theo hiệp định Giơnevơ, nước ta tạm thời chia cắt làm 2 miền Nam- Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến, khi đó tỉnh Quảng Trị bị chia làm 2: phía Bắc sông Bến Hải là huyện Vỉnh Linh đượ[r]
Trang 1ịch sử
Lịch sử hình thành và phát triển
Đất Quảng Trị xưa thuộc Bộ Việt Thường, nước Văn Lang của ta đời Vua Hùng đây là vùng đất tiếp giáp với nước Lâm Ấp (Chiêm Thành) nên thường xuyên xảy ra chiến tranh và thay đổi chủ Quảng Trị là huyện Tượng Chân đời nhà Tần, Hán rồi thuộc nước Lâm Ấp đời nhà Tấn, rồi được chia thành hai châu Lâm và châu Cảnh đời nhà Đường và vào thời Tống thì thuộc về nước Chiêm Thành Năm 1069, do hay bị quấy nhiễu biên thuỳ nên vua Lý Thánh Tông thân chinh cùng Nguyên soái Lý Thường Kiệt đi đánh và bắt được Vua Chiêm là Chế Cũ (Rudravarman III) Vua Chiêm dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để chuộc tội Hai châu Địa Lý và Bố Chính thuộc tỉnh Quảng Bình Châu Ma Linh được đổi tên thành châu Minh Linh (gồm hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh ngày nay) gồm 65 xã cổ của tỉnh Quảng Trị Quân Chiêm nhiều lần quấy phá nhằm chiếm lại ba châu nói trên nhưng đều bị Lý Thường Kiệt đánh tan
Đổi châu Rí thành Hoá Châu gồm đất Quảng Điền, Hương Trà, Diên Phước, Hoà Vang
Sau chiến thắng giặc Minh nhà Lê chia Thuận Châu thành hai huyện Vũ Xương và Hải lăng thuộc phủ Triệu Phong
Năm 1558, Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) để tránh bị ám hại nên xin với anh
rể là Trịnh Kiểm cùng vua Lê vào trấn thủ đất thuận hoá theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm "Hoàng sơn nhất đái, vạn đại dung thân" Chúa Nguyễn Hoàng đóng dinh đầu tiên ở
xứ Sa Khứ, xã Ái Tử, thuộc huyện Vũ Xương (sau đổi tên thành Đăng xương) ở ven sông Thạch Hãn, mở đầu cho hành trình mở đất về phương Nam
Sau khi lên ngôi hoàng đế tháng 8/1801, vua Gia Long lấy 2 huyện Hải Lăng, Đăng Xương (phủ Triệu Phong), huyện Minh Linh (phủ Quảng Bình) lập ra dinh Quảng Trị, riêng phía tây lập ra đạo Cam Lộ thuộc dinh Quảng Trị Năm 1831, theo sự phân chia của triều đình thì Quảng Trị gồm 2 phủ (Triệu Phong và Cam Lộ); 3 huyện (Hải Lăng, Đăng Xương, Minh Linh) và 10 châu (Hướng Hoá, Nà Bôn, Thượng Kế, Tá Ban, Xương Thịnh, Tân Bôn, Ba Lan, Mường Bồng, Làng Thìn) Năm 1827(Minh Mạng thứ 8) đổi dinh Quảng Trị thành trấn Quảng Trị Đến năm 1831 (Minh Mạng thứ 12) đổi trấn Quảng Trị thành tỉnh Quảng Trị và đạo Cam Lộ thành phủ Cam Lộ Năm
1853, Tự Đức bỏ Quảng Trị thành lập đạo Quảng Trị và sát lập vào phủ Thừa Thiên Năm1876 lại đổi đạo Quảng Trị thành tỉnh Quảng Trị như cũ Ngày 3 tháng 5 năm 1890, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định: hợp 2 tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình thành tỉnh Bình Trị dưới quyền công
sứ Đồng Hới Ngày 23.1.1896, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định: Quảng Trị không thuộc quyền công sứ Đồng Hới mà hợp lại với Thừa Thiên dưới quyền khâm sứ Trung Kỳ (đặt một phó khâm sứ đại diện cho khâm sứ tại Quảng Trị )
Năm 1900, toàn quyền Đông Dương ra Nghị đinh: tách Quảng Trị ra khỏi Thừa Thiên và lập thành một tỉnh riêng biệt Ngày 17.2.1906, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định: thành lập thị xã Quảng Trị Ngày 5.9.1929, phủ toàn quyền Pháp ở Đông Dương ra quyết định thành lập thêm thị
xã Đông Hà
Từ sau cách mạng tháng Tám(1945) đến hoà bình lập lại (1954) về cơ bản tên gọi địa giới của tỉnh không có gì thay đổi Sau năm 1954 theo hiệp định Giơnevơ, nước ta tạm thời chia cắt làm 2 miền Nam- Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến, khi đó tỉnh Quảng Trị bị chia làm 2: phía Bắc sông Bến Hải là huyện Vỉnh Linh được thành lập đặc khu trực thuộc Trung ương, phía Nam sông Bến Hải do chính quyền Mỹ - Nguỵ Sài Gòn quản lý Năm 1973, vùng giải phóng được mở rộng đến sông Thạch Hãn, sau hiệp định Pari, Đông Hà trở thành thị xã tỉnh lỵ mới của tỉnh Quảng Trị vừa giải phóng
Trang 2Tháng 3.1975, QuảngTrị hoàn toàn được giải phóng
Từ tháng 7.1976 đến tháng 6 1989, theo quyết định của Quốc hội của nước CHXHCN Việt Nam, Quảng Trị cùng với Quảng Bình, Thừa Thiên và khu vực Vĩnh Linh thực hiện việc hợp nhất thành lập tỉnh mới là tỉnh Bình Trị Thiên
Tháng 7.1989, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam lại quyết định chia tỉnh Bình Trị Thiên thành
3 tỉnh như trước đây Quảng Trị trở thành đơn vị hành chính cấp tỉnh thuộc Trung ương Hiện nay tỉnh Quảng Trị có 2 thị xã: Đông Hà và Quảng Trị và 7 huyện(Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hoá và Đakrông )
Các đơn vị hành chính cơ sở qua các thời kỳ
Thời kỳ phong kiến: năm 1776 khi Lê Quý Đôn được vào giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ Thuận Hóa, Ông đã viết cuốn Phủ biên tạp lục Căn cứ vào danh hiệu phủ, huyện, tổng thuộc xã, thôn, phường ấp, châu của chú Nguyễn chia đặt ở xứ Thuận Hóa Về số lượng các xã, tổng, phường, thôn ở vùng đồng bằng và trung du Quảng Trị Lê Quý Đôn đã ghi lại như sau:
- Huyện Minh Linh gồm có 5 tổng:
+ Tổng An Xá có 17 xã, 1 thôn, 7 phường
+ Tổng Minh Lương có 21 xã,13 phường
+ Tổng Bái Trời có 20
+ Tổng Thủy Ba có 16 xã,1 thôn, 2 phường
+ Tổng Yên Mĩ có 15 xã, 1 thôn, 12 phường
- Huyện Đăng Xương gồm 5 tổng là:
+ Tổng An Phúc có 17 xã, 1 phường
+ Tổng An Lưu có 23 xã, 2 phường , 2 giáp
+ Tổng An Cư có 22 xã, 8 phường, 5 giáp
+ Tổng An Lạc có 22 xã, 18 phường
- Huyện Hải Lăng gồm 5 tổng là:
+ Tổng Hoa La có 19 xã, 2 phường , 1 thôn
+ Tổng An Thư có 5 xã, 1 thôn
+ Tổng An Dã có 21 xã, 1 phường
+ Tổng Câu Hoan có 16 xã, 2 phường
+ Tổng An Khan có 16 xã, 1 thôn, 2 phường
Đến thời các vua Nguyễn, dinh, đạo rồi tỉnh Quảng Trị chính thức được thành lập, các đơn vị hành chính cơ sở cũng được điều chỉnh lại chặt chẽ hơn
Dưới thời thực dân Pháp xâm lược, về cơ bản hệ thống chính quyền cơ sở ở Quảng Trị vẫn được duy trì như cũ, chỉ thay đổi địa giới, tên gọi một số huyện và thành lập thêm thị xã Đông Hà ngày 05-09-1929 như đã nói ở trên Bấy giờ Quảng Trị có 6 huyện là Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa, Triệu Phong và Hải Lăng
Sau cách mạng tháng 8/1945, tổ chức các đơn vị cơ sở của tỉnh cũng có sự thay đổi như bỏ các cấp phủ, châu và tổng Nhiều xã cũng được đổi tên gọi, phổ biến là lấy theo chữ đầu của huyện Chẳng hạn như: Vĩnh Giang, Cam Hiếu, Hướng Lập, Gio Hải, Triệu Tài, hải Thọ Cấp xã được
mở rộng với phạm vi không gian lớn hơn so với các làng xã trước đây Đặc biệt là vào những năm
1949 - 1950, do yêu cầu của việc tập trung chỉ đạo kháng chiến, nên nhiều xã vừa và nhỏ được sát nhập với nhau thành những xã mới lớn hơn
Sau 1954, dưới thời Ngô Đình Diệm, các xã của Quảng Trị từ vĩ tuyến 17 trở vào lại có sự xáo trộn, thay đổi thêm một lần nữa Nhìn chung, những xã lớn hình thành trong kháng chiến chống Pháp được phân thành các xã nhỏ hơn nhưng không hoàn toàn đồng nhất với các làng xã vốn có
từ thời phong kiến Và, cùng với sự thay đổi về cương vực địa giới thì tên gọi của các xã phần lớn
Trang 3cũng thay đổi theo.
Đến nay, Quảng Trị có 7 huyện, 2 thị xã với tổng số 136 xã, phường, thị trấn Cụ thể là:
- Thị xã Đông hà: có 7 phường và 2 xã
- Thị xã Quảng Trị có 2 phường
- Huyện Vĩnh Linh có 20 xã và 2 thị trấn
- Huyện Gio Linh có 19 xã, 1 thị trấn
- Huyện Cam Lộ có 8 xã, 1 thị trấn
- Huyện Triệu Phong có 18 xã, 1 thị trấn
- Huyện Hải Lăng có 20 xã, 1 thị trấn
- Huyện hướng Hóa có 19 xã, 2 thị trấn
- Huyện Đakrông có 13 xã
(Theo Địa chí Quảng Trị)
Những người ở Quảng trị đổ trong các khoa thi chọn nhân tài thời Nguyễn
Thi Hương là một điển chế rất quan trọng của các triều đình phong kiến, người đậu khoa thi Hương (thời Nguyễn gọi là Cử nhân) có vai trò đặc biệt trong đời sống chính trị và văn hoá của đất nước
Triều Nguyễn với hơn lOO năn khoa cử đã tổ chức được 47 khoa thi (gồm cả chính khoa và ân khoa), lấy được 5.232 Cử nhân Trong số đó, từ khoa thi thứ tư đến khoa cuối cùng, khoa nào cũng có người Quảng Trị thi đỗ (đại đa số ở trường Thừa Thiên cùng thi chung với Quảng Bình, Thừa Thiên, Quảng Nam) Có nhiều gia đình gồm nhiều đời thi đậu, có cả thủ khoa, á nguyên, đại khoa Cử nhân Quảng Trị có nhiều người làm quan to, từ án sát trở lên, có những người là nhà trước thuật, nhà ngoại giao, nhà yêu nước hoặc những nhân vật lịch sử đáng chú ý Họ là đội ngũ trí thức lớn, đại diện cho tầng lớp Nho sĩ Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Bài viết này chỉ xin thống kê danh sách với ''lý lịch trích ngang'' trong khuôn khổ hạn định (Con
số trong ngoặc ghi thứ tự thi đậu của từng người)
- Ân khoa năm Tân Tỵ (Minh Mạng thứ 2) lấy 25 người Đây là khoa thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn và là khoa đầu tiên đất Quảng Trị có người thi đậu chánh bảng Đó là Nguyễn Thừa Giảng (20) người Đăng Xương, và Nguyễn Hữu Gia (22) người Hải Lăng, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hộ
- Khoa Mậu Tý (Minh Mạng thứ 9) lấy 13 người Quảng Trị có Ông Nguyễn Đức Hoan (3) người Hải Lăng, ông này đến khoa Ất Mùi 1835 lại đỗ Tiến sĩ làm quan đến
Tuần phủ Khánh Hoà
- Khoa Tân Mão (Minh Mạng thứ 12) lấy 12 người, Quảng Trị có Lê Khánh (2) người Minh Tinh, làm quan đến Bố chánh Gia Định
- Khoa Giáp Ngọ (Minh Mạng thứ 15) lấy 31 người, Quảng Trị có 5 người là:
+ Nguyễn Hữu Hàng đổi là Huyên (5) làm quan đến chức Lang trung, sung Phó sứ sang nhà Thanh
+ Nguyễn Văn Sỹ (15) người Hải Lăng
+ Nguyễn Đức Thành (7); Nguyễn Thế Trị (31) người Đăng Xương, làm đến chức Án sát + Nguyễn Xuân Bảng (8) người Minh Linh, sau đỗ Phó bảng làm Thừa Thiên Phủ Doãn
- Khoa Đinh Dậu 1837, lấy 32 người, Quảng Trị có: Lê Đức (4) sau đậu Tiến sĩ, làm đến Tuần phủ An Giang, Trần Nguyên Phường (20) người Minh Linh; Thái Viết Điển (15), Phạm Văn Trị (23), Lê Văn Nhượng (26) Người Đăng Xương
- Ân khoa Tân Sửu (Thiệu Trị thứ l), lấy 40 người, Quảng Trị có Phạm Quang Cư (13) Lê Văn Chấn (14) Lê Huy (15) Lê Hữu Bằng (26) sau đổi là Thường, làm đến Thượng thư Bộ Công đều
Trang 4người Đăng Xương Nguyễn Doãn Nguyên (17) người Minh Linh.
- Ân khoa Nhâm Dần (Thiệu Trị thứ 2) lấy 38 người, Quảng Trị có Trần Đình Túc (6) làm đến Tổng đốc Hà Ninh Nguyễn Thế Nho (9) người Địa Linh Nguyễn Đức Tân (18) người Minh Linh, Trần Thế Vinh (27) người Đăng Xương, làm đến Bố chánh Quảng Bình, Nguyễn Văn Trị (36) người Hải Lăng làm đến Thị lang Bộ Hình
- Ân khoa Quý Mão (Thiệu Trị thứ 3) lấy 39 người, Quảng Trị có Phan Văn Hoan (10), Lê Trịnh Huyên (17), Trần Văn Tảo (27), Lý Thế Khuông (32) người Đăng Xương, Nguyễn Văn Bính (12), Trần Đình Côn (25) người Minh Linh, Nguyễn Văn Khiêm (15) người Địa Linh làm đến Dinh điền sứ, Nguyễn Đức Tư (21) người Hải Lăng, sau thi đậu Tiến sĩ
- Khoa Bính Ngọ (Thiệu Trị thứ 5) vì nhân ''Tứ tuần đại Khánh'', lấy tăng số người đậu lên 46 người Quảng Trị có 6 người: Nguyễn Văn Hiển (10), nhà có ba anh em thi đậu năm sau đậu tới Hoàng Giáp, Nguyễn Quang Huy (13), Lê Đường Lâm (46) người Hải Lăng, Trần Văn Gia (12) người Minh Hương, Lê Văn Soạn (18) người Minh Linh và Trần Kim Khanh (22) tức là Trần Thọ Bành người Địa Linh
- Ân khoa Tân Mùi (Thiệu Trị thứ 7), lấy đậu 46 người, Quảng Trị có: Nguyễn Văn Điều (5) làm đến Tuần phủ Ninh Bình, Nguyễn Đình Chiều (7) làm đến Tuần phủ Quảng Nam; Nguyễn Văn Cơ (26) người Đăng Xương, Lê Thanh Bạch (16), Hoàng Văn Giản (25) làm tới án sát Lạng Sơn, Nguyễn Tăng Doãn (28) làm tới Thượng thư Bộ Lại sung Chánh sứ sang Pháp Phạm Ngọc Huy (33) làm đến Thừa Thiên phủ Doãn, người Hải Lăng
- Ân khoa Mậu Thân (Tự Đức thứ l) lấy đậu 52 người, Quảng Trị có: Lê Đình Dao (ll) sau đậu Phó bảng làm tới Lang trung, Võ Tử Văn (23) sau đậu Phó bảng làm Tỏan
tu Sử quán; Hoàng Văn Hoài (35), Nguyễn Linh (36), Nguyễn Hữu Điềm (47) cha con ông cháu đều thi đậu, người Đăng Xương; Trần Xuân Hoà (42) người Hải Lăng, sau chống Pháp bị bắt và tuẫn tiết ở Nam Bộ
- Khoa Canh Tuất (Tự Đức thứ 3), lấy đậu 48 người, Quảng Trị có: Hoàng Đức Nhượng (9) người Minh Linh; Nguyễn Văn Tường (20) làm đến Quận công, Phan Đắc Kiệt (23) làm Sơn phòng sứ, Nguyễn Khắc Lý (25) làm Sơn phòng sứ, Lại Thiên Chuẩn (35), Cao Đặng Dụng tức Toại (36) Lê Bá Nghị (4l) đều là người Đăng Xương
- Khoa Nhâm Tý (Tự Đức thứ 5), lấy đậu 22 người, Quảng Trị có: Lê Ngọc Uyển (5) người Minh Linh, Hoàng Hữu Xứng (9), cha con anh em cùng thi đậu, làm đến Thượng Thư, Nguyễn Đức Giản (17) người Hải Lăng
- Khoa Mậu Ngọ (Tự Đức thứ ll), lấy đậu 22 người, Quảng Trị có: Nguyễn Văn Nghị (4) người Minh Linh, Nguyễn Đức Đinh (18) người Hải Lăng, Phan Đăng Thành người Đăng Xương - Khoa Tân Dậu (Tự Đức thứ 14), lấy đậu 30 người, Quảng Trị có: Cao Duy Hiển (2) người Minh Linh
- Khoa Giáp Tý (Tự Đức thứ 17), lấy đậu 28 người, Quảng Trị có Phạm Hoài Cẩn (6) người Đăng Xương
- Khoa Đinh Mão (Tự Đức thứ 20), lấy đậu 32 người, Quảng Trị có: Lâm Chuẩn tức Hoành (2) người Gio Linh sau đậu Phó bảng từng sung Phó sứ sang nhà Thanh, làm đến Tham Tri, Trấn thủ Thuận An và hy sinh với Trần Thúc Nhẫn, Nguyễn Văn Huy (32) cũng người Gio Linh và Trần Viết Thọ (3) người Đăng Xương sau đậu Phó bảng làm đến Đốc học
- Ân khoa Mậu Thìn (Tự Đức thứ 21), lấy đậu 31 người, Quảng Trị có 4 người, đều quê Đăng Xương: Nguyễn lượng (8), Lê Thuỵ (25) sau đậu Tiến sĩ làm đến Thị lang, Hồ Ngọc Hào (27) và Trần Huyên (31) anh em cùng thi đậu
- Khoa Canh Ngọ (Tự Đức thứ 23), lấy đậu 29 người, Quảng Trị có: Lê Đăng Trinh (Thủ khoa), sau đậu Phó bầng làm Tham tri Bộ Hộ, Nguyễn Giản (9) làm Bố chánh Quảng Ngãi; Đoàn Như Bích (ll) người Đăng Xương, Dương Thuỵ (3); Phạm Duy Tân (17) người Hải Lăng; Lê Văn Hành (6) người Gio Linh
Trang 5- Khoa Quý Dậu (Tự Đức thứ 26), lấy đậu 25 người, Quảng Trị có 4 người: Trần Đức Mẫn (2), Trương Thiện Thuật (6) người xã Phù Lưu; Lê Sâm (5) người xã Tường Hương làm đến Sơn phòng sứ; Nguyễn Tăng ý (15) người xã Câu Nhi, cha con cùng thị đậu
- Khoa Bính Tý (Tự Đức thứ 27), lấy đậu 30 người, Quảng Trị có: Trần Phát (Thủ khoa) người Xuân Mỵ, sau đậu Tiến Sĩ, Nguyên Chất (4) người Thạch Hãn, làm Bố chánh Phú Yên, Trần Đăng Tố (5) người Cam Lộ; Trần Xán (7) người Đăng Xương; Trương Đức Uẩn (21) người Thành Hoá; Nguyễn Tôn Nhượng (28) người Đăng Xương
- Ân khoa Mậu Dần (Tự Đức thứ 31), lấy đậu 32 người, Quảng Trị có 7 người: Nguyễn Văn Định (Thủ khoa), Phạm Quang Hựu (12) cha con cùng thi đậu; Nguyễn Văn Nhự (13), Nguyễn Văn Xán (24) người Đăng Xương, TRần Văn Vịnh (21), Nguyễn TRừng (24) người Hải Lăng, Nguyễn Tự Như (25) người Gio Linh sau đậu tiến sĩ, khởi nghĩa Cần Vương
- Khoa Kỷ Mão (Tự Đức thứ 32) lấy 27 người, Quảng Trị có 4, đều là người Đăng Xương: Nguyễn Đăng Đạo (2) Hoàng Hữu Tiếp (3) cha con chú cháu đều thi đậu, sau đậu Đình Nguyên Hoàng Giáp, Hồ Đệ (15) làm đến Thị Lang Bộ Lễ; Lê Hữu Tích (18) cha con cùng thi đậu
- Khoa Nhâm Ngọ (Tự Đức thứ 35), lấy 31 người; Quảng Trị có: Nguyễn Sĩ Bình (Thủ khoa) người An Cư; Nguyễn Đình Chiểu (3) người Vũ Kim; Ngô Quang Khuê (5) người Phú Xuân; Nguyễn Hựu đổi là Hách (21) người Kim Long; Lê Đình Tuân (23) người Bồ Bản, cha con cùng thi đậu, Lê Vĩ (27) người Tường Vân, Trần Vũ (30) người Dã Độ
- Ân khoa Giáp Thân (Kiến Phúc thứ 1), lấy đậu 31 người, Quảng Trị có Nguyễn Tu người huyện Thành Hóa
- Khoa Đinh Hợi (Đồng Khánh thứ 2) lấy 29 người, Quảng Trị có 5 người: Hồ Phác cha con cùng thi đậu, TRần Lý Dư (10) người Thuận Xương; Lê Giá (16) và Nguyễn Duy (24) người Hải Lăng; Lâm Tuấn Kiệt (28) người Gio Linh
- Khoa Mậu Tý (Đồng Khánh thứ 3), lấy 40 người, Quảng Trị có: Nguyễn Xuyết (Thủ khoa), Lê Toại (25), Lê Văn Nhiếp (26), Nguyễn Hữu Quang (27) và Nguyễn Hữu Phu (40) là người thuộc dòng dõi nhiều đời thi đậu
- Khoa Tân Mão (Thành Thái thứ 3), lấy 27 người, Quảng Trị có: Nguyễn Huy Cẩn (11) người
xá Tân Tường; Nguyễn Di (20) người xã AN Thư; Lê Văn Hiển (21) người xã Bác Vọng; Trịnh
Vĩ (21) người xã Trà Liên và Hoàng Hữu Bình (26) người Bích Khê
- Khoa Giáp Ngọ thành Thái thứ 6), lấy 33 người, Quảng Trị có 5 người: Thái Uông (8) người Thành Hoá: Nguyễn Khắc Trung (21), Nguyễn Xuân Phức (22) người Hải Làng; Lê Thuỵ Vân (26) người Gio Linh; Hoàng Hữu Khoản (24) người Thuận Xương, cha con, anh em, chú cháu đều thi đậu
- Khoa Đinh Dậu (Thành Thái thứ 9) lấy 30 người, Quảng Trị có 5 người: Nguyễn Xuân Tặng (4), Nguyễn Văn Đinh (25) người Thuận Xương; Hồ Hoá (lO) người Hải Lăng, Đào Như Bích (ll) người Thành Hoá, Vũ Doãn Văn (30) người Gio Linh
- Khoa Canh Tý (Thành Thái thứ 12) vua gia ân lấy 40 người Quảng Trị có 3 người: Cao Hoẵng (8), Nguyễn Kỳ (23) cha con cùng thi đậu và Lê Mạnh Ôn (27) đều là người Thuận
Xương
- Khoa Quý Mão (Thành Thái thứ 15) lấy 31 người, Quảng Trị có: Hoàng Hữu Quý (4) là con Hoàng Hữu Xứng, nhiều đời thi đậu, Lê Cảnh (ll) người Thuận Xương và Hoàng Văn Khải (16) người Hải Đăng
- Khoa Bính Ngọ (Thành Thái thứ 18) nhân mừng thọ Hoàng Thái hậu vua gia ân định lấy 42 người nhưng chỉ lấy được 35 người, Quảng Trị có 7 người: Phan Triệu Khanh (3) cha con cùng thi đậu, Nguyễn Hàm (8) nhiều đời thi đậu sau đậu Tiến sĩ, người Thuận Xương: Hồ Trọng Bá (lO) người Thành Hoá Nguyễn Đức Đàm (14) Hồ Tiêu Viên (23), Nguyễn Đức Tộc (34) người Hải Lăng và Trần Doãn Trai (30) người Gio Linh
- Khoa Ky Dàu (Duy Tân thứ 3) lấy 32 người, Quảng Trị có 5 người, đều là người Thuận
Trang 6Xương: Lê Công Thứ (8), Nguyễn Văn Hiệu (lO), Nguyễn Văn Tài (ll), Đỗ Văn Dao (16) và Hoàng Hữu Đảng (24)
- Khoa Nhâm Tý (Duy Tân thứ 6), lấy 32 người, Quảng Trị có 3 người, đều là người Thuận Xương: Nguyễn Hữu Tựu (19) nhiều đời thi đậu, Nguyễn Tuy (21), Đỗ Văn Kiêm (29)
- Khoa ất Mão (Duy Tân thứ 9), lấy 32 người, Quảng Trị có 3 người: Lê Nguyên Lượng (2) người Gio Linh; Lê Châm (15) ông cháu cùng thi đậu; Hoàng Hữu Kiệt (22) người Thuận Xương - Khoa Mậu Ngọ (Khải Định thứ 3) là khoa cuối cùng, có thi cả toán pháp, địa lý và dịch tiếng Pháp, lấy 22 người Quảng Trị có 3 người: Nguyễn Văn Phòng (lO), Nguyễn Xuân Luyện (17) người Thuận Xương, Lê Phố (16) người Gio Linh, cha con anh em cùng thi đâu Ngoài ra, khoa này còn có Lê Văn Khôi người Hải Lăng, thi nhờ trường Bình Định cũng đậu Cử nhân
(Theo Dòng chảy văn hóa và người Quảng Trị)