hoa coi trọng việc chép gia phả của dòng họ mình Phần lớn các tên gọi dòng họ Hoa đều được là âm Hán Việt Chức năng kinh tế

-xã hội của dòng họ Hoa vẫn là yếu tố đáng chú ý trong cấu trúc -xã hội Đứng đầu mỗi dòng họ có tộc trưởng Thế lực của các tộc trưởng trong người Hoa còn khá mạnh, nhất là những tộc trưởng dòng họ lớn Hằng năm, các dòng họ thường phải đóng góp để cúng giỗ họ Tộc trưởng còn là người giữ và ghi chép tộc phả Cũng trong ngày giỗ họ, các sự kiện lớn trong năm của dòng họ (công đức, tu sửa đường đá, ) và mỗi gia đình (tang ma, cưới hỏi, sinh con, ) sẽ được bổ sung vào tộc phả

 Gia đình

Ngày đăng: 22/04/2021, 15:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w