năm học 2020-2021 đầy đủ so vơi các năm trước
Trang 1cơ sở pháp lý khi trả lời 1Câu 1.2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao? 2Câu 1.3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 2Câu 1.4 Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa đượccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án
có câu trả lời? 3Câu 1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án
số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 3Câu 1.6 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao? 4Câu 1.7 Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao? 4Câu 1.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K 4Câu 1.9 Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con
mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là
di sản để chia không? Vì sao? 5Câu 1.10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao? 6Câu 1.11 Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? 6
Trang 2VẤN ĐỀ 2: NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN 7Câu 2.1 Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt
và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời 8Câu 2.2 Theo BLDS, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 10Câu 2.3 Nghĩa vụ của bà Loan đối với Ngân hàng có là nghĩa vụ về tài sản không? Vì sao? 12Câu 2.4 Nếu Ngân hàng yêu cầu được thanh toán, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên của bà Loan? Vì sao? 12Câu 2.5 Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá cố khi họ còn sống? 12Câu 2.6 Trong Quyết định trên, theo Tòa giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào? 12Câu 2.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ của người quá cố) 13VẤN ĐỀ 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ 13Câu 3.1 Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam 13Câu 3.2 Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không? 14Câu 3.3 Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời? 15Câu 3.4 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 16Câu 3.5 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm
Trang 3VẤN ĐỀ 4: TÌM KIẾM TÀI LIỆU 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4VẤN ĐỀ 1: DI SẢN THỪA KẾ
Tóm tắt bản án Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/08/2020 của Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh yên tỉnh Vĩnh Phúc.
Nguyên đơn: Ông Trần Văn Hòa
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Tạ Ngọc Toàn
Bị đơn: Anh Trần Hoài Nam
Chị Trần Thanh Hương
Người làm chứng: Chị Vũ Thị Thanh
Nội dung: là vụ án tranh chấp thừa kế tài sản, theo đơn khởi kiện và quá trình tốtụng, nguyên đơn trình bày: Ông Hòa và bà Mai kết hôn năm 1980 Quá trìnhchung sống có 2 người con, ngoài ra không có con đẻ và con nuôi nào khác Tàisản chung của 2 người gồm: 1 ngôi nhà 3 tầng, một lán bán hàng xây dựng năm
2006 Năm 2006, gia đình ông Hòa đã sử dụng toàn bộ phần đất phía trước nhàgióng thẳng ra đường chính Năm 2006 ông bà xây ngôi nhà 3 tầng, lán bán hàngtrên toàn bộ diện tích đất Nguồn tiền xây dựng là của ông bà, các con của ông bàkhông có tiền cũng như công sức đóng góp trong khối tài sản chung Ngày31/1/2017 bà Mai mất, không để lại di chúc Từ khi bà Mai mất đến nay, ôngHòa trực tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ số tài sản trên
Quyết định: Căn cứ Điều 213, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 660, 357 vàkhoản 2 Điều 468 BLDS
Chấp nhận đơn khởi kiện; chia phần tài sản cho ông Hòa, chị Hương, anhNam
Buộc anh Nam thanh toán chênh lệch về tài sản
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Hòa
Câu 1.1 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo Điều 612 BLDS 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
Do đó di sản sẽ không bao gồm nghĩa vụ của người quá cố
Trang 5Câu 1.2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?
Theo khoản 1 Điều 611 BLDS 2015: “1 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại Khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này”.
Tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tàisản mới sau đó thì tài sản mới không được coi là di sản Vì ở thời điểm mở thừa kếthì tài sản của người quá cố đã trở thành di sản, nếu trong trường hợp thay thế bởimột tài sản mới thì tài sản đó sẽ không phù hợp với ý chí của người quá cố và tàisản đó cũng không thuộc quyền sở hữu của người quá cố (nếu là động sản có đăng
kí quyền sở hữu hoặc bất động sản) Hơn nữa, BLDS không có quy định về điềunày, do vậy, khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thếbởi một tài sản mới sau đó thì thì tài sản mới không là di sản
Câu 1.3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Nguyên tắc khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ngưởi sử dụng đấtmới có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong đó có cả quyền để lại
di sản thừa kế Tuy nhiên thiếu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dẫn đến việcthực hiện quyền sẽ khó khăn, nhưng không có nghĩa sẽ bị tước bỏ quyền sử dụngđất
Nghị quyết số 02/2004 ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân Tối cao quy định: “… 1.3 Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở; vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ… cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà yêu cầu chia thừa
kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:
a) Trong trường hợp đương sự có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, thì Tòa án giải quyết theo yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó”.
Trang 6Do đó, đất của người chết để lại nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nếu có các loại giấy tờ khác chứng minh được nguồn gốc đất hoặcUBND cấp có thẩm quyền có văn bản xác nhận việc sử dụng đất là hợp pháp, đấtđược sử dụng lâu dài, không có tranh chấp thì Tòa án vẫn xác định được đây là đisản thừa kế và tiến hành chia thừa kế theo theo đúng trình tự, quy định của phápluật
Câu 1.4 Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án
có câu trả lời?
Diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtđược coi là di sản Theo như đoạn: Kết quả xác minh tại UBND phường Đống Đa(nơi có diện tích đất tranh chấp), Phòng tài nguyên và Môi trường thành phố VĩnhYên, Chi cục Thuế Nhà nước thành phố Vĩnh Yên thể hiện: Gia đình ông Hòa đãxây dựng ngôi nhà 3 tầng, sân và lán bán hàng trên một phần diện tích đất chưađược cấp giấy chứng nhận; diện tích đất này hộ ông Hòa quản lý, sử dụng ổn địnhnhiều năm nay, các hộ liền kề đã xây dựng mốc giới rõ ràng, không có tranh chấp,không thuộc diện đất quy hoạch phải di dời, vị trí đất tăng nằm tiếp giáp với phíatrước ngôi nhà và lán bán hàng của hộ ông Hòa, giáp đường Nguyễn Viết Xuân đấtthuộc diện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng sau khi thực hiện nghĩa vụ nộpthuế, tiền thuế là 19.000.000đ/m Do đó, đây vẫn là tài sản của ông Hòa, bà Mai, chỉ
có điều các đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nếu không xácđịnh đây là di sản thừa kế sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bênđương sự
Câu 1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án
số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hướng xử lý trên của Tòa án là hợp lý hợp tình Bởi sau khi có xác định củaPhòng tài nguyên và Môi trường thành phố Vĩnh Yên, Chi cục Thuế Nhà nướcthành phố Vĩnh Yên thì gia đình ông Hòa đã sử dụng ổn định phần đất tăng thêm85,5m2 và không có tranh chấp với các căn hộ liền kề Đặc biệt trên phần diện tíchđất tăng thêm, đã được hộ gia đình ông xây dựng công trình nhà ở và lán bán hàng.Việc xác định đất thuộc diện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng sau khi thực
Trang 7hiện nghĩa vụ nộp thuế giúp giảm hao tổn công sức và tiền của của các đương sựtham gia, đồng thời còn tạo nguồn thu đối với ngân sách Nhà nước.
Câu 1.6 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?
Phần di sản của Phùng Văn N là 133,5m2 trong tổng diện tích đất 398m2 đất Vìtrên tổng diện tích đất 398m2 đất vào 07-7-1984 ông Phùng Văn N chết không để lại
di chúc, bà Phùng Thị G và anh Phùng Văn T quản lý và sử dụng nhà đất trên Năm
1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trongtổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là267,4m2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất, diện tích 267,4m2 Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông PhùngVăn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, cáccon của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà
và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đãđồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông PhùngVăn K Tuy nhiên, diện tích 267m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G, nhưng được hìnhthành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợchồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia Sau khi chia là 133,5m2
Câu 1.7 Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn Kkhông được coi là di sản để chia Vì bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng cho ôngPhùng Văn K là tài sản chung của hai vợ chồng sau khi ông Phùng Văn N chết ÔngPhùng Văn N chết không để lại di chúc nên bà Phùng Thị G có quyền chuyển
tài sản của ông Phùng Văn K nên không được coi là di sản để chia
Câu 1.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.
Theo tôi, hướng giải quyết trong Án lệ trên là khá thỏa đáng
Trang 8Thứ nhất: Năm 1984, ông Phùng Văn N qua đời vă không để lại di chúccũng như thỏa thuận khâc thì phần di sản của ông phải được phđn chiatheo phâp luật dựa trín Điểm a Khoản 1 Điều 650 BLDS 2015 Căn cứvăo Điểm a Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 thì vợ cùng con chung của ông
N đều thuộc hăng thừa kế thứ nhất vă có quyền thừa hưởng phần di sản
mă ông để lại Cụ thể, phần di sản năy lă khối tăi sản chung của vợ chồngông (133,5m2 đất) Do đó, việc Tòa ân xâc định di sản của ông N như trín
lă hoăn toăn hợp lý
Thứ hai: Sau khi ông N mất thì bă G đê bân cho ông K 131m2 đất tríntổng số 398m2 đất lă tăi sản chung của vợ chồng bă để lo cho cuộc sốngcâc con Hơn nữa, câc con của bă G biết việc năy mă không có ý kiến thìxem như đê đồng ý với việc chuyển nhượng Hướng giải quyết năy củaTòa ân lă thỏa đâng do Tòa không chỉ bảo vệ quyền lợi của câc đồng thừa
kế mă còn bảo vệ cả quyền lợi của người mua ngay tình lă ông K Di sảnông N để lại dù có bao gồm phần đất 131m2 đê bân cho ông K nhưng đê bịthay thế bởi khoản tiền thu được từ giao dịch chuyển nhượng giữa bă G vẵng K Số tiền năy được hình thănh trín nền tảng của di sản cũ (phần diệntích đất 131m2) vă được sử dụng vì lợi ích của chính câc đồng thừa kế nín
có thể được xem lă di sản để chia cho câc đồng thừa kế Trong trường hợpnăy, câc đồng thừa kế đều được hưởng lợi từ khoản tiền trín nín có thểđược xem như đê chia thừa kế ứng với phần di sản năy
Cđu 1.9 Nếu bă Phùng Thị G bân đất trín không để lo cuộc sống của câc con
mă dùng cho tiền đó cho câ nhđn bă Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi lă di sản để chia không? Vì sao?
Nếu bă Phùng Thị G bân đất trín không để lo cho cho cuộc sống của câc con
mă dùng tiền đó cho câ nhđn bă Phùng Thị G thì số tiền đó không được coi lă di sản
để chia Vì:
Xĩt phần tăi sản chung của vợ chồng bă G vă ông N lă 398m2 đất, sau khiông N mất mă không để lại di chúc hay thỏa thuận khâc thì tăi sản chungcủa hai vợ chồng sẽ được chia đôi lă 196m2 đất theo quy định của Điều 33
vă Điều 66 Luật Hôn nhđn vă Gia đình năm 2014 Bă G vă câc con chungcủa hai vợ chồng đều thuộc hăng thừa kế hăng thứ nhất theo quy định tại
Trang 9Điểm a Khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015 nên họ sẽ được chia thừa kếnhư nhau, có quyền ngang nhau đối với phần di sản do ông N để lại.
Nếu bà G tự ý bán 131m2 đất cho Ông K mà không có sự đồng ý của cáccon của bà và sử dụng phần tiền vì mục đích cá nhân cho riêng mình thì cóthể xem bà G đã bán một phần đất thuộc phần của mình trong khối tài sảnchung của hai vợ chồng (196m2) Việc mua bán này sẽ không làm ảnhhưởng đến phần tài sản mà các đồng thừa kế khác được hưởng và di sảncủa ông N (196m2) sẽ được chia đều cho bà và các con
Điều này là hoàn toàn hợp lý do bà G có quyền định đoạt phần tài sản của mìnhtrong khối tài sản chung Hơn nữa, phần tiền thu được từ giao dịch không được sửdụng vì lợi ích của các đồng thừa kế khác nên không thể xem như đã chia thừa kếứng với phần di sản này
Câu 1.10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?
Ở thời điểm bà G chết, di sản của bà G trong diện tích đất là diện tích đất chungcòn lại của hai vợ chồng bà sau khi bán cho ông K 131m2 tức là 133,5m2 ứng vớicủa 267m2
Điều này đã được ghi nhận trong bản án: “Do đó, phần di sản của bà Phùng Thị
G để lại là khối tài sản (133,5m 2 ) được chia theo di chúc…”
Câu 1.11 Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m 2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?
Việc Tòa án xác nhận phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 làthuyết phục, vì:
Phần tài sản còn lại khi bà G chuyển nhượng cho ông K (131m2) là267,4m2 là phần tài sản chung của hai vợ chồng chưa chia hình thànhtrong thời gian hôn nhân nên bà chỉ có quyền định đoạt 1/2 tài sản chung(133,5m2)
Do đã hết thời hiệu chia thừa kế nên phần di sản của ông Phùng Văn N sẽthuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó (Khoản 1 Điều 632 BLDS2015) Vậy nên bà G sẽ không được chia di sản
Trang 10Khi bà G chết có lập di chúc để lại cho con gái (chị Phùng Thị H1) là90m2 nên phần tài sản còn lại của bà G là 43,5m2
Đây không là nội dung của Án lệ số 16 vì Án lệ số 16/2017/AL là công nhậnhợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng dất là di sản thừa kế do một trong cácđồng thừa kế chuyển nhượng diện tích 131m2 đất mà bà G đã bán cho ông PhùngVăn K là hợp pháp và không còn thược phần di sản thừa kế còn lại phải chia
Câu 1.12 Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không?
Đây không phải là nội dung của Án lệ 16 vì Án lệ này có nội dung về việc côngnhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trongcác đồng thừa kế chuyển nhượng
VẤN ĐỀ 2: NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN
Tóm tắt quyết định Quyết định số 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Nguyên đơn: 1 Ông Nguyễn Hồng Vũ
2 Bà Nguyễn Thị Kim Oanh
3 Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Vân
Trang 11Nội dung: Tài sản của cụ Phúc và cụ Thịnh tạo lập được gồm khoảng 200m2 đấttrên có 2 ngôi nhà 2 tầng, khu công trình phụ và một số đồ dùng sinh hoạt khác tại
số 708 đường Ngô Gia Tự Ngoài ra, cụ Phúc và cụ Thịnh còn tạo lập được 1 thửađất khác tại số 167 Nguyễn Văn Cừ thuộc khu Ninh Xá 3, thành phố Bắc Ninh, tỉnhBắc Ninh Sau khi cụ Phúc chết thì cụ Thịnh cho riêng ông Vũ thửa đất tại 167Nguyễn Văn Cừ, nhưng do làm ăn thua lỗ, hoàn cảnh khó khăn nên ông Vũ đã bánđược 450.000.000đ Nay các ông, bà đề nghị được chia phần tài sản của cụ Phúc đểlại gồm nhà và đất tại số 708 đường Ngô Gia Tự hiện vợ chồng ông Vân đang quản
lý Các ông, bà xin được chia bằng hiện vật
2 Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm lại theođúng quy định của pháp luật
Câu 2.1 Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt
và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo BLDS 2005: Người quá cố là người đã chết nên nghĩa vụ phải do chínhngười quá cố đó thực hiện sẽ đương nhiên chấm dứt Căn cứ theo Khoản 8 Điều 374BLDS 2005 Nghĩa vụ dân sự chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
“1 Nghĩa vụ được hoàn thành;
2 Theo thoả thuận của các bên;
3 Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;
4 Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ dân sự khác;
Trang 125 Nghĩa vụ được bù trừ;
6 Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hoà nhập làm một;
7 Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự đã hết;
8 Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân, chủ thể khác chấm dứt
mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân, chủ thể đó thực hiện;
9 Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân, chủ thể khác chấm dứt mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân, chủ thể khác;
10 Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ dân sự không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác;
11 Các trường hợp khác do pháp luật quy định.”
Còn nếu nghĩa vụ mà người quá cố để lại không thuộc loại nghĩa vụ nêu trên nhưnghĩa vụ tài sản thì nghĩa vụ này không đương nhiên chấm dứt Được căn cứ vàođiều 637 BLDS 2005 Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại thì:
“1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2 Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.
3 Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa
vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4 Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”
Trang 13Theo BLDS 2015: Thì nghĩa vụ nhân thân của người quá cố đương nhiên chấmdứt Được quy định trong Khoản 8 Điều 372 BLDS 2015 Căn cứ chấm dứt nghĩa vụnghĩa vụ chấm dứt trong trường hợp sau đây:
“1 Nghĩa vụ được hoàn thành;
2 Theo thỏa thuận của các bên;
3 Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;
4 Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác;
5 Nghĩa vụ được bù trừ;
6 Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một;
7 Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết;
8 Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;
9 Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác;
10 Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác;
11 Trường hợp khác do luật quy định.”
Còn đối với nghĩ vụ tài sản của người quá cố thì đương nhiên không chấm dứt.Căn cứ theo Điều 615 BLDS 2015 Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lạithì:
“1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trang 142 Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
3 Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4 Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là
cứ vào Điều 637 BLDS 2005 Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại thì:
“1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2 Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.
3 Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa
vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4 Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”
Đối với tài sản không có người nhận di sản, theo Điều 644 BLDS 2005 Tài sản
không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước: “Trong trường hợp không có thừa kế