1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

TÌM HIỂU VĂN HÓA DÂN TỘC HOA (Thuộc Nhóm Ngôn Ngữ Hoa Hán)

37 1,6K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 372 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tên gọi tộc danh • Hoa là tên gọi chính thức của dân tộc được Đảng, Nhà nước và Quốc hội ta công nhận • Người Hoa còn có tên gọi khác như Hán, Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông... • Sự c

Trang 1

TÌM HIỂU VĂN HÓA DÂN TỘC HOA

(Thuộc Nhóm Ngôn Ngữ Hoa - Hán)

Môn: Văn Hóa Dân Tộc Thiểu Số Vùng Nam Bộ

Trang 2

BỐ CỤC

Xu hướng biến đổi

Văn hóa tinh thần

Văn hóa vật chất

Đặc điểm xã hội truyền thống

Tên gọi (tộc danh), Nguồn gốc lịch

điểm đời sống kinh tế (mưu sinh) dân tộc

Hoa

Trang 3

I.Tên gọi (tộc danh), nguồn gốc lịch sử

1.1 tên gọi (tộc danh)

• Hoa là tên gọi chính thức của dân tộc được Đảng, Nhà nước và Quốc hội ta công nhận

• Người Hoa còn có tên gọi khác như Hán, Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông

Trang 4

1.2 Dân số và phân bố dân cư

• Dân số

– theo số liệu tổng điều tra dan số và nhà ở Việt Nam

2009, toàn quốc có 823.071 người Hoa

• phân bố dân cư

• Họ cư trú tập trung đông nhất ở TP Hồ Chí Minh: 414.045 người và cư trú rộng khắp trên 53 tỉnh thành phố khác trong

+ Ở các tỉnh Phía Bắc: Hà Giang: 7.062 người, Điện Biên:

2.445 người, Thái Nguyên: 2.064 người, Tuyên Quang:

5.982 người,

Trang 5

1.3 Lược sử dân tộc Hoa ở Nam Bộ

• Là những công dân Việt Nam có nguồn gốc từ Trung

Quốc đã di cư và sống hòa hợp với người Việt Nam từ lâu đời.

• Người Hoa sinh sống thành từng cụm dân cư và xen kẽ với người Khmer, người Kinh từ lâu đời

• Phần lớn người Hoa nói được tiếng Khmer và Kinh,

cũng không phân biệt tộc người trong hôn nhân.

• Căn cứ theo quê hương xuất phát, người Hoa có 2 tên gọi để phân biệt:

+ người Tiều (tức người Tiều Châu)

+ người Quảng ( tức người Quảng Đông)

Trang 6

• Sự có mặt của người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long

là quá trình di cư từ Trung Quốc vào Việt Nam trong

những thời gian và các lý do khác nhau; là quá trình cư trú, phân bố dân cư của tộc người; là quá trình hòa hợp dân tộc, là “quá trình xã hội” với các mối quan hệ trên

nhiều phương diện để cùng tồn tại, mưa sinh và phát

triển

• Theo thống kê của người Pháp năm 1926 vào lúc đó có

15 đơn vị hành chính thì 2/15 là dân số người kinh 6/15 không có thống kê người khmer song hai nhóm Minh

Hương và Trung Quốc đều có người sinh sống ở 15 đơn

vị hành chính

Trang 7

• Từ đó đến 1979 người Hoa cùng đồng bào Việt Nam đấu tranh giành chính quyền tự chủ mang lại cuộc sống

ấm no cho chính họ và cho cả miền Nam bộ

• 1979 đến nay, người Hoa bước vào thời kỳ mới của sự phát triển Sự phân biệt dân tộc, tư tưởng chia sẽ dân tộc và tâm lý kỳ thị dân tộc được đẩy lùi vào quá khứ

Trang 8

II.Đặc điểm đời sống kinh tế (mưu sinh)

• Hàng năm họ làm vụ chiêm và vụ mùa.

• ngoài ra, việc canh tác các giống lúa mới, tạo điều kiện để nông dân người Hoa thâm canh tăng vụ.

Trang 9

• Đối với người Hoa, vườn đồi xưa và nay có vị trí đặc biệt quan trọng.

• Vườn của họ thường trồng cải xanh (sính xoi), caair bắp (pác xoi), cải trắng (pạc xoi), đậu tương (tâu phu),

• Họ biết dùng nhiều loại phân như phân chuồng, phân băc, phân xanh, và gần đây là các loại phân hóa học hay phân vi sinh, thành thạo trong việc dùng thuốc trừ sâu và các loại thuốc kích mầm.

Trang 10

2.1.2 Chăn nuôi

• Trong cơ cấu vật nuôi truyền

thống của người Hoa, lợn

(chí), gà (cáy), và chó (cẩu) là

những loại quen thuộc hơn cả

• Lợn, gà được nuôi chủ yếu

phục vụ cho nhu cầu cúng bái,

tết lễ, ma chay, cưới xin hoặc

để mổ bán

• Gà được nuôi tương đối phổ

biến với số lượng nhiều Họ

Trang 11

2.1.3 Thủ công gia đình

• Ở nông thôn, thủ công gia đình của người Hoa chỉ mang tính bổ trợ

• Cơ cấu các nghề thủ công của họ đa dạng với nhiều nghề khác

nhau: rèn đúc, đường mía, làm kẹo, làm miến, làm mì gạo, chế tác

đồ gỗ và đan lát,

• Ở các thành phố, thị xã Người Hoa mở các xường cơ khí, các cơ

sở sửa chữa xe cộ,

Trang 12

2.1.4 Chiếm đoạt tự nhiên

• Sản phẩm thu hái của họ gồm: móc, báng, cọ, củ mài, củ lỗ, quả gắm, các loiaj rau rừng, măng, hạt dổi, gừng, tía tô, thuốc nam,

• Xưa kia, ở khu vực rừng núi, họ dùng súng kíp, bẫy, nỏ, Săn bắt các loại muông thú Ở những nơi có điều kiện họ dùng lưới, vó, câu, đánh bắt thủy sản

Trang 13

2.1.5 Buôn bán, dịch vụ

• Họ rất năng động trong các hoạt động thương mại, kinh doanh, dịch vụ Đời sống kinh tế của bộ phận này khá hơn hẳn so với những người làm nghề nông.

• Về cách thức tổ chức, hoạt động chủ yếu diễn ra thông qua hệ thống cửa hàng, cửa hiệu, các trung tâm thương mại và các chợ phiên.

• Đối tượng buôn bán đủ loại: từ tạp phẩm, đồ gia dụng, nông lâm thổ sản, các loại hóa chất, vải, giấy, Cho đến

ô tô, máy kéo, tàu thuyền,

Trang 14

2.2 Hoạt động kinh tế của người Hoa ở

Nam Bộ

• Sự hình thành các nhóm hoạt động kinh tế theo địa

phương, ngề nghiệp khác nhau là đặc trưng của người Hoa gắn với quá trình di cư sang Việt Nam trong thế kỷ XVIII và XIX

• Những người đồng hương họ tìm đến nhau và tập hợp lại trong các bang, hội, Giúp nhau công việc làm ăn và tạo dựng cơ sở kinh tế ban đầu.

• Hoạt động tại các trung tâm kinh tế lớn như Sài Gòn - Chợ Lớn, thậm chí cả các tỉnh khác trong vùng Nam Bộ đều được “Trung tâm thương mại người Hoa” điều hành.

Trang 15

• Hoạt động kinh tế của người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh là nét điển hình để nhận diện hoạt động kinh tế của họ ở Nam Bộ:

+ Nhóm Quảng Đông có dân số đông nhất, kinh tế chính là các tiệm tạp hóa, cung cấp các nhu cầu yếu phẩm, các vật dụng đơn giàn và

có mặt hầu khắp khu vực Chợ Lớn những năm 50 của thế kỷ trước.+ Nhóm Triều Châu hoạt động chế biến lương thực, thực phẩm (làm bánh, ướp cá khô, chè khô, làm đường, ), vận tải đường bộ, đường thủy và hoạt động xuất nhập cảng

+ nhóm Phúc Kiến: có nhiều thương gia hoạt động mua bán lúa gạo toàn Nam Bộ và Campuchia Họ mua lúa của nông dân tập trung về Chợ Lớn để xay xát, xuất khẩu và thu mua phế liệu kim loại,

+ Nhóm Hải Nam: kinh doanh các quán ăn (nhậu) bình dân, cà phê vỉa hè, nhiều người giỏi nghề đầu bếp làm việc cho các nhà hàng Âu,

+ Nhóm người Hẹ: kinh doanh các loại thuốc Bắc và Đông Nam dược và độc quyền trong việc sản xuất bánh mì cho các nhà hàng lớn

Trang 16

• Sự phân công các lĩnh vực kinh tế trên có tính tương đối vào thời kỳ ban đầu, về sau được mở rộng nhiều ngành nghề và không phân biệt nhóm địa phương, Những

năm 60, 70 của thế kỷ XX, tư sản người Hoa đã phát

triển nhiều ngành nghề mới ở Nam Bộ như Thực phẩm, thuốc lá, dệt, giấy, hóa chất, đồ gốm sứ, sắt thép, cơ

khí, ngân hàng, tín dụng

• Sau năm 1975, các ngành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại dịch vụ, Được quan tâm và tiếp tục phát triển.

Trang 17

III.Tổ chức xã hội

3.1.2.1 Các tổ chức xã hội

• Được tổ chức với nhiều dạng thức khác nhau và khác biệt với các tộc người khác trong vùng Đó là tổ chức

cộng đồng với các Làng Minh Hương, Bang, Hội Đoàn,

• Các “làng Minh Hương” có từ thế kỷ XVII, là dạng tổ

chức hành chính ở Đàng trong dành cho người Hoa khi

là công dân Việt Nam Người Hoa sống xen cư với

người Kinh và Khmer.

• Làng là đơn vị hành chính, có địa phận và có “Minh Hương điều ước” Làng bầu ra ban quản lý và được chính quyền

chấp nhận

Trang 18

• năm 1787 Nhà nước phong kiến Việt Nam cho phép

người Hoa thành lập các “Bang” Bang là tổ chức tập

hợp những người Hoa đến Việt Nam thuộc cùng một địa phương.

• Tổ chức “Bang” là phương cách quản lý người Hoa có tính đặc thù Đứng đầu các Bang có một Bang Trưởng

và một Bang Phó,

Trang 19

• Hội là tổ chức mang tính quần chúng và phổ biến ở

người Hoa với nhiều dạng theo những tiêu chí khác

nhau, nhưng quy mô nhất vẫn là hội thân tộc và nghề nghiệp.

• Hội thân tộc (Tông thân hội) tập hợp những người cùng dòng họ với nhau như hội họ Trần, họ Dao, họ lưu,

• Họ thân tộc mang tính tự nguyện, có từ đường làm nơi thờ ông tổ của dòng họ và cúng giỗ tổ vào ngày cố định hàng năm Đứng đầu hội thân tộc là người có tên tuổi,

có vai vế, thứ bậc cao, có nhiệm vụ chủ trì các lễ tại từ đường, hòa giải các mối quan hệ, tranh chấp dòng họ,

Trang 20

• Hội nghề nghiệp là tập hợp những người Hoa có cùng một hoạt động nghề nghiệp như: Hội Thuộc da, Hội Đồ mộc, Hội Kim Hoàn, Thành viên của hội có trách

nhiệm bảo vệ bí quyết nghề nghiệp, giúp đỡ nhau trong hoạt động nghề nghiệp, cạnh tranh trên thương trường.

• Người Hoa Nam Bộ còn có các hội đoàn như: Hội Đoàn tương tế gồm một số người cùng quê thân thiết nhau, có ban bảo trợ nhằm giúp đỡ các thành viên và hoạt động

từ thiện Hội Đoàn văn hóa thể thao là tập hợp những người có nhiệt tình và đang hoạt động thể thao.

Trang 21

3.1.2.2 Dòng họ, gia đình

• Gia đình người Hoa theo chế độ phụ hệ Trong gia đình có 2 hoặc 3 thế hệ cùng sinh sống Con trai trưởng là người được thừa kế tài sản và có nghĩa vụ lo hương hỏa tổ tiên

• Trong gia đình thờ thần tài, thờ trời, thổ địa, thần giữ cửa, chỗ trang trọng thờ tổ tiên Có nơi thờ phật Quan Âm, Quan Công, Bà Thiên Hậu, Ngũ hành Nương Nương,

• Tại thành phố Hồ Chí Minh đa số thanh niên sống chung với bố mẹ Quan niệm về chọn người bạn đời phỉa là người thủy chung, có

Trang 22

3.2 Nghi lễ, tập tục đời người

 Cưới Xin

• Truyền thống trước đây, người Hoa chỉ kết hôn trong nội bộ dân tộc theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng, mang tính đẳng cấp, phụ thuộc vào tài sản, có tính “mua bán” Trai gái không được tự ý yêu đương, không được tự ý quyết định bạn đời trăm năm của mình

• Quan hệ hôn nhân nghiêm cấm quan hệ hôn nhân cùng dòng họ; cấm con cô, con cậu, con gì,hai anh em trai lấy hai chị em gái Tàn

dư hôn nhân “nguyên thủy” được thể hiện ở tục lại mặt, tục ở rể và vai trò của ông cậu (trong hôn nhân của cháu gái và làm chủ đám cưới)

• Trước đây nạn tảo hôn khá phổ biến Sau khi bố mẹ chọn được con dâu, con rể ưng ý thì chọn ngày lành tháng tốt dâng cúng, lễ bái để tiến tới hôn nhân Lễ cưới truyền thống phải qua 6 bước gọi là: Dạm hỏi; Vấn danh; Nạp cát; Thỉnh kỳ, Nạp tế; Lễ cưới

• Hiện nay, cưới xin của người Hoa thay đổi, giản tiện nhiều Tuy vậy, cưới xin của họ vẫn phải tuân theo trình tự bốn bước: Xin mệnh,

hay là lấy số so tuổi; Ăn hỏi và Báo cưới (Xiu cày); cưới (Tài cảy); lại mặt

Trang 23

- đưa hồn người chết vê Tây thiên Phật quốc - đoạn tang.

• Nếu chồng chết trước vợ chặt đôi đong gánh, một nửa chôn theo chồng, một nửa cất đi khi chết chôn theo để nhận nhau ở thế giới bên kia Con gái chết trước khi lấy chồng, hồn không được nhập vào tổ tiên mà phải ở ngoài cửa biến thành “thần giữ nhà”

• Người Hoa có tập tục làm chay “tắm rửa” cho hồn người chết để chóng trở về với tổ tiên và được đầu thai làm kiếp người Chết dưới

14 tuổi không được làm chay, chết không bình thường thì phải làm

lễ “phá ngục giải oan”

• Các nhóm người Hoa có nghĩa trang riêng Mộ của người Hoa

thường đắp nấm hình tròn và khá cao, phía đầu có bia đá ghi tên,

họ, ngày mất và ngày lập mộ Người Hoa cúng cho người chết

trong thời kỳ để tang 3 năm

Trang 25

IV.Văn hóa vật chất

• Nhà ở cổ truyền của dân tộc hoa ở Nam Bộ là nhà xây lợp ngói âm dương

và thường có cổng cài then ngang Những nhà khá giả thường có “ trán

tường” chạm hoa lá Của trang trí chữ hoặc treo đèn lồng trang trí bằng màu vàng và màu đỏ với màu sắc sặc sỡ…

• Nhà cửa Nhà cổ truyền của người Hoa có những đặc trưng mang dấu

ấn của người phương Bắc rất rõ Kiểu nhà "hình cái ấn" là rất điển hình Nhà hình cái ấn của người Hoa bên Trung Quốc Nhà thường năm gian đứng

(không có chái)

• Mặt bằng sinh hoạt: nhà chính bao giờ cũng thụt vào một chút tạo thành một cái hiên hẹp Gian chính giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, đồng thời còn là nơi tiếp khách Các gian bên đều có tường ngăn cách với nhau.

• Nhà người hoa ở Sài Gòn Chợ Lớn thường tập chung ở các sở tín ngưỡng của các bang, hội quanh các Chùa Bà, chùa Ông Nhiều nơi

ở sâu trong các ngõ, hẻm thiếu ánh sáng Nhà của người dân lao động vốn chật hẹp, thiếu tiện nghi, lại có nhiều chức năng sử dụng ngoài để ở nhà còn có chức năng sản xuất, giao dịch ,để nguyên

liệu, thành phẩm

Trang 27

Các chùa Hoa được xây, lợp ngói, có viền bằng ngói óng men màu xanh thẫm.

Không gian chùa người Hoa thường có các bộ phận chủ yếu:

Sân chùa; Cổng, cửa chùa; Tiền điện; Chính điện; Sân thiên tinh.

Trang 28

Trang Phục

• Trang phục ngày thường:

- Trang phục của nam giới: Áo ngắn gọi là áo “xá xẩu” Áo có 2 vạt như áo cánh, tay lửng, nút áo bằng vải, cài ở giữa, trong khi làm việc họ ít khi cài khuy Một loại quần đàn ông được gọi là

“quần tiều” Dài quá đầu gối một chút, ống rộng, thắt lưng bằng vải rút bỏ thòng lòng Một chiếc khăn rằn đôi khi là khăn bông vắt vai hoặc quấn quanh bụng dùng để lau mồ hôi khi nắng

Trang 29

Trang phục lễ cưới cổ truyền

• Cô dâu còn đội thêm chiếc mũ cưới (mũ phụng), gồm hình chim phượng với các bông nhung đỏ đung đưa

theo bước chân, phía trước mũ có chiếc rèm thưa bằng hạt châu để che mặt.

• Chân đi hài bọc gấm hoặc nhung thêu hoa.

• Áo của chú rể thêu rồng gọi là “lùng xám”(áo rồng)

Trang phục là bộ xiêm và áo bằng gấm xanh, dệt chữ

thọ hay chữ phúc Áo kiểu thường dài, cổ áo cao, tay dài

và rộng,cài cúc ở sườn phải hoặc ở giữa Bên trong mặc

áo trắng, trên đầu đội mũ quả bí hoặc mũ dưa hấu màu xanh sậm,chân di hài bọc gấm Giữa ngực chú rể có

đính 1 bông hoa vải to màu đỏ, các dải dây buộc chéo vào người Cũng có khi chú rể không cài hoa mà khoác bên ngoài áo dài 1 chiếc áo ngắn không tay,xẻ giữa gọi

là “mạ hoa”.

Trang 30

Trang phục lễ tết

• Trong ngày lễ tết thường mặc một loại áo váy mà người Việt quen gọi là áo “xường xám”, người Hoa gọi là “chuyền chỉ” Loại váy này thường đi với các loại trang sức như: vòng cổ, vòng tay, bông tai tạo nên vẻ duyên dáng, trẻ trung Kiểu tóc đặc trưng của người phụ

nữ bình dân là cắt tóc ngắn, để thẳng chấm tới vai, phía trước vén đường ngôi giữa và vén sau tai, cũng có khi họ búi sau gáy và cài trâm, ép xuống sát da đầu Đi cùng bộ trang phục thường có chiếc khăn tay dùng để lau mồ hôi hay lau tay

• Vào dịp tết những người đàn ông hoa đứng tuổi thường mặc một chiếc áo dài màu đen hoặc xám, tay cầm quạt, đội mũ chóp vải trùm đầu, chân mang giày vải, có người còn ngậm một tẩu thuốc

Trang 31

Ẩm thực

• Đồ ăn

– Người Hoa nổi tiếng với các món ăn ngon miệng được nhiều người công nhận, kĩ thuật nấu ăn giỏi và có sở thích ăn món ăn xào mỡ với gia vị như vịt quay, heo quay cả con và thịt xá xíu.

– - Lương thực chính của người Hoa là gạo nhưng người Hoa thích dùng

những thực phẩm chế biến từ bột gạo và bột mì như : mì vằn thắn, hủ tiếu, , bánh bao.

– Các dịp lễ tết họ thường làm nhiều loại bánh rất ngon, hấp dẫn về hình thức

Trang 33

• Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ nhất là những người

có tuổi

Trang 34

VI.Xu hướng biến đổi

• Đời sống kinh tế:

+ Nông nghiệp:

- Trồng trọt nay họ dùng nhiều giống mới cho năng xuất khá cao Hàng năm họ làm vụ chiêm và vụ mùa Việc canh tác các giống lúa mới, tạo điều kiện để nông dân người Hoa thâm canh tăng vụ

-Trong canh tác nông nghiệp, người Hoa đã đạt đến trình độ kỹ thuật cao Họ biết dùng nhiều loại phân như phân chuồng, phân băc, phân xanh, và gần đây là các loại phân hóa học hay phân vi sinh Mặt khác, họ cũng rất thành thạo trong việc dùng thuốc trừ sâu và các loại thuốc kích mầm.

- Ở thành phố Hồ Chí Minnh, và các thành phố lớn khác, người Hoa là lực

lượng chính trong kinh doanh dịch vụ, khách sạn, nhà hàng,

Trang 35

• Đặc điểm xã hội:

- Hiện nay, người Hoa lấy vợ, lấy chồng là người khác dân tộc

(người Tày, Sán Chay, Khơ Me, Chăm, ) cũng đã tăng dần Nạn tảo hôn trước đây phổ biến thì nay hầu như hiếm thấy So với các dân tộc cận cư (Tày, Sán Chay, Sán Dìu, Khơ Me, Chăm, ), tuổi kết hôn của nam nữ thanh niên Hoa, cao hơn (nam 22 - 24, nữ 20 - 22)

- Hình thái cư trú cũng có nhiều biến đổi do sức ép dân số trong nội tộc người và chính sách phân bố quy hoạch dân cư với các dân tộc khác về qun hệ hôn nhân, hoạt động kinh tế, chính sách xã hội

- Cơ cấu người Hoa biến đổi từ loại hình gia đình lớn sang loại

hình gia đình nhỏ, các đôi mới cưới có xu hướng ra ở riêng, số con ngày cang ít

- Đám ma loại bỏ các phng tục lạc hậu

Ngày đăng: 20/04/2017, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w