Hiện nay, ở Việt Nam, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được xem là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng – những vấn đề
Trang 1A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng trong việc hình thành và giáo dục nhân cách Hôn nhân là mối quan hệ đặc biệt trong quan hệ gia đình Hiện nay, ở Việt Nam, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được xem là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện trong
xã hội dân chủ, nam nữ bình quyền, xã hội dân chủ xuất hiện từ thời kỳ cận đại Trong khuôn khổ của bài tiểu luận, tôi xin trình bày lịch sử hình thành, phát triển và thực trạng áp dụng của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
1. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng – những vấn đề lý luận
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc
cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 Vậy nguyên tắc
cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình là gì? Đó là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo, quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình Các nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000 được quy định tại điều 2 của luật này Trong đó, tại khoản 1 điều 2 quy
định “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”
Chế độ trọng nam khinh nữ, bất bình đẳng giới, coi khinh giá trị của người phụ nữ của xã hội phong kiến đã bị xoá bỏ để xây dựng một xã hội tiến
Trang 2bộ, công bằng trên nền tảng của một gia đình bình đẳng, một hôn nhân bình đẳng Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được xây dựng trên nền tảng hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, nam nữ bình quyền
“Vì bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ được… cho nên hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu do ngay bản chất của nó là hôn nhân một vợ một chồng” (theo Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước) Bởi lẽ đó, xét về bản chất, hôn nhân tự nguyện trên cơ sở tình yêu nam
nữ là hôn nhân một vợ một chồng Hay nói cách khác, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một công cụ để bảo vệ tình yêu cũng như bảo vệ hạnh phúc gia đình
Chế độ một vợ một chồng ngày nay khác với chế độ một vợ một chồng
cổ điển, lúc mà nó vừa mới ra đời và tồn tại trong các chế độ xã hội có giai cấp đối kháng Trong buổi đầu của việc hình thành chế độ một vợ một chồng
mà nguyên do là từ mục đích kinh tế, khi người đàn ông muốn chắc chắn người con do người phụ nữ sinh ra là con của mình, để được hưởng thừa kế
do mình để lại, đây thực chất là duy trì chế độ tư hữu bóc lột Còn chế độ một
vợ một chồng trong xã hội xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ tình yêu và lấy tình yêu chân chính làm cơ sở với mục tiêu xây dựng một gia đình hạnh phúc, dân chủ, bền vững
Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, tại khoản 2 điều này quy định:
“ Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi.
Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.
Trang 3Mục 1 điểm c.1 Nghị quyết số 02/2002/NQ – HĐTP thì “người đang
có vợ có chồng” được hiểu là :
Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa li hôn
Người đang chung sống với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng
kí kết hôn
Người chung sống với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống như vợ chồng mà
có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng kí kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày nghị quyết này có hiệu lực cho đến 01/01/2003)
Theo pháp luật Việt Nam, chỉ có những người chưa kết hôn hoặc những người tuy đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng đã chết hoặc hai người đã li hôn thì mới có quyền kết hôn với người khác Quy định cấm những người đang có
vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhằm xóa bỏ tận gốc chế độ đa thê phong kiến đảm bảo hạn phúc và sự bền vững gia đình
2. Lịch sử hình thành nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
2.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
2.1.1 Hôn nhân (gia đình) gia đình đối ngẫu
Gia đình đối ngẫu được hiểu là một hình thức kết hôn theo từng cặp nhất định, trong thời gian ngắn hoặc dài, đã tồn tại trong chế độ quần hôn,
Trang 4hoặc còn sớm hơn nữa; khi đó, người đàn ông có một vợ chính (nhưng chưa thể nói đó là vợ yêu nhất) trong số rất nhiều vợ của mình; và đối với người vợ chính đó, thì anh ta là người chồng chính trong số nhiều người chồng
Việc kết hôn từng cặp đó hẳn là đã ngày càng lớn mạnh và vững chắc;
khi mà thị tộc ngày càng phát triển, các nhóm “anh em trai” và “chị em gái”
không thể lấy nhau ngày càng nhiều Sự thúc đẩy việc cấm hôn nhân giữa những người cùng huyết tộc, do thị tộc đặt ra, ngày càng mạnh hơn Những người có thể có quan hệ hôn nhân ngày càng được thu hẹp lại, từ chỗ anh chị
em trai và chị em gái, bấy giờ đã loại trừ cả anh em, chị em họ hàng ở hàng chú bác, cháu chắt và những người họ hàng xa khác Những điều cấm ngày càng phức tạp hơn, điều đó tất yếu dẫn đến sự bất khả thi của chế độ quần hôn Chính từ cơ sở đó đã hình thành nên gia đình đối ngẫu
Sự xuất hiện của gia đình đối ngẫu, được xem là công của người đàn bà chứ không phải của người đàn ông bởi lẽ, với sự phát triển của xã hội, người phụ nữ muốn được phuộc về một người đàn Nhờ sự phát triển của các điều kiện kinh tế - do đó mà chế độ cộng sản cổ xưa bị tan rã - và sự tăng mật độ dân số, nên các quan hệ tính giao cổ truyền ngày càng mất đi tính tự nhiên nguyên thủy của nó; bởi thế phụ nữ cảm thấy nó càng ngày càng nặng nề và nhục nhã; họ ngày càng mong muốn được thủ tiết, tức là chỉ kết hôn - nhất
thời hay lâu dài - với một người đàn ông duy nhất Theo Ăngghen: “Bước tiến này không thể nào do đàn ông thực hiện, vì tới tận ngày nay, họ vẫn không muốn từ bỏ cái thú vị của chế độ quần hôn thực sự.”
Song, hôn nhân theo hình thức này không thể bền vững được, nó dễ bị người vợ hoặc người chồng phá vỡ
2.1.2 Hôn nhân một vợ một chồng
Ta có thể khẳng định rằng, hôn nhân đối ngẫu không phải là hôn nhân một vợ một chồng, nhưng hôn nhân một vợ một chồng lại nảy sinh chính
Trang 5trong hôn nhân đối ngẫu gia đình cá thế (một vợ một chồng) khác gia đình đối ngẫu ở chỗ quan hệ vợ chồng đã chặt chẽ hơn rất nhiều, hai bên không thể tùy ý bỏ nhau nữa
Ăng ghen đã chỉ rõ, bước chuyển từ hôn nhân đối ngẫu sang hôn nhân một vợ một chồng khớp với giai đoạn mà mức phân hoá lao động cao nhất, khi mà hiệu suất lao động phát triển tới mức có của cải dư thừa, những của cải dư thừa ấy bị gia đình đối ngẫu chiếm lấy Đây là cơ sở đầu tiên hình thành tư hữu, nhờ sự chiếm hữu này mà gia đình đối ngẫu đã có những sự thay đổi căn bản, không còn là một phần tử của thị tộc nữa, nó tách khỏi thị tộc như một đơn vị kinh tế độc lập
Bản nguyên của gia đình đối ngẫu tuyệt nhiên không phải là kết quả của tình yêu nam nữ, nó cũng không dựa trên cơ sở một tình yêu chân chính Hôn nhân vẫn mang tính vụ lợi Nó cũng là hình thức gia đình đầu tiên dựa trên cơ sở các điều kiện kinh tế(chứ không phải các điều kiện tự nhiên) Theo
Ăng ghen, tình yêu giữa nam và nữ là “bước tiến đạo đức lớn nhất đã có thể pahts triển được từ chế độ một vợ một chồng – trong lòng chế độ ấy, song song với chế độ ấy hay ngược lại với chế độ ấy, tuỳ theo từng trường hợp – bước tiến mà chúng ta có được là nhờ chế độ đó… mà toàn bộ thế giới trước kia chưa hề biết tới (nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước) Tình yêu đó đã xuất hiện và phát triển một cách đối lập với gia đình, ngoài phạm vi gia đình và phá hoại hôn nhân, bởi vì đó không phải là tình yêu giữa vợ và chồng”.
Pháp luật của nhà nước tư sản cũng quy định hôn nhân theo nguyên tắc một vợ một chồng nhưng trên thực tế nguyên tắc này đã bị phá vỡ do nạn
ngoài tình và mại dâm công khai Do đó xét về bản chất “hôn nhân của giai cấp tư sản là chế độ cộng thê”
Trang 6Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một sự thay đổi sâu sắc và toàn diện.
Nó không những xoá bỏ tát cả những hình thức tư hữu đối với tư liệu sản xuất
mà còn cả những quan hệ do chế độ tư hữu đẻ ra và dựa vào chế độ tư hữu đó Chỉ có lúc đó thì hôn nhân mới dựa trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ Và
chỉ ở dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân mới thực sự là “một vợ một chồng theo nghĩa giữ nguyên, chứ tuyệt nhiên không phải là theo nghĩa lịch
sử của danh từ đó”.
2.2 Hình thành nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở VN
2.2.1 Pháp luật hôn nhân và gia đình trước cách mạng tháng tám
Thời kỳ phong kiến
Trong thời kỳ phong kiến, đã có nhiều văn bản luật được ban hành, nhưng tiêu biểu nhất cho văn bản luật của thời kỳ phong kiến ở Việt Nam có thể nêu ra đó là Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) Trong cả hai bộ luật này đều đã có đề cập đến vấn đề hôn nhân và gia đình Song cả Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ đều không đưa nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình đương thời Hôn nhân và gia đình trong thời kỳ bộc
lộ rõ sự bất công, bất bình đẳng, phân biệt đối xử giữa nam và nữ, giữa người
vợ và người chồng
Trong Quốc triều hình luật, sự bất bình đẳng ấy được thể hiện thông
qua quan điểm “chồng chúa vợ tôi” Pháp luật quy định, người chồng có thể
lấy nhiều người phụ nữ làm vợ, nhưng người phụ nữ chỉ có thể có duy nhất
một người chồng – trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng.
Trong Hoàng Việt luật lệ thì vấn đề hôn nhân và gia đình không được quan tâm đúng mức, không có phần quy định riêng, các điều luật về hôn nhân
và gia đình được quy định rải rác, tuy nhiên, suy cho cùng, thì có thể nhận
Trang 7thấy chủ chương của bộ luật này vẫn là tôn vinh vị trí vai trò của người đàn ông trong gia đình mà hạ thấp, xem nhẹ vị trí của người phụ nữ
Thời Pháp thuộc
Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thay đổi hoàn toàn các văn bản luật đương thời (Hoàng Việt luật lệ) bằng một hệ thống văn bản mới Xét
về quan hệ hôn nhân và gia đình, thì đã có sự thay đổi đáng kể, một mặt theo
xu hướng Âu hoá, mặt khác vẫn còn cố duy trì những phong tục tập quán của Việt Nam Trong thời kỳ này, thực dân Pháp chia nước ta làm ba miền và mỗi miền lại có một bộ dân luật riêng để điều chỉnh Ở Bắc Kỳ là bộ Dân luật Bắc
Kỳ 1931, ở Trung Kỳ là bộ Dân luật Trung Kỳ 1936 còn ở Nam kỳ là bộ Dân luật giản yếu 1883 Cả ba bộ dân luật đều thừa nhận tình trạng bất bình đẳng trong gia đình, quy định nhiều nghĩa vụ của người phụ nữ như nghĩa vụ phải thuỷ chung với chồng mà không hề có quy định tương tự đối với người chồng
2.2.2 Pháp luật hôn nhân và gia đình thời kỳ cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân (1945 – 1954)
Sắc lệnh 97-SL ngày 22/5/1950 được xem là văn bản pháp luật về gia đình đầu tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là bước đi tiên phong trong quá trình xây dựng và hoàn thiện mô hình gia đình mới Sắc lệnh với 15 điều trong đó có 8 điều quy đình về hôn nhân và gia đình tuy chưa đầy đủ và hoàn thiện, nhưng đã làm bật lên nguyên tắc bình đẳng nam nữ trong hôn nhân Sắc lệnh này cũng chưa nói tới nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, nhưng nguyên tắc bình đẳng nam nữ trong hôn nhân có thể xem là tiền đề, là bước tạo đà dể đưa nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng lên thành nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình Việt Nam trong các văn bản luật tiếp sau
Trang 82.2.3 Luật hôn nhân gia đình 1959, 1986, 2000
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1959 là luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, là công cụ pháp lý của nhà nước ta được xây dựng và thực hiện với hai nhiệm vụ cơ bản là: xoá
bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân gia đình phong kiến lạc hậu, xây dựng
chế độ hôn nhân gia đinh mới xã hội chủ nghĩa “hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ”.
Chế độ đa thê - một trong những đăng trưng cơ bản nhất của chế độ hôn nhân lạc hậu chính thức bị đặt ra ngoài vòng pháp luật Từ đây nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng chính thức trở thành nguyên tắc cơ bản nhất của hôn nhân ở Việt Nam, nó cũng được quy định tại luật hôn nhân gia đình 1986, 2000
Điều 1 LHNGĐ 1959 quy định: “Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy
đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ, một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ”.
3. Thực trạng áp dụng nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
ở Việt Nam
Tuy đã được quy định rõ ràng trong pháp luật, Điều 64 Hiến pháp 1992, đoạn 1 điều 39 Bộ luật dân sự 2005, điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình và được pháp luật hình sự quy định hình phạt với tội vi phạm chế độ một vợ một chồng (điều 147) song trên thực tế vẫn không ít trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Việc vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng do rất nhiều nguyên nhân khác nhau
Trang 9Đó là do sự thiếu hiểu biết về pháp luật hôn nhân và gia đình, ý thức thiếu tôn trọng pháp luật của người dân Không ít những vùng miền, chủ yếu
là những vùng hẻo lánh, xa trung tâm, hiện tượng một người đàn ông lấy nhiều vợ diễn ra không ít Ở một số dân tộc, người trưởng bản, già làng có thể lấy nhiều vợ Tuy nhiên, đó lại là phong tục tập quán của một số dân tộc Bởi vậy, việc dùng pháp luật để điểu chỉnh là rất khó khăn Có thể kể tới
trường hợp “làng hai vợ” ở vùng cao Đông Giang (Quảng Nam) Đó là một
bản làng của dân tộc Cơ tu - ở đây, đàn ông có truyền thống… lấy hai vợ Truyền thống lấy hai vợ ở bản làng này đã tồn tại lâu dài và đang có xu
hướng ngày một tăng Bà con trong bản kể lại, có một gia đình có “truyền thống” ba đời lấy hai vợ Đó là gia đình của ông Alăng Th – trưởng thôn, và
đến ông Alăng Th cũng lấy vợ bé mặc dù ông vốn nổi tiếng là một trưởng thôn gương mẫu Cô vợ bé của trưởng thôn Alăng Th cũng là một người trong thôn, chấp nhận làm vợ lẽ ông Th khi ông đã có hai mặt con với người
vợ đầu (?!)
Đó là do tâm lý cổ hủ, muốn có con trai để nối dõi tông đường Quan
niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” tưởng như đã lùi vào dĩ vãng cùng
với chế độ phong kiến, nhưng dường như nó vẫn còn hiện hữu trong đời sống
xã hội hiện đại khi mà nếu không có con, cháu trai nối dõi vẫn bị xem là tuyệt
tự vì khi bố mẹ hoặc ông bà chết đi sẽ không có người và nơi thờ cúng Vì thế, nhiều gia đình hiện nay vẫn phải cố đẻ cho được con trai hoặc tìm mọi cách để có một mụn con trai nối dõi tông đường Bi kịch mà trong gia đình,
người vợ mình “không biết đẻ” cố gắng mấy cũng là hai cô “vịt trời” đã
diễn ra dưới rất nhiều mái nhà, dẫn tới người chồng, người cha trong gia đình ngoại tình, chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác Bi kịch này đặc biệt diễn ra trong các gia đình giàu có hay có quyền thế, địa vị xã hội thì mong muốn có đứa cháu trai nối dõi lại càng lớn hơn
Trang 10Đó là do sự quản lý của pháp luật đối với chế độ hôn nhân một vợ một chồng còn lỏng lẻo Minh chứng rằng, gái mại dâm vẫn mặc nhiên tồn tại, núp dưới rất nhiều chiêu bài như cắt tóc, gội đầu, tầm quất, thư giãn, cà phê, tiếp viên nhà hàng, tour du lịch Các nhà nghỉ mọc lên như nấm trên khắp mọi nơi, từ thành phố đến nông thôn, từ miền núi đến hải đảo, ai ai cũng biết, nhà nghỉ chỉ duy nhất phục vụ nhu cầu tình dục của các đôi lứa, thế thì tại sao
nó vẫn được kinh doanh? Trong khi giới phụ nữ đang đấu tranh mạnh mẽ cho chế độ tình dục thủy chung? Mặt khác nữa, ngay trong việc xử lý hành vi quan hệ tình dục ngoài luồng trong hệ thống công quyền chưa nghiêm minh, thậm chí việc sếp có em út được xem như là thức thời, là phong độ (?!) Ví dụ sau đây có thể xem là khá tiêu biểu đối với xã hội hiện nay: Nguyễn văn Đ sinh năm 1983 và Huỳnh Thị K A sinh năm 1985 tổ chức đám cưới ngày 12/9/2009 và sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn do Nguyễn Văn Đ chưa ly hôn với vợ cũ Ngày 23/6/2008 Nguyễn Văn Đ và Huỳnh Thị K A đã
bị UBND xã M xử phạt hành chính mỗi người là 200.000 đồng chấm dứt hôn nhân trái pháp luật nhưng cho đến nay Nguyễn Văn Đ và Huỳnh Thị K A vẫn duy trì quan hệ đó Có thể nói, mức phạt hành chính 200.000 đồng đối với mỗi người là một mức phạt quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe Bởi vậy mới dẫn tới tình trạng Nguyễn Văn Đ và Huỳnh Thị K A vẫn tiếp tục quan hệ trái pháp luật này Đây cũng thể hiện ý thức thiếu tôn trọng pháp luật của các đương sự
2 Hoàn thiện hơn những quy định của Luật hôn nhân và gia đình
về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Thứ nhất, cần có biện pháp tuyên truyền luật pháp nói chung và luật
pháp về hôn nhân và gia đình – nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nói riêng Chính do sự thiếu hiểu biết về pháp luật, không có điều kiện tiếp xúc nhiều với phương tiện truyền thông và các thông tin về hôn nhân gia đình, kế