1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Đề cương CNSXLR ô tô

22 244 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Lắp SKD Semi Knock Down: SXLR ô tô từ các linh kiện là chi tiết rời hoặccụm – tổng thành bán hoàn chỉnh được nhập từ nước ngoài và sẽ được lắp ráp thành cụm – tổng thành và ô tô hoàn c

Trang 1

LÝ THUYẾT

Câu 1 Phân loại nhà máy SXLR ô tô theo chuyên môn hóa, quy mô SXLR

và mức độ hoàn thiện của linh kiện nhập khẩu và tỷ lệ nội địa hóa

Phân loại theo chuyên môn hóa:

- Nhà máy SXLR linh kiện ô tô: có chức năng chế tạo một số chi tiết và lắp ráp thành các cụm – tổng thành của ô tô như động cơ, hộp số, cụm nhíp lá,trục khuỷu, tấm ma sát, kính,

- Nhà máy lắp ráp cụm – tổng thành và ô tô: chức năng chủ yếu của nhà máy là lắp ráp các linh kiện ô tô do các nhà máy khác sản xuất thành cụm-tổng thành và ô tô Nhà máy không có gia công cơ, gia công áp lực, để chế tạo chi tiết Các dây chuyền và trang thiết bị công nghệ chủ yếu là phục vụ công tác lắp ráp với máy hàn, máy tán đinh, dụng cụ cầm tay và sơn phủ bề mặt

- Nhà máy SXLR ô tô: có chức năng gia công chế tạo một số linh kiện (chủ yếu là khung và thân vỏ), kết hợp với linh kiện do các nhà máy khác chế tạo để SXLR ô tô

Phân loại theo quy mô sản xuất lắp ráp

- Quy mô SXLR đơn chiếc: theo quy mô này, hầu hết trang thiết bị và máy móc thuộc loại vạn năng, còn trang thiết bị chuyên dùng chỉ sử dụng bắt buộc khi thiếu chúng thì không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm Đối với công nghiệp SXLR ô tô, loại quy mô đơn chiếc chỉ được sử dụng chomột số chủng loại đặc biệt (không đặc chứng cho quy mô của cả nhà máy),năng suất lao động kém, giá thành đắt

- Quy mô SXLR hàng loạt: được đặc trưng bằng sản xuất theo lô hàng, các sản phẩm cùng lô được sản xuất đồng thời, có sử dụng cả máy vạn năng

và máy chuyên dùng Các máy có thể bố trí theo nhóm hoặc theo quy trình công nghệ Có ba dạng sản xuất: hàng loạt nhỏ, hàng loạt vừa và hàng loạt lớn

- Quy mô SXLR hàng khối: đặc trưng bằng sản lượng xuất xưởng hàng nămrất lớn Quy mô này cho phép tự động hóa và cơ giới hóa quá trình công nghệ SXLR

Theo quyết định 115/2004/QĐ-BCN của bộ Công nghiệp, đối với các nhà máy SXLR ô tô tại Việt Nam, thì công suất tính cho một ca sản xuất được quy định tối thiểu như sau: ô tô khách là 3000 xe/năm; ô tô tải dưới 5 tấn

là 5000 xe/năm; ô tô tải từ 5-10 tấn là 3000 xe/năm; ô tô tải trên 10 tấn là

1000 xe/năm; ô tô con là 10.000 xe/năm

Phân loại theo mức độ hoàn thiện của linh kiện nhập khẩu và tỷ lệ nội địa hóa:

- Lắp ráp CBU (Completely Body Unit): ô tô được sản xuất ở nước ngoài và nhập khẩu về ở dạng nguyên chiếc, có khung và thân vỏ, động cơ, hệ thống truyền lực, được lắp ráp và sơn hoàn chỉnh

- Lắp SKD (Semi Knock Down): SXLR ô tô từ các linh kiện là chi tiết rời hoặccụm – tổng thành bán hoàn chỉnh được nhập từ nước ngoài và sẽ được lắp ráp thành cụm – tổng thành và ô tô hoàn chỉnh với một số linh kiện có thể được sản xuất trong nước

- Lắp CKD (Completely Knock Down): các linh kiện nhập về có mức độ tháorời cao hơn ở phương pháp SKD và khung vỏ chưa được sơn

Trang 2

- Lắp IKD (Incompletely Knock Down): SXLR ô tô từ các linh kiện nhập từ nước ngoài và với số lượng đáng kể các linh kiện sản xuất trong nước Mức

độ IKD thường áp dụng khi chuẩn bị cho quá trình nội địa hóa sản phẩm với bản quyền kỹ thuật được chuyển giao từ chính hãng

Câu 2 Trình bày các quá trình công nghệ cơ bản trong SXLR ô tô Vẽ sơ

đồ minh họa

Có ba quá trình công nghệ cơ bản trong SXLR ô tô:

- Quá trình công nghệ chế tạo chi tiết: là các tác động làm thay đổi trạng

thái hình học như kích thước, hình dáng, vị trí tương quan giữa các bề mặt của chi tiết thay đổi tính chất cơ lý như độ cứng, độ bền, ứng suất dư, trạng thái bề mặt của chi tiết Các chi tiết có thể được chế tạo tại nhà máy SXLR ô tô hoặc có thể được chế tạo tại các nhà máy phụ trợ

- Quá trình công nghệ lắp ráp: là các tác động tạo ra vị trí tương quan xác

định giữa các chi tiết, thông qua các mối lắp ghép giữa chúng để tạo thànhsản phẩm là các linh kiện (cụm - tổng thành, khung và thân vỏ ô tô) và ô tô;

- Quá trình kiểm tra, thử nghiệm và hiệu chỉnh: nhằm xác định chất lượng

của sản phẩm trong SXLR là các cụm-tổng thành và ô tô Công tác hiệu chỉnh (thay đổi tương quan giữa các chi tiết như điều chỉnh khe hở má phanh, hành trình bàn đạp phanh, ly hợp, ; thay đổi đại lượng vật lý như

áp suất, thời điểm và lưu lượng phun nhiên liệu, ) nhằm đảm bảo các yêu cầu chất lượng của sản phẩm đã đề ra

Câu 3 Trình bày các giai đoạn chính của quá trình hình thành các sản

phẩm cơ khí nói chung Vẽ sơ đồ

Trang 3

Các giai đoạn chính của quá trình hình thành các sản phẩm cơ khí nói chung:

- Hình thành ý tưởng: đây là giai đoạn sản phẩm được hình thành từ ý

tưởng của nhà sản xuất và nhu cầu của thị trường Ở giai đoạn này, sản phẩm được xác định sơ bộ tính năng, công dụng và quy cách:

- Thiết kế: có nhiệm vụ nghiên cứu về vật liệu, tải trọng tác dụng, tính toán

độ bền, độ tin cậy và tính bảo dưỡng sửa chữa của sản phẩm Thiết kế hoàn chỉnh sản phẩm trước khi đưa qua bộ phận sản xuất;

- Nghiên cứu phát triển: có nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến, nghiên cứu sản

xuất sản phẩm mới, nghiên cứu các công nghệ mới ứng dụng vào lĩnh vực sản xuất, xác định sản lượng trên cơ sở thông tin về nhu cầu thị trường và dịch vụ sau bán hàng Sau đó tiến hành chế thử và thực nghiệm sản phẩm với mục đích kiểm nghiệm về chất lượng sản phẩm thoả mãn yêu cầu đặt

ra

- Tổ chức sản xuất: tổ chức sản xuất có nhiệm vụ nghiên cứu các bản vẽ

thiết kế và các yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm từ đó tổ chức sản xuất và lập quy trình công nghệ chế tạo sao cho đạt hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao nhất trong điều kiện cho phép;

- Chế tạo sản phẩm: sau khi sản phẩm chế thử và hình thức tổ chức sản

xuất được thẩm định, sản phẩm được sản xuất theo thiết kế và quy mô đã định ở giai đoạn nghiên cứu phát triển sản phẩm;

- Xã hội – thị trường: giai đoạn này tuy không trực tiếp tham gia vào sản

xuất nhưng có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình hình thành sản phẩm, bao gồm các khâu tiếp thị và khai thác sử dụng Khâu tiếp thị là đầu mối giữa cung và cầu, có nhiệm vụ chào và bán hàng, nắm bắt nhu cầu và kích thích nhu cầu của thị trường Qua đó tạo ra thị trường mới và dự báo về nhu cầu phát triển về số lượng, chất lượng cũng như nhu cầu về sản phẩm mới Thông tin phản hồi mang tính thống kê trong khai thác sử dụng của khách hàng, của các đại lý dịch vụ sau bán hàng giúp cho doanh nghiệp sản xuất hoàn thiện hơn sản phẩm của mình

Các thông tin về kết quả nghiên cứu và sản xuất ở mỗi giai đoạn trên đều được thẩm định và đưa ra kết luận có hay không tiến hành giai đoạn tiếp theo hoặc thực hiện lại Sự kết hợp thông tin giữa các giai đoạn giúp cho nhà sản xuất tiến tới tối ưu hóa sản phẩm theo các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật

Trang 4

Câu 4 Nêu tóm tắt các phương pháp chế tạo phôi trong chế tạo chi tiết ô

tô Phân nhóm các chi tiết ô tô (51)

Các phương pháp chế tạo phôi:

- Phôi chế tạo bằng phương pháp đúc

- Phôi chế tạo bằng phương pháp gia công áp lực

- Phối hàn

- Phôi đúc thiêu kết

- Phôi phi kim loại

Phân nhóm các chi tiết ô tô

-Nhóm chi tiết dạng hộp (vỏ dày): bao gồm những chi tiết có hình khối

rỗng, thường làm nhiệm vụ của chi tiết cơ sở để lắp các đơn vị lắp khác lên

nó tạo thành cụm hoặc tổng thành của ô tô, như: thân động cơ và nắp máy, vỏ hộp số, vỏ cơ cấu lái Nhìn chung, hộp là loại chi tiết phức tạp, khó gia công, khi chế tạo phải đảm bảo nhiều yêu cầu kỹ thuật khác

nhau

-Nhóm các chi tiết dạng càng: là loại chi tiết có một hoặc một số lỗ cơ bản

cần gia công đạt độ chính xác cao mà đường tâm của chúng song song vớinhau hoặc tạo với nhau một góc nào đó và một số yếu tố khác cần phải gia công như mặt đầu, rãnh then, lỗ dầu Càng gạt sang số, đòn mở xu-páp, thanh truyền, đòn quay đứng, càng chữ A đều thuộc nhóm chi tiết dạng càng

-Nhóm các chi tiết dạng trục: trục là loại chi tiết được dùng rất phổ biến

trên ô tô, có nhiệm vụ truyền chuyển động quay, mômen xoắn và chịu lực phức tạp như xoắn, uốn Các chi tiết dạng trục có bề mặt cơ bản cần gia công là mặt tròn xoay ngoài, mặt này thường dùng làm mặt lắp ghép Tùy theo kết cấu mà ta có thể chia ra các chi tiết dạng trục ra các loại sau: trục trơn (chốt trụ đứng, chốt piston); trục bậc (trục hộp số, trục cam); trụcrỗng (trục các đăng, trục lái); trục răng (trục sơ cấp, trục trung gian hộp số); trục lệch tâm (trục khuỷu động cơ, trục khuỷu máy nén khí)

-Nhóm các chi tiết dạng trụ rỗng: là những chi tiết có dạng tròn xoay, hình

ống, thành mỏng, mặt đầu có vai hoặc không có vai, mặt trong có thể trụ hoặc trục bậc Bề mặt làm việc và bề mặt lắp ghép thường là một trong hoặc mặt ngoài Trên ô tô các chi tiết như ống lót xi lanh, moay ơ bánh xe, trống phanh, ống lót con đội xu páp thuộc nhóm trụ rỗng

-Nhóm các chi tiết dạng bạc: thường được dùng làm chi tiết đỡ ổ quay,

chịu mài mòn và đặc biệt là khả năng thay thế được, như bạc đầu to và đầu nhỏ thanh truyền bạc cổ trục cam, bạc cầu cân bằng, bạc chốt trụ đứng Các chi tiết dạng bạc mặt đầu có vai hoặc không có vai, thường cócác rãnh hoặc lỗ ngang để dẫn dầu bôi trơn

Câu 5 Trình bày phôi trong chế tạo khung và thân vỏ ô tô

Phối chế tạo khung ô tô

Phôi để chế tạo khung ô tô (các dầm dọc và xà ngang) thường là thép tấm 16Mn hoặc loại tương đương, có độ dày từ 4 mm trở lên và được dập hoặc cán định hình ở trạng thái nguội hoặc nóng Phương pháp dập định hình thường áp dụng để chế tạo dầm có tiết diện thay đổi và có chỗ uốn theo chiều dọc trong mặt phẳng ngang Phôi cán định hình dùng để chế tạo dầm có tiết diện không đổi và không có chỗ uốn Trong một số trường hợp, chi tiết của khung được chế tạo bằng cách kết hợp giữa gia công áp lực và

Trang 5

liên kết bằng đinh tán hoặc hàn để tạo chi tiết có tiết diện phức tạp,

thường sử dụng hàn hồ quang dưới lớp khí bảo trợ như CO2, hàn TIG và hàn MIG cho chất lượng mối hàn cao cao

Sau khi tạo hình cho phối kim loại, tiến hành ủ thường hóa hoặc nhiệt luyện, cắt sửa và nắn trên máy ép để đảm bảo đúng kích thước, hình dạng

và chất lượng theo yêu cầu Chú ý khi hàn phải có dưỡng để đảm bảo các chi tiết không bị cong vênh

Phôi chế tạo thân vỏ ô tô

Khung xương của thân vỏ thường được chế tạo từ phôi thép định hình với vật liệu là thép CT3, SS400 và Q235 và liên kết với nhau bằng phương pháp hàn tạo thành các mảng khung xương Để giảm bớt trọng lượng của khung xương, tại một số vị trí không yêu cầu chịu lực có thể sử dụng kim loại màu hoặc hợp kim của chúng Phối kim loại định hình có thể được gia công áp lực để có hình dáng thích hợp nhằm nâng cao tính thẩm mỹ và khíđộng học của thân vỏ ô tô

Vật liệu để chế tạo phần vỏ ô tô thường là thép tấm cán nóng (CT3, SS400,Q235, A36, A572 ) hoặc thép tấm cán nguội (08K, 08YU, SPCC, SPCC, SPCD ) có độ dày đến 1.5 mm Đối với sàn ô tô hoặc vỏ thùng hàng có thể sử dụng thép tấm có độ dày đến 3.0 mm và có gân chống trơn trượt Các loại thép tấm thường dùng trong chế tạo vỏ ô tô gồm:

- Thép tấm cán nóng: thép tấm cán nóng được gia công ở nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ kết tinh lại Thép tấm cán nóng có tính dẻo cao, dễ biến dạng, phù hợp với gia công áp lực trong tạo hình và có khả năng chống ăn mòn hóa học Tuy nhiên, loại này có nhược điểm là chất lượng bề mặt thấp, dễ

bị ô xy hóa trong quá trình gia công

- Thép tấm cán nguội: là sản phẩm của thép tấm cán nóng được nhúng qua bể a-xít để tẩy rỉ, sau đó cán ở nhiệt độ thường và ủ khử ứng suất Đây

là loại vật liệu chủ yếu dùng trong chế tạo vỏ ô tô So với thép tấm cán nóng thì thép tấm cán nguội có độ bóng, độ cứng bề mặt và khả năng chống mài mòn cao hơn Tuy nhiên thép tấmcán nguội có khả năng chống

ăn mòn hóa học thấp, dễ bị rỉ sét khi tiếp xúc với môi trường không khí

- Thép tấm phủ kẽm: sử dụng thép tấm sau đó phủ lên bề mặt lớp kẽm bằng hai phương pháp: mạ kẽm và tráng kẽm Phương pháp phủ kẽm bằng

mạ điện cho chất lượng bề mặt tốt hơn, lớp mạ kẽm mỏng và ít tốn hao kim loại mạ Tuy nhiên quá trình mạ tương đối phức tạp, chi phí cao

Phương pháp tráng kẽm là nhúng thép tấm vào bể kẽm nóng chảy để kẽm bám vào bề mặt Quá trình tráng kẽm đơn giản, những độ bóng lớp kẽm tráng thấp, độ dày không đồng đều và tổn hao kim loại lớn hơn so với phương pháp mạ Tôn phủ kẽm có tính chống gỉ và chống ăn mòn hóa học cao, nhưng tính hàn và tính sơn kém

- Thép tấm hai pha: là thép tấm được tôi, ủ liên tục để tạo thành kim loại

có hai cấu trúc pha là Mác-ten-xít (M) và Fe-rít (a), có độ bền, độ cứng và ứng suất kéo cao (5.5 kG/mm2) Thép tấm hai pha dùng để chế tạo các chitiết có yêu cầu chịu lực như cánh cửa hay tấm cản trước

- Thép tấm có công dụng đặc biệt: thép tấm được chế tạo với thành phần hóa học và phương pháp gia công đặc biệt, có cơ tính và chất lượng bề mặt cao, có khả năng chống rỉ và ăn mòn hóa học, thường dùng khi có yêu

Trang 6

cầu đặc biệt đối với thân vỏ ô tô Nhược điểm của loại thép này là tính là tính công nghệ kém

Từ phôi thép tấm, phối của chi tiết vỏ ô tô được chế tạo bằng dập cắt hoặccắt tạo hình Phối của các chi tiết có hình dạng đơn giản thì cắt bằng máy sấn tôn, với phối của các chi tiết có hình dạng phức tạp phải dựng khuôn dập cắt hoặc cắt theo biến dạng định trước bằng máy cắt hoặc cắt bằng nhiệt Trước khi cắt phải chú ý phân bố hợp lý vị trí phôi chi tiết ở các phối tấm kim loại để nâng cao khả năng sử dụng vật liệu Chỉ tiêu đặc trưng chomức độ sử dụng hợp lý vật liệu là hệ số sử dụng vật liệu

Câu 6 Trình bày đặc điểm, phạm vi ứng dụng của nguyên công dập cắt

và đột lỗ

Dập cắt và đột lỗ dùng để cắt phôi chi tiết theo đường viền khép kín, vì vậy phải cắt bằng khuôn cắt hoặc mũi đột có lưỡi cắt cũng là đường viền khép kín Khi dập cắt và đột lỗ dùng chày và cối có cạnh sắc để tạo thành lưỡi cắt Đặc điểm chung của dập cắt và đột lỗ là lực cắt phân bố trên toàn

bộ chu vi cắt nên đường cắt có chất lượng tốt, hành trình cắt nhỏ và có thể cắt được những đường cong khép kín phức tạp Tuy nhiên, yêu cầu cần lực cắt lớn và phải chế tạo khuôn dập cắt, đối với các chi tiết phức tạp giá thành chế tạo khuôn sẽ cao Khi dập cắt cần tránh làm các góc nhọn, cần thiết kế góc lượn để dễ cắt và tăng bền cho chày và cối

Câu 7 Trình bày đặc điểm các phương pháp hàn tiếp xúc ứng dụng trong

hàn lắp ráp khung và thân vỏ ô tô

Hàn tiếp xúc là một dạng hàn áp lực, dùng dòng điện có cường độ lớn Do

bề mặt tiếp xúc có độ nhấp nhô, diện tích tiếp xúc thực tế bé hơn nhiều so với diện tích tiếp xúc danh nghĩa, mặt khác trên bề mặt có màng ôxit và không sạch hoàn toàn nên điện trở tiếp xúc lớn, nhiệt lượng lớn tập trung tại vị trí tiếp xúc làm nóng chảy đến trạng thái hàn

Các phương pháp hàn tiếp xúc dễ cơ khí hóa và tự động hóa do vậy năng suất rất cao, được sử dụng nhiều trong hàn lắp thân vỏ ô tô con, vỏ ô tô khách, cabin ô tô tải Dòng điện hàn có cường độ rất lớn, thời gian tác dụng ngắn, nhiệt tập trung nên vùng kim loại lân cận ít bị ảnh hưởng

nhiệt, chi tiết ít biến dạng Mặt khác, không phải dùng que hàn, thuốc hàn hay khí bảo vệ nên mối hàn không có xỉ mà chất lượng mối hàn vẫn đảm bảo

Câu 8 Vẽ sơ đồ và trình bày quá trình công nghệ chế tạo chi tiết và lắp

ráp khung ô tô

Trang 7

Câu 9 Trình bày việc phân chia thân vỏ ô tô thành các đơn vị lắp ráp?

Điều kiện phân chia các đơn vị lắp ráp

Phân chia thân vỏ ô tô thành các chi tiết và đơn vị mảng, gọi chung

là đơn vị lắp ráp, là một bước quan trọng trong thiết kế cũng như trong công nghệ chế tạo thân vỏ ô tô Phân chia đúng sẽ giảm được thời gian chuẩn bị sản xuất, giảm độ dài của chu kỳ sản xuất; nâng cao chất lượng sản phẩm; đảm bảo sự song song giữa các dây chuyền chế tạo các đơn vị mảng và dây chuyền chế tạo thân vỏ ô tô; thuận lợi cho cơ giới hóa và tự động hóa quá trình lắp ráp

Vị trí phân chia và phương pháp lắp ráp giữa các đơn vị lắp ráp được xác định bởi đặc điểm kết cấu, tình hình chịu lực, hình dạng, kính thước của vỏ

xe, cũng như khả năng công nghệ Các đơn vị lắp ráp có kích thước lớn thì

số lượng chúng ít, nhưng trong chế tạo cũng như khi lắp ráp đòi hỏi phải cótrang thiết bị công nghệ có kích thước và công suất lớn, giá thành cao Nếuphân chia các đơn vị lắp ráp quá nhỏ, tuy công nghệ chế tạo chi tiết đơn giản, nhưng công nghệ lắp ráp tạo mảng và vỏ xe phức tạp hơn do có nhiều điểm lắp ghép, hệ số sử dụng kim loại trong chế tạo phối thấp Việc phân chia thành các đơn vị lắp ráp còn phải đảm bảo khả năng sửa chữa, thay thế được thuận lợi

Các điều kiện sau:

- Số lượng các đơn vị tham gia lắp ráp phải là ít nhất, đồng thời đảm bảo tính công nghệ trong chế tạo;

- Phải đảm bảo sự tiếp cận của các trang thiết bị công nghệ vào các vị trí

và lắp ráp được dễ dàng Tận dụng tối đa khả năng hàn điểm tiếp xúc bằng các máy hàn treo, máy hàn di động nhiều điểm, các rô-bốt hàn;

- Đảm bảo thao tác thuận lợi cho người công nhân khi sử dụng các trang thiết bị công nghệ, tránh gây căng thẳng và mỏi mệt;

Trang 8

Các đơn vị lắp ráp phải có tính công nghệ cao, khi lắp ráp chúng với nhau

để hình thành thân vỏ ô tô phải theo trình tự công nghệ nhất định để đảm bảo độ chính xác của mối lắp ghép và kích thước hình học của thân vỏ;

- Trong quá trình khai thác, đảm bảo tính công nghệ và giá thành hợp lý trong sửa chữa và thay thế

Các chi tiết của vỏ xe thường được chế tạo từ thép tấm, tạo hình bằng gia công áp lực và liên kết với nhau bằng phương pháp hàn, đôi khi sử dụng đinh tán Dưới đây chủ yếu trình bày công nghệ lắp ráp phần vỏ kim loại của ô tô với mối ghép hàn

Câu 10 Trình bày khái niệm (mục 1), công dụng của lớp sơn (mục 2), các

thành phần cơ bản của sơn (mục 3) Các đặc điểm cơ bản của sơn (mục 4) Cấu trúc các lớp sơn vỏ ô tô (mục 5)

để bảo vệ và làm đẹp cho sản phẩm

Đối với ô tô, một yêu cầu quan trọng khi xuất xưởng là phải có tính thẩm

mỹ cao, trong đó vỏ xe ô tô phải được bao phủ bằng các lớp sơn có màu sắc đẹp và bền vững trong môi trường sử dụng như mưa, nắng, bụi, rung

Công dụng của lớp sơn

Sơn được phủ lên bề mặt kim loại, gỗ, để bảo vệ và trang trí các bề mặt, nâng cao tính thẩm mỹ và nhận biết Ngoài ra, sơn còn đảm nhận các chứcnăng khác khi sơn phủ lên bề mặt có yêu cầu đặc biệt

- Thẩm mỹ và nhận biết sơn tạo màu và tạo độ bóng cho bề mặt, nâng caotính thẩm mỹ và sự hấp dẫn của sản phẩm Việc phân biệt (nhận biết) thông qua màu sắc cũng là một chức năng của sơn (ô tô cứu hỏa, ô tô cứu thương, ô tô khách được sơn màu đặc biệt để phân biệt với các loại ô tô khác) Sơn cũng được dùng để đánh dấu phân biệt các bộ phận điều khiển máy móc, thiết bị, các đường ống hóa chất, vỏ dây điện,

- Bảo vệ: màng sơn mỏng phủ trên bề mặt chi tiết có tác dụng cách ly chi tiết với môi trường nước, không khí, ánh sáng mặt trời, môi trường ăn mòn:

a xít, kiềm, muối, SO2 ) bảo vệ sản phẩm trước hiện tượng ăn mòn Nếu lớp sơn màng cứng và dày có thể làm giảm sự va đập, ma sát, do vậy sơn còn có tác dụng bảo vệ chi tiết trước các tác động cơ học

- Công dụng đặc biệt: ngoài tác dụng bảo vệ và trang trí, sơn còn có công dụng đặc biệt: Ngụy trang cho các thiết bị phương tiện quân sự (xe tăng, ô

tô quân sự được sơn màu xanh lục, tàu thuyền quân sự được sơn màu xanh nước biển, chiến đấu cơ được sơn màu bạc, ); Khi sử dụng sơn

chống tia hồng ngoại có thể tàng hình trong vùng hoạt động của các thiết

bị ra đa địch sử dụng tia hồng ngoại Ngoài ra còn có sơn cách điện dùng trong kỹ thuật điện, sơn chống hà dùng trong công nghiệp đóng tàu

Các thành phần cơ bản của sơn

Nhựa: (chiếm 40% - 60%)

Nhựa là thành phần chính của sơn, ở dạng lỏng có độ nhớt và trong suốt, tạo ra một lớp màng trên bề mặt vật thể sau khi sơn và làm khô Tính chất

Trang 9

của nhựa có ảnh hưởng trực tiếp đến đặc tính (độ cứng, sức cản dung môi

và ảnh hưởng của sự thời tiết) của sơn Nó cũng ảnh hưởng đến chất lượngsơn như: độ nhấp nhô bề mặt, độ bóng, thời gian khô, Nhựa trong sơn cónhiều loại:

- Theo nguồn gốc có: nhựa tự nhiên, nhựa tổng hợp

- Theo nguồn gốc hóa học: nhựa phenolphomandehit, nhựa ankyl, nhựa amin, nhựa epoxi, nhựa polyeste, nhựa vinyl, nhựa acrylate, nhựa silicon

- Theo trạng thái vật lý: nhựa dẻo nóng, nhựa phản ứng nhiệt 6) Chất màu: (7% - 40%)

Chất tạo màu thường ở dạng bột, dùng để tạo màu và che giấu bề mặt bêndưới lớp sơn, ngăn ảnh hưởng của tia cực tím tới bề mặt bên dưới Một số chất tạo màu rất độc như loại sơn chì, ngày nay đã thay thế chì bằng các chất ít độc hơn như titan trắng (Titan dioxit Ti02) có bọc silicon hoặc ôxít nhôm Chất tạo màu không tan trong dung môi và keo nhựa, không có tínhbám dính, tuy nhiên, nó có thể bám dính vào bề mặt sơn cùng với nhựa và các thành phần khác trong sơn Một số chất tạo màu có khả năng chống xước cao, được dùng để bảo vệ lớp nền Chất màu có một số loại như: hạt

có màu, hạt màu sáng, hạt độn, hạt chống ô xy hóa, hạt giảm bóng,

Dung môi và chất pha sơn:

Dung môi là chất lỏng dùng để hòa tan nhựa, chất màu, chất độn và hòa trộn chúng với nhau tạo thành hỗn hợp sơn Chất pha sơn được dùng để pha loãng màu sơn cơ bản đến độ loãng (độ nhớt) thích hợp cho sơn Cả dung môi và chất pha sơn đều bay hơi khi sấy khô và không nằm lại trong lớp sơn

Trong thực tế, có nhiều loại nhựa khác nhau được sử dụng trong sơn, nên cũng có nhiều loại dung môi để hòa tan các loại nhựa đó Mỗi loại sơn có một chất pha sơn đặc biệt, được làm từ một số loại dung môi, được qui định cụ thể để sử dụng cùng với loại sơn tương ứng Hơn nữa, một số chất pha sơn lại chứa các dung khác | nhau và có tỷ lệ hỗn hợp pha khác nhau,

để người sử dụng có thể chọn loại chất pha

sơn theo tốc độ bay hơi thích hợp nhất đối với nhiệt độ môi trường đặc biệt

Chất phụ gia: (0% - 5%)

Những chất phụ gia không phải là chất tạo màng chủ yếu của lớp sơn, nhưng chọn và sử dụng chính xác chất phụ gia có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng màng sơn Có nhiều loại phụ gia, tùy thuộc chức năng của nó

có thể phân thành các loại: chất dẻo hóa, chất phân tán chất màu, chất chống lắng, chất chống tách màu, chất san bằng, chất chống sủi bọt, chất hấp thụ tia cực tím, chất làm khô, chất đóng rắn, chất dẻo hóa,

Đặc điểm cơ bản của sơn

- Màng sơn khô từ từ: sau khi sơn, dung môi sẽ bay hơi, màng sơn khô từ

từ (thông thường khoảng 10 phút có thể khô bề mặt, một giờ sau sẽ khô hoàn toàn, có thể sơn lớp thứ hai, bốn giờ sau có thể mài, đánh bóng) Tốc

độ khô của sơn tổng hợp gấp 5 + 10 lần của sơn dầu, vì thế có thể tiết kiệm thời gian và diện tích mặt bằng nhà xưởng, thích hợp với qui trình sản xuất hiện đại

- Màng sơn cứng chịu ma sát: Màng sơn tổng hợp cứng, bóng, chịu ma sát, sau khi sấy khô không có bụi, dính, nhăn, Sơn dầu không có đặc điểm

Trang 10

trên Vì vậy màng sơn tổng hợp có thể mài, đánh bóng, trang trí bề mặt đẹp

- Màu sắc đồng đều, bỏng: So với sơn dầu, sơn tổng hợp có màu sắc đẹp, thí dụ dùng sơn trong suốt để sơn thì vẫn đảm bảo các loại vân hoa đẹp, bóng Khi pha các chất khác nhau, được các màu khác nhau, bề mặt sản phẩm có nhiều loại không bóng, bán bóng, có vân hoa,

- Chịu ăn mòn hóa học: sau khi sơn xong, sản phẩm có thể chịu nước, chịu

a xít, chịu kiềm, chịu dầu, xăng, rượu, bảo vệ sản phẩm không bị ăn mòn

- Chế tạo sơn dễ dàng: khi chế tạo sơn đều dùng các loại hóa chất, vì vậy khi chế tạo dễ dàng pha chế và khống chế các điều kiện kỹ thuật Thiết bị máy móc không đắt, qui trình công nghệ dễ điều khiển | - Màng sơn dễ biến trắng nhược điểm lớn nhất của màng sơn là khi gia công trong khí hậu

ẩm ướt, dễ biến trắng Nguyên nhân là khi dung môi bay hơi, lượng nước trong không khí sẽ đi vào màng sơn, không kết hợp với dung môi, tạo thành dạng sương trắng trên bề mặt sản phẩm Nhược điểm này có thể khắc phục bằng cách dùng dung môi có độ sôi cao, gia công sơn ở nơi khô ráo

- Màng sơn tương đối mỏng: màng sơn sau khi khô rất mỏng, vì vậy khi giacông phải phun hai đến ba lần, nhiều nhất có thể đến chín lần, sau đó đánh bóng màng sơn Nguyên nhân chủ yếu là màng sơn có lượng không bay hơi rất nhỏ, thường chiếm dưới 30% thành phần sơn Đặc biệt khi phun, cần phải pha thêm dung môi vào sơn mới có thể phun được, các loạisơn dầu lượng không bay hơi chiếm 70% - 80%

- Khó gia công bằng phương pháp quét: gia công sơn tổng hợp thường bằng phương pháp phun, bởi vì sơn có dung môi, có độ hòa tan rất lớn, gâyphá hủy lớp sơn nền, đồng thời bay hơi nhanh, nên khó quét Trái lại, sơn dầu dễ dàng quét hơn, lớp sơn vẫn đảm bảo bằng phẳng Sơn tổng hợp có công dụng đặc biệt, có thể thấm trong bông, vải để quét, xoa

- Sơn có mùi kích thích khó chịu: dung môi trong sơn có tính kích thích mạnh, nếu gia công sơn trong môi trường không lưu thông không khí sẽ gây đau đầu, hôn mê Vì vậy phải chú ý an toàn lao động

- Chịu tác động của ánh nắng mặt trời: màng sơn tổng hợp chịu ánh sáng kém, lớp sơn trong suốt chịu ánh sáng tia tử ngoại kém, màng sơn có màu

dễ biến màu dưới ánh nắng mặt trời Công nghệ sơn tổng hợp hiện đại có thể khác phục nhược điểm này, nhưng cần phải đầu tư nghiên cứu cải tiến.Cấu trúc các lớp sơn vỏ ô tô:

Vỏ ô tô được bảo vệ và cải thiện tính thẩm mỹ nhờ được phủ lên bề mặt lớp màng sơn có cấu cấu trúc phân lớp như hình 3.57 Tùy thuộc khu vực

bề mặt thân vỏ xe mà cấu trúc và số lượng lớp sơn có khác nhau: Bề mặt ngoài thân vỏ có đủ 6 lớp sơn như trên; Bề mặt trong thân vỏ xe có thể không có 2 lớp sơn nền và màng sơn; Bề mặt phía dưới của sàn xe và hốc bánh xe không có hai lớp sơn ngoài cùng, nhưng có thêm một lớp PVC để chống ồn và chống đá văng: Bề mặt phía dưới cửa, tấm ốp sườn, sườn xe

có thêm lớp PVC bên ngoài lớp sơn điện ly, rồi mới đến lớp sơn lót bề mặt

và lớp sơn màu

Câu 11 Nêu vị trí, vai trò và nhiệm vụ của công nghệ lắp ráp ô tô

Trang 11

Nếu quá trình gia công cơ khí là giai đoạn chủ yếu của quá trình chế tạo các chi tiết ô tô thì quá trình lắp ráp là giai đoạn cuối cùng của quá trình công nghệ sản xuất và lắp ráp tô Và chỉ sau khi lắp ráp thành sản phẩm thì các quá trình tạo phôi, gia công cơ, nhiệt luyện, sơn mới có ý nghĩa

để tạo thành các thuộc tính chất lượng của ô tô Ô tô là một sản phẩm bao gồm nhiều hệ thống do nhiều cụm - tổng thành và các chi tiết lắp ráp với nhau Như vậy, chi tiết là đơn vị nhỏ nhất trong các mối quan hệ lắp ráp Quá trình công nghệ lắp ráp bao gồm 3 quá trình cơ bản: 10 Lắp các chi tiết thành nhóm; (2 Lắp các nhóm thành cụm - tổng thành; 3 Lắp các cụm

- tổng thành thành ô tô hoàn chỉnh Lắp ráp là sự phối hợp lẫn nhau giữa hai hay nhiều chi tiết tạo thành một cụm chi tiết hoặc máy hoàn chỉnh có công dụng xác định Những bề mặt và kích thước mà dựa vào đó các chi tiết phối hợp với nhau gọi là bề mặt lắp ráp

|Quá trình lắp ráp là một quá trình lao động kỹ thuật phức tạp Mức độ phức tạp và khối lượng lao động lắp ráp liên quan chặt chẽ đến quá trình gia công chế tạo chi tiết: các chi tiết càng chính xác thì lắp ráp chúng cũng

sẽ nhanh, dễ dàng do ít phải điều chỉnh hay sửa chữa Công nghệ lắp ráp phải đảm bảo những phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật của mối ghép, chuỗi kích thước, độ chính xác về truyền động do thiết kế đề ra Bởi vậy, thiết kế sản phẩm hợp lý về kết cấu và chuỗi kích thước không nhưng giảmđược khối lượng gia công chế tạo mà còn giảm khối lượng lao động cho lắpráp, nâng cao năng suất lao động

Chất lượng lắp ráp quyết định chất lượng sản phẩm Trong nhiều trường hợp, giai đoạn gia công cơ có chi tiết đạt mọi yêu cầu kỹ thuật nhưng lắp ráp sản phẩm không hợp lý thì chất lượng của sản phẩm không đạt yêu cầu, ảnh hưởng đến khả năng làm việc ổn định và tuổi thọ của sản phẩm

Ví dụ: khi lắp ráp cụm truyền lực chính-vi sai, điều chỉnh ăn khớp không đúng cặp bánh răng côn xoắn sẽ gây ra tiếng ồn và tăng nhiệt độ khi làm việc và làm cặp bánh răng bị mòn nhanh

Nhiệm vụ của công nghệ lắp ráp:

- Nghiên cứu kỹ nguyên lý làm việc và yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm cần lắp

- Cần thực hiện quy trình công nghệ lắp theo một trình tự hợp lý thông quaviệc thiết kế sơ đồ lắp rắp Trình tự lắp ráp không hợp lý trong nhiều trườnghợp có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng nguyên công lắp ráp trước hoặc sau, trong một số trường hợp dẫn đến không lắp được và làm giảm năng suất lắp ráp;

- Nắm vững công dụng, nguyên lý hoạt động và sử dụng hợp lý các trang thiết bị công nghệ, đồ gá, dụng cụ đo kiểm, vận chuyển để giảm nhẹ lao động, nâng cao năng suất và chất lượng lắp ráp

Câu 12 Trình bày các chỉ tiêu đánh giá độ chính xác lắp ráp và các yếu tố

ảnh hưởng

Ngày đăng: 19/04/2021, 11:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w