1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sinh viên trong thời đại xã hội thông tin

54 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sinh viên Báo chí Trong Thời Đại Xã Hội Thông Tin
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Báo chí
Thể loại Đề tài khoa học
Năm xuất bản 2017
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 645,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU11. Tính cấp thiết của đề tài12. Mục tiêu của đề tài13. Phương pháp nghiên cứu đề tài2CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÃ HỘI THÔNG TIN31.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài ở trong và ngoài nước31.1.1. Ngoài nước31.1.2. Trong nước41.2. Cơ sở lý luận của xã hội thông tin51.2.1. Sự ra đời và phát triển của xã hội thông tin51.2.2. Lý thuyết nền tảng về xã hội thông tin111.3. Cơ sở thực tiễn của xã hội thông tin141.3.1. Bản chất xã hội thông tin141.3.2. Những tiêu chuẩn cơ bản của lao động trí thức thời đại xã hội thông tin18CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SINH VIÊN NGÀNH BÁO CHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRONG THỜI ĐẠI XÃ HỘI THÔNG TIN222.1. Giới thiệu đối tượng nghiên cứu222.1.1. Ngành Báo chí Trường Đại học Vinh222.1.2. Đặc điểm nhóm đối tượng khảo sát242.2. Thói quen, nhận thức, hành vi của sinh viên ngành Báo chí Trường đại học Vinh trong thời đại xã hội thông tin252.2.1. Vấn đề chung khi sử dụng Internet252.2.2: Giao tiếp trực tuyến292.2.3. Ứng dụng thiết bị và công nghệ342.2.4. Vấn đề sử dụng Mạng xã hội372.2.5. Ứng xử với thông tin và bản quyền43CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA SINH VIÊN BÁO CHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH45KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ49MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiXã hội thông tin ra đời dựa trên nền tảng phát triển mạnh mẽ của công nghệ và các phương thức truyền thông mới.Trong xã hội thông tin, mọi lĩnh vực của đời sống từ chính trị, kinh tế, văn hóa đến góp phần hình thành con người mới đều không thể tách rời yếu tố thông tin để phát triển.Những người đang học tập và rèn luyện để trở thành nhà báo tiên phong trong xã hội thông tin mới là những đối tượng chịu tác động sâu sắc nhất.Việc sinh viên nhận thức và sử dụng công nghệ thông tin như thế nào, chịu những tác động tích cực hay tiêu cực sẽ cho thấy bản thân họ đã trang bị đủ kỹ năng, phẩm chất để thích ứng trong xã hội thông tin đến đâu.Trong vài năm trở lại đây, ở nước ta bước đầu đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến xã hội thông tin trong các bài báo khoa học, nhưng chưa thực sự có công trình nào nghiên cứu đến tác động của xã hội thông tin đến sinh viên Báo chí – những người sẽ góp phần quan trọng trong lực lượng truyền thông đại chúng, một bộ phận trí thức quan trọng có ảnh hưởng đến đời sống thông tin, tư tưởng của đất nước. Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa cấp thiết trong việc làm rõ thực trạng để đề xuất một số biện pháp giúp sinh viên Báo chí thích nghi và nâng cao năng lực của mình trong thời đại xã hội thông tin. Chính vì vậy chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài khoa học Sinh viên Báo chí trong thời đại xã hội thông tin (khảo sát tại Trường Đại học Vinh từ tháng 62017 – 92017).2. Mục tiêu của đề tàiTrên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn xã hội thông tin:Làm rõ thực trạng thái độ, hành vi và kỹ năng của sinh viên ngành Báo chí trong xã hội thông tinĐề xuất các giải pháp nhằm giúp sinh viên Báo chí có những nhận thức đúng đắn để rèn luyện mình tốt hơn trong thời đại xã hội thông tinCung cấp cho nhà trường cái nhìn toàn diện về việc sinh viên sử dụng công nghệ và khai thác thông tin như thế nào để có phương pháp hỗ trợ học tập và quản lý hiệu quả hơn.3. Phương pháp nghiên cứu đề tàiNhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tư liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứuNhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:Phương pháp điều tra: khảo sát bằng phiếu điều tra.Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn anket Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn sâu một số giảng viên và nhà báoPhương pháp thống kê: phân loại các kết quả khảo sát và phỏng vấnCHƯƠNG 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÃ HỘI THÔNG TIN1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài ở trong và ngoài nước1.1.1. Ngoài nướcCùng với sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, trong những năm gần đây, phạm vi tác động của nó rất lớn đến mọi tầng lớp trong xã hội. Do vậy, trong những năm gần đây, trên thế giới có nhiều đề tài nghiên cứu sự tác động của xã hội thông tin (Information society). Tuy nhiên, đa phần các đề tài này chỉ mới chú trọng tới tác động chung, chứ chưa thực sự đề cập đến đối tượng sinh viên báo chí (Journalism) – những người chịu tác động trực tiếp. Thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực truyền thông trên thế giới. Với sự chuyển biến từ kỹ thuật Analog sang kỹ thuật số đã tạo nên sự thay đổi từ truyền thông đại chúng sang phi đại chúng hóa truyền thông qua các thiết bị, các kênh giao tiếp hiện đại. Và lý thuyết cơ bản về truyền thông đã tác động rất lớn đến xã hội thông tin. Những điều đó được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu của Warren K. Agee, phillip H. Ault, Edwin Emery. 13Marshall McLuhan đã nghiên cứu và rút ra các kết luận là công nghệ truyền thông ảnh hưởng đến xã hội còn mạnh mẽ hơn nội dung mà nó chuyển tải. Về sau, thuật ngữ xã hội thông tin được đề cập rất sớm ở Mỹ. Nhà nghiên cứu Tây Ban Nha Manuel Castells đã có những đóng góp cực kỳ quan trọng về các phân tích ban đầu về xã hội thông tin. Trong công trình The Information Age (tạm dịch là Thời đại thông tin) ông đã phân tích rõ hơn tác động của nó đến xã hội cũng như nghiên cứu các xu hướng mới nổi của nó. Xã hội thông tin được xây dựng trên cơ sở của sự kết thúc, thay đổi của xã hội truyền thống. Các chuyên gia về truyền thông cho rằng phương tiện truyền thông đại chúng sẽ giúp thay đổi các xã hội truyền thống. Tiêu biểu cho trường phái này là Daniel Lerner, giáo sư chính trị học tại MIT với tác phẩm kinh điển Passing of Traditional Society (1958).Lý thuyết trao đổi xã hội là một trong những tiền đề của xã hội thông tin, đó chính là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể cũng như sự phát triển của công nghệ thông tin. Thông qua  Theory of Interdependence, John Thibaut và Harold Kelley’s (1959) đã có những xây dựng căn bản cho vấn đề này.Bên cạnh đó chúng tôi đã tìm kiếm thông tin về các giai đoạn phát triển của xã hội thông tin ở cuốn sách Theories of the information society (International Library of Sociology), Frank Webster, tại các công trình này, tác giả đã khái quát các giai đoạn ấy tùy thuộc vào sự thay dổi của công nghệ thông tin cũng như sự biến đổi của xã hội. 1.1.2. Trong nướcTrong vài năm trở lại đây, ở nước ta đã có một số tác giả đề cập đến xã hội thông tin trong các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học được công bố. Trong cuốn giáo trình Truyền thông – lý thuyết và kỹ năng cơ bản (Nguyễn Văn Dững chủ biên) đã khẳng định vai trò của lý thuyết truyền thông trong việc “nhận diện và ứng dụng ở nhiều tình huống và bối cảnh khác nhau trong giao tiếp thông thường”. Trong đó cũng đề cập tới lý thuyết xã hội thông tin, đặc biệt là gợi ý, ứng dụng cụ thể trong các điều kiện giáo dục khác nhau.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

TÊN BIỂU ĐỒ TÊN HỘP

Hộp 1: Phỏng vấn ThS Nguyễn Thị Quỳnh Nga 32

29

Hộp 2: Phỏng vấn phóng viên Nguyễn Xuân Hòa 33

31

Hộp 3: Phỏng vấn TS Nguyễn Hoài Nguyên 35

33

Hộp 4: Phỏng vấn ThS Lê Hà Phương 40

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội thông tin ra đời dựa trên nền tảng phát triển mạnh mẽ của công nghệ và các phương thức truyền thông mới.Trong xã hội thông tin, mọi lĩnh vực của đời sống

từ chính trị, kinh tế, văn hóa đến góp phần hình thành con người mới đều không thể tách rời yếu tố thông tin để phát triển

Những người đang học tập và rèn luyện để trở thành nhà báo tiên phong trong

xã hội thông tin mới là những đối tượng chịu tác động sâu sắc nhất.Việc sinh viên nhận thức và sử dụng công nghệ thông tin như thế nào, chịu những tác động tích cực hay tiêu cực sẽ cho thấy bản thân họ đã trang bị đủ kỹ năng, phẩm chất để thích ứng trong xã hội thông tin đến đâu

Trong vài năm trở lại đây, ở nước ta bước đầu đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến xã hội thông tin trong các bài báo khoa học, nhưng chưa thực sự có công trình nào nghiên cứu đến tác động của xã hội thông tin đến sinh viên Báo chí – những

Trang 3

người sẽ góp phần quan trọng trong lực lượng truyền thông đại chúng, một bộ phậntrí thức quan trọng có ảnh hưởng đến đời sống thông tin, tư tưởng của đất nước

Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa cấp thiết trong việc làm rõ thực trạng để

đề xuất một số biện pháp giúp sinh viên Báo chí thích nghi và nâng cao năng lực củamình trong thời đại xã hội thông tin Chính vì vậy chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu

đề tài khoa học Sinh viên Báo chí trong thời đại xã hội thông tin (khảo sát tại

Trường Đại học Vinh từ tháng 6/2017 – 9/2017).

2 Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn xã hội thông tin:

- Làm rõ thực trạng thái độ, hành vi và kỹ năng của sinh viên ngành Báo chí trong xã hộithông tin

- Đề xuất các giải pháp nhằm giúp sinh viên Báo chí có những nhận thức đúng đắn để rènluyện mình tốt hơn trong thời đại xã hội thông tin

- Cung cấp cho nhà trường cái nhìn toàn diện về việc sinh viên sử dụng công nghệ và khaithác thông tin như thế nào để có phương pháp hỗ trợ học tập và quản lý hiệu quả hơn

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống

hóa, khái quát hóa các nguồn tư liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Phương pháp điều tra: khảo sát bằng phiếu điều tra

Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn anket

Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn sâu một số giảng viên và nhà báo

Phương pháp thống kê: phân loại các kết quả khảo sát và phỏng vấn

Trang 4

CHƯƠNG 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÃ HỘI THÔNG TIN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài ở trong và ngoài nước

Thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực truyền thông trênthế giới Với sự chuyển biến từ kỹ thuật Analog sang kỹ thuật số đã tạo nên sự thayđổi từ truyền thông đại chúng sang phi đại chúng hóa truyền thông qua các thiết bị,các kênh giao tiếp hiện đại Và lý thuyết cơ bản về truyền thông đã tác động rất lớnđến xã hội thông tin Những điều đó được đề cập đến trong một số công trình nghiêncứu của Warren K Agee, phillip H Ault, Edwin Emery [13]

Marshall McLuhan đã nghiên cứu và rút ra các kết luận là công nghệ truyềnthông ảnh hưởng đến xã hội còn mạnh mẽ hơn nội dung mà nó chuyển tải Về sau,

thuật ngữ xã hội thông tin được đề cập rất sớm ở Mỹ Nhà nghiên cứu Tây Ban Nha

Manuel Castells đã có những đóng góp cực kỳ quan trọng về các phân tích ban đầu về

xã hội thông tin Trong công trình The Information Age (tạm dịch là Thời đại thông

tin) ông đã phân tích rõ hơn tác động của nó đến xã hội cũng như nghiên cứu các xuhướng mới nổi của nó

Xã hội thông tin được xây dựng trên cơ sở của sự kết thúc, thay đổi của xã hộitruyền thống Các chuyên gia về truyền thông cho rằng phương tiện truyền thông đạichúng sẽ giúp thay đổi các xã hội truyền thống Tiêu biểu cho trường phái này là

Trang 5

Daniel Lerner, giáo sư chính trị học tại MIT với tác phẩm kinh điển Passing of Traditional Society (1958).

Lý thuyết trao đổi xã hội là một trong những tiền đề của xã hội thông tin, đóchính là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể cũng như sự phát

triển của công nghệ thông tin Thông qua Theory of Interdependence, John Thibaut

và Harold Kelley’s (1959) đã có những xây dựng căn bản cho vấn đề này

Bên cạnh đó chúng tôi đã tìm kiếm thông tin về các giai đoạn phát triển của xã

hội thông tin ở cuốn sách Theories of the information society (International Library of

Sociology), Frank Webster, tại các công trình này, tác giả đã khái quát các giai đoạn

ấy tùy thuộc vào sự thay dổi của công nghệ thông tin cũng như sự biến đổi của xãhội

1.1.2 Trong nước

Trong vài năm trở lại đây, ở nước ta đã có một số tác giả đề cập đến xã hộithông tin trong các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học được công bố

Trong cuốn giáo trình Truyền thông – lý thuyết và kỹ năng cơ bản (Nguyễn

Văn Dững chủ biên) đã khẳng định vai trò của lý thuyết truyền thông trong việc

“nhận diện và ứng dụng ở nhiều tình huống và bối cảnh khác nhau trong giao tiếpthông thường” Trong đó cũng đề cập tới lý thuyết xã hội thông tin, đặc biệt là gợi ý,ứng dụng cụ thể trong các điều kiện giáo dục khác nhau

Lý thuyết truyền thông là nguồn gốc cốt lõi cho sự ra đời và phát triển của xã

hội thông tin Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở: Lý thuyết truyền thông hiện đại (2015), PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng và cuốn sách của tác giả Nguyễn Văn Dũng: Báo chí truyền thông hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2011 đã cung cấp thêm

những kiến thức nền trong quá trình tiếp nhận và có vốn kiến thức cơ bản trong thờiđại xã hội thông tin Trên cơ sở đó, nhiều tác giả Việt Nam đã tiến hành dịch thuậtmột số cuốn sách, học thuyết của Fred S Siebert, Theodore Peterson, Wilbur

Trang 6

Schramm Dịch giả: Lê Ngọc Sơn (2013), Bốn lý thuyết truyền thông (2013), NXB

Tri thức

Trong học thuyết xã hội thông tin, đối tượng nghiên cứu chính là đối tượng của

xã hội học, Thử bàn về đối tượng nghiên cứu xã hội học (tác giả Lê Ngọc Hùng,

2006) Khi nghiên cứu kỹ về các nhóm đối tượng này sẽ thấy được sự tác động rấtkhác nhau trong xã hội thông tin Như đã đề cập ở trên, trong nước ta chưa có nhiều

đề tài nghiên cứu sự tác động của xã hội mới đến các tầng lớp trong xã hội, mà chủ

yếu đề cập đến giới trẻ nói chung như Đỗ Thị Thu Hằng (2015), Giáo dục giá trị cho giới trẻ trên báo chí hiện nay, Tạp chí Tuyên giáo, tháng 7/2015

Xã hội thông tin có tác động sâu rộng không chỉ đến đối tượng con người mà

còn có tác động đến tất cả lĩnh vực trong đề sống xã hội, trong bài viết Về xã hội thông tin và xã hội tri thức hiện nay của tác giả Nguyễn Văn Dân (Tạp chí cộng sản,

2007) mang lại hình dung cụ thể về tác động của xã hội thông tin Tuy nhiên conngười là chủ thể chính thức của xã hội nên tác động đến nhóm đối tượng này sẽ làchủ chốt và là đối tượng nghiên cứu chính trong nghiên cứu khoa học

Tuy nhiên, trong các công trình đề cập ở trên, chưa thực sự có công trình nàonghiên cứu đến tác động của xã hội thông tin đến sinh viên Báo chí – những người sẽgóp phần quan trọng trong lực lượng truyền thông đại chúng, một bộ phận trí thứcquan trọng có ảnh hưởng đến đời sống thông tin, tư tưởng của đất nước Vì vậy,chúng tôi sẽ tập trung làm rõ thực trạng để đề xuất một số biện pháp giúp sinh viênBáo chí thích nghi và nâng cao năng lực của mình trong thời đại xã hội thông tin

1.2 Cơ sở lý luận của xã hội thông tin

1.2.1 Sự ra đời và phát triển của xã hội thông tin

Tin tức chính là tất cả những gì mang lại hiểu biết cho con người, con ngườiluôn có nhu cầu thu thập tin tức bằng nhiều cách khác nhau: đọc báo, nghe đài, xemtruyền hình, giao tiếp với người khác Thông tin giúp làm tăng hiểu biết của conngười, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của quyết định

Trang 7

Tuy còn có nhiều cách kiến giải khác nhau về khái niệm này, nhưng tựu chung

đều thống nhất thừa nhận: thông tin là quá trình tác động lẫn nhau giữa các đối tượng

vật chất, nó gắn liền với phản ánh và mang tính khách quan Như vậy, thông tin là

thuộc tính vốn có của thế giới vật chất [5] Thuật ngữ thông tin đã xuất hiện sớm

trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người

Những thay đổi sâu sắc trong xã hội từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX đã có

tác động lớn đến sự ra đời của xã hội thông tin Thuật ngữ xã hội thông tin được đề

cập và sử dụng đầu tiên do nhà xã hội học David Lyon, về sau vào năm 1982, Philip

Abrams đề cập tới trong nghiên cứu “A problematic, a rudumentary organisation of field of a phenomena which yields problem for investigation”[6], [7] Khái niệm này

từ đó đã thu hút sự chú ý của nhiều học giả, đồng thời một lượng lớn thông tin liêntục ra đời và phương tiện truyền thông mới không ngừng thay đổi đã góp phần số hóa

giáo dục, đặc biệt là ở bậc đại học Mặc dù quan điểm về xã hội thông tin mà Abrams

đưa ra chưa thực sự hoàn thiện nhưng bước đầu nó đã phác thảo ra một loại hình xãhội mới, cũng bước đầu cho thấy tầm quan trọng của việc tập trung theo dõi các xuhướng thông tin khi muốn nghiên cứu các vấn đề xã hội trên thế giới

Hiện tại, chưa có khái niệm chính xác và được chấp nhận rộng rãi về cái đượcgọi là xã hội thông tin Nhưng có thể hình dung, xã hội thông tin (Information social)

là một thuật ngữ mới được sử dụng trong những năm gần đây, chỉ đặc trưng một giaiđoạn mới của sự phát triển xã hội loài người, mà ở đó, việc tạo ra, phân phối, sửdụng, tích hợp và điều khiển thông tin là một hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóaquan trọng

Trong Kết quả tóm tắt – Báo cáo của nhóm Công tác quốc gia vì Hòa nhập xã hội của Tổ chức Phát triển cộng đồng IBM (1997) đã đưa ra định nghĩa: Xã hội thông

tin là một xã hội đặc trưng bởi mức độ thông tin cường độ cao, trong cuộc sống hằngngày của đa số người dân, ở hầu hết các tổ chức và nơi làm việc Bằng việc sử dụngcông nghệ thông dụng hoặc tương thích cho các hoạt động cá nhân, xã hội, giáo dục

và kinh doanh rộng khắp và bởi khả năng truyền, nhận, trao đổi dữ liệu số nhanh giữacác địa điểm không phân biệt khoảng cách

Trang 8

Trong nghiên cứu Lý thuyết Xã hội thông tin, nhà nghiên cứu truyền thôngFrank Webster [3] cho rằng có 5 yếu tố cho sự ra đời của xã hội thông tin là:

• Technology (công nghệ)

• Economic (kinh tế)

• Occupational (nghề nghiệp)

• Spatial (không gian, khoảng cách)

• Cultural (văn hóa)

Trong đó hai yếu tố công nghệ và kinh tế đóng vai trò then chốt

Về công nghệ, sự ra đời của Internet và mạng xã hội là nền tảng của xã hội

thông tin

Bước sang thế kỷ XXI, cả thế giới đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽtrong lĩnh vực truyền thông Đó là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ vàhoạt động truyền thông.Cùng với bước đột phá của kỹ thuật điện toán, kỹ thuật số đãthúc đẩy sự phát triển của thông tin và chính điều này đã góp phần tạo ra sự bùng nổtruyền thông.Đây chính là cơ sở, tiền đề ra đời của xã hội thông tin

Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông mới,các nước phương Tây đã nhanh chóng thay đổi cách thức sản xuất công nghiệp, từcông nghiệp sang hậu công nghiệp và là bước đệm cho sự ra đời của xã hội thông tin

Xã hội thông tin là kết quả của sự phát triển khoa học và công nghệ, trong đóphải kể tới bước chuyển biến ngoạn mục về sự ra đời của máy tính (PC) vàInternet.Thuật ngữ Internet lần đầu tiên được xuất hiện vào khoảng năm 1974 Đếnnăm 1983 giao thức TCP/IP ra đời và chính thức được coi là chuẩn của ngành quân

sự Mỹ và tất cả các máy nối ARPANET phải sử dụng chuẩn mới này Từ đây chophép liên kết các mạng khác nhau một cách dễ dàng, hình thành một xã hội mới dựatrên nền tảng Internet

Khoảng giữa năm 1990, Sự kết hợp giữa viễn thông (telecommunication) vàcông nghệ thông tin (information technology) hình thành công nghiệp công nghệthông tin và truyền thông (ICT: Information and Communication Technologies) tạo

đà cho sự phát triển của hạ tầng truyền thông thế hệ mới Báo cáo của Ủy ban băngrộng Liên Hợp Quốc[1], năm 2017, hơn 50% dân số toàn cầu truy cập Internet Ơ

Trang 9

Việt Nam, số người sử dụng Internet năm sau tăng hơn năm trước tính bằng con sốtriệu người Theo số liệu thống kê của Trung tâm Số liệu Internet quốc tế(InternetWorldstats), đến tháng 6/2016, Việt Nam có khoảng 52 triệu người dùngInternet, chiếm 54% dân số, đứng thứ 5 ở châu Á – Thái Bình Dương về tỷ lệ dân số

có kết nối Internet sau Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Indonesia [10]

Bên cạnh đó, thế giới đang được chứng kiến sự lên ngôi ngoạn mục của mạng

xã hội (socia network) Không có bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng Internet lại bỏqua mạng xã hội với những tiện ích tuyệt vời của nó Có thể nói rằng, mạng xã hội là

mô hình mới nhất, đơn giản hóa các phương thức kết nối, tương tác giữa con ngườitrong suốt chiều dài lịch sử Mặc dù sự phát triển của mạng xã hội chỉ mới bùng nổgần đây nhưng thực chất nền tảng của mạng xã hội đã được nghiên cứu và phát triểnlâu đời

Trang 10

Thống kê mức độ phổ biến các mạng xã hội trên thế giới Nguồn: Business 2 Community

Trong những năm đầu của thập kỷ 90, mạng xã hội đầu tiên trên thế giới đượcthành lập là Geocities Sau đó Yahoo đã mua lại Geocities và biến trang này thành cácđịa chỉ quen thuộc như Yahoo!Blog, Yahoo!360, Yahoo!Geocities Tuy nhiên với sựthiếu linh hoạt trong chiến lược phát triển, các dịch vụ này lần lượt bị đóng cửa vànhường bước cho Facebook, Twitter, LinkedIn

Hai mạng xã hội có đông người sử dụng nhất hiện nay ra đời khá muộn Năm

2004, phiên bản đầu tiên của Facebook ra đời và đã có hơn 19.500 sinh viên đăng kýtrong tháng đầu hoạt động Hai năm sau mạng xã hội Twitter ra đời và ghi một dấumốc quan trọng trong quá trình phát triển của mạng xã hội Theo thống kê sơ bộ, tínhđến quý 2 năm 2017, Twitter có 328 triệu người dùng kích hoạt dịch vụ

Tính đến tháng 6 năm 2017, Facebook có 2.01 tỷ người đang kích hoạt dịch

vụ, trong đó riêng Việt Nam là 33.86 triệu tài khoản đã và đang được kích hoạt và sửdụng Theo eMarketer, một công ty nghiên cứu thị trường có trụ sở tại New York(Mỹ), chỉ trong 7 năm từ 2011 đến 2017, số lượng người tham gia mạng xã hội tăng

Trang 11

gấp đôi từ 2011 lên đến 2.5 tỷ người năm 2017, trong đó phát triển mạnh nhất là vùngchâu Á, từ hơn 500 triệu người năm 2011 lên đến 1.23 tỷ người năm 2017, đạt mứcphát triển 2.46 lần

Tỷ lệ người sử dụng các mạng xã hội ở Việt Nam Nguồn: Hootsuite

Ngoài các mạng xã hội do nước ngoài cung cấp, ở Việt Nam những năm gầnđây còn có hai mạng xã hội do người Việt sáng tạo và thiết lập đó là Zing và Zalo.Tính đến tháng 2 năm 2017, Zalo đã có hơn 70 triệu người sử dụng và đang trở thànhmột trong những dịch vụ phổ biến của người dùng ở Việt Nam

of Post Industrial Society xuất bản năm 1973, cho rằng dấu hiệu nhận biết xã hội hậu

công nghiệp đó là sự thống trị của thông tin và của những ngành công nghiệp gắn vớithông tin Ông cho rằng, không chỉ số lượng thông tin được tiêu dùng tăng lên trong

Trang 12

xã hội, mà ngay cả chất lượng cũng đã khác trước Quan điểm này của ông đã nhậnđược sự ủng hộ của những học giả có quan điểm kỷ nguyên thông tin đang đến.

Alvil Toffler – tác giả, học giả với tầm nhìn sâu sắc về các biến đổi xã hội,chính là người chịu nhiều ảnh hưởng từ quan niệm về xã hội thông tin khi cho rằngnhân loại đang trải qua làn sóng thứ 3: hậu công nghiệp Ông đã viết hơn một chụccuốn sách cho thấy những hình dung về thay đổi trong thế kỷ XX khi các nền kinh tếdựa trên sản xuất chuyển sang nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ Trong đó có

hai tác phẩm nổi tiếng: Cú sốc tương lai (Future Shock) và Đợt sóng thứ ba (The

Third Wave) Hợp tác cùng vợ mình – bà Heidi Tofle trong các công trình, ông tiên

đoán và mở ra khái niệm mà ông gọi là kỷ nguyên thông tin Ông cũng cho rằng làn

sóng thứ ba trong lịch sử nhân loại có đặc trưng là liên kết liên thông(interconnectedness) dựa trên mạng quốc tế liên thông của audio, video và các giaothức điện tử

Hiện nay, Liên hợp quốc đang cố gắng làm cho xã hội thông tin trở thành hiệnthực cho nhiều nước phát triển Họ muốn thấy sự chuyển giao công nghệ và thông tin.Bởi lẽ sự tương phản giữa các quốc gia có công nghệ thông tin và những nước không

có được gọi là khoảng cách số Trong khi Đông Nam Á có nhiều người sử dụng côngnghệ thông tin truyền thông thì ở Trung Phi, Thái Bình Dương gần như không có

1.2.2 Lý thuyết nền tảng về xã hội thông tin

Bất cứ một vấn đề nào trong xã hội cũng có nguồn gốc của nó Xã hội thôngtin dưới góc nhìn là một hình thái ý thức xã hội cũng vậy Nó cũng có những họcthuyết gốc, tiền đề cơ bản cho sự hình thành và phát triển trong điều kiện và bối cảnh

xã hội Đó là Lý thuyết Xã hội thông tin, bên cạnh đó, Lý thuyết Tương tác xã hội và

Lý thuyết Trao đổi xã hội là những lý thuyết có tính gần gũi và ảnh hưởng sâu sắc

trong việc nghiên cứu các vấn đề về xã hội thông tin

Việc phân tích các lý thuyết truyền thông cốt lõi có ảnh hưởng rất lớn đến cáchướng nghiên cứu và phát triển xã hội thông tin Từ đó xác định được các đặc điểm,bản chất của xã hội thông tin, truyền thông xã hội, truyền thông đa phương tiện, trên

cơ sở ấy tạo các cơ sở lý thuyết cho việc phát triển truyền thông đa phương tiện,truyền thông xã hội, truyền thông số trên phạm vi quốc gia, khu vực và toàn cầu

Trang 13

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề cập đến lý thuyết cơ bản nhất, đó

là lý thuyết Xã hội thông tin

Lý thuyết Xã hội thông tin (Theories of the information society)

Những phát minh ngoạn mục trong công nghệ thông tin và truyền thông, nhất

là lĩnh vực điện toán, đã dẫn đến cái quan niệm cho rằng chúng ta đang bước vào một

mô hình xã hội mới – xã hội thông tin Hiện nay, chúng ta đang sống trong một xã hội

mà ở đó, số lượng thông tin thu được tăng lên không ngừng Nhờ công nghệ mới,thông tin đã vượt qua những rào cản về địa lý, rút ngắn thời gian khiến quá trình giaotiếp diễn ra tức thời và nhanh chóng Chi phí trên mỗi thiết bị giao tiếp (máy tính,Internet, điện thoại) ngày càng giảm Mối quan hệ người và người đang vượt qua cácbiên giới địa lý truyền thống

Tất cả những sự kiện nêu trên đang được những người ủng hộ quan điểm này

sử dụng như các luận cứ nhằm minh chứng cho sự tồn tại và manh nha của một môhình xã hội kiểu mới mang tính toàn cầu – xã hội thông tin Vì bản chất của xã hội là

tổ hợp các mối quan hệ người – người, các liên kết giữa con người đều sẽ thông quaInternet ở mọi cấp độ và từ đó hình thành nên xã hội thông tin

Theo đó, tương ứng với xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức

cũng đang dần được hình thành ngày một trọn vẹn hơn.Từ góc độ văn minh, xã hội

thông tin và xã hội tri thức có những nét gặp gỡ nhau.Tuy nhiên nếu xét từ góc độ chủthể sáng tạo thì ta có thể phân biệt chúng dễ dàng hơn Xã hội thông tin là khái niệmnhìn từ góc độ người phát, nhưng xã hội này vẫn còn nặng tính thương mại và thịtrường hàng hóa Còn nhìn từ góc độ người nhận thì chính là xã hội tri thức, xã hội trithức thể hiện sự quan tâm đến người nhận, đến việc hiểu và sử dụng thông tin củangười người nhận

Những người thuộc trường phái Lý thuyết xã hội thông tin về thực chất là

những người theo quan điểm kỹ trị, đại biểu chính là Marshall McLuhan (1911 –1980), một trong những nhà tư tưởng đi đầu trong các nghiên cứu về tác động củacông nghệ truyền thông đến xã hội Ông cho rằng, “bản thân phương tiện cũng làthông điệp” [9], và lấy đó làm căn cứ để phân tích các giai đoạn phát triển của lịch sử

xã hội Ông rút ra kết luận: công nghệ truyền thông ảnh hưởng đến xã hội còn mạnh

Trang 14

mẽ hơn những nội dung mà chúng chuyển tải Với luận điểm đó, ông đã trở thành

một trong những người tạo lập nên trường phái The Toronto School.

Một nghiên cứu nổi bật khác đó chính là Ý tưởng ngôi làng toàn cầu của

Marshall McLuhan Ông đã luận chứng rằng công nghệ in ấn đã thúc đẩy chủ nghĩadân tộc, quá trình công nghiệp hóa và phổ cập tri thức (xóa nạn mù chữ) Vào thờiđiểm những năm 1970, dựa vào sự bùng nổ của công nghệ phát thanh và truyền hình,ông cũng đã dự đoán thế giới sẽ bước vào kỷ nguyên mới mà ở đó phát thanh vàtruyền hình sẽ mang tính quốc tế và chính thứ công nghệ mới ấy sẽ làm cho thế giới

trở thành ngôi làng toàn cầu Quả thật, phát thanh và truyền hình và sau đó là Internet

cũng như với các phương tiện truyền thông số mới – hiện đang gắn kết các dân tộc và

các cá nhân vào một xã hội thống nhất – một cái gì đó tương tự như ngôi làng toàn cầu mà ông đã tiên đoán 40 năm trước Ý tưởng về ngôi làng toàn cầu có thể được

diễn đạt một cách ngắn gọn như sau: việc bành trướng không ngừng của các phươngtiện truyền thông đại chúng đặc biệt là vô tuyến truyền hình đã tạo điều kiện cho mọingười trên thế giới có được cái nhìn đồng thời và giống nhau về những sự kiện đangdiễn ra xung quanh họ Đó là tác nhân chuyển hóa thế giới thành một cái gì đó kiểu

như ngôi làng toàn cầu [9].

Trong các phân tích về xã hội thông tin thì Manuel Castells – nhà lý thuyếtngười Tây Ban Nha đã có những đóng góp quan trọng Trong công trình gồm 3 tập(Tạm dịch là Thời đại thông tin) [11] của mình, ông đã nghiên cứu rất sâu về những

xu hướng mới nổi trong điều kiện toàn cầu hóa Tập 1 tập trung nghiên cứu cấu trúc

xã hội mới; tập 2 phân tích quá trình xã hội và chính trị trong bối cảnh xã hội thôngtin; tập 3 phân tích quá trình hội nhập và phân cực của nền kinh tế quốc tế mà ở đótruyền thông có xu hướng cá nhân hóa vừa có xu hướng toàn cầu [12]

Chủ nghĩa tư bản thông tin (Information Capitalism), theo Castells, chính là

tồn tại và hoạt động được ở cấp độ toàn cầu là nhờ vào hệ thống thông tin quốc tế vớinhững liên kết mang tính xâu chuỗi Sức mạnh của thông tin và truyền thông đã buộccác quốc gia phải hình thành nên những đơn vị thể chế xuyên quốc gia và mang tínhkhu vực Trong một thế giới được kết nối như vậy, các dòng tin, các hình ảnh, cảmxúc, biểu tượng, ý tưởng giữ vai trò là trụ đỡ cho một xã hội được phát tán khắp nơi

Trang 15

nhờ vào mạng lưới truyền thông quốc tế và chính nhờ cái này sau này mới có thể hìnhdung về một xã hội ở cấp độ toàn cầu.

Lý thuyết Xã hội thông tin (Theories of the information society) đã luận giải

rằng một hình thái xã hội kiểu mới – xã hội thông tin đang được hình thành và đâychính là cơ sở lý luận cho mô hình này Tuy nhiên, những người ủng hộ mô hình lýthuyết này cũng gặp phải nhiều sự chỉ trích Đó là việc họ cho rằng lý thuyết này quá

đề cao sức mạnh của khoa học và công nghệ mà không lường tính đầy đủ sức mạnhcủa các yếu tố xã hội, chính trị và kinh tế Bản chất của công nghệ là trung tính;chúng sẽ mang sắc thái chính trị, kinh tế hay xã hội như thế nào là tùy thuộc vào việcngười ta sử dụng chúng ra sao và theo mục đích gì

Bên cạnh đó, chính công nghệ cũng đang làm suy giảm vai trò của ý thức hệtrong xã hội Chẳng hạn, cùng với việc sử dụng rộng rãi các phương tiện giao tiếptrên máy tính, thì ảnh hưởng của ý thức hệ truyền thống đối với đời sống thường nhậtcủa mỗi cá nhân cũng suy yếu dần Hơn nữa, mặt trái của Internet là không thể phủnhận được Một không gian giao tiếp mới đang xuất hiện nhờ các công nghệ và thôngtin và truyền thông mới, do đó vấn đề cũng đang nảy sinh là phải xử lý mối quan hệgiữa không gian giao tiếp thực và không gian giao tiếp ảo như thế nào

Về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, nghiên cứu được công bố năm 1969

về mối quan hệ tự do giữa cá nhân và ràng buộc xã hội của Mead và Blumer [8] đã cốgắng tính toán cho cả hai phía và thay đổi trong các tiến trình xã hội Bao gồm:

• Con người và các nhóm bị ảnh hưởng bởi văn hóa và tiến trình xã hội, trong

đó có các yếu tố liên quan đến mối quan hệ giữa con người trong xã hội thôngtin Đó là việc xã hội đang đặt ra ràng buộc đối với hành vi của các cá nhân

• Cấu trúc xã hội được hình thành thông qua tương tác xã hội

Tương tác với công chúng và vai trò tạo nội dung của công chúng trong môi trường truyền thông số và xã hội thông tin Sự xuất hiện và phát triển nhanh phát

thanh và truyền hình đã nâng cao khả năng tương tác giữa công chúng và nguồn phátthông điệp lên một bước mới mang tính nhảy vọt Nhưng khi xuất hiện báo mạngđiện tử, sau đó là mạng xã hội thù không những tăng các chiều tương tác của côngchúng (tương tác với nguồn phát và tương tác với nhau) mà vai trò của công chúng

Trang 16

chuyển sang một bước mới: công chúng truyền thông thay vì tiếp nhận sự tác độngcủa sản phẩm truyền thông, có vai trò lớn trong việc tạo nội dung các thông điệptruyền thông Đây là điểm khác biệt nổi bật của công chúng truyền thông hiện đại.Nói cách khác, công chúng trong thời đại xã hội thông tin không những chủ độngtrong tiếp nhận sản phẩm báo chí truyền thông, mà còn chủ động tham gia vào quytrình sản xuất và phát tán các thông điệp truyền thông, với sự hỗ trợ của các công cụ,phương tiện truyền thông số và môi trường Internet.

1.3 Cơ sở thực tiễn của xã hội thông tin

1.3.1 Bản chất xã hội thông tin

Mặt tích cực của xã hội thông tin

Trên cơ sở lý thuyết truyền thông cốt lõi của xã hội thông tin đã hình thành vàxác định bản chất của loại hình xã hội này, về cơ bản, đây là một kiểu xã hội:

Thứ nhất, các ngành nghề phục vụ xã hội: kinh tế, giáo dục, y tế, dịch vụ đều

được thực hiện thông qua mạng lưới máy vi tính Đó là sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học công nghệ khi mà các máy tính được kết nối với nhau

Ơ Việt Nam hiện nay, số người sử dụng Internet đang không ngừng tăng lên.Dân chúng cũng có những hiểu biết về máy tính và mạng cũng gia tăng nhanh chóng.Đây là những tiền đề thuận lợi cho các hình thức truyền thông trên Internet Truyềnthông đa phương tiện trên Internet có sức hấp dẫn rất lớn đối với bất cứ ai tiếp cận vàtiếp nhận thông tin từ đó Con người cùng lúc có thể vừa cập nhật được tin tức dướidạng chữ viết và còn có thể đồng thời dưới dạng audio và video cũng như tương táctức thời Thông qua đó con người có thể làm các việc mong muốn như học hỏi, tìmkiếm tài liệu, làm việc, họp mặt đặt hàng, mua sắm, thậm chí là hẹn hò thông quacác thao tác trên máy tính Với Internet và các phương tiện truyền thông mới khiếncho phần lớn loài người hưởng thụ nền văn minh hiện đại thay đổi căn bản nhu cầu vàthói quen, gắn chặt cuộc sống của mình với công nghệ và thế giới ảo Con ngườikhông thể sống thiếu máy vi tính Các máy móc, thiết bị trong nhà đều được tích hợpđiều khiển qua máy tính hoặc điện thoại và thao tác sử dụng đơn giản

Trang 17

Thứ hai, con người có thể nhận được một lượng thông tin lớn Trong xã hội

thông tin, một lượng thông tin lớn được truyền tải, con người có thể tiếp nhận đượcthông tin rất lớn, những thông tin mình muốn có

Dưới góc nhìn truyền thông, sự phát triển của báo mạng điện tử đã thay đổithói quen tiếp nhận thông tin trước đây của một bộ phận công chúng Ngày nay, với

sự ra đời và phát triển vượt bậc của công nghệ Internet, báo mạng điện tử có thể đápứng nhu cầu thông tin của công chúng vào bất cứ thời điểm nào trong ngày chỉ quamột cái kích chuột Chỉ cần trỏ vào các siêu liên kết (hyperlink), hay gõ tên địa chỉ(URL) vào máy là nhận được thông tin yêu cầu Cùng với các ngôn ngữ lập trìnhđược thiết kế riêng cho web như Java, HTML, XML các trang web được hiện ramột cách sống động Thông tin không chỉ được hiện ra dưới dạng văn bản (text), đồhọa (graphics), mà còn là các hoạt cảnh chuyển động (video clip) kèm hình ảnh, âmthanh sống động Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ kết nốigiúp đẩy nhanh tốc độ truy tải, số lượng các báo mạng điện tử cũng nở rộ khắp nơitrên thế giới, truyền tải thông tin dưới mọi hình thức

Thứ ba, kinh tế đang ngày càng lấy ngành thông tin làm cơ sở Những người

theo nghề thu nhập, xử lý, bảo tồn dữ liệu ngày càng nhiều hơn những người làmngành nông nghiệp, sản xuất Sự phát triển của kỹ thuật đã khiến sản lượng sản phẩmđược tăng lên nhanh chóng theo con số đã được chỉ định sẵn mà vốn, sức lao động,năng lượng lại giảm đi nhiều Điều này chứng tỏ kinh tế đã bỏ qua các bước, cáchthức phát triển truyền thống

Trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ thông tin đang đóng một vai trò quan trọng,tạo ra những ẩn phẩm có hàm lượng thông tin cao Nền kinh tế đó là nền kinh tế mới,còn được cụ thể bằng những tên gọi như kinh tế mạng, kinh tế số, kinh tế thông tin,

kinh tế dựa trên tri thức hay gọi một cách ngắn gọn là nền kinh tế tri thức.

Thứ tư, thông tin (tri thức) dù khômg phải một dạng vật chất, năng lượng nhưng luôn luôn tồn tại bắt nguồn từ giá đỡ của nó là vật chất và năng lượng Trên

thế giới, nhiều trang mạng đã phát triển theo hình thức thu phí, tức là mỗi người sẽ cómột account (tài khoản) với một tên truy cập và password (mật khẩu) để người dùngtruy cập vào trang web của họ Tất nhiên sẽ phải trả một phần phí (cost) theo hình

Trang 18

thức thu mua tin tức Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ chi phí

để sản xuất ra một sản phẩm tri thức thường cao hơn giá đỡ của nó (tất nhiên các nhà

sản xuất luôn có hình thức để có được lợi nhuận) Chẳng hạn như chi phí làm ra phầnmềm Window 2000 lên tới hàng ngàn đôla trong khi giá thành của một đĩa quangmang nó chỉ cỡ vài đôla Chính vì thế cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ,chống siêu lợi nhuận về độc quyền tri thức và chống nạn sao chép lậu các sản phẩmtrí tuệ vừa luôn đồng điệu, mâu thuẫn, cũng là mặt trái của xã hội thông tin

Tóm lại, xã hội thông tin đã khiến cuộc sống con người có sự thay đổi lớn.

Quá trình xã hội hóa thông tin cũng cần một loạt thay đổi về kỹ thuật, cơ sở vật chất,đồng thời chủ thể chính trong đó – con người - cũng cần không ngừng nâng cao tốchất, kỹ năng để thích ứng

Mặt trái của xã hội thông tin

Sự phát triển của công nghệ, thông tin và truyền thông trong nửa thế kỷ qua đã

có những đóng góp to lớn cho xã hội trên tất cả các lĩnh vực Công nghệ thông tinđang xóa đi khoảng cách về không gian, thời gian để biến toàn thế giới thành mộtNgười ta đã nói đến nhiều lợi ích của công nghệ thông tin, mặt tích cực của xã hộithông tin, và trong cuộc sống hằng ngày chúng ta cũng dễ dàng cảm nhận được điều

đó Cũng như khả năng sử dụng công nghệ và thông tin như một đôi đũa thần để tác

động vào xã hội nhất là lĩnh vực kinh tế Nhưng bên cạnh đó, những mặt trái của hìnhthái xã hội này cũng không ít

Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, công nghệ mà cụ thể là Internet là tiền đề quan

trọng cho sự ra đời và phát triển của xã hội thông tin Nhiều người cho rằng Internetkết nối mọi người ở khắp thế giới lại với nhau, nhiều người lại khẳng định Internetgây ra nhiều tác động tiêu cực đến cuộc sống và hành vi tâm lý của con người, đâycũng chính là mặt trái của xã hội thông tin

Từ cuối những năm 1990, bắt đầu xuất hiện một số ý kiến cho rằng Internetlàm con người cô đơn, xa lánh và tách rời không quan tâm đến hiện thực xã hội màchỉ mải mê với các mối quan hệ ảo Hơn nữa nó cũng góp phần truyền bá văn hóaphẩm độc hại và các tư tưởng phản tiến bộ Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến tác động,cách thức tiếp cận thông tin của mỗi chúng ta trong thời đại xã hội thông tin

Trang 19

Thứ hai, trong xã hội thông tin, thông tin ngày càng trở thành một loại hàng

hóa đặc biệt để trao đổi trên toàn thế giới Liên quan đến vấn đề này là quyền sở hữutrí tuệ Đó là việc sao chép bản quyền, vấn đề sao chép lậu, bất hợp pháp các sáng chếcủa con người Nhưng cũng có một số ý kiến cho rằng, quyền sở hữu trí tuệ đang trởthành một trong những vật cản của xã hội thông tin đối với sự phát triển bền vững củacon người

Về nguyên tắc, tri thức, thông tin vẫn là sản phẩm chung của nhân loại, mọingười đều có quyền tiếp cận nó Tuy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một cáchsáng tạo nhưng cần có sự cân bằng, dung hòa giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vàphát triển công cộng, cộng đồng

Thứ ba, người ta đang nói đến khoảng cách số hay khoảng cách tri thức trong

xã hội thông tin Đó là sự ngăn cách về công nghệ giữa các nước phát triển và cácnước đang phát triển, giữa các tầng lớp xã hội trong một quốc gia Điều này xuất phát

từ quan điểm coi trọng tính thị trường và tính thương mại của thông tin: thông tinđược coi là hàng hóa trao đổi trên thị trường

Thứ tư, xã hội thông tin vẫn chưa khắc phục được triệt để nạn ô nhiễm môi

trường mà một phần là do sự phổ biến của các công nghệ thông tin gây ra

Đứng ở một tầm cao hơn về khía cạnh nhân quyền, các nhà khoa học ngày nayđang nhìn nhận mặt trái của xã hội thông tin theo quan điểm phát triển con người bềnvững dưới ánh sáng của đạo đức hiện đại, không sa vào những chi tiết của các vấn đề

kỹ thuật mạng Internet Tri thức, thông tin nên là sản phẩm chung của loài người chứ

không nên là hàng hóa để trao đổi trên thị trường (nói như vậy không phủ nhận mặttích cực khi xem tri thức, thông tin là một loại hàng hóa)

Thứ năm, xã hội thông tin mà chúng ta đang sống mới chỉ chú ý đến những lợi

ích kinh tế và các yếu tố thị trường, chứ chưa quan tâm đến các yếu tố nhân quyền,dân quyền và đến đạo đức sinh thái Do vậy có thể nói xã hội thông tin vẫn mangnặng tính thương mại và tính hàng hóa

1.3.2 Những tiêu chuẩn cơ bản của lao động trí thức thời đại xã hội thông tin

Trang 20

Ngày nay, các nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển có nhữngbiến chuyển mạnh mẽ về chất Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là tri thức đã trởthành nhân tố quan trọng nhất quyết định mức sống cũng như các điều kiện mới trong

xã hội loài người Trong thời đại xã hội thông tin, vai trò của con người càng đặc biệtquan trọng bởi họ chính là chủ nhân của thông tin, tri thức trong xã hội ấy

Hiện nay chưa có một quy chuẩn chính thức nào dành cho trí thức trẻ trongthời đại xã hội thông tin Căn cứ vào tình hình thực tế ở Việt Nam nói riêng và môitrường lao động quốc tế nói chung, nhóm tác giả đề tài tổng hợp và xây dựng một sốtiêu chuẩn cơ bản của lao động trí thức báo chí truyền thông trong thời đại xã hộithông tin bên cạnh kiến thức và kỹ năng chuyên ngành không ngừng được cập nhật,rèn luyện:

Năng lực truyền thông:

Năng lực trí tuệ và kiến thức tối thiểu về việc sử dụng phương tiện truyềnthông như một công cụ thúc đẩy xã hội trong đó có đời sống của cá nhân, của chínhmỗi người nói riêng và cả xã hội Cần nhận thức rõ ý thức trách nhiệm cũng như mốiquan hệ giữa thông tin với chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục Bởi trong thời đại xãhội thông tin, các phương tiện truyền thông mới đã thay đổi cách thức tiếp cận thôngtin và các yếu tố trong truyền thông Ơ đó việc sử dụng truyền thông đã thay đổi:người tiếp nhận ngày càng đóng vai trò của người phân phối (sản xuất tin tức), trongkhi những nhà báo chuyên nghiệp chịu sức ép lớn hơn bao giờ hết với tư cách làngười điều phối thông tin trong bối cảnh xã hội

Ngoại ngữ:

Trong thời đại mới, nhất là khi các nước đang bước vào giai đoạn công nghiệphóa, hiện đại hóa và thời đại bùng nổ thông tin trong bối cảnh toàn cầu Ngoại ngữ cóvai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo và phát triển đất nướccủa mỗi quốc gia Ngoại ngữ chính là yếu tố tất yếu của lao động có kỹ thuật cao, haychính là tiêu chuẩn cơ bản của lao động trí thức trong thời đại xã hội thông tin nhằmđáp ứng nhu cầu thường xuyên đổi mới của công nghệ thông tin và xu thế hội nhập

Trang 21

Để xây dựng đủ tri thức làm công dân của ngôi làng toàn cầu, trước hết phải

loại bỏ trở ngại về ngôn ngữ Ngoại ngữ không chỉ là công cụ hữu hiệu trong tayngười trí thức để tiếp nhận các tri thức mới, các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiếntrên thế giới mà còn đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, mở rộng quan hệ hợptác, giao lưu với thế giới

Trình độ công nghệ thông tin

Như đã đề cập ở mục 1.1 yếu tố khoa học kỹ thuật là một tiền đề quan trọngtrong xã hội thông tin Con người trong xã hội thông tin có cuộc sống gắn chặt vớicác phương tiện và công nghệ truyền thông, như điện thoại di động và các thiết bị kếtnối Internet khác Bởi vậy, bản thân người lao động tri thức, đặc biệt là trong ngànhbáo chí – truyền thông phải là những người làm chủ công nghệ Không những thế,đây phải là những người đón đầu các xu hướng, liên tục cập nhật để không bị tụt hậukhi công nghệ và các ứng dụng không ngừng thay đổi và phát triển

Các nhóm kỹ năng mềm:

Trong xã hội thông tin, thế giới không ngừng biến đổi, sự lao động, suy tư vàtình cảm của hàng tỷ bộ óc con người tương ứng với số lượng vô cùng lớn thông tinmới được liên tục sinh ra mỗi phút Nhưng không phải mọi thông tin đều chính xác

và có giá trị Để có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin, mỗi trí thức, cần có hệ thốngkiến thức nền, kỹ năng sống và tư duy logic, từ đó lựa chọn cách thức tiếp cận thôngtin, nguồn tiếp cận sao cho phù hợp với mỗi người để đạt được hiệu quả cao nhất Bởi

đó là tầm nhìn và tư duy của mỗi người do vậy sẽ có những cá nhân nổi bật hơn và

trở thành công dân toàn cầu và cũng có những người bị xã hội đào thải do không đáp

ứng được các yêu cầu của xã hội mới Ngoài cách thức tiếp cận và sử dụng thông tinthì cần phải chú ý đến kỹ năng giao tiếp – kể cả ở môi trường thực hay giao tiếp trựctuyến, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết phục đàm phán Đây là những nhóm

kỹ năng cần được rèn luyện và bồi dưỡng từ khi còn ngồi trên giảng đường

Tiểu kết chương I

Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin thì kinh tế, nghềnghiệp, không gian, khoảng cách và văn hóa đã góp phần vào sự ra đời của xã hội

Trang 22

thông tin Đây chính là một hình thái xã hội mới chỉ một giai đoạn phát triển tạo ra sựbùng nổ truyền thông.

Lý thuyết nền tảng về xã hội thông tin đã xác định bản chất của loại hình xãhội mới này Đó là: Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự làm chủ thôngtin của con người, sự ứng dụng thông tin trong các ngành nghề khác… Công nghệ vàkinh tế là những yếu tối nắm vai trò then chốt trong việc hình thành nên xã hội thôngtin Mạng Internet và mạng xã hội ra đời và phát triển mạnh mẽ đã làm thay đổi cănbản thói quen, nhu cầu và hành vi của con người và các phương thức truyền thông

Tuy nhiên, những điều này cũng mang lại những mặt trái nhất định, công nghệchỉ nên là công cụ phục vụ cho đời sống, con người mới là chủ thể chính trong việc

sử dụng các phương tiện truyền thông và tham gia vào đời sống xã hội thông tin Conngười chính là chủ nhân của thông tin, trí thức trong xã hội ấy

Trang 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SINH VIÊN NGÀNH BÁO CHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRONG THỜI ĐẠI XÃ HỘI THÔNG TIN

2.1 Giới thiệu đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng sinh viên báo chí trường Đại họcVinh trong thời đại xã hội thông tin (Từ khóa 55 đến khóa 58)

2.1.1 Ngành Báo chí Trường Đại học Vinh

Ngành Báo chí Trường Đại học Vinh thuộc Khoa Sư phạm Ngữ văn - mộttrong hai khoa được thành lập đầu tiên và có một bề dày lịch sử truyền thống đáng tựhào, truyền thống ấy đã tạo dựng nên thương hiệu Đại học Sư phạm Vinh (bây giờ làtrường Đại học Vinh) Theo chủ trương phát triển đa hệ, đa ngành của trường năm

1996, khoa đã liên kết với khoa văn và khoa báo chí Trường Đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội mở các lớp cử nhân Báo chí và Văn học Năm

2001, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định đổi tên Trường Đại học Sư phạm Vinhthành trường Đại Học Vinh Năm 2013 Khoa Ngữ văn đổi thành Khoa Sư phạm Ngữvăn, đồng thời Bộ giáo dục và Đào tạo cũng cho phép Khoa là cơ sở duy nhất ở khuvực Bắc miền Trung đào tạo ngành Báo chí

Trong thời đại xã hội thông tin, bản thân những người làm chủ thông tin, sảnxuất thông tin nắm trong tay một loại quyền lực gây ảnh hưởng đáng kể đến phần cònlại của xã hội Ý thức được sự thay đổi liên tục của công nghệ trong sản xuất các sảnphẩm báo chí – truyền thông, khoa Sư phạm Ngữ văn đã chọn tập trung đào tạongành theo hướng báo chí đa phương tiện Trong quá trình đào tạo và giảng dạy, cácgiảng viên đã tạo cơ hội cho sinh viên liên tục thực hành nghề nghiệp gắn với việccộng tác gửi bài cho các cơ quan báo chí.Câu lạc bộ Phóng viên trẻ định kỳ được tổchức hàng tháng để sinh viên có thêm cơ hội rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp,được gặp gỡ các nhà báo giàu kinh nghiệm Bên cạnh đó, khoa còn tổ chức cho sinhviên báo chí tham quan kiến tập một số mô hình tổ chức tòa soạn trong địa bàn tỉnhNghệ An cũng như đi thực tế ở các cơ quan báo chí trong và ngoài tỉnh Song song

Trang 24

với những hoạt động đó, khoa luôn chú trọng xây dựng các nội san thường kỳ nhưTập san Phóng viên trẻ Đó là cơ hội để các sinh viên báo chí thực hành nghề nghiêp.

Trang 25

2.1.2 Đặc điểm nhóm đối tượng khảo sát

Trường Đại học Vinh là cơ sở đào tạo nhân lực ngành Báo chí duy nhất ở Bắcmiền Trung, nên đa phần sinh viên ở đây đều là người vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh,thuận lợi cho việc học và chương trình đào tạo ở trường Đại học Vinh Hay nói cáchkhác sinh viên có điều kiện theo dõi chương trình đào tạo rất gần Tuy nhiên, vì đặctrưng chất giọng khá nặng của địa phương, khả năng sử dụng ngôn ngữ phổ thông(yếu tố cần thiết khi thực hiện các sản phẩm báo chí – truyền thông) còn nhiều hạnchế Đây cũng là trở ngại lớn cho việc rèn luyện ngoại ngữ để mở ra cánh cửa hộinhập

Là một ngành đào tạo non trẻ, điều này vừa là lợi thế khi có thể rút kinhnghiệm từ các cơ sở đào tạo Báo chí khác trong xây dựng chương trình phù hợp vớibối cảnh, xu thế chung của xã hội, nhưng vẫn đảm bảo được các yếu tố riêng, nét đặcthù của sinh viên báo chí trường Đại học Vinh nói riêng Tuy nhiên đây cũng là mộtthách thức đối với ngành Báo chí Trường Đại học Vinh khi phải cạnh tranh với cáctrường / khoa đào tạo có thâm niên và uy tín trên cả nước, nhất là ở vấn đề tuyển sinhđầu vào cũng như cơ hội việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp

Biểu đồ 2.1 Điểm đầu vào của sinh viên ngành Báo chí Đại học Vinh

Xét về tổng thể, ngành Báo chí đã có 5 mùa tuyển sinh, nhưng có điểm đăng

ký xét tuyển chỉ đạt mức trung bình so với mặt bằng chung của trường Đại học Vinh,cũng như điểm đầu vào của các cơ sở đào tạo ngành Báo chí khác trên cả nước Phổđiểm chiếm đại đa số là 16 – 20 điểm, với mặt bằng chung chỉ ở mức trung bình nhưvậy đã đặt ra rất nhiều thách thức và vấn đề trong việc đào tạo, phải cân bằng giữa

Trang 26

mức yêu cầu của nhà tuyển dụng cũng như trình độ chung và năng lực của các sinhviên ngành báo chí Không những thế, điều này còn đặt ra những thách thức đối vớichính sinh viên là phải nỗ lực rất lớn, khi mà ở địa phương như thành phố Vinh không

có nhiều cơ quan báo chí và truyền thông, cơ hội thực hành nghề trong môi trườngchuyên nghiệp vô cùng ít ỏi Ngành mới thành lập nên sự đầu tư còn nhiều hạn chế,bởi vậy sinh viên càng cần phải nỗ lực trau dồi nhiều hơn, để nâng cao khả năng tìmkiếm việc làm sau này Kết quả của việc đào tạo là góp phần để sinh viên nhanhchóng thích ứng với các hoạt động trong ngành, từng bước nâng cao đào tạo kỹ năng,chuyên môn nghiệp vụ chuyên ngành và hơn hết là đáp ứng được nhu cầu ngày càngcao của xã hội và nhà tuyển dụng

Với đặc thù ngành học, sinh viên báo chí có nhu cầu thông tin và giao tiếp xãhội cao, đặc biệt là giao tiếp trực tuyến.Họ cũng là những người nhạy cảm với nhữngbiến động xã hội Các nội dung mà họ thường khai thác để trở thành tác phẩm báo chí– truyền thông thường chính là các chủ đề gần gũi trong đời sống của chính họ nhưmôi trường học đường, đời sống sinh viên, các tấm gương điển hình, tâm tư nguyệnvọng của những người trẻ… Sinh viên Báo chí vô hình chung chính là một cầu nốitruyền thông, quảng bá và phản ánh nhiều khía cạnh của nhà trường trên các phươngtiện truyền thông Bởi vậy, tuy số lượng sinh viên không nhiều nhưng cần được lưu ý

Trang 27

Biểu đồ 2.2 Mức độ sử dụng Internet

Nhóm những người thường xuyên dùng Internet nhiều nhất nằm ở năm thứ 3 vàthứ 4, khi đã quen thuộc với phương thức học tập ở trường đại học, cường độ làm bàitập chuyên ngành lớn và bắt đầu xây dựng các mối quan hệ liên quan đến thực hànhnghề và công việc

Công nghệ ngày càng phát triển, tốc độ mạng nhanh hơn, thiết bị truy cập ngàycàng hiện đại và cơ động hơn, giá thành thì dần giảm xuống, chính những yếu tố này

đã góp phần làm thay đổi thói quen truy cập của những người sử dụng Laptop, loạicông cụ tưởng như không thể thiếu vì tính cơ động và khả dụng dùng để viết bài, tìmkiếm tư liệu, sản xuất sản phẩm báo chí – truyền thông của sinh viên, thực chất chỉđược 15.7% trong số những người được hỏi sử dụng thường xuyên nhất để kết nốiInternet Với 76.9% sinh viên, điện thoại là thiết bị không thể tách rời, nhất là khicông nghệ ngày càng hoàn thiện giúp các ứng dụng trên điện thoại thông minh cũngđáp ứng được các yêu cầu phục vụ cho quá trình tác nghiệp báo chí

Bên cạnh đó, cũng có bộ phận rất hiếm khi sử dụng Internet hoặc sử dụng khôngthường xuyên (chiếm 10.2%) Đây là một con số cần lưu ý, bởi lẽ chức năng của báochí là cung cấp thông tin mà trong thế giới thông tin khổng lồ ấy, việc không sử dụngInternet là một điều khó mà tin được đối với một sinh viên báo chí

Mục đích sử dụng Internet

Tỷ lệ 74.3% người được hỏi lựa chọn Internet với mục đích cập nhật thông tin

là một tỷ lệ lớn, cho thấy đặc thù của sinh viên Báo chí Đây là biểu hiện cho thấy

Ngày đăng: 19/04/2021, 20:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]Charles W. Morris, Mind, Self, and Society (Lý trí, bản thể và xã hội), E. University of Chicago Press. ISBN 978-0-226-51668-4 , 1934 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mind, Self, and Society (Lý trí, bản thể và xã hội)
[3] Frank Webster, Theories of the Information Society (Lý thuyết Xã hội thông tin), 1995, 4th edition 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theories of the Information Society (Lý thuyết Xã hội thông tin)
[4] Fritz Machlup, The Production and Distribution of Knowledge in the United States(Nền sản xuất và phân phối tri thức ở Hoa kỳ),1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Production and Distribution of Knowledge in the UnitedStates(Nền sản xuất và phân phối tri thức ở Hoa kỳ)
[6] Lyon, David, How Will Information Technology Change Our Lives (Công nghệ thông tin sẽ thay đổi cuộc sống của chúng ta như thế nào), Grand Rapids, Mich.: W.B. Eerdmans Pub. Co. ISBN 0-802-80238-9, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: How Will Information Technology Change Our Lives (Công nghệthông tin sẽ thay đổi cuộc sống của chúng ta như thế nào)
[7] Lyon, David, Sociology and the Human Image (Xã hội học và hình ảnh con người), Downers Grove, Illinois: Inter-Varsity Press. ISBN 0-877-84843-2 , 19November 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sociology and the Human Image (Xã hội học và hình ảnh con người)
[9] Herbert Marshall McLuhan, Bruce R. Powers, The Global Village:Transformations in World Life and Media in the 21st Century ( Ngôi làng toàn cầu:Những biến đổi trong đời sống và truyền thông thế giới thế kỷ 21), Oxford University Press, April 1st, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Global Village:"Transformations in World Life and Media in the 21st Century ( Ngôi làng toàn cầu:"Những biến đổi trong đời sống và truyền thông thế giới thế kỷ 21)
[10] Hội thảo Đón làn sóng công nghệ số: Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã sẵn sàng, phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI) phối hợp cùng công ty Google châu Á Thái Bình Dương tổ chức ngày 2/6/2016 tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đón làn sóng công nghệ số: Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã sẵnsàng
[11] Manuel Castells, The Information Age trilogy (Bộ ba tác phẩm Thời đại thông tin), Cambridge, MA; Oxford, UK Blackwell. ISBN 978-0-631-22140-1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Information Age trilogy (Bộ ba tác phẩm Thời đại thông tin)
[12] Marshall McLuhan, The information Age (Thời đại thông tin), London, Arnold, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The information Age (Thời đại thông tin)
[13] Monge & Contractor, Theories of Communication Network (Lý thuyết mạng Truyền thông), 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theories of Communication Network (Lý thuyết mạngTruyền thông)
[14] Tổ chức Phát triển cộng đồng IBM, Kết quả tóm tắt – Báo cáo của nhóm Công tác quốc gia vì Hòa nhập xã hội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tóm tắt – Báo cáo của nhóm Côngtác quốc gia vì Hòa nhập xã hội
[8] Herbert Blumer (1969), Symbolic Interactionism: Perspective and Method( Tương tác biểu tượng: Quan điểm và Phương pháp), New Jersey: Prentice- Hall, Inc. p. vii Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w