1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mỹ thuật Việt Nam – Những biến đổi trong thời đại Công nghệ thông tin (tóm tắt)

27 275 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 335,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, về phương diện nghiên cứu lý thuyết bức tranh toàn cảnh về Mỹ thuật Việt Nam, những biến đổi trong thời đại công nghệ thông tin, cũng như các lý thuyết vận dụng trong nghiên c

Trang 1

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-

Lê Trần Hậu Anh

MỸ THUẬT VIỆT NAM - NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử mỹ thuật

Mã số: 62 21 01 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Hà Nội - 2016

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

BỘ VĂN HOÁ, THÊ THAO VÀ DU LỊCH

Người hướng dẫn khoa học: PSG, TS Nguyễn Ngọc Dũng

Phản biện 1: GS.TS Trương Quốc Bình

Viện Văn hoá Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam

Phản biện 2: PGS.TS Lê Văn Tạo

Trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá

Phản biện 3: PGS TS Hoàng Minh Phúc

Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại:

Viện Văn hoá Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam

Số 32, Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội Vào hồi……giờ… ngày……tháng……năm 2016

Có thể tìm hiểu tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Viện Văn hoá Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những phát minh khoa học và những bước phát triển của công nghệ trên thế giới đã làm thay đổi và ngày càng thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ cuộc sống của con người Khoa học và công nghệ không những tác động vào sự phát triển của cuộc sống xã hội mà còn tác động nhiều đến nghệ thuật nói chung và Mỹ thuật nói riêng Trong quá trình sáng tác của các bậc thày thế giới Khoa học và Công nghệ đã đóng một vai trò rất quan trọng giúp cho các bậc thày thoả mãn những ý tưởng mà họ mong muốn Những cải tiến về kỹ thuật vật liệu, để hoạ sỹ có thể thuận tiện trong quá trình thể hiện bức vẽ Từ nền gỗ đến mặt toan, từ tempera đến sơn dầu để tạo nên hiệu quả của da thịt hay diễn tả ánh sáng lung linh của thiên nhiên thì không thể không nói đến vai trò của khoa học và công nghệ đem lại

Một trong những đặc điểm của nghệ thuật từ giữa thế kỷ 20 đến nay là sự ứng dụng khoa học và công nghệ một cách mạnh mẽ trong sáng tác nghệ thuật nói chung và Mỹ thuật nói riêng Các tác phẩm Mỹ thuật như hội hoạ không còn giới hạn trong hai chiều của khung tranh, chúng cũng chuyển từ những chất liệu thông thường như sơn dầu, thuốc nước… sang những vật liệu tưởng như không liên quan gì đến hội hoạ như hình ảnh động, máy tính, động cơ, âm thanh

Việc áp dụng những tiến bộ của CNTT như một chất xúc tác đã kích thích những nghệ sỹ có nhiều bước biến đổi trong phương pháp sáng tác, cũng như thưởng thức tác phẩm, đồng thời nó cũng có nhiều tác động đến công chúng thưởng thức nghệ thuật

CNTT đã giúp cho người nghệ sỹ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để họ

có được những hình thức chuyển tải những vấn đề xã hội trong cuộc sống đương đại Từ đó dẫn đến sự ra đời những loại hình nghệ thuật chưa từng có trước kia như Video Art, Newmedia Art, Digital Art, Sound Art và Web Art…

Trang 4

Cũng từ đây khái niệm Nghệ thuật thị giác đã được các học giả nghiên cứu và khẳng định vị trí của nó trong sự phát triển của lịch sử Mỹ thuật

Từ khi có chính sách “Đổi mới” (Đại hội Đảng VI-1986), mở cửa của nhà nước, bộ mặt xã hội thay đổi, kinh tế, văn hóa có một diện mạo mới

Việt Nam sớm trở thành một nước có số dân sử dụng các sản phẩm CNTT – truyền thông với tỷ lệ cao trên quy mô dân số Trong Mỹ thuật những loại hình nghệ thuật mới đã được du nhập vào Việt Nam trong khoảng mười lăm năm trở lại đây và sớm được các nghệ sĩ tiếp nhận, đặc biệt là các nghệ sỹ trẻ

Hình thành những nghệ sĩ chuyên sáng tác những hình thức nghệ thuật mới này với kỹ thuật ngày một công phu, phức tạp (như kết hợp giữa âm thanh, ánh sáng và nhiều yếu tố khoa học công nghệ khác), đạt hiệu quả thị giác cao Việc ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin ngày càng phổ biến trong sáng tác Mỹ thuật Tuy nhiên, về phương diện nghiên cứu lý thuyết bức tranh toàn cảnh về Mỹ thuật Việt Nam, những biến đổi trong thời đại công nghệ thông tin, cũng như các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu các loại hình nghệ thuật đương đại vẫn chưa được giới thiệu, nghiên cứu đầy đủ và toàn diện Câu hỏi đặt ra là: CNTT và Mỹ thuật Việt Nam có mối quan hệ như thế nào trong sáng tác mỹ thuật gần đây (đương đại)? Hiệu quả, tác động của nó như thế nào ? Đóng góp của nó như thế nào đối với xã hội ?

Luận án nghiên cứu đề tài “Mỹ thuật Việt Nam - Những biến đổi trong thời đại công nghệ thông tin” Hy vọng thông qua đề tài này, với khả năng nghiên cứu

của mình, NCS sẽ làm rõ sự biến đổi của Mỹ thuật trong thời đại CNTT, đặc biệt

là trong Mỹ thuật Việt Nam Với sự phát triển của CNTT trong xã hội cùng với những biến đổi của Mỹ thuật Việt Nam mà CNTT đem lại Hy vọng Mỹ thuật Việt Nam sẽ khẳng định được những bước sáng tạo mới, tăng cường khả năng giao lưu hợp tác giữa các nghệ sĩ của Việt Nam và quốc tế, nhất là trong bối cảnh

mở rộng hội nhập quốc tế và xu thế “toàn cầu hóa” hiện nay

Trang 5

- Nghiên cứu những biến đổi trong một số tác phẩm thành công và những tác phẩm đã để lại dấu ấn qua các cuộc trưng bày ở Việt Nam trong thời đại CNTT Từ đó, làm rõ hiệu quả của việc sử dụng CNTT trong sáng tác nghệ thuật

- Nghiên cứu cũng chỉ ra những biến đổi về giới thiệu tác phẩm và thưởng thức tác phẩm Mỹ thuật trong thời đại CNTT

- Liên hệ tác phẩm Mỹ thuật Việt Nam với một số tác phẩm đã đạt những thành công mang tính quốc tế của một số nghệ sĩ châu Á và thế giới, trên cơ sở

đó rút ra bài học kinh nghiệm về sự vận dụng CNTT trong sáng tác Mỹ thuật

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những tác giả, tác phẩm Mỹ thuật Việt Nam trong thời đại CNTT

Phạm vi nghiên cứu

- Sự biến đổi của Mỹ thuật trong thời đại CNTT được nghiên cứu trong phạm vi Mỹ thuật Việt Nam và giới hạn trong giai đoạn từ 1997 – 2013, trong đó đối tượng chính là các sự kiện nghệ thuật đương đại tại Hà Nội vì đây là “trung tâm đầu tiên của các thể nghiệm nghệ thuật đương đại”, số lượng các cuộc triển lãm cũng nhiều nhất, ngoài ra còn có một số các triển lãm, của TP Hồ Chí Minh và Huế Tuy nhiên, để làm rõ hơn và bao quát vấn

Trang 6

đề đặt ra, luận án đã nghiên cứu một số tác phẩm thành công của các nghệ sĩ châu Á và thế giới có sử dụng phương tiện CNTT, từ đó rút ra những bài học

để góp phần vào sự phát triển của Mỹ thuật Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu những biến đổi của Mỹ thuật trong thời đại công nghệ thông tin, nghĩa là nghiên cứu tư tưởng, nội dung, hình thức thể hiện (trong

đó có cả các yếu tố kỹ thuật) của tác phẩm Mỹ thuật có sử dụng CNTT Đặc biệt tập trung vào những loại hình nghệ thuật mới như Video Art, Digital Art, Multimedia Art những loại hình có sử dụng công nghệ thông tin nhiều nhất, trực tiếp nhất Trong thực tiễn, việc phát triển các hình thức nghệ thuật mới ngoài yếu tố con người – nghệ sỹ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: cơ chế quản lý, cơ

sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, môi trường văn hóa… Luận án chỉ đúc kết những vấn đề mang tính học thuật để tìm ra những bài học về phát huy công nghệ thông tin trong việc sáng tạo các tác phẩm Mỹ thuật

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Luận án có thể xem là một công trình nghiên cứu một cách toàn diện

và hệ thống về những biến đổi của Mỹ thuật Việt Nam trong thời đại CNTT

- Luận án xác định rõ những tác động của CNTT đối với Mỹ thuật, tìm

ra những yếu tố tích cực mà CNTT đem lại trong sáng tác Mỹ thuật Việt Nam Đây là đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu

và sáng tác các tác phẩm Mỹ thuật ở Việt Nam

- Từ việc nghiên cứu về những biến đổi của Mỹ thuật Việt Nam trong thời đại CNTT Luận án nghiên cứu thực tế sáng tác Mỹ thuật Việt Nam và từ

đó chỉ ra những biểu hiện về sự biến đổi trong quá trình sáng tác, cách thức giới thiệu tác phẩm Mỹ thuật, cũng như cách thưởng thức tác phẩm Mỹ thuật

- Luận án đóng góp vào việc tìm ra những giải pháp phát huy và kết hợp hài hòa những tiến bộ của công nghệ trong sáng tác, góp phần vào việc xây dựng một nền mỹ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 7

- Đề xuất xây dựng chương trình giảng dạy các nghệ thuật có ứng dụng CNTT như Video Art, Sound Art, Multimedia Art… trong các trường nghệ thuật ở Việt Nam

5 Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài

5.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới, bước đầu đã có một số công trình giới thiệu tác giả, tác phẩm và những thành tựu ban đầu của các loại hình nghệ thuật mới có ảnh

hưởng của công nghệ thông tin Cuốn Video Art do Sylvia Martin và Uta

Grosenick biên soạn xuất bản năm 2006 giới thiệu về sáng tác thử nghiệm Video Art trong năm 1970, các nghệ sĩ và tác phẩm tiêu biểu Trong khi đó

cuốn Newmedia Art xuất bản năm 2006 của Mark Tribe và Reena Jana trình

bày về nghệ thuật trong thời đại truyền thông kỹ thuật số, đặc biệt nhấn mạnh đến sự ra đời của Internet năm 1994 như một xúc tác phổ biến phong trào nghệ thuật toàn cầu trong việc khám phá khả năng văn hóa, xã hội và thẩm

mỹ của công nghệ truyền thông mới Cuốn sách không chỉ tập trung vào các

công nghệ và hình thức mà còn phân tích các khái niệm.Postmodern Currents: Art and Artists in the Age of Electronic Media của Margot Lovejoy

năm 1996, tập trung vào nghệ thuật và nghệ sĩ trong thời đại truyền thông, khám phá công nghệ video, máy tính và internet, trải nghiệm mỹ học và xem xét vai trò của các nghệ sĩ Jenny Holzer, Nam June Paik, Bill Viola, Gary Hill, và Laurie Anderson… Tác giả chỉ ra các công cụ điện tử đã tác động đến nghệ sĩ, tạo nên quan điểm mới về nghệ thuật, ảnh hưởng đến cách nhìn,

tư duy, sáng tác và cả cách giới thiệu và truyền thông tác phẩm

Các công trình như Art at the turn of the Millenium, Art of the 20 th Century Painting-Sculture-Newmedia- Photography, Art now Vol 2… do nhà xuất bản Taschen xuất bản; Styles, school and Movement, Art: From Impressionism to the Internet, Art Today, Understanfing Instalation Art From Duchamp to Holzer, Art through the ages… của các nhà xuất bản

Trang 8

Prestel, Phaidon, W W Norton & Co Inc, Harcoart Brace Jovanovich… nghiên cứu và trình bày về nghệ thuật đương đại phương Tây trong giai đoạn phát triển khoa học và CNTT

Tuy ít nhiều đã xuất hiện những nhận định về ứng dụng khoa học công nghệ thông tin trong sáng tác nghệ thuật song chưa có công trình nào đặt mục tiêu nghiên cứu “Những biến đổi của Mỹ thuật Việt Nam trong thời đại CNTT” là vấn đề trọng tâm để nghiên cứu

5.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

a Nghiên cứu về các loại hình nghệ thuật mới

Các loại hình nghệ thuật mới ra đời luôn là đối tượng được các nghệ

sỹ, các nhà nghiên cứu quan tâm Ở phương Tây các tư tưởng, khái niệm, đặc trưng nghệ thuật, hoàn cảnh ra đời, giá trị của các loại hình nghệ thuật mới trong thời kỳ hậu hiện đại đã được bàn đến khá sâu rộng Tuy nhiên ở Việt Nam, các vấn đề này mới được bàn rải rác trong một số sách, tiểu luận, bài báo phê bình, nghiên cứu văn học và một số hội thảo khoa học Cuốn sách

Nghệ thuật Môđéc và Hậu Môđéc (1996) của tác giả Lê Thanh Đức có thể

xem là công trình mang tính giới thiệu, tổng hợp đầu tiên về các trào lưu nghệ thuật phương Tây ra đời trong thời kỳ hậu hiện đại

b Nghiên cứu về sự tác động CNTT trong Mỹ thuật Việt Nam

Công việc nghiên cứu Mỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn gần đây thể

hiện trong các công trình như: 20 năm Mỹ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nghệ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa của Viện Mỹ thuật thuộc

Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam Các nghiên cứu cho thấy sau mở cửa và đổi mới, Mỹ thuật Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ

Các họa sỹ đã nhanh chóng hòa nhập với nghệ thuật quốc tế, đặc biệt các nghệ sỹ trẻ đã có điều kiện hơn để tiếp cận các loại hình nghệ thuật mới như Video Art, Installation Art… Một số bài viết đã chỉ ra sự ứng dụng khoa học công nghệ thông tin góp phần trong việc hỗ trợ sáng tác nghệ thuật, tạo ra các

Trang 9

hiệu quả thẩm mỹ mới phù hợp với thời đại Vài nét về hình thức Video Art ở Việt Nam của tác giả Phạm Trung khái quát về hình thức Video Art ở Việt Nam

từ năm 1998 đến 2006, Nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Quân trong bài Nghệ thuật đương đại sống với cộng đồng giới thiệu về quá trình nghệ thuật đương đại

vào Việt Nam Bài viết “Tái định nghĩa quá khứ và chuyển hóa không gian công cộng: Hai chiến thuật gần đây của các nghệ sĩ đương đại Việt Nam trong những năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới”của tác giả Nguyễn Như Huy Hay như Richard Streitmatter - Tran đã đề cập đến một số điều kiện quan trọng có ảnh

hưởng tới việc sáng tạo nghệ thuật đương đại ở Việt Nam trong bài viết Các giai đoạn và điều kiện cho việc sáng tạo nghệ thuật đương đại ở Việt Nam

Năm 2011, Hội thảo khoa học toàn quốc Nghệ thuật đương đại Việt Nam hướng tới cộng đồng tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nghệ thuật

đương đại, đề cập đến sự thay đổi căn bản về cách thức tiếp cận, mối quan hệ giữa nghệ sĩ và công chúng Ta có thể thấy các loại hình nghệ thuật có ứng dụng khoa học và công nghệ thông tin như Video Art, Multimedia Art, Digital Art, là một phần quan trọng của nghệ thuật đương đại Việt Nam

Tuy nhiên vẫn chưa có những nghiên cứu sâu chỉ ra những biểu hiện của khoa học và công nghệ trong các loại hình nghệ thuật mới như Video Art, Sound Art, Multimedia Art; cũng như chưa có những nhận định, đánh giá những giá trị của việc vận dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong sáng tác Mỹ thuật ở Việt Nam

Đề tài “Mỹ thuật Việt Nam - những biến đổi trong thời đại công nghệ thông tin” của NCS là một đề tài mới Qua đề tài của luận án có thể hiểu sâu hơn về

những giá trị của các loại hình nghệ thuật chịu tác động của khoa học và công nghệ, đồng thời sẽ nhận biết rõ hơn mối quan hệ giữa CNTT và Mỹ thuật, nhận biết rõ hơn giá trị tình cảm của các tác phẩm có sử dụng phương tiện CNTT

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành Với các thao tác như

sau: Thu thập thông tin, Phân tích tài liệu, Phân tích tác phẩm, Phương pháp phỏng vấn, Sử dụng phương pháp định tính, định lượng, Phương pháp so sánh

7 Giả thuyết khoa học của đề tài

7.1 Công nghệ thông tin và những thay đổi trong nghệ thuật

Một câu hỏi đặt ra là nếu không có CNTT thì nghệ thuật có thay đổi hay không? Trên thực tế nghệ thuật luôn đòi hỏi phải thay đổi và làm mới, đó chính là sự sáng tạo

CNTT tác động đến mọi mặt của đời sống con người tạo ra một xã hội thông tin Những thay đổi này đã tạo ra nhiều hình thái nghệ thuật mới, mà nhiều khi nó là sự tổng hòa của những loại hình nghệ thuật trước đó

CNTT đã tạo điều kiện, có thể coi là chất xúc tác để các nghệ sỹ sáng tạo nên nhiều loại hình nghệ thuật mới như Video Art, Digital Art, Sound Art…, tăng thêm sức biểu hiện của nghệ thuật và tạo nên mối quan hệ mới, tương tác giữa người xem và người sáng tác

Khi CNTT ra đời đã hình thành nên xã hội thông tin, nó tác động mọi mặt vào đời sống của con người, nên hiển nhiên nó đã tạo nên sự thay đổi to lớn đối với nghệ thuật

7.2 Nhận thức về thế giới thay đổi hay không khi xuất hiện CNTT

Thế giới mà không có CNTT thì chắc chắn sẽ vẫn có những sự thay đổi

về nhận thức Nhưng tốc độ của sự thay đổi này sẽ diễn ra chậm chạp hơn rất nhiều Bởi các phương tiện trước đó không đủ khả năng truyền tải được một lượng dữ liệu lớn như CNTT có thể đưa đến cho con người

Khi CNTT ra đời nó đã ảnh hưởng lớn đến nhận thức của con người về thế giới quan xung quanh mình Nó giúp cho con người xóa bỏ các rào cản

về khoảng cách, về không gian, và cả thời gian Trong một xã hội thông tin phát triển như vũ bão hiện nay, con người dường như lớn nhanh hơn, hấp thu được nhiều kiến thức hơn

Trang 11

7.3 CNTT thay đổi giá trị chuẩn mực thẩm mỹ truyền thống

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ đã góp phần tạo điều kiện cho nghệ sĩ có thể thực hiện được những ý tưởng, những biểu hiện tình cảm của mình Thành quả của những tác phẩm mà nghệ sĩ sáng tạo ra đã khẳng định thẩm mỹ nghệ thuật của mỗi thời kỳ

CNTT cũng đã tác động vào tiến trình toàn cầu hóa, tạo điều kiện cho mọi người trên thế giới dễ dàng hiểu nhau hơn Nhiều giá trị chuẩn mực văn hóa thẩm mỹ truyền thống được thay đổi Những quan niệm về thẩm mỹ mới được hình thành tại nhiều quốc gia và là sự kết hợp từ những bản sắc của mỗi dân tộc kết hợp với những nền văn hóa mới bên ngoài đem đến; ở đây CNTT

đã trở thành một công cụ nhanh nhất để phát tán văn hóa, cũng như phổ biến văn hóa tới mọi nơi Khi mà truyền hình và mạng thông tin toàn cầu (internet) càng ngày càng trở nên phổ biến người ta sống quen với việc sử dụng các sản phẩm CNTT, chịu mọi tác động của xã hội CNTT, thẩm mỹ của con người cũng thay đổi theo sự thay đổi của xã hội CNTT dường như

đã lan tỏa mọi ngóc ngách của cuộc sống

7.4 Ở Việt Nam CNTT có thực sự ảnh hưởng đến những biến đổi trong sáng tác, thưởng thức, cũng như quảng bá tác phẩm Mỹ thuật hay không ?

Kể từ 1925 khi ra đời trường Mỹ thuật Đông Dương chúng ta mới có một loại hình Mỹ thuật theo các trường phái phương Tây với các khoa học về giải phẫu, luật xa gần, hình hoạ…, một thẩm mỹ mới về Mỹ thuật ra đời Từ khi có chính sách Đổi mới, CNTT du nhập vào VN và nhanh chóng trở nên phổ biến trong đời sống xã hội Trong xã hội CNTT nhiều phương tiện của CNTT đã có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội Nghệ thuật trong đó có Mỹ thuật cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng ấy Nhiều loại hình mới trong Mỹ thuật ra đời Phương pháp sáng tác và trình bày tác phẩm cũng có nhiều sự biến đổi, tác phẩm của nghệ sỹ và công chúng có sự tương tác lẫn nhau Người thưởng thức nhiều khi tham gia vào cùng tác phẩm (Video Art, Sắp đặt…)

Trang 12

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu (20 trang), Kết luận (7 trang), Tài liệu tham khảo (7 trang) và Phụ lục (42 trang), nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về mỹ thuật trong thời đại CNTT (29 trang) Chương 2: Sự kết nối giữa Mỹ thuật và CNTT (43 trang)

Chương 3: Những biến đổi của MTVN trước tác động của CNTT (30

trang)

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỸ THUẬT TRONG THỜI ĐẠI CNTT

1.1 Khái niệm Mỹ thuật

“Mỹ thuật” là từ dùng để chỉ các loại nghệ thuật tạo hình như Hội hoạ,

đồ hoạ, điêu khắc, kiến trúc Nói cách khác, từ mỹ thuật (đẹp + nghệ thuật) chỉ cái đẹp do con người hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt ta nhìn thấy được, vì

lý do này người ta còn dùng từ nghệ thuật thị giác để nói về mỹ thuật Ngày nay khái niệm về Mỹ thuật cũng đã thay đổi Nằm trong không gian chung của nghệ thuật đương đại, nơi mọi loại hình nghệ thuật đang dần gỡ bỏ các đường biên giới về hình thức thể hiện Nhiều loại hình nghệ thuật mới được hình thành như Nghệ thuật Sắp đặt, Video Art, Nghệ thuật trình diễn, cũng được nằm trong Mỹ thuật

Tổng kết lại trong quá trình phát triển của Mỹ thuật, kể từ khi có các cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khi có sự phát triển của CNTT thì khái niệm của Mỹ thuật đã được mở rộng ra rất nhiều Mỹ thuật đã bao gồm gần như toàn bộ các loại hình, chất liệu có thể tạo nên hình ảnh cho người thưởng thức Nhiều tác phẩm được hình thành dựa trên nhiều cách nhìn khác nhau, vì vậy mà có sự xuất hiện của những thứ tưởng như không

Trang 13

thuộc Mỹ thuật thì ngày nay đã năm trong Mỹ thuật như video, âm thanh, vũ đạo

1.2 Khái niệm Biến đổi Văn hoá

Biến đổi văn hoá, theo nghĩa rộng đó là sự thay đổi so sánh với một tình trạng văn hoá hoặc một nền văn hoá có trước Khi một xã hội có những chính sách thay đổi về kinh tế, về văn hoá, về giáo dục thì cũng dẫn đến những biến đổi về xã hội, những biến đổi văn hoá Tiếp xúc và giao lưu văn hoá là sự tác động qua lại, ảnh hưởng đến nhau tạo nên những nét biến đổi văn hoá Khi một xã hội có những chính sách thay đổi về kinh tế, về văn hoá,

về giáo dục thì cũng dẫn đến những biến đổi về xã hội, những biến đổi văn hoá Tiếp xúc và giao lưu văn hoá cũng là một nguyên nhân quan trọng của biến đổi văn hoá Tiếp xúc và giao lưu văn hoá là sự tác động qua lại, ảnh hưởng đến nhau tạo nên những nét biến đổi văn hoá

1.3 Khái quát về các loại hình nghệ thuật mới

a Khái quát về Chủ nghĩa Hậu hiện đại (Post Modernism)

Khái niệm “Hậu hiện đại” được nhiều nhà phê bình sử dụng để mô tả

xu hướng văn hóa nghệ thuật muốn vượt qua phạm vi, ranh giới của chủ nghĩa hiện đại Thuật ngữ "hậu hiện đại" bao hàm hai nghĩa: ở nghĩa thứ nhất, nó chỉ khoảng thời gian sau thời kỳ hiện đại; ở nghĩa thứ hai, nó hàm chỉ tính chất của văn hóa trong giai đoạn hậu hiện đại Nhìn chung, nghĩa

«hậu hiện đại» là một thuật ngữ triết học đề cập đến nghệ thuật, văn học, chính trị, xã hội và các khía cạnh của xã hội sau chiến tranh thế giới thứ hai

b Khái quát về Nghệ thuật đương đại (Contemporary Art)

Các loại hình nghệ thuật của ngày hôm nay và được lan toả rộng khắp thế giới và có thể được tính từ năm 1980 Tuy nhiên phải đến thập niên 1990 việc phát minh ra internet với sự liên kết thông tin toàn cầu, sự ra đời của thời đại kỹ thuật số, cùng nhiều sự biến đổi trong chính trị và xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, nghệ thuật đương đại gắn liền với sự phát triển

Ngày đăng: 25/02/2016, 09:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w