1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm Hiểu Văn Hóa Dân Tộc Hoa

27 361 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 115,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài Thuyết Trình Môn Văn Hóa các Dân Tộc Thiểu Số Vùng Nam Bộ1.2 Dân số và phân bố dân cư 1.3 Lược sử dân tộc Hoa ở Nam Bộ II.Đặc điểm đời sống kinh tế mưu sinh 2.2 Đặc điểm kinh tế ngườ

Trang 1

Bài Thuyết Trình Môn Văn Hóa các Dân Tộc Thiểu Số Vùng Nam Bộ

1.2 Dân số và phân bố dân cư

1.3 Lược sử dân tộc Hoa ở Nam Bộ

II.Đặc điểm đời sống kinh tế (mưu sinh)

2.2 Đặc điểm kinh tế người Hoa Nam Bộ

III Đặc điểm xã hội truyền thống

Trang 2

3.1.2.1 tổ chức thiế chế xã hội

3.1.2.2 dòng họ và gia đình

3.2 Nghi lễ, tập tục đời người

3.2.1 Đặc điêm chung của nghi lễ, tập tục đời người của người Hoa3.2.1.1 sinh đẻ

5.2 Nghệ thuật dân gian

5.3 Văn học dân gian

5.4 Tín ngưỡng, tôn giáo

5.5 Lễ hội

5.6 Tri thức dân gian

VI Các xu hướng biến đổi của dân tộc Hoa

Trang 3

có tiền tố chung là Chin (Tần) Và các thuật ngữ, khái niệm chỉ ngườiTrung quốc di cư tới các quốc gia khác được thống nhất sử dụng: OverseasChinese (người Trung Hoa nhập cư chưa có quốc tịch sở tại); ChineseOverseas: người Hoa ( người Trung Hoa nhập cư đã có quốc tịch sở tại);hoặc: Résident Chinois, Ressorsants Chinois, Trong sử sách Trung Hoa

Trang 4

cổ, từ sau đời Trần, dân ngụ cư được gọi là kiều ngụ, người ngụ cư gọi làkiều nhân Theo các từ điển Hán ngữ hiện đại, thuật ngữ Hoa Kiều xuấthiện lần đầu tiên vào năm 1878 (đến nay thuật ngữ này đã tồn tại 135năm).

Xưa kia, ở Việt Nam, người Trung Hoa cũng được gọi theo cách ởchính quốc của họ: người Hán, người Đường, người Tống, Ngoài cáccách gọi chính thống, trong dân gian Việt Nam còn gọi họ là: người Tàu,Khách (Hakka, Khee, kejia ); người Minh Hương; người Thanh Hà, Hiện nay, ở VN cộng đồng Hoa kiều đã được nhà nước Vn công nhận làdân tộc Hoa Họ tự gọi mình là Han Chý (zhì/ Hán Tử/ người Hán) hoặcChung Coọc rấn (Zhong Guos rén/ người Trung quốc), người MinhHương, Người Hoa ở VN đa số có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Đônng

và Quảng Tây (CHND Trung Hoa) Tổ tiên của họ, một số vốn là nhữngnông dân nghèo đói, phiêu bạt mưu sinh; số khác có thể là hậu duệ nhữngchiến binh Thái Bình Thiên Quốc chống lại nhà Thanh, bị đàn áp nên phải

 Phân bố dân cư

Họ cư trú tập trung đông nhất ở TP Hồ Chí Minh: 414.045 người và

cư trú rộng khắp trên 53 tỉnh thành phố khác trong cả nước:

+ Ở Nam Bộ : Đồng Nai: 95.162 người: Sốc Trăng: 64.910 người:Kiên Giang: 29.850,

+ Ở vùng duyên hải miền Trung và Tây nguyên : Bình Thuận: 10.243người, Ninh Thuận: 1.847 người, Lâm Đồng; 14.929 người, Đắk Nông:4.686 người,

Trang 5

+ Ở các tỉnh Phía Bắc: Hà Giang: 7.062 người, Điện Biên: 2.445người, Thái Nguyên: 2.064 người, Tuyên Quang: 5.982 người,

1.3 Lược sử dân tộc Hoa ở Nam Bộ

Hoa là tên gọi chính thức của dân tộc được Đảng, Nhà nước vàQuốc hội ta công nhận Người Hoa còn có tên gọi khác như Hán, TriềuChâu, Phúc Kiến, Quảng Đông Đó là những cong dân Việt Nam cónguồn gốc từ Trung Quốc đã di cư và sống hào hợp với các dân tọc ViệtNam từ lâu đời Đó là những người có quan hệ gán bó với lịch sử khai pháđồng bằng sông Cửu Long, với cuộc đấu tranh chống áp bức và bóc lột,chống sâm lược ở Nam Bộ, người Hoa sinh sống thành từng cụm dân cư

và sen kẽ với người Khmer,người Kinh từ lâu đời Phần lớn người Hoa đềunói được tiếng khmer và tiếng Việt và cũng không có phân biệt tộc ngườitrong hôn nhân

Người Hoa miền Tây Nam Bộ sống ở nông thôn Một số tập trung ởven biển và những thị trấn, thị tứ đầu mối các đường giao thông thủy và

bộ Phần đông người Hoa ở các tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, kiên Giang Cógốc từ Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Đông ngay nay Ở các tỉnh Bến Tre,Long An, Tiền Giang chủ yếu là số người Hoa gốc Quảng Đông và PhúcKiến

Căn cứ theo quê hương xuất phát, người Hoa còn có hai tên gọi phânbiệt: người Tiểu(tức người Triều Châu) và người Quảng(tức người QuảngĐông) theo thống kê của người Pháp năm 1926 thì vào lúc đó có 15 đơn vịhành chính thì 2/15 (tức vùng Bạc Liêu, Cà Mau) chưa thấy thống kê dân

số người kinhvaf 6/15 (tức vung Mĩ Tho, Gò Công, Sa Đéc, Bến Tre, BạcLiêu, Cà Mau) không có thông kê người Khmer song hai nhóm MinhHương và Trung Quốc đều có người sinh sống ở 15 đơn vị hành chính.Nhóm Minh Hương vào thời điểm trên nhiều hownnhoms Trung Quốc13.682 người Ở các địa phương như Sóc Trăng , Trà Vinh, Cà Mau, Bến

Trang 6

tre, dân số người Minh Hương thường đông gấp hai lần người Trung Quốc

ở địa phương Song, trong các thông kê dân số tự khai là người MinhHương đã không còn được ghi nhận trong các văn bản hành chính cũ.Đồng thời những nhóm dân cư trước đây tự khai là người Trung Quốc thìnay tự khai là người Hoa kiều Trước năm 1954 số Hoa kiều ở các tỉnhđồng bằng sông Cửu Long còn lại không nhiều (ước tính khoang 20.000người) số đông đều tự khai là người Việt

Hầu hết người Hoa đều nói thạo tiếng Việt và dùng tiếng Việt để sửdụng trong sinh hoạt hàng ngày Nhiều người Hoa còn nói thạo tiêngKhmer, song cũng chỉ là ngôn ngữ giao tiếp có tính hạn chế trong nhữngvùng dân cư khu biệt Sự có mặt của người Hoa vung đòng bằng chau thổsông Cửu Long là một quá trình di cư Từ Trung Quốc vào Việt Nam trongnhững thời gian và các lý do khác nhau là quá trinh cư trú, phân bố dân cưcủa tộc người; là quá trình hòa hợp dân tộc là “quá trình xã hội” với cácmối quan hệ trên nhiều phương diện để cùng tồn tại mưa sinh và phát triển.Nửa sau thế kỷ XVII (1680) lần đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Longxuất hiện những nhóm di dân người Hán từ các vùng Nam Trung Quốcđến Đó là một cuộc di dân đông và đọt biến diễn ra ở một vung đồng bằngvừa bắt đầu khai phá và vung môi sinh thiên nhiên vẫn còn bỏ hoang vớidiện tích lớn Thành phần người Hán ở miền Nam Trung Quốc đến khaiphá ở đồng bằng này là những binh lính(khoang 7.000 người) trung thànhvới nha Minh và bị thất bại trong các ohong trào đấu tranh chống chế độMãn Thanh Lúc đầu họ đổ bộ bàng thuyền lên Hội An và bị triều đình nhàNguyễn buộc sòi toàn bộ vào đất Gia Định để khai khản vùng đất tỉnh TiềnGiang hiện nay Tiếp đó, năm 1715 một cuộc di dân đông người từ vùngđất Triều Châu lại đổ bộ lên tỉnh Hà Tiên(Kiên Giang)

Những người Hán đầu tiên xuất hiện ở đồng bằng sông Cửu Long là

Trang 7

những người có tinh thần dân tộc sâu sắc, đấu tranh với giai cấp phongkiến phản động Mãn Thanh và tư bản phương Tây Hộ đến đồng bằng songCửu Long khi phong trào nông dân ở nước ta đang diễn ra quyết liệt chốnglại vua quan nhà Nguyễn Qúa trình hòa hợp dân tộc giữa nông dân Việtnghèo khổ và bị đàn áp, bóc lột với những người dân Triều Châu, QuảngĐông từ miền đất xa mới đến đã được bắt đầu bằng sự đồng cảm sâu sắc,

có mang tính giai cấp Các điều kiện đó đã thúc đẩy quá trình hòa hợp dântộc, làm xuất hiện này cang nhiều gia đình hỗn hợp Hán-Việt, xuất hiệnngày càng đông những lớp cư dân lai chủng, những vùng dân cư có vănhóa và phong tục tập quán hỗn hợp giữa hai dân tộc

Cuối thế kỷ XVIII, những lớp dân cư gốc Triều Châu và Quảng Đôngphần lớn đã trở thành người Minh Hương (tức lai Việt) hoặc là người Việthoàn toàn Ý thức tự giác về thành phần tộc người và tâm lý của họ tựnhận mình là người Việt rất mạnh mẽ

Dưới thời Pháp, chúng áp dụng chính sách khai thác và bóc lột thuộcđịa Nam kỳ, Pháp thực hiện âm mưu lợi dụng khả năng thương nghiệp củangười Hoa, phục vụ việc vơ vét lúa gạo xuất khẩu và triệt để khai thác tâm

lý chia rẽ kỳ thị dân tộc giữa người Hoa và người Việt Chúng ra sức nâng

đỡ thương nhân người Hoa gốc Phúc Kiến và Quảng Đông, một số ít trởthành địa chủ làm trung gian giúp người Pháp giao lưu hàng hóa với nhữngchi nhánh thương mại người Hoa ở miền Tây Thương nhân, địa chủ ngườiHoa đã đi sâu vào quần chúng lao động người Hoa, lợi dụng tình cảm đồnghương, đồng tộc nhằm tranh giành nông phẩm và cạnh tranh với ngườiViệt, mua lúa non và nông phẩm của người Khơ me với giá rẻ mạt Do vậy

mà quan hệ hòa hợp dân tộc giữa lao động người Hoa, người Việt, ngườiKhmer đã bị đầu độc, tạo nên tâm lý kỳ thị và chia rẽ dân tộc sâu sắc

Mỹ và Ngụy quyền trước đây đã thực hiện những thủ đoạn kinh tế chính trị vừa đồng hóa cưỡng bức người Hoa vừa tách họ ra khỏi cộng

Trang 8

-đồng dân tộc Việt Nam

Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, người Hoa lao động ở đồngbằng SCL rất phấn khởi và tin tưởng vào cuộc sống mới Vì họ đã đượctham gia đóng góp với những hoạt động cách mạng dưới sự lãnh đạo củaĐảng ta đã đưa đến thắng lợi vẻ vang Họ nhận thấy vị trí và vai trò tráchnhiệm làm chủ nông thôn của mình trong chế độ mới, tin tưởng vào thắnglợi cách mạng Việt Nam và chính sách của Đảng và nhà nước ta

II.Đặc điểm đời sống kinh tế (mưu sinh)

2.1 Đặc điểm chung

Người Hoa có nhiều phương thức mưu sinh khác nhau Ở nông thônphần lớn sống bằng trồng trọt, có sự bổ trợ của chăn nuôi và một và nghềthủ công (đường mía, làm miến dong, ) Bộ phận ở các thành thị thì buônbán các tạp phẩm, thuốc bắc, dịch vụ hoặc các xưởng thủ công, chữa oto,

xe máy, xe đạp Ở thành phố Hồ Chí minh, Đà Nẵng, Hội An, Hà Nội,

Họ kinh doanh khách sạn dịch vụ là chính

2.1.1 Trồng trọt

Có thể nói, kỹ thuật canh tác cây trồng của người Hoa khá phát triển.Ruộng nước (thìn sủi) của họ ở phía Bắc, chủ yếu là ruộng thung lũng.Xưa kia, họ canh tác các giống lúa (vổ): khẩu lài, khẩu pét, khẩu pay, khẩulai, khẩu múi, Nay họ dùng nhiều giống mới cho năng xuất khá cao.Hàng năm họ làm vụ chiêm và vụ mùa Việc canh tác các giống lúa mới,tạo điều kiện để nông dân người Hoa thâm canh tăng vụ

Đối với người Hoa, vườn đồi xưa và nay có vị trí đặc biệt quan trọng.Vườn nhà là loại hình tồn tại ở tất cả các hộ người Hoa ở nông thôn Vườncủa hị thường trồng cải xanh (sính xoi), caair bắp (pác xoi), cải trắng (pạcxoi), đậu tương (tâu phu), Bên cạnh ruộng nước và vườn nhà, ngườiHoa ở trung du, miền núi cũng làm nương rẫy (soi dìu) Ở đó họ trồng đậu

Trang 9

tương (tâu phu), mía (chá), ngô, khoai, bầu, bí,

Trong canh tác nông nghiệp, người Hoa đã đạt đến trình độ kỹ thuậtcao Họ biết dùng nhiều loại phân như phân chuồng, phân băc, phân xanh,

và gần đây là các loại phân hóa học hay phân vi sinh Mặt khác, họ cũngrất thành thạo trong việc dùng thuốc trừ sâu và các loại thuốc kích mầm.2.1.2 Chăn nuôi

Trong cơ cấu vật nuôi truyền thống của người Hoa, lợn (chí), gà(cáy), và chó (cẩu) là những loại quen thuộc hơn cả

Lợn, gà được nuôi chủ yếu phục vụ cho nhu cầu cúng bái, tết lễ, machay, cưới xin hoặc để mổ bán Mỗi gia đình thường nuôi một con lợn nái,các lứa lợn sau khi sinh được giữ lại toàn bộ nuôi cùng mẹ Gà được nuôitương đối phổ biến với số lượng nhiều Họ nuôi gà phục vụ những ngày lễtết, cưới xin, ma chay, sinh đẻ và khi có việc cần một ít tiền thì có thểmang ra chợ bán Họ chăn nuôi đại gia súc (trâu-sủi ngầu, bò-voòng ngầu),

để cung cấp sức kéo và phân bón cho trông trọt

Nhiều gia đình người Hoa ở Trung du, miền núi nuôi ong lấy mật(voỏng phống)

2.1.3 Thủ công gia đình

Ở nông thôn, thủ công gia đình của người Hoa chỉ mang tính bổ trợ

Cơ cấu các nghề thủ công của họ đa dạng với nhiều nghề khác nhau: rènđúc, đường mía, làm kẹo, làm miến, làm mì gạo, chế tác đồ gỗ và đan lát, Xưa kia, nghề rèn đúc của họ có thị trường khá rộng Bên cạnh nhữngmặt hàng thông thường như dao, cuốc, liềm, răng bừa, các thợ thủ côngngười Hoa rất giỏi chế tác một số loại công cụ đặc dụng như dao thái mì,đai và trục kéo mía, yên ngựa, gùi, thúng, mủng, đồ đánh bắt thủy sản,

Ở các thành phố, thị xã Người Hoa mở các xường cơ khí, các cơ sởsửa chữa xe cộ,

Ở miền Tây Nam Bộ, họ mở các xưởng sửa chữa tàu, thuyền, Buôn

Trang 10

bán vật tứ cơ khí, máy móc, vật tư nông nghiệp,

2.1.4 Chiếm đoạt tự nhiên

Việc khai thác sản phẩm sẵn có trong tự nhiên của bộ phận người Hoa

ở nông thôn, trung du, miền núi, cũng là hoạt động phụ trợ Sản phẩm thuhái của họ gồm: móc, báng, cọ, củ mài, củ lỗ, quả gắm, các loiaj rau rừng,măng, hạt dổi, gừng, tía tô, thuốc nam,

Xưa kia, ở khu vực rừng núi, họ dùng súng kíp, bẫy, nỏ, Săn bắt cácloại muông thú Ở những nơi có điều kiện họ dùng lưới, vó, câu, đánh bắtthủy sản

2.1.5 Buôn bán, dịch vụ

Đối với người Hoa, buôn bán là ưu thế của họ Nhất là bộ phận sống

ở thành thị Họ rất năng động trong các hoạt động thương mại, kinh doanh,dịch vụ Đời sống kinh tế của bộ phận này khá hơn hẳn so với những ngườilàm nghề nông

Về cách thức tổ chức, hoạt động trao đổi buôn bán của họ chủ yếudiễn ra thông qua hệ thống cửa hàng, cửa hiệu, các trung tâm thương mại

và các chợ phiên

Đối tượng buôn bán đủ loại: từ tạp phẩm, đồ gia dụng, nông lâm thổsản, các loại hóa chất, vải, giấy, Cho đến ô tô, máy kéo, tàu thuyền, Hiện nay, việc trao đổi, buôn bán của người Hoa càng có điều kiện pháttriển Ở thành phố Hồ Chí Minnh, và các thành phố lớn khác, người Hoa làlực lượng chính trong kinh doanh dịch vụ, khách sạn, nhà hàng,

2.2 Hoạt động kinh tế của người Hoa ở Nam Bộ

Sự hình thành các nhóm hoạt động kinh tế theo địa phương, ngềnghiệp khác nhau là đặc trưng của người Hoa gắn với quá trình di cư sangViệt Nam trong thế kỷ XVIII và XIX

Những người đồng hương họ tìm đến nhau và tập hợp lại trong cácbang, hội, Giúp nhau công việc làm ăn và tạo dựng cơ sở kinh tế ban đầu

Trang 11

Đặc biệt là giữa các nhóm địa phương (Quảng Đông, Phúc kiến, Triềuchâu, Hải Nam, Hẹ) Có sự phân chia các lĩnh vực hoạt động kinh tế khácnhau.

Ngoài thành phố Sài Gòn, người hoa thường sống trong các thị trấn,thị xã và lấy hoạt động thương mại dịch vụ làm chính Hoạt động tại cáctrung tâm kinh tế lớn như Sài Gòn - Chợ Lớn, thậm chí cả các tỉnh kháctrong vùng Nam Bộ đều được “Trung tâm thương mại người Hoa” điềuhành

Hoạt động kinh tế của người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh là nétđiển hình để nhận diện hoạt động kinh tế của họ ở Nam Bộ:

+ Nhóm Quảng Đông có dân số đông nhất, kinh tế chính là các tiệmtạp hóa, cung cấp các nhu cầu yếu phẩm, các vật dụng đơn giàn và có mặthầu khắp khu vực Chợ Lớn những năm 50 của thế kỷ trước

+ Nhóm Triều Châu hoạt động chế biến lương thực, thực phẩm (làmbánh, ướp cá khô, chè khô, làm đường, ), vận tải đường bộ, đường thủy

và hoạt động xuất nhập cảng

+ nhóm Phúc Kiến: có nhiều thương gia hoạt động mua bán lúa gạotoàn Nam Bộ và Campuchia Họ mua lúa của nông dân tập trung về ChợLớn để xay xát, xuất khẩu và thu mua phế liệu kim loại,

+ Nhóm Hải Nam: kinh doanh các quán ăn (nhậu) bình dân, cà phêvỉa hè, nhiều người giỏi nghề đầu bếp làm việc cho các nhà hàng Âu, + Nhóm người Hẹ: kinh doanh các loại thuốc Bắc và Đông Nam dược

và độc quyền trong việc sản xuất bánh mì cho các nhà hàng lớn

Sự phân công các lĩnh vực kinh tế trên có tính tương đối vào thời kỳban đầu, về sau được mở rộng nhiều ngành nghề và không phân biệt nhómđịa phương, Những năm 60, 70 của thế kỷ XX, tư sản người Hoa đã pháttriển nhiều ngành nghề mới ở Nam Bộ như Thực phẩm, thuốc lá, dệt, giấy,hóa chất, đồ gốm sứ, sắt thép, cơ khí, ngân hàng, tín dụng

Trang 12

Sau năm 1975, các ngành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, giaothông vận tải, thương mại dịch vụ, Được quan tâm và tiếp tục phát triển.III Tổ chức xã hội

3.1 Tổ chức, thiết chế xã hội

3.1.1 Đặc điểm chung trong Tổ chức, thiết chế xã hội của người Hoa3.1.1.1 Thôn trại

Mặc dù có số dân gần một triệu người, nhưng cộng đồng người Hoa

cư trú khá phân tán Ngoại trừ thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trungngười Hoa nhất, còn lại cư trú ở các địa phương khác, nhất là các tỉnh,thành phố phía Bắc Ở Trung du miền núi Bắc Bộ, Trung Bộ và các tỉnhmiền Tây Nam Bộ, họ sống xen ghép với các tộc người khác trong cácthôn, trại, Trước năm 1954, các thôn trại của người Hoa, các công xãnông thôn, tụ cư trên cơ sở quan hệ láng giềng Đó chính là tổ chức xã hội

tự quản cao cấp nhất của họ Các thôn trại của họ được tổ chức và vậnhành, phù hợp với lối sống riêng của họ, và thích ứng với bộ máy hànhchính của nhà nước Việt Nam

Cho đến 1955, xã hội của người Hoa về cơ bản đã có sự phân hóagiàu, nghèo khá sâu sắc Trong các thôn trại (nhất là vùng Nam Bộ), nhiềugia đình có nguồn tư liệu sản xuất cố định lớn (vài chục - hàng trăm mẫuruộng), không thể tự canh tác, mà phải thue mướn, phát canh thu tô Thựcchất đây là quan hệ giữa nông dân và địa chủ

Thời thuộc Pháp, tổ chức xã hội của người Hoa khá chặt chẽ Tại ViệtNam, cộng đồng người Hoa có nguồn gốc thuộc một tỉnh Trung Hoa, đềuthuộc một Bang Bang là tổ chức tự quản lớn nhất của người Hoaowr ViệtNam Mỗi Bang có một bang trưởng đứng đầu Các thôn trại người Hoađều thuộc về một Bang nào đó, do trại trưởng đứng đầu Trưởng trại đạidiện cho các thành viên, quan hệ với chính quyền sở tại Việc tổ chức, vàvận hành thiết chế tự quản ở mỗi thôn trại được duy trì trên cơ sở của lệ

Trang 13

tục, độc lập thành hương ước Các điều khoản trong hương ước khá cụ thể,

tỷ mỷ

Người Hoa đến vùng đất Nam Bộ vào thập kỷ 70 của thế kỷ XVII Họ

cư trú đông đúc tại các đô thị: Sài Gòn, Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch giá, Những người có nguồn gốc ở tỉnh bên Trung Hoa (Phúc Kiến, QuảngĐông, Quý Châu, ), sống thành các làng riêng, gọi là Minh Hương, ngườiđến trước thường được tôn làm Minh Hương tiên hiền Về phương diệnhành chính, mỗi cộng đồng người Hoa ở tỉnh gốc lập thành một Bang, cómột bang trưởng là người đại diện để liên hệ với chính quyền sở tại.Trưởng bang có sổ hàng bang ghi chép về các hộ, giống như sổ hộ khẩu.Thời Pháp thuộc và thời Mỹ Ngụy, bộ phận người Hoa sống ở các đô thịlớn (Sài Gòn, Gia Định, Cần Thơ, ) trở thahf những nhà tư sản côngnghiệp và thương nghiệp, làm chủ các khách sạn, các hãng buôn lớn; một

số ở miền Tây Nam Bộ buôn ngũ cốc,phụ tùng xe máy, lâm thổ sản Họ trởthành các tư sản mại bản Thời ấy, bộ phận người Hoa này có quyền lợigắn chặt với chế độ thực dân

Từ khi hòa bình được lập lại đến nay, sau những biến động về lịch sử(1979), toàn bộ người Hoa ở Trung du miền núi Bắc Bộ, đều xen cư vớicác dân tộc anh em, họ không có tồn tại riêng Họ quần tụ thành các xómnhỏ ghép với các thôn bản người Tày hay người Sán Dìu Đôi khi, họ cònxen ghép cả với người Việt, người Sán Dìu, người Sán Chay và ngườiNgái Bộ phận người Hoa sinh sống ở các đô thị, tính phân tán còn sâu sắchơn

3.1.1.2 Các tổ chức xã hội

Các bang, hội quán của người Hoa ở Việt Nam ra đời vào loại sớmnhất, so với Hoa kiều ở các quốc gia khác Đó là các Minh Hương xã,Thanh Hà xã, Tam Sơn, Lệ Chu, Mỗi bang có trường học, bệnh viện, nhàxuất bản, báo chí, cơ sở tín dụng, đỉnh chùa, nghĩa địa, câu lạc bộ,các từ

Ngày đăng: 01/11/2017, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w