Trung bình mỗi năm Việt Nam dành từ 3040% tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP) cho đầu tƣ xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, phát triển các khu công nghiệp, ngành nghề, đô thị hóa và các công trình văn hóa, giáo dục, dịch vụ,... Vì vậy hoạt động xây dựng phát triển với tốc độ cao đòi hỏi nguồn nhân lực rất lớn. Tuy nhiên, thống kê của cơ quan thuộc Bộ Xây dựng, hiện toàn ngành xây dựng đang có hơn 204.000 công nhân lao động, trong đó có tới hơn 90.000 ngƣời là cán bộ, viên chức trong các doanh nghiệp, tức là số lƣợng công nhân chỉ gấp hơn 2 lần số lƣợng cán bộ, viên chức. Trong đó, số lao động có trình độ cao đẳng, trung cấp nghề chỉ chiếm tỷ lệ 11,8%; số thợ bậc cao (bậc 6,7) chỉ chiếm khoảng 7% nhân lực ngành 96; tr.12. Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam (16.490,25 km2 ), dân số đứng thứ tƣ cả nƣớc (3.327.791 ngƣời), nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung bộ: phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía tây giáp nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (419 km), phía Đông giáp Biển Đông. Tỉnh có đầy đủ các tuyến giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt, hàng không, đƣờng biển, đƣờng thuỷ nội địa; điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng,... điều này tạo cho Nghệ An có nhiều lợi thế trong thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, có vai trò quan trọng trong mối giao lƣu kinh tế xã hội Bắc Nam, xây dựng và phát triển kinh tế biển, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế 49. Tốc độ tăng trƣởng GDP trong tỉnh bình quân giai đoạn 2016 2020 ƣớc đạt 7,84%, GDP bình quân đầu ngƣời đến cuối năm 2020 ƣớc đạt 44,34 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hƣớng giảm tỷ trọng nông nghiệp (từ 26,36% xuống còn khoảng 22,42%), tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ (từ 73,64% lên khoảng 77,58%) ... Tổng vốn đầu 2 tƣ toàn xã hội giai đoạn 2016 2020 ƣớc đạt hơn 314.000 tỷ đồng, gấp 1,74 lần so với giai đoạn 2011 2015 115. Do đó, hoạt động xây dựng nói chung và ngành xây dựng nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Mặc dù là một trong những trụ cột kinh tế của tỉnh, song ngành xây dựng của tỉnh Nghệ An cũng đang đứng trƣớc những thách thức to lớn về công nghệ, kỹ thuật và đặc biệt là chất lƣợng nhân lực (NL), số lƣợng nhân lực dƣ thừa, nhƣng chất lƣợng nhân lực lại không đáp ứng, cơ cấu nhân lực không phù hợp; yêu cầu nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề cao, có kỹ năng làm việc trong môi trƣờng công nghệ và cạnh tranh còn rất thiếu, trong khi đó chất lƣợng đào tạo còn thấp và chƣa phù hợp. Vì vậy, Nghệ An xác định phát triển NL, nhất là nhân lực chất lƣợng cao (NLCLC) là một trong ba mũi đột phá của tỉnh, đồng thời tỉnh cũng khắng định phát triển NL, trong đó ƣu tiên phát triển NLCLC để thu hút đầu tƣ. Trong hợp tác với các đối tác nƣớc ngoài, tỉnh cũng luôn quan tâm tới hợp tác trong phát triển NLCLC, chẳng hạn, trong quan hệ hợp tác với tổ chức JICA và JETRO Nhật Bản, thì đào tạo NL là một trong 3 nội dung đƣợc ký kết chiều ngày 432020, theo đó ngay trong năm 2020 JICA lựa chọn một số khóa đào tạo tại Nhật Bản vận hành quản lý hệ thống công trình thủy lợi, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp của tỉnh để chuyển giao khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm kỹ năng trong phát triển nông nghiệp. Nhƣ vậy, có thể nói, để thực hiện mục tiêu phát triển tỉnh Nghệ An là trung tâm về tài chính, thƣơng mại, du lịch, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc Trung bộ nhƣ Quy hoạch tỉnh Nghệ An thời kỳ 20212030, tầm nhìn 2050 đã đƣợc Chính phủ phê duyệt thì phải có sự đột phá trên cơ sở từ nội lực, đó chính là phát triển NLCLC, nhất là NLCLC ngành xây dựng của tỉnh. 3 Do đó, đề tài “Nhân lực chất lượng cao trong ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An ” đƣợc chọn làm luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị là cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỀN THỊ LÊ TRÂM
NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO TRONG NGÀNH XÂY DỰNG Ở TỈNH NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỀN THỊ LÊ TRÂM
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG NGÀNH XÂY DỰNG Ở TỈNH NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 9 31 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM THỊ TÖY
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tƣ liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng và đƣợc trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Nguyễn Thị Lê Trâm
Trang 4Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG NGÀNH XÂY DỰNG 25
2.1 Nhân lực chất lượng cao và các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành, phát triển nhân lực chất lượng cao 25 2.2 Nhân lực chất lượng cao trong ngành xây dựng 44 2.3 Kinh nghiệm xây dựng nhân lực chất lượng cao trong ngành xây dựng của quốc tế và trong nước 69
Chương 3: THỰC TRẠNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG NGÀNH XÂY DỰNG Ở TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 82
3.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An và yêu cầu đặt ra đối với nhân lực trong ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An 82 3.2 Thực trạng nhân lực chất lượng cao trong ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2020 100 3.3 Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra trong xây dựng nhân lực chất lượng cao của ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An thời gian qua 121
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG NGÀNH XÂY DỰNG Ở TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN 2030 135
4.1 Phương hướng và mục tiêu xây dựng nhân lực chất lượng cao trong ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An đến 2025, tầm nhìn 2030 135 4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nhân lực chất lượng cao trong ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An thời gian tới 141
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CĐ, ÐH : Cao đẳng, đại học CMCN 4.0 : Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HDI : Chỉ số phát triển con người
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
NLCLC : Nhân lực chất lượng cao
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 : So sánh nguồn nhân lực và vốn nhân lực 29
Bảng 2.2: Tiêu chuẩn phân loại theo thể chất của nhân lực chất lƣợng cao 35
Bảng 2.3: Các loại tiêu chuẩn và các yêu cầu 55
Bảng 2.4: Yêu cầu thí điểm để xem xét kinh nghiệm công tác 56
Bảng 2.5: Các lĩnh vực tiêu chuẩn 56
Bảng 2.6: Các lĩnh vực của tiêu chuẩn 58
Bảng 3.1a: Số lƣợng nhân lực theo trình độ tại Sở xây dựng Nghệ An giai đoạn 2015 – 2020 103
Bảng 3.1.b: Cơ cấu nhân lực theo trình độ tại Sở xây dựng Nghệ An giai đoạn 2015 – 2020 103
Bảng 3.2.a: Số lƣợng nhân lực theo trình độ tại các doanh nghiệp xây dựng tại Nghệ An giai đoạn 2015 – 2020 105
Bảng 3.2.b: Cơ cấu nhân lực theo trình độ tại các doanh nghiệp xây dựng tại Nghệ An giai đoạn 2015 – 2020 105
Bảng 3.3: Thống kê mô tả điểm đánh giá của Sở xây dựng về thể lực 108
Bảng 3.4: Thống kê mô tả điểm đánh giá của các doanh nghiệp xây dựng về thể lực 108
Bảng 3.5: Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo 110
Bảng 3.6: Thống kê mô tả điểm đánh giá của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An về trí tuệ 111
Bảng 3.8: Thống kê mô tả điểm đánh giá của các doanh nghiệp và Sở xây dựng về tính năng động xã hội 114
Bảng 4.1: Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lƣợng cao ngành xây dựng của tỉnh Nghệ An 138
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1: Quy trình xây dựng 46
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức nhân lực ngành xây dựng 54 Biểu đồ 2.1: Sự tăng trưởng trong ngành xây dựng của một số nước năm
2014-2019 71
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trung bình mỗi năm Việt Nam dành từ 30-40% tổng sản phẩm trong nước (GDP) cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, phát triển các khu công nghiệp, ngành nghề, đô thị hóa và các công trình văn hóa, giáo dục, dịch vụ, Vì vậy hoạt động xây dựng phát triển với tốc độ cao đòi hỏi nguồn nhân lực rất lớn Tuy nhiên, thống kê của cơ quan thuộc Bộ Xây dựng, hiện toàn ngành xây dựng đang có hơn 204.000 công nhân lao động, trong đó có tới hơn 90.000 người là cán bộ, viên chức trong các doanh nghiệp, tức là số lượng công nhân chỉ gấp hơn 2 lần số lượng cán bộ, viên chức Trong đó, số lao động có trình độ cao đẳng, trung cấp nghề chỉ chiếm tỷ lệ 11,8%; số thợ bậc cao (bậc 6,7) chỉ chiếm khoảng 7% nhân lực ngành [96; tr.12]
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam (16.490,25 km2
), dân
số đứng thứ tư cả nước (3.327.791 người), nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung bộ: phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (419 km), phía Đông giáp Biển Đông Tỉnh có đầy đủ các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, hàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa; điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng, điều này tạo cho Nghệ An có nhiều lợi thế trong thu hút đầu tư trong
và ngoài nước, có vai trò quan trọng trong mối giao lưu kinh tế - xã hội Bắc - Nam, xây dựng và phát triển kinh tế biển, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế [49]
Tốc độ tăng trưởng GDP trong tỉnh bình quân giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 7,84%, GDP bình quân đầu người đến cuối năm 2020 ước đạt 44,34 triệu đồng Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp (từ 26,36% xuống còn khoảng 22,42%), tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ (từ 73,64% lên khoảng 77,58%) Tổng vốn đầu
Trang 9tư toàn xã hội giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt hơn 314.000 tỷ đồng, gấp 1,74 lần so với giai đoạn 2011 - 2015 [115] Do đó, hoạt động xây dựng nói chung
và ngành xây dựng nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh
Mặc dù là một trong những trụ cột kinh tế của tỉnh, song ngành xây dựng của tỉnh Nghệ An cũng đang đứng trước những thách thức to lớn về công nghệ, kỹ thuật và đặc biệt là chất lượng nhân lực (NL), số lượng nhân lực dư thừa, nhưng chất lượng nhân lực lại không đáp ứng, cơ cấu nhân lực không phù hợp; yêu cầu nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề cao, có kỹ năng làm việc trong môi trường công nghệ và cạnh tranh còn rất thiếu, trong khi đó chất lượng đào tạo còn thấp và chưa phù hợp Vì vậy, Nghệ An xác định phát triển NL, nhất là nhân lực chất lượng cao (NLCLC) là một trong ba mũi đột phá của tỉnh, đồng thời tỉnh cũng khắng định phát triển
NL, trong đó ưu tiên phát triển NLCLC để thu hút đầu tư Trong hợp tác với các đối tác nước ngoài, tỉnh cũng luôn quan tâm tới hợp tác trong phát triển NLCLC, chẳng hạn, trong quan hệ hợp tác với tổ chức JICA và JETRO Nhật Bản, thì đào tạo NL là một trong 3 nội dung được ký kết chiều ngày 4/3/2020, theo đó ngay trong năm 2020 JICA lựa chọn một số khóa đào tạo tại Nhật Bản vận hành quản lý hệ thống công trình thủy lợi, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp của tỉnh để chuyển giao khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm kỹ năng trong phát triển nông nghiệp
Như vậy, có thể nói, để thực hiện mục tiêu phát triển tỉnh Nghệ An là trung tâm về tài chính, thương mại, du lịch, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc Trung bộ như Quy hoạch tỉnh Nghệ An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050 đã được Chính phủ phê duyệt thì phải có sự đột phá trên cơ sở từ nội lực, đó chính là phát triển NLCLC, nhất là NLCLC ngành xây dựng của tỉnh
Trang 10Do đó, đề tài “Nhân lực chất lượng cao trong ngành xây dựng ở tỉnh
Nghệ An ” được chọn làm luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị là
cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn về NLCLC trong ngành xây dựng; Thực trạng NLCLC trong ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng NLCLC trong ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong điều kiện hội nhập
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá, kế thừa có bổ sung để hoàn thiện và phát triển các vấn đề
lý luận và thực tiễn về NLCLC trong ngành xây dựng
- Dựa vào khung lý luận đã được xây dựng để phân tích, đánh giá thực trạng NLCLC trong ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 -2020, chỉ rõ những vấn đề đặt ra và nguyên nhân
- Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của chương 3 và quan điểm chung về NLCLC ngành xây dựng và mục tiêu xây dựng NLCLC ngành xây dựng tỉnh Nghệ An đến năm 2025, tầm nhìn 2030, luận án đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng NLCLC đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là
NLCLC trong ngành xây dựng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung: NLCLC ngành xây dựng gồm nhiều phân
ngành, vì vậy để phù hợp với mục tiêu và dung lượng của luận án cũng như
Trang 11hướng vào mối quan hệ giữa các chủ thể chính của ngành, luận án tập trung vào nghiên cứu NLCLC (có trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên) và làm việc tại sở xây dựng và các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An
+ Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu NLCLC trong ngành xây
dựng ở tỉnh Nghệ An
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu của luận án về thực trạng NLCLC
ngành xây dựng tỉnh Nghệ An được giới hạn trong phạm vi thời gian là từ năm 2015 đến 2020 Phạm vi đề xuất phương hướng và giải pháp được xác định cho giai đoạn đến năm 2025 và tầm nhìn 2030
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về nguồn lực con người, nhân lực, NLCLC; chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, phát triển NLCLC và các chủ trương, chính sách về NLCLC trong các lĩnh vực ngành nghề nói chung
và trong ngành xây dựng tại tỉnh Nghệ An nói riêng; tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố về NLCLC của các nhà khoa học trong
và ngoài nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-Lênin để nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn; rút ra các kết luận về NLCLC và NLCLC ngành xây dựng
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học - phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học kinh tế chính trị, được sử dụng nhằm chắt lọc những yếu
tố đơn nhất, ngẫu nhiên, không trọng yếu về NLCLC ngành xây dựng để chỉ ra được những yếu tố điển hình, căn cốt phản ảnh chất lượng, đặc thù
Trang 12của NLCLC ngành xây dựng… Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 1 và chương 2 của luận án
Phương pháp nghiên cứu phân tích - tổng hợp: được sử dụng để đi sâu phân tích các khái niệm mang tính tổng hợp (như các khái niệm nhân lực, vốn nhân lực, NLCLC, ) để luận giải một cách khoa học các nội hàm chuyên sâu về những vấn đề nghiên cứu chính của luận án (NLCLC trong ngành xây dựng), lấy đó làm căn cứ để phân tích những đặc tính riêng của các nội dung nghiên cứu, tạo thành một hệ thống tổng thể và hoàn chỉnh phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế chính trị Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 2 và chương 3 của luận án
Phương pháp nghiên cứu thống kê, so sánh và kết hợp logic với lịch sử: Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu kinh tế hiện đại Luận án sử dụng phương pháp thống kê để thu thập số liệu về NLCLC trong ngành ngành xây dựng tỉnh Nghệ An để tiến hành so sánh, đối chiếu hệ thống các số liệu dựa trên các tiêu chí xác định chát lượng NLCLC và các yếu tố cấu thành NLCLC trong ngành xây dựng tỉnh Nghệ
An Đây là căn cứ để đánh giá khoa học khách quan tình hình thực tiễn Từ
đó, rút ra được những kết luận quan trọng về kết quả đạt được, những vấn
đề đặt ra và nguyên nhân chủ yếu của những vấn đề đặt ra này Đồng thời, thông qua kết hợp logic và lịch sử, suy luận để dự báo triển vọng liên quan đến đối tượng nghiên cứu, nhằm định hướng phát triển và căn cứ vào mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn để đề xuất các giải pháp thực hiện tốt mục tiêu đề ra Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 3 và chương 4 của luận án
Trong từng chương, tiết và tiểu tiết của luận án có kết hợp trình bày các biểu, bảng để thể hiện rõ các số liệu thực tiễn gắn với kết quả nghiên cứu một cách tường minh
Trang 135 Đóng góp mới của luận án
5.1 Về lý luận
Trên cơ sở hệ thống hoá và kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, luận án bổ sung nhằm hoàn thiện để xây dựng khung lý luận về NLCLC trong ngành xây dựng ở địa bàn cấp tỉnh trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) và hội nhập
5.2 Về thực tiễn
- Từ khung lý luận được xây dựng làm căn cứ để đi sâu tìm hiểu và phân tích về NLCLC trong ngành xây dựng với đặc điểm, các yếu tố cấu thành, các nhân tố ảnh hưởng, tiêu chí xác định… NLCLC trong ngành xây dựng
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và một số tỉnh trong nước trên phương diện tiếp cận theo mục tiêu, nhiệm vụ của luận án đặt ra về chủ thể nghiên cứu
để có được những bài học có giá trị tham khảo cho Nghệ An
- Dựa vào các số liệu, tư liệu theo giới hạn cho phép Luận án đi sâu phân tích, đánh giá khoa học, khách quan theo khung lý thuyết thực trạng các nội dung liên quan đến NLCLC trong ngành xây dựng tại tỉnh Nghệ An Các kết quả đánh giá, phân tích được trình bày theo cách truyền thống bao gồm: Kết quả đạt được; những vấn đề đặt ra và nguyên nhân
- Trên cơ sở quan điểm chung và mục tiêu xây dựng NLCLC trong ngành xây dựng tỉnh Nghệ An giai đoạn đến năm 2025 tầm nhìn 2030, luận án đề xuất phương hướng và các giải pháp khả thi cả trước mắt và lâu dài nhằm xây dựng NLCLC trong ngành xây dựng tỉnh Nghệ An
Đây sẽ là tài liệu có ý nghĩa thiết thực giúp các cấp chính quyền thành phố và các tổ chức của hệ thống chính trị làm căn cứ hoàn thiện chính sách, biện pháp, thực hiện tốt những nội dung về xây dựng, phát triển NLCLC của
cả nước và NLCLC trong ngành xây dựng nước ta
6 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được kết cấu thành 4 chương, 11 tiết
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH XÂY DỰNG
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHÂN LỰC
VÀ NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
1.1.1 Những nghiên cứu về mức độ lành nghề, kỹ năng của nhân lực và vai trò, ảnh hưởng của nhân lực đến tăng trưởng
“Thuyết lao động lành nghề” của Leontief, nhà kinh tế học người Mỹ,
được công bố trong bài viết “Sản xuất trong nước và thương mại quốc tế:
Khảo sát lại tình hình tư bản Mỹ” (1953), và bài viết “Tỷ lệ yếu tố sản xuất với kết cấu thương mại quốc tế Mỹ: Phân tích lý luận và kiểm nghiệm”
(1956) Sau đó, các nhà kinh tế học gọi hai bài viết này của Leontief là “Câu
đố Leontief” và “Giải đáp câu đố của Leontief” Để giải đáp câu đố của Leontief, bản thân Leontief và các nhà khoa học khác đã nêu ra rất nhiều nhân
tố tương quan như năng suất lao động, lao động lành nghề, tư bản nhân lực (vốn con người), nghiên cứu và phát triển (R&D), tài nguyên thiên nhiên Bản thân Leontief đã nêu ra thuyết lao động lành nghề trong quá trình giải thích “Câu đố Leontief” Lý luận này xuất phát từ trình độ thành thạo lao động và lượng lao động thành thạo sẵn có tương đối để giải thích nguyên nhân hình thành kết cấu và phân bổ thương mại quốc tế hàng công nghiệp Leontief cho rằng, trong điều kiện trang bị vốn như nhau, trình độ lao động lành nghề của công dân Mỹ cao, năng suất lao động bình quân của công dân
Mỹ cao gấp 3 lần của công dân nước ngoài, vì vậy sức lao động hữu hiệu của
Mỹ là 3 lần sức lao động hiện có Do đó, trên thực tế Mỹ trở thành nước có sức lao động dồi dào nên Mỹ phải xuất khẩu sản phẩm loại hình lao động tập trung Nói cách khác, sản phẩm mà Mỹ xuất khẩu là sản phẩm loại hình tập trung lao động, sản phẩm nhập khẩu là sản phẩm thuộc loại hình tập lao động không lành nghề của nước khác [66]
Trang 15Robert M.Solow (1956), “A Contribution to the theory of Economic
Growth” (Đóng góp vào học thuyết về tăng trưởng kinh tế Trong đó, nhà
kinh tế học người Mỹ này đã đưa vào mô hình tăng trưởng một nhân tố độc lập là “tiến bộ kỹ thuật” và lấy nó làm cơ sở phân biệt hai hiêu ứng của tăng trưởng kinh tế, là “hiệu ứng tăng trưởng” và “hiệu ứng mức độ” Tác dụng của “hiệu ứng mức độ” là trong điều kiện không tăng thêm yếu tố đầu vào (như vốn, lao động), tiến bộ kỹ thuật thông qua thay đổi hàm số sản xuất, tức
là nâng cao vị trí của con đường tăng trưởng (Growth path) để thực hiện lâu dài cân bằng tăng trưởng kinh tế (hay tính bền vững của tăng trưởng) Đồng thời, Solow còn phân tích thực chứng và dự ước đóng góp của nhân tố tiến bộ
kỹ thuật đối với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Mỹ là 87,5%; Căn cứ vào đó xác lập quan điểm tiến bộ kỹ thuật quyết định tăng trưởng kinh tế [89, tr.42]
D.B.Keesing (1966), “Kỹ năng lao động và lợi thế so sánh” Trong tác phẩm này, Keesing phát triển một bước thuyết lao động lành nghề, nhấn mạnh hơn sự khác biệt của hiệu suất vật lý của lao động Ông chia lao động theo trình độ thành thạo về kỹ thuật thành 8 loại, quy nạp thành hai nhóm lớn: Lao động thành thạo và lao động không thành thạo Keesing đã tiến hành phân tích, so sánh đối với 14 nước công nghiệp, phát hiện nước có lao động thành thạo sẵn có tương đối phong phú, xuất khẩu sản phẩm loại hình tập trung lao động thành thạo Chính sự khác biệt tương đối về lao động thành thạo sẵn có của các nước và sự hạn chế của di dân quốc tế tạo thành
bố cục (cấu trúc và phân bổ) của thương mại quốc tế hàng công nghiệp Keesing đã chỉ ra rằng, sức lao động thành thạo trong một nước công nghiệp
là nhân tố sản xuất quan trọng nhất, nhưng thành thạo không phải là có thể đạt được trong thời gian ngắn [30]
“Thuyết tư bản nhân lực” của các nhà kinh tế học người Mỹ là T.W.Schultz, O.S.Becker, R.Ebald.Win và Lucas đưa ra trong thập kỷ 70-80 của thế kỷ XX Thuyết “tư bản nhân lực” ban đầu được đưa ra nhằm bổ sung
Trang 16và phát triển mô hình tăng tưởng kinh tế dựa trên “thuyết tiến bộ kỹ thuật quyết định tăng trưởng” của Slow Schultz đã kế thừa, vận dụng khái niệm
“Tư bản” của kinh tế học cổ điển và thuyết lao động lành nghề của Leontief, chỉ rằng trên mình của người lao động có nhân tố tư bản (vốn), đồng thời chia
“tư bản” (vốn) thành hai hình thức: Tư bản thông thường và tư bản nhân lực Schultz cho rằng, thông qua đầu tư các mặt an sinh xã hội, giáo dục có thể tăng được năng lực kỹ thuật của con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm cho nguồn nhân lực thông thường trở thành “tư bản nhân lực” (vốn nhân lực) Tư bản nhân lực này có thể sản sinh ra “hiệu ứng tri thức” và “hiệu ứng phi tri thức” để trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng sản xuất, tăng trưởng kinh tế Đồng thời, tư bản nhân lực có thể sản sinh ra “thu nhập tăng dần”, xóa bỏ ảnh hưởng của “thu nhập giảm dần” giới hạn của yếu tố tư bản và lao động (thông thường) để đảm bảo tăng trưởng kinh tế lâu dài [95] Thuyết tiến bộ kỹ thuật của Slow và thuyết tư bản nhân lực của Schultz được coi là hai mặt “phần cứng” và “phần mềm” trong quá trình sản xuất xã hội, nhấn mạnh tác dụng quan trong của tiến bộ kỹ thuật và tư bản nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế hiện đại [91]
Lucas (1986), “Mô hình tăng trưởng của tích lũy tư bản nhân lực chuyên môn hóa” Trong tác phẩm này, nhà kinh tế học người Mỹ Lucas đã bổ sung, phát triển thuyết tư bản nhân lực, đưa ra hai mô hình tăng trưởng [67]
+ “Mô thức lưỡng tư bản”, trình bày hai loại tư bản ảnh hưởng đối với sản xuất Trong mô thức này, Lucas chia tư bản thành hai loại “Tư bản hữu hình”
và “Tư bản vô hình”; và căn cứ vào trình độ chia sức lao động thành hai loại
“lao động nguyên thủy” thể lưu thuần túy và tư bản nhân lực biểu hiện là kỹ năng lao động” Lucas cho rằng, chỉ có tư bản nhân lực mới có thể thúc đẩy tăng trưởng Do vậy, có thể công thức hóa tỷ lệ tăng trưởng tư bản nhân lực: h’(t)/h(t) = h(t), O’ [t = U(t)]/h(t)
Trong đó: h(t): tư bản nhân lực (lấy kỹ năng lao động của người lao
Trang 17động để hiển thị); O’: Tính co dãn sản xuất của tư bản nhân lực; U: Toàn
bộ thời gian sản xuất; [t=U(t)]: thời gian học tập, đào tạo ở trường thoát ly sản xuất
Ý nghĩa của mô thức này là: Phân biệt hai hình thức tư bản và hai loại lao động, từ đó cụ thể hóa tiến bộ kỹ thuật thành tư bản nhân lực thể hiện ở tri thức thông thường và biểu hiện ở đặc thù hóa trong kỹ năng của người lao động; đồng thời cũng chia tư bản nhân lực thông thường mà xã hội có và tư bản nhân lực đặc thù thể hiện ở kỹ năng của người lao động
+ “Mô thức hai sản phẩm” Đây là mô thức hình thành “hiệu ứng ngoại sinh” của “tư bản nhân lực” Lucas cho rằng, hiệu ứng mà tư bản nhân lực sản sinh ra trong mô hình tăng trưởng của Schultz (tức là “Hiệu ứng tri thức” và
“hiệu ứng phi tri thức”) chỉ là “hiệu ứng nội sinh” của tư bản nhân lực, còn hiệu ứng “vừa học vừa làm” là “hiệu ứng ngoại sinh” của tư bản nhân lực Công thức tích lũy tư bản nhân lực ngoại sinh là:
Ci= hi (t) Ui(t) N(t); I = 1,2
Trong đó: Ci: sản xuất thành phẩm I = 1
Ui: Toàn bộ thời gian sản xuất hoặc sản xuất
i: Lương lao động mà hàng hóa sử dụng
hi(t): Tư bản nhân lực chuyên nghiệp hóa mà sản xuất I sản phẩm cần
N (t): Đầu vào lao động tính bằng người
Như thế, “Mô hình tăng trưởng của tính lũy tư bản nhân lực chuyên môn hóa” của Lucas có cống hiến quan trọng đối với lý luận tăng trưởng kinh tế, thương mại quốc tế và lý luận tiền tệ quốc tế Lucas cho rằng, nước phát triển
do trình độ vốn nhân lực cao làm cho tỷ lệ thu nhập vốn tăng dần, do vậy sản sinh ra lãi suất cao và thu hút lượng lớn vốn nước ngoài Vì vậy, nước đang phát triển muốn thu hút vốn quốc tế phải thực hiện chính sách nâng cao tỷ lệ tích lũy tư bản (vốn) nhân lực, hay nói cách khác là nâng cao chất lượng NL
Về thương mại quốc tế, do tỷ lệ tăng trưởng vốn nhân lực quyết định tỷ lệ
Trang 18tăng trưởng kinh tế, do đó một nước phải tập trung phát triển sản xuất sản phẩm với nguồn vốn có hạn nhưng có ưu thế về nguồn NL
Romo (1989), “Mô hình tăng trưởng của loại hình thu nhập tăng dần” Trong tác phẩm này, nhà kinh tế người Mỹ Romo đã sử dụng phương pháp mới là toán học hóa và vi mô hóa, kết hợp với những vấn đề mới trong tăng trưởng kinh tế, tiến hành công bố lý thuyết “tăng trưởng mới” Năm trụ cột của lý thuyết “tăng trưởng mới của Romo là: (i) lấy nhân tố tri thức và tư bản nhập vào mô hình “tăng trưởng kinh tế” Romo đã cụ thể hóa tiến bộ kỹ thuật thành tri thức chuyên nghiệp hóa và thể hiện trong kỹ năng đặc thù của sức lao động, do đó có thể nhận thức trực quan tác dụng của tiến bộ kỹ thuật hoặc tri thức đối với tăng trưởng kinh tết (ii) Đưa ra quan điểm về yếu tố thu nhập có thể tăng dần” Romo đã phân tích và chứng minh tác dụng của tri thức chuyên nghiệp hóa và tích lũy tư bản nhân lực đối với tăng trưởng kinh
tế, cho rằng hai yếu tố này có thể sản sinh ra “thu nhập tăng dần”, là “nguồn duy trì động lực vĩnh cửu của tăng trưởng kinh tế” (iii) Làm rõ quan hệ của tiến bộ kỹ thuật và đầu tư tư bản trong một trình độ nhất định, một mặt nhấn mạnh tiến bộ kỹ thuật là nhân tố quyết định của tăng trưởng kinh tế, đồng thời phân tích và chứng minh quan hệ nhân - quả của đầu tư và tiến bộ kỹ thuật, xác định rõ tầm quan trọng của đầu tư đối với thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật và tăng trưởng kinh tế (iv) Phát triển thương mại quốc tế và lưu chuyển tiền tệ quốc tế là động cơ tăng trưởng kinh tế, nhấn mạnh tác dụng của thương mại quốc tế đối với tích luỹ tri thức mang tính thế giới và thúc đẩy "hiệu ứng vượt" của tăng trưởng kinh tế nhảy vọt của một nước (v) Tăng trưởng kinh tế hiện đại chủ yếu là do sự thúc đẩy của tri thức và tư bản nhân lực, nước có tỉ lệ tích luỹ tư bản nhân lực cao và tri thức cao thì mức thu nhập và tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao và ngược lại Do tích luỹ tư bản nhân lực và tri thức có thể làm cho thu nhập tăng dần, nên nước có tư bản nhân lực phong phú thì tỉ lệ lợi nhuận từ đầu tư vốn sẽ ổn định và nâng cao,
Trang 19thu hút sự “hồi lưu” của nước phát triển đã xuất khẩu vốn, đồng thời còn thu hút được lượng vốn nước ngoài lớn [90]
Từ những tổng quan trên có thể thấy, trong các nghiên cứu có hai điểm
đáng lưu ý: Một là, vốn đầu tư quyết định tiến bộ kỹ thuật, cũng đặt ra yêu cầu chất lượng nhân lực, từ đó để ra sự quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế; Hai
là, tri thức và kỹ thuật ảnh hưởng quan trọng đối với chất lượng lực lượng lao
động, tỉ suất hiệu quả lao động trong sự tăng trưởng kinh tế
1.1.2 Những nghiên cứu về nhân lực nói chung, về quản lý nguồn nhân lực, đào tạo nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế
Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (2012), “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” Trình bày một số khái niệm cơ bản về nhân lực, nguồn nhân lực, phân tích đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam, những vấn đề cơ bản để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đây
là cuốn sách có giá trị tham khảo trong nghiên cứu và trong chỉ đạo thực tiễn phát triển nguồn nhân đất nước hiện nay [55]
Phạm Thành Nghị (2007), “Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực; phân tích hiệu quả quản lý nguồn nhân lực và những yếu tố tác động đến quản lý nguồn nhân lực nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [78]
Dương Văn Quảng, Bành Tiến Long, Trịnh Đức Dụ (2009), “Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế” Cuốn sách tập hợp những bài viết về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế, đặc biệt là nguồn NLCLC; nhiều bài đã phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, chỉ ra hạn chế, bất cập của nguồn nhân lực nước ta trước đòi hỏi của hội nhập
Trang 20quốc tế; làm rõ những vấn đề hạn chế do giáo dục đào tạo; xác định những vấn đề cơ bản đối với giáo dục đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế [88]
Lương Việt Hải (2003), “Ảnh hưởng của tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ đến việc nghiên cứu và phát triển con người và nguồn nhân lực những năm đầu thế kỷ XXI” Đề tài nghiên cứu tổng hợp và toàn diện trên các vấn đề cơ bản về con người, về nguồn nhân lực; phân tích, làm rõ khái niệm, những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực; những vấn
đề cơ bản về giáo dục và đào tạo, quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khuyến nghị một số vấn đề cơ bản để phát triển văn hóa, xây dựng con người, phát triển giáo dục
và đạo tạo nguồn nhân lực trong những thập kỷ tiếp theo [43]
Phạm Minh Hạc (2008), “Phát triển con người, nguồn nhân lực - quan niệm và chính sách” Trình bày một số vấn đề cơ sở lý luận về phát triển con người; đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, nhân tài, đội ngũ lao động; phân tích một số nét thực trạng và đề xuất một số biện pháp phát triển nguồn nhân lực đất nước [46]
Đường Vĩnh Sường (2012), “Giáo dục, đào tạo với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Bài báo phân tích vai trò của nguồn NLCLC; đánh giá thực trạng nguồn nhân lực và nguồn NLCLC ở nước ta, phân tích một số hạn chế, yếu kém của nguồn nhân lực nước ta so với một số nước khác trong khu vực và thế giới; đưa ra những giải pháp chính về giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn NLCLC phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [93]
1.1.3 Những nghiên cứu về vị trí, vai trò của nhân lực có tri thức, trí tuệ cao trong phát triển đất nước
Phạm Tất Dong (2005), “Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng” Tác giả đã nêu lên một số quan niệm về trí thức, trí thức Việt Nam; phân tích
Trang 21đặc điểm, sự hình thành và phát triển của đội ngũ trí thứcViệt Nam; chỉ ra triển vọng và giải pháp phát triển đội ngũ này trong thời kỳ mới [23]
Nguyễn Đắc Hưng (2007), “Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước” Cuốn sách bàn đến lực lượng “đầu tàu” trong nguồn NLCLC; trình bày một số khái niệm cơ bản như: tiềm năng, năng lực, năng khiếu, tài năng, nhân tài, quản
lý nhân tài; chỉ ra một số kinh nghiệm trong lịch sử dân tộc Việt Nam và ở một
số nước trên thế giới về phát triển nguồn NLCLC, phát triển nhân tài; phân tích một số quan điểm cơ bản của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và nhân tài; chỉ ra những yếu tố tác động trực tiếp đến phát triển nhân tài, những nội dung cơ bản về phát triển nguồn NLCLC, phát triển nhân tài; đưa ra một số vấn
đề về đào tạo học sinh, sinh viên, về phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng và thu hút nhân tài của đất nước [59]
Nguyễn An Ninh (2009), “Phát huy tiềm năng trí thức khoa học xã hội Việt Nam” Cuốn sách góp phần luận giải tiềm năng trí thức khoa học xã hội Việt Nam, một bộ phận quan trọng của nguồn NLCLC của nước nhà; phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến trí thức khoa học xã hội Việt Nam,với tư cách là nguồn nhân lực quan trọng trong nguồn nhân lực đất nước; xác định các vấn đề cơ bản về cơ chế, chính sách, chế độ, về giáo dục - Đào tạo để phát huy tiềm năng trí thức khoa học xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới [79]
Nguyễn Văn Khánh (2012), “Nguồn lực trí tuệ Việt Nam, lịch sử, hiện trạng và triển vọng” Cuốn sách trình bày khái niệm nguồn lực trí tuệ, phát huy nguồn lực trí tuệ; kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ một số nước trên thế giới và Việt Nam; đánh giá lịch sử và thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam trên các lĩnh vực; phân tích những yếu tố tác động đến sử dụng nguồn lực trí tuệ, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn và triển vọng phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay [64]
Trang 221.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH XÂY DỰNG
1.2.1 Hướng nghiên cứu về nhân lực chất lượng cao, quản lý nhân lực chất lượng cao
Chu Văn Cấp (2013), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ngành xây dựng góp phần phát triển bền vững Việt Nam” Bài viết đã trình
bày về những vấn đề lý luận, thực tiễn cơ bản của việc phát triển nguồn NLCLC ngành xây dựng và sự góp phần phát triển bền vững Việt Nam trong giai đoạn mới; Bài viết đã đưa ra một số giải pháp về phát triển NNLCLC ngành xây dựng góp phần phát triển bền vững đất nước [16]
Lê Thị Hồng Điệp (2010), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để
hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” Luận án trình bày những khái niệm
cơ bản như: nguồn nhân lực, nguồn NLCLC, đặc điểm nguồn NLCLC của nước
ta, vấn đề phát triển nguồn NLCLC; phân tích những vấn đề gia tăng dân số, cơ cấu nguồn nhân lực, tỷ lệ nhân lực khoa học công nghệ, đặc điểm, yêu cầu của kinh tế tri thức đối với nguồn NLCLC; đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn NLCLC để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam [39]
Lê Quang Hùng (2011), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” Tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Luận án
đã trình bày tầm quan trọng của việc phát triển nguồn NLCLC ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; đánh giá thực trạng gồm ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân của nguồn NLCLC nơi đây; chỉ ra một số yêu cầu, giải pháp phát triển nguồn NLCLC ở vùng kinh tế trọng điểm ở miền Trung, đặc biệt nhấn mạnh đến giáo dục - đào tạo [58]
Trịnh Ngọc Thạch (2008), “Hoàn thiện mô hình quản lý đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học Việt Nam” Tác giả
đã tiến hành khảo sát, phân tích mô hình quản lý đào tạo nguồn NLCLC ở một số trường đại học trọng điểm của Việt Nam, trong đó nghiên cứu khá kỹ
Trang 23về mô hình ở Đại học quốc gia Hà Nội, từ đó mô tả những nét đặc trưng của
mô hình quản lý đào tạo nguồn NLCLC trong các trường đại học ở nước ta, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và khả năng áp dụng; đề xuất một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện mô hình quản lý đào tạo nguồn NLCLC trong các trường đại học Việt Nam [110]
Nguyễn Thị Tuyết Mai (2016), “Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao ở Việt Nam”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số ra ngày
30-11-2016 Bài báo đã trình bày quan niệm, vai trò nguồn NLCLC và khẳng định nguồn lực con người được coi là nguồn lực quan trọng nhất, có tính chất quyết định sự tăng trưởng và phát triển xã hội Một quốc gia cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó thì khó đạt được sự phát triển như mong muốn [73]
Nguyễn Đình Bắc (2018), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ở nước ta trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, Tạp
chí Cộng sản, số ra ngày 22-5-2018 Bài viết đã phân tích những vấn đề đặt
ra trong bối cảnh CMCN 4.0, theo đó, cuộc cách mạng này đã và đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới, tạo ra những cơ hội rất lớn nhưng cũng đặt ra thách thức không nhỏ cho mỗi quốc gia Nó cũng tác động đến Việt Nam trên mọi lĩnh vực, khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội Trong
đó, phát triển nguồn NLCLC là một trong những lĩnh vực chịu sự tác động mạnh mẽ và trực tiếp nhất từ cuộc cách mạng này Nhưng nguồn nhân lực của Việt Nam, nhất là nguồn NLCLC thiếu hụt về số lượng, hạn chế về chất lượng và bất cập về cơ cấu Chính bởi vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương
5 khóa XII nhấn mạnh: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là NLCLC, tranh thủ những cơ hội và thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” Đây là một chủ trương đúng đắn, thể hiện sự nhạy bén, sáng tạo và tư duy đột phá của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, để thực hiện tốt nội dung
Trang 24này đòi hỏi phải có một chiến lược tổng thể và lâu dài, với hệ thống các giải pháp mang tính đồng bộ, thiết thực và khả thi, đó cũng chính là nội dung bài viết hướng tới [10]
Hải Phong (2018), “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu phát triển xã hội” Tác giả này đã lược dẫn kết quả nghiên cứu của đề
tài:“Nghiên cứu dự báo nhu cầu nguồn nhân lực làm cơ sở xây dựng chương trình đào tạo đến năm 2025” do PGS.TS Trần Thị Thái Hà làm chủ nhiệm Theo đó, đề tài đã nhận định Trong tiến trình phát triển của xã hội, nguồn NLCLC luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng Nguồn nhân lực này là một
bộ phận cấu thành nên nguồn nhân lực xã hội.Chính vì vậy, một trong những mục tiêu mà Nghị quyết 29/NQ-TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa IX (năm 2013) về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT (viết tắt là Nghị quyết 29) đặt ra cho ngành GD-ĐT là phải tạo ra một đội ngũ NLCLC, đủ đức, đủ tài để phục vụ sự phát triển chung của đất nước Cụ thể: “Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học” Tuy nhiên, trong quá trình đào tạo nguồn NLCLC, ngành Giáo dục vẫn đang phải đối mặt với những thách thức lớn như: Tỉ lệ nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kĩ thuật đạt trình độ cao đẳng trở lên so với tổng số lực lượng lao động chưa cao; Một bộ phận nguồn nhân lực có trình độ từ cao đẳng trở lên chưa bắt kịp với nhu cầu, đòi hỏi của xã hội từ nhìn nhận những thực trạng
và thách thức trong đào tạo NLCLC, nhóm nghiên cứu đề xuất, ngành GD-ĐT
cần phải thực hiện một số các giải pháp đồng bộ [82]
1.2.2 Hướng nghiên cứu về nhân lực ngành xây dựng và nhân lực chất lượng cao ngành xây dựng
Nghiên cứu của Bon - Gang Hwang, Lei Zhu và Jonathan Tan Tzu
Ming (2017), Đại học Quốc gia, Singapore; chỉ ra 05 yếu tố quan trọng nhất
ảnh hưởng đến năng suất của các công trình xây dựng xanh tại Singapore, đó
Trang 25là: kinh nghiệm, kiến thức, sự thay đổi thiết kế, trình độ của công nhân, lập kế
hoạch và sắp xếp công việc [131]
Nghiên cứu của David McGuire, Framing Human Resource
Development: An Exploration Of Definitional Perspectives Utilising Discourse Analysis, đề cập đến vai trò của quản trị nhân sự trong ngành xây
dựng Tác giả đã phân tích ảnh hưởng việc phân bổ nhân lực có chất lượng trong ngành xây dựng liên quan trực tiếp đến tính hiệu quả của từng dự án xây dựng [137]
Jang Ho Kim, (2015), “Khung mẫu mới về phát triển nguồn nhân lực: các sáng kiến của chính phủ để phát triển kinh tế để hội nhập xã hội tại Hàn Quốc”, Nhà xuất bản KRIVET Seoul, 135949, Hàn Quốc Cuốn sách đã đề cập đến các thách thức kinh tế xã hội trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành xây dựng tại Hàn Quốc; khẳng định vai trò to lớn của nguồn NLCLC; khả năng cạnh tranh nguồn nhân lực của đất nước; đưa ra định hướng phát triển; đặc biệt đã đưa ra và phân tích các vấn đề giáo dục và đào tạo nghề, kết hợp đào tạo với nghiên cứu và phát triển, những vấn đề về định hướng đào tạo ngành xây dựng ở Hàn Quốc [60]
M Mahanth, V Sreelakshmi, SS.Asadi, đánh giá những thách thức của doanh nhân trong công nghiệp xây dựng - một mô hình nghiên cứu cách tiếp cận dựa trên rủi ro, Tạp chí Quốc tế về Kỹ thuật Xây dựng và Công nghệ (IJCIET), Tập 8, Số 1, tháng 1 năm 2017, trang 29-36 [71]
Agbodjah Lily Sena (2008), đã nghiên cứu về các chính sách phát triển nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành Xây dựng công nghiệp ở Ghana nói riêng và toàn thế giới nói chung Kết quả nghiên cứu cho rằng, hầu hết các công ty xây dựng lớn ở Ghana và một số nước ở Châu Âu hay Châu Mỹ đều chưa có biệp pháp thích hợp trong việc quản lý nhân sự cũng như phát triển nguồn nhân lực Vì vậy, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế với đặc thù riêng của
Trang 26ngành Xây dựng thì các doanh nghiệp phải xây dựng được những chính sách
và nguyên tắc cụ thể để phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp mình như: xây dựng một mô hình giáo dục và đào tạo riêng cho nhân lực ngành Xây dựng phù hợp với các đặc điểm và tính chất của ngành Xây dựng, thiết lập một mô hình quản lý nhân lực tổng thể trên cơ sở sự kết hợp hài hòa giữa quản lý theo chiều dọc của ngành Xây dựng và quản lý theo chiều ngang của các doanh nghiệp xây dựng [127]
Đặc biệt, nghiên cứu “The Relationship between Human Resource
Practices and Organizational Performance in Chinese Construction Enterprises” (Mối quan hệ giữa Thực tiễn Nguồn nhân lực và Hiệu suất Tổ chức trong các Doanh nghiệp Xây dựng Trung Quốc) của Zhai, X và Liu, A
là một minh chứng cho mối quan hệ giữa nguồn nhân lực với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng ở Trung Quốc Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn nhân lực và cho rằng các doanh nghiệp muốn kinh doanh có hiệu quả thì điều tất nhiên là phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp mình Tuy nhiên, trong nghiên cứu tác giả không đề cập tới tiêu chí đo lường chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp xây dựng ở Trung Quốc [159]
Varun V và Linu T Kuriakose (2016), khi nghiên cứu về các tiêu chí đánh giá hiệu suất làm việc của nguồn nhân lực để qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành Xây dựng công nghiệp Ấn Độ cũng có đề cập đến các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực đối với ngành Xây dựng công nghiệp ở Ấn Độ Theo các tác giả, mỗi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau sẽ có những tiêu chí để đánh giá khác nhau và đối với ngành Xây dựng ở Ấn Độ sẽ dựa trên các tiêu chí như: năng lực làm việc, thái độ làm việc, chất lượng công việc hoàn thành, năng suất lao động, đạo đức nghề nghiệp, đặc biệt tác giả chú trọng đến tiêu chí về khả năng ứng phó với những rủi ro xảy ra bởi vì ngành Xây dựng là một ngành công nghiệp lớn nhất và bị
Trang 27ảnh hưởng bởi nhiều loại rủi ro nhất bao gồm rủi ro dự án, rủi ro tài chính, rủi
ro về hậu cần, rủi ro kỹ thuật, rủi ro môi trường [117]
Lưu Tiểu Bình (2011), “Lý luận và phương pháp đánh giá phát
triển nguồn NLCLC trong ngành xây dựng”, Nhà xuất bản Đại học Vũ Hán,
cho rằng trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng; việc khơi nguồn, phát triển nguồn nhân lực
và nguồn nhân lực chất lượng cao có tầm quan trọng đặc biệt Vì thế, để khai thác và phát huy nguồn nhân lực các quốc gia cần phải có lý luận và phương pháp đánh giá đúng đắn; đồng thời nêu lên một số vấn đề lý luận và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực [11]
Phan Thị Thanh Xuân (2014), “Xây dựng chiến lược phát triển nguồn
nhân lực chất lượng ngành Xây dựng Việt Nam giai đoạn đến 2015, tầm nhìn 2020”, Đề tài NCKH cấp Bộ, Hà Nội Đề tài đã đi sâu phân tích thực trạng
nguồn nhân lực của ngành xây dựng Việt Nam Lực lượng này chủ yếu là lực lượng lao động được đào tạo tay nghề một cách bài bản Trên cơ sở đó, trong chiến lược phát triển NLCLC, tác giả đưa ra một số giải pháp tập trung cho việc đào tạo nâng cao trình độ học vấn, tay nghề cũng như các chế độ đãi ngộ cho người lao động, chính sách thu hút lao động có tay nghề cao, các giải pháp cho an sinh xã hội [123]
Phạm Anh Đức, Trần Văn An (2015), “Những vấn đề đặt ra cho phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao các ngành xây dựng ở nước ta hiện nay, Phát triển nguồn nhân lực các ngành xây dựng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, Đề tài NCKH cấp Bộ, Hà
Nội Tác giả bài viết đã trình bày những yếu kém bất cập về phát triển nguồn NLCLC ngành xây dựng ở nước ta hiện nay, đó là: Mất cân đối rất lớn giữa cung và cầu lao động chất lượng cao ngành xây dựng; Chất lượng thực của nguồn NLCLC còn thấp; Phân bố nguồn NLCLC ngành xây dựng còn mất cân đối; Chính sách tiền công và hệ thống các công cụ của thị trường lao
Trang 28động chất lượng cao còn nhiều bất cập; Quản lý nhà nước đối với nguồn NLCLC chưa được quan tâm đúng mức và bộc lộ nhiều yếu kém Bài viết nêu ra các nguyên nhân khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến vấn đề phát triển nguồn NLCLC ngành xây, từ đó đưa ra năm giải pháp phát triển nguồn NLCLC ngành xây dựng ở nước ta hiện nay [38]
Trần Duy Ngoãn (2016), “Giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao ngành xây dựng ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Đại
học Quốc gia Hà Nội Trong luận án tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về phát triển nguồn NLCLC và vai trò của giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn NLCLC ngành xây dựng ở Việt Nam hiện nay Luận án cũng đã làm rõ thực trạng vai trò của giáo dục - đào tạo đối với việc phát triển nguồn NLCLC ngành xây dựng ở Việt Nam hiện nay Qua đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn NLCLC ngành xây ở Việt Nam hiện nay [80]
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, để đánh giá được chất lượng nguồn nhân lực cần phải xác định được các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực cũng như áp dụng phương pháp đánh giá phù hợp Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ ra các tiêu chí chung phản ánh chất lượng nguồn nhân lực Trong khi mỗi đơn vị, mỗi địa phương cần phải xây dựng các tiêu chí đánh giá riêng căn cứ vào đặc điểm và điều kiện
1.3 TỔNG HỢP CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Các kết quả nghiên cứu đã đạt được liên quan đến đề tài luận án
Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được công bố mà tác giả biết, có thể thấy vấn đề nhân lực, NLCLC đã được nghiên cứu khá toàn diện, sâu sắc trên nhiều phương diện khác nhau cả về lý luận lẫn thực tiễn
Trang 291.3.1.1 Về lý luận
Thứ nhất, nhiều vấn đề lý luận cơ bản về NLCLC đã được làm sáng
tỏ Nhiều công trình khoa học đã tập trung nghiên cứu những khái niệm, lý thuyết nhân lực, NLCLC; Các tiêu chí xác định NLCLC; Hệ thống chỉ tiêu
đo lường chất lượng nhân lực và các vấn đề liên quan đến nhân lực như vấn
đề dân số, thị trường lao động, năng suất lao động
Thứ hai, một số nghiên cứu đi sâu luận giải sự cần thiết phải phát triển
nguồn NLCLC, đưa ra quan niệm về NLCLC, yêu cầu về nguồn NLCLC, những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng nguồn NLCLC
Thứ ba, các công trình nghiên cứu hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cũng đã
đề cập, bổ sung và phát triển lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dịch chuyển nhu cầu nhân lực và điều chỉnh nhu cầu đào tạo nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, trong điều kiện cuộc CMCN 4.0
1.3.1.2 Về thực tiễn
Thứ nhất, các nghiên cứu chỉ ra rằng, xây dựng NLCLC là thách thức
lớn với mọi quốc gia trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đã diễn ra mạnh mẽ Với Việt Nam, các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò to lớn của nguồn NLCLC đối với quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Đó là chìa khoá chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật và công nghệ trên con đường phát triển, chống nguy cơ tụt hậu, là khâu đột phá nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ hai, Các nghiên cứu đã phân tích ở những khía cạnh và góc độ khác
nhau về thực trạng nguồn NLCLC ở Việt Nam Những thực trạng đó liên quan tới số lượng, cơ cấu và khả năng đáp ứng của NNL trước những công việc đòi hỏi trình độ cao Tất cả những nghiên cứu đều khẳng định rằng nguồn NLCLC nói chung, NLCLC của ngành xây dựng nói riêng chưa đáp
Trang 30ứng được yêu cầu của quá trình CNH, HĐH và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, Những nghiên cứu trên đã phác hoạ được bức tranh phát triển
nguồn nhân lực của Việt Nam nói chung và của ngành xây dựng nói riêng với nét chủ yếu là thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực, cũng như hạn chế của hệ thống giáo dục và đào tạo nhân lực ngành xây dựng cần được khắc phục một cách hiệu quả để từ đó đưa ra những giải pháp về nguồn nhân lực cho ngành xây dựng
1.3.2 Những vấn đề mới đặt ra cần tập trung nghiên cứu chuyên sâu và những khoảng trống cần làm sáng tỏ trong luận án
Qua tổng quan kết quả các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy, trong những năm qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực, NLCLC ở nhiều cấp độ, phương diện khác nhau Những công trình nghiên cứu này cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng việc hoạch định các chương trình, kế hoạch để phát triển nguồn nhân lực nói chung, NLCLC nói riêng của đất nước, của từng ngành, lĩnh vực cả trước mắt cũng như lâu dài Tuy nhiên, cho đến nay công trình nghiên cứu vấn đề NLCLC tiếp cận theo ngành vẫn còn rất ít, trong đó có ngành xây dựng, điều đó cho thấy nghiên cứu NLCLC đối với ngành, lĩnh vực nói chung, ngành xây dựng nói riêng thực sự chưa tương xứng với vị trí, vai trò và tầm quan trọng của lĩnh vực kinh tế này Thực tế hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề cần được tiếp tục làm sáng tỏ như: NLCLC ngành xây dựng được cấu thành như thế nào? Tiêu chí về NLCLC ngành xây dựng ra sao? Yêu cầu xây dựng NLCLC cho ngành xây dựng là gì? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến NLCLC ngành xây dựng? Thực trạng nhân lực chất lượng cao ngành xây dựng nói chung, ngành xây dựng Nghệ An hiện nay như thế nào? Phương hướng, giải pháp nào để thúc đẩy phát triển nhân lực chất lượng cao ngành xây dựng nói chung, ngành xây dựng Nghệ An trong thời gian tới
Trang 31Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, đề tài luận án “Nhân lực chất
lượng cao trong ngành xây dựng ở tỉnh Nghệ An” là hoàn toàn mới, cần
thiết, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố và có ý nghĩa
lý luận - thực tiễn quan trọng, phù hợp với chuyên ngành Kinh tế chính trị
Luận án sẽ tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu như sau:
Một là, nghiên cứu và kế thừa có chọn lọc, đồng thời bổ sung để hoàn
thiện khung khổ lý thuyết về NLCLC trong ngành xây dựng ở cấp tỉnh trong bối cảnh CMCN 4.0 và hội nhập quốc tế
Hai là, luận án cần tập trung phân tích, luận giải để làm rõ các yếu tố
cấu thành NLCLC ngành xây dựng, qua đó xác lập luận cứ cho việc đánh giá
và xây dựng nguồn nhân lực này trong dài hạn
Ba là, nghiên cứu và phân tích kinh nghiệm xây dựng NLCLC ngành
xây dựng trên thế giới và một số tỉnh trong nước
Bốn là, trên cơ sở khung lý luận đã được xây dựng để đánh giá hiện
trạng NLCLC trong ngành xây dựng tại tỉnh Nghệ An
Năm là, luận án đề xuất các phương hướng nhằm tạo căn cứ vững chắc
cho việc đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng NLCLC cho ngành xây dựng tính Nghệ An giai đoạn đến 2030 một cách đồng bộ, hệ thống và khả thi, góp phần xây dựng NLCLC cho tỉnh Nghệ An nói riêng, ngành xây dựng nói chung
Trang 32Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO TRONG NGÀNH XÂY DỰNG
2.1 NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
2.1.1 Quan niệm về nhân lực chất lượng cao
2.1.1.1 Một số khái niệm liên quan
+ Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực hay còn được gọi “nguồn lực con người” bắt nguồn từ cụm từ tiếng Anh “human resource” được sử dụng rộng rãi từ thập niên 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, hiện nay đã trở thành phổ biến trên thế giới Ở những năm đầu của thế kỷ XX, nguồn nhân lực chỉ được quan tâm chủ yếu ở góc độ sử dụng, khai thác lao động Đến những năm 1920 quan niệm về lao động, một yếu tố trong sản xuất mới được được nhìn nhận như một nhân tố cần phù hợp và gắn liền với doanh nghiệp
Khái niệm nguồn nhân lực được xem xét ở những phạm vi và cách tiếp cận khác khác nhau Một cách khái quát, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể những tiềm năng của con người của một quốc gia, vùng lãnh thổ hay một ngành có trong một thời kỳ nhất định [77] Tiềm năng trước hết và cơ bản nhất của nguồn nhân lực là tiềm năng lao động, bao gồm năng lực về thể lực, trí lực và nhân cách của người lao động ứng với một cơ cấu nhất định do nền kinh tế - xã hội đòi hỏi Theo cách hiểu này thì khái niệm về nguồn nhân lực
có tính trừu tượng Tuy nhiên với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho
xã hội, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động và là nguồn nhân lực xã hội Trong lĩnh vực lao động, nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với khái nhiệm nguồn lao động
Trang 33Trước đây, nghiên cứu về nguồn lực con người thường nhấn mạnh đến chất lượng và vai trò của nó trong phát triển kinh tế-xã hội Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, thậm chí con người được coi là nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển - vốn nhân lực Về phương diện này Liên hợp quốc cho rằng nguồn lực con người là tất cả những kiến thức kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ngày nay, nguồn nhân lực còn bao hàm khía cạnh về số lượng, không chỉ những người trong độ tuổi mà cả những người ngoài độ tuổi lao động
Ở Việt Nam, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực Theo giáo sư viện sỹ Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất) Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai
Theo quy định của Tổng cục Thống kê thì nguồn nhân lực gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (lao động đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang ở trong các trình trạng: đang thất nghiệp; đang đi học; đang làm nội trợ trong gia đình mình; không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác chưa tham gia lao động (không tính đến những người trong lực lược vũ trang) Trong kết cấu này, nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế là một bộ phận năng động nhất Bộ phận này bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người trên độ tuổi lao động (trên 55 tuổi đối với nữ
và trên 60 tuổi với nam theo quy định hiện nay) đang làm việc Bộ phận nguồn nhân lực này còn được gọi là lực lượng lao động
Thống nhất với quan điểm nêu trên về nguồn cung cấp sức lao động xã hội và khái niệm nguồn nhân lực được nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Texas đưa ra gần đây, tác giả cho rằng nguồn nhân lực là tổng hòa năng
Trang 34lực xã hội của con người được biểu hiện ở số lượng, cơ cấu và chất lượng tương ứng với từng thời kỳ của nền kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ được phân biệt với khái niệm dân cư và nhân lực nói chung ở chỗ: là số nhân lực có khả năng, đang hoặc sẵn sàng tham gia các hoạt động của lực lượng sản xuất xã hội, số nhân lực này đã trải qua đào tạo giáo dục chung ở mức nhất định nên có khả năng và kỹ năng lao động tối thiểu cần thiết và không bị hạn chế tham gia hoạt động lao động sản xuất bởi
cơ quan có thẩm quyền Như vậy, nguồn nhân lực chỉ toàn bộ lực lượng lao động xã hội có khả năng làm việc và đóng góp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, là lực lượng sản xuất hàng đầu, năng động và quyết định năng suất, hiệu quả trong phát triển kinh tế, đồng thời đóng góp vào tiến bộ xã hội
+ Khái niệm vốn nhân lực
Thuật ngữ vốn nhân lực xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1961 trong bài báo “Đầu tư vào vốn nhân lực” được đăng trong tạp chí Kinh tế học Hoa Kỳ của Nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel là Theodore W Schultz, sau đó được phát triển tiếp bằng các nghiên cứu của nhiều tác giả khác Đa số các tác giả đều chấp nhận rằng, vốn nhân lực bao gồm các kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức Hay theo nghiên cứu trong tác phẩm “Kinh tế học lao động“ của Borjas vào năm 1996, mỗi người đều mang vào thị trường lao động một tập hợp nhất định các khả năng và các kỹ năng thu được hay còn gọi là vốn nhân lực Như vậy, vốn nhân lực theo quan niệm của các tác giả trên bao gồm các kiến thức, kỹ năng thu được thông qua đào tạo chính quy tại các trường, kinh nghiệm thu được trong quá trình làm việc trong thị trường lao động và khả năng bẩm sinh của người lao động cũng là một thành phần quan trọng của vốn nhân lực
Ngoài kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng bẩm sinh của con người, có nhiều quan điểm cho rằng sức khoẻ của người lao động cũng là một thành phần của vốn nhân lực Trong nghiên cứu về “Vốn nhân lực của người nghèo ở Việt Nam - tình hình và các lựa chọn về chính sách” vào năm 2001, Indu Bhushan và các cộng sự đã cho rằng, “vốn nhân lực là tiềm năng và khả
Trang 35năng phát huy tiềm năng về sức khoẻ và kiến thức của các cá nhân, cái sẽ mang lại lợi ích trong tương lai” hay “vốn con người là kết quả quá trình đầu
tư vào các hoạt động nhằm nâng cao năng suất lao động cá nhân như giáo dục, y tế, đào tạo tại chỗ…”
Có thể thấy rằng vốn nhân lực là một khái niệm được sử dụng rộng rãi với các định nghĩa hết sức phức tạp và khác nhau Trong những bối cảnh nhất định, nó có thể chỉ bao gồm việc học tập chính quy tại trường đào tạo, trong khi ở một số bối cảnh khác, nó có thể bao gồm sự đầu tư tác động đến sức khoẻ và năng suất của con người, của doanh nghiệp và của cả quốc gia Điều này có thể bao gồm việc đầu tư vào sức khoẻ và dinh dưỡng cũng như đào tạo nghề bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông
Trong những năm gần đây, ngày càng có sự quan tâm đến vốn nhân lực
và coi đó như là động cơ cho tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội Chính vì vậy, vào năm 2002 khi thảo luận về những yêu cầu cho tăng trưởng kinh tế, các bộ trưởng của các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đầu tư vào vốn nhân lực
Có rất nhiều lý do xác đáng cho vấn đề này, nhất là các bằng chứng cho thấy giáo dục và đào tạo, hai nhân tố chính của vốn nhân lực, có liên quan chặt chẽ đến việc cải thiện các kết quả kinh tế
Thông qua việc đầu tư vào giáo dục có thể tác động tích cực đến sức khoẻ Mặt khác, nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy giáo dục, đào tạo có nhiều hiệu ứng ngoại sinh trong đó có sự tác động vào sức khoẻ cá nhân và sức khoẻ của các thành viên trong gia đình Điều này là do những người lao động được giáo dục nhiều sẽ có những hành vi tìm kiếm sức khoẻ trong cộng đồng tốt hơn những người ít được giáo dục, mặt khác những người được đào tạo nhiều hơn thường có thu nhập cao hơn những người ít được đào tạo vì vậy
họ có điều kiện hơn để chăm sóc sức khoẻ cho bản thân và gia đình Chính vì
lý do này, trong luận án chỉ nghiên cứu các thành phần quan trọng nhất của
Trang 36vốn nhân lực là kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng bẩm sinh của người lao động và coi việc nâng cao các yếu tố này tất yếu sẽ dẫn đến nâng cao sức khoẻ cho người lao động
Với cách tiếp cận như trên, vốn nhân lực là tổng hợp các kỹ năng, kỹ xảo của người lao động; kinh nghiệm nghề nghiệp; trình độ đào tạo và những khả năng có thể khai thác của người lao động Vốn nhân lực không phải là cái
sẽ có mà đã có sẵn của người lao động, tức là cái có thể bán được Như vậy, vốn nhân lực của các doanh nghiệp may có thể hiểu là các kiến thức, kỹ năng,
kỹ xảo, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ đào tạo và những khả năng có thể khai thác của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật trong các doanh nghiệp may
+ Sự khác nhau giữa nguồn nhân lực và vốn nhân lực
Xem xét các khái niệm về nguồn nhân lực và vốn nhân lực cũng như các thước đo nguồn nhân lực và vốn nhân lực, có thể thấy rằng chúng khác nhau tương đối cơ bản xét dưới góc độ quản lý và góc độ giá trị Sự khác biệt
đó được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 : So sánh nguồn nhân lực và vốn nhân lực
- Người lao động là nguồn lực của tổ
- Vai trò của người lao động tương
- Không lượng hoá được bằng giá trị
Trang 37Xét dưới góc độ quản lý, nguồn nhân lực là khái niệm mang ý nghĩa chủ quan của người sử dụng lao động Người sử dụng lao động coi nguồn nhân lực như một nguồn lực phục vụ cho tổ chức của mình Những nghiên cứu về nguồn nhân lực chủ yếu nhằm mục đích khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của tổ chức để giúp tổ chức đạt được mục tiêu trong hiện tại cũng như trong tương lai Những nghiên cứu về nguồn nhân lực chưa thực
sự chú trọng đến người lao động như là những chủ thể có vai trò chủ động, cũng có mục tiêu và mục đích hoạt động của mình, nhất là những mục tiêu về kinh tế và chính người lao động mới là phía quyết định có trở thành nguồn nhân lực của một tổ chức nào đó hay không chứ không phải tổ chức quyết định việc này Mặt khác, các nghiên cứu về nguồn nhân lực chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu các yếu tố liên quan đến sự vận động của những đối tượng đã đủ tuổi lao động, ít tập trung vào quá trình hình thành nguồn nhân lực, nhất là quá trình giáo dục phổ thông Điều này đã được khắc phục với quan niệm người lao động là nhà đầu tư, là chủ của vốn nhân lực và việc sử dụng vốn nhân lực vào tổ chức nào cho có hiệu quả là quyết định của người lao động Khái niệm về vốn nhân lực cũng đã bao hàm đầy đủ những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng bẩm sinh mà người lao động sở hữu
và mang vào thị trường lao động Nói một cách khác, vốn nhân lực chú trọng đến tất cả các yếu tố trong quá trình hình thành nguồn nhân lực, vốn nhân lực chính là cốt lõi của nguồn nhân lực
Xét về mặt giá trị, với quan niệm lực lượng lao động là nguồn nhân lực, người sử dụng lao động coi con người như là nguồn lực của tổ chức nhưng không tính toán được giá trị của nguồn lực đó bằng tiền Trong quá trình sử dụng, công ty sẽ phải đầu tư bao nhiêu tiền là hợp lý cho người lao động để có nguồn nhân lực phù hợp với công ty, số tiền mà công ty đầu tư vào nguồn nhân lực đó sẽ mang lại cho công ty bao nhiêu lợi nhuận Mặt khác, người lao động, với vai trò chủ động có thể tự đi học để nâng cao trình độ với mục đích
Trang 38tìm kiếm được một công việc tốt hơn, với thu nhập cao hơn nhưng thu nhập cao hơn ở mức độ nào thì khuyến khích được người lao động chủ động đi học? Câu hỏi này nếu nghiên cứu dưới giác độ nguồn nhân lực thì sẽ không thể trả lời thoả đáng Khác với nguồn nhân lực, vốn nhân lực có thể lượng hoá được bằng giá trị, qua đó có thể tính toán được dòng tiền mà người sử dụng lao động cũng như người lao động đầu tư vào vốn nhân lực sẽ có tỷ lệ hoàn vốn như thế nào và quá trình hoàn vốn đó diễn ra trong thời gian bao lâu
+ Quan niệm về nhân lực
Nghiên cứu về nhân lực, mỗi tác giả có cách tiếp cận khác nhau nên có những cách quan niệm khác nhau, nhưng nhìn chung các quan niệm đó đều thống nhất về nội dung cơ bản rằng: Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động Do đó, nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Khi nói tới nhân lực trước hết phải hiểu đó là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội
và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn Cho nên nhân lực nói chung bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc- đó chính là các yếu tố thuộc về chất lượng nhân lực Ngoài ra, khi nói tới nhân lực phải nói tới cơ cấu của lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề Khi nói nhân lực cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của con người, bởi vì trí lực là yếu tố ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển
Trang 39nhân lực Ngoài ra khi nói đến nhân lực cũng cần phải nói tới kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, đạo đức và nhân cách của con người
Tiếp cận dưới giác độ phổ quát của Kinh tế Chính trị nhân lực được hiểu là: Tổng hợp thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước
2.1.1.2 Quan niệm về nhân lực chất lượng cao
Từ cách tiếp cận đã nêu: nhân lực nói chung bao gồm một tổng thể các
yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc, vì vậy, khi nói tới nhân lực phải nói tới cơ cấu của lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề; cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ, thể lực và trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của con người, bởi vì trí lực là yếu tố ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển nhân lực và nói đến nhân lực cũng cần phải nói tới kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, đạo đức và nhân cách của con người
Theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, NLCLC là bộ phận
ưu tú nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có sức khỏe tốt (theo độ tuổi); luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đó là những “cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học công nghệ đầu đàn” [32, tr.130]
Theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, phát triển nguồn nhân lực được xác định là khâu đột phá của quá trình chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời là nền tảng phát triển bền vững và gia tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập Theo
Trang 40đó, nhân lực phải có năng lực thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài chính; phải được đào tạo đầy đủ và toàn diện để có khả năng cạnh tranh và tham gia lao động ở nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời có đủ năng lực để tham gia với cộng đồng quốc tế giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu và khu vực
Như vậy, có thể nói, không phải tất cả những người đã qua đào tạo đều đáp ứng các công việc NLCLC không chỉ thể hiện ở tấm bằng, chứng chỉ học vấn, nghề nghiệp mà chủ yếu ở chất lượng văn hóa, trình độ tay nghề, kỹ năng lao động để làm ra các sản phẩm có chất lượng cao
Từ những nhận thức nêu trên, có thể hiểu: NLCLC là bộ phận ưu tú
nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có sức khỏe tốt (theo độ tuổi); luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là những “cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học công nghệ đầu đàn”
Tuy nhiên, xét một cách tổng thể cũng cần hiểu một cách rộng hơn về
quan niệm này, rằng NLCLC là khái niệm chỉ những người lao động cụ thể,
có trình độ lành ngành (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể, theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (cao đẳng, đại học, trên đại học, lao động kỹ thuật lành nghề); có kỹ năng lao động giỏi và khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất kinh doanh; có sức khỏe và phẩm chất tốt; có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả cao