1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI

17 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 45,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; b Chủ thể tham

Trang 1

BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI: GIAO DỊCH DÂN SỰ

*Năng lực pháp luật dân sự của chủ thể trong xác lập giao dịch

Câu 1 So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự?

Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.

Sự thay đổi về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

+ BLDS 2015: Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch

dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không

trái đạo đức xã hội

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong

trường hợp luật có quy định

+ BLDS 2005: Điều 122 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái

đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

So với Bộ Luật dân sự 2005 thì BLDS 2015 có một số thay đổi về vấn đề liên quan quy định về

giao dịch dân sự trong đó vấn đề điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự cũng có những sự

thay đổi sau:

Năng lực xác lập

giao dịch

Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân

sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập (chủ thể có thể

cá nhân hoặc cả pháp nhân)

(theo hướng thêm điều kiện năng lực pháp luật)

Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự

có thể là cá nhân)

Ý nghĩa: Sự mở rộng chủ thế đã phù hợp với thức tiễn cuộc sống

Điều kiện liên

quan đến giao

dịch (về nội dung)

Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật Có nghĩa là những quy định đó chỉ tồn tại chỉ tồn tại trong Luật, do Quốc hội ban hành

Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật Có nghĩa là những quy định đó chỉ tồn tại trong văn bản luật hoặc văn bản dưới luật

Trang 2

Ý nghĩa : khắc phục sự hạn chế tự do như quy định BLDS 2005, và theo như tinh thần điều 123 BLDS 2015 điều cấm của luật là những quy định luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định)

Mục đích của giao

dịch Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều

cấm của luật ( điều 118, BLDS 2015)

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó (Điều 123 BLDS 2005)

Giới hạn tự do về

hình thức

Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định (làm hẹp đi yêu cầu về hình thức) Giao dịch dân sự phải thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng kí thì phải tuân theo quy định đó

Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định Giao dịch dân sự phải thể hiện bằng văn bản,phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng kí hoặc xin phép, tuân theo quy định đó

Ý nghĩa : BLDS 2015 đã bỏ đi hình thức xin phép Sự giới hạn chủ thể quy định điều kiện về hình thức từ pháp luật sang luật đã thu hẹp phạm

vi quy định, tránh sự tùy tiện của các văn bản dưới Luật

Yếu tố tự nguyện

Điều 117 BLDS 2015 đề cao yếu tố tự nguyện trong GDDS hơn yếu tố không vi phạm điều cẩm Đây là một điểm tiến bộ bởi, Pháp luật dân sự không quyết định việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ của các chủ thể mà việc này do chính ý chí của các chủ thể quyết định

Ý kiến cá nhân : Tôi cho rằng sự thay đổi này góp phần hoàn thiện Pháp luật chính xác, chi

tiết hơn

+ Những điểm mới này đã khắc phục được những hạn chế, bất cập của Bộ luật dân sự năm 2005

trong việc giải quyết các tranh chấp về giao dịch dân sự, bảo đảm được quyền lợi của các bên

tham gia giao dịch dân sự

+ Một trong những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về giao dịch dân sự, đó là quy định về

giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức và quy định về bảo vệ quyền

lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Câu 2 Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?

Trong phần xét rằng của tòa án cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt

Nam qua phần lập luận:

“Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo

quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở

nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thõa mãn các điều kiện sau”:

Trang 3

+ “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam”

+ “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ”

 Căn cứ vào đây, ta thấy được rằng, là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ, ông T

và bà H chỉ có thể có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam khi nằm trong nhóm các đối tượng thỏa mãn các điều kiện mà luật đất đai năm 2003 và điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 quy định Tuy vậy, căn cứ vào bản án, ta có thể thấy rằng hai ông bà không nằm trong các trường hợp nêu trên

Do đó, tất nhiên không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Câu 3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị Tòa án tuyên

bố vô hiệu?

• Giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004 , giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004 được lập giữa nguyên đơn và bị đơn L K Đ xét về hình thức thì tờ cho đất thổ cư và tờ nhường đất thổ cư không tuân thủ theo quy định của pháp luật, không được công chứng, chứng thực theo quy định tại Điều

127 của Luật đất đai năm 2003 và Điều 117 của Bộ luật dân sự

 Nên không phát sinh hiệu lực của hợp đồng

Câu 4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa

án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?

• Để trở thành chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, bên cạnh năng lực hành vi dân sự, chủ thể cũng cần đáp ứng được năng lực pháp luật dân sự để tham gia vào quan hệ Có thể nói, năng lực pháp luật và năng lực hành vi là hai mặt của một bản thể, là điều kiện đủ và điều kiện cần để hình thành nên chủ thể, từ đó làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật Trong giao dịch mua bán giữa vợ chồng ông J Ph T và A Th P với bà L K Đ diễn ra vào 31/05/2004, năng lực pháp luật của vợ chồng bên mua không đáp ứng được điều kiện để tham gia mà cụ thể là vi phạm quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 ( Quy định về người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam) Lại thêm vào vi phạm quy định về hình thức giao dịch

 Vì vậy, xét về nhiều yếu tố tổng hợp mà ở đây nổi bật là sự thiếu hụt năng lực pháp luật của chủ thể, ta thấy rằng: việc Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu là hợp tình, hợp lí

*Giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức

Câu 5 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

• Năm 2007 ông Hội thực chất đã không còn khả năng nhận thức vì bị tai biến nằm liệt một chỗ

• Từ ngày 07-05-2010 ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự

Câu 6 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?

• Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dung đất được xác lập vào ngày 08-02-2010

Trang 4

• Trước đó Ông Hội bị tai biến nằm liệt không nhận thức nhưng đến 07-05-2010 ông Hội mới bị Tòa tuyên mất năng lực hành vi dân sự

 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự

Câu 7 Theo Tòa án nhân dân tối cao giao dịch của ông Hội có bị vô hiệu không? Vì sao? Trên căn cứ nào?

Theo Tòa án nhân dân tối cao giao dịch của ông Hội bị vô hiệu Vì:

+ Tuy rằng ông Hội chưa được khẳng định là người mất năng lực hành vi dân sự nhưng tại thời

điểm xác lập giao dịch thì ông Hội đã bị bệnh tai biến ,mất nhận thức và không làm chủ đước hành vi của mình

+ Căn cứ :

 Điều 133 của BLDS 2005, Điều 128 của BLDS 2015 quy định rằng: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự

đó là vô hiệu.”

 Thêm vào đó, bà Hương và ông Hội chỉ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong phạm vi 120m2, còn 43,7m2 còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận, mà bà Hương

đã bán toàn bộ căn nhà gắn liền với 163,7m2 đất

Chính vì thế giao dịch mà ông Hội xác lập bị vô hiệu.

<Nhưng thật chất bản án đã bị in thiếu một phần từ trang 46 qua trang 47 (tài liệu) nên không thể xác định chính xác tuyên bố của tòa nhân dân tối cao về hiệu lực của giao dịch của ông Hội.>

Câu 8 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết.

Trong thực tiễn xét xử, có bản án số 01/2006/DS-ST ngày 21/02/2006 của tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái giống hoàn cảnh của ông Hội.

Tòa án đã giải quyết theo hướng lấy ngày cá nhân liên quan thực sự mất năng lực hành vi dân sự làm mốc nhằm bảo vệ quyền lợi cho họ qua việc: Tuyên bố GDDS vô hiệu do vi phạm

điều 133 BLDS 2015 (giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình)

Tóm tắt vụ việc:

+ Ông Cường – người sử dụng nhưng không có quyền định đoạt 288m2 đất (do mảnh đất này thuộc sở hữu của mẹ ông – bà Lợi đã mất nhưng chưa giải quyết chia thừa kế) Ngày 20/01/2004, ông Cường và bà Bính đã kí giấy chuyển nhượng 288m2 đất trên cho anh Thăng (con riêng bà Bính) Tuy nhiên, sau này ông Cường và bà Bính ly hôn nhau, ông Cường được anh Hưng (con riêng ông Cường) đưa về nuôi dưỡng Sau đó, anh Hưng phát hiện ông Bính có những biểu hiện của một người bị bệnh tâm thần nên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự giữa ông Cường,

bà Bính, anh Thăng vô hiệu

Trang 5

+ Theo yêu cầu của anh Hưng, Tòa án đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần với ông Cường Tại Biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005, Tổ chức giám định pháp y tỉnh đã kết luận ông Cường bị mắc bệnh “loạn thần do sử dụng rượu” Thời điểm mắc bệnh là trước ngày 01/01/2004 với biểu hiện của căn bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả năng điều khiển hành vi của mình Trên cơ sở kết luận giám định này, Tòa án đã cho rằng “ông Cường được coi là người mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004” Vậy nên, giao dịch dân sự do người mất năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện – ông Cường vào ngày 20/01/2004 (căn cứ theo điều

22 BLDS 2015 “Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định”) đã vi phạm Điểm a, Khoản 1, Điều 117 BLDS 2015

Tòa tuyên bố giao dịch dân sự trên vô hiệu hoàn toàn Từ đó, anh Thăng phải trả lại cho ông

Cường và người giám hộ ông Cường – anh Hưng mảnh đất 288m2 để họ quản lí, sử dụng Đồng thời, buộc anh Hưng phải thanh toán cho anh Thắng số tiền là 20.049.000 đồng và bà Bính phải thanh toán cho anh Thắng số tiền là 15.850.000 đồng

Câu 9 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng xử lí.

Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên là đúng đắn Cụ thể:

+ Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm; đồng thời, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, Phú Yên xét xử sơ thẩm lại Bởi lẽ, việc ông Hội có bị mất năng lực hành

vi dân sự hay không, có còn tỉnh táo hay không vẫn còn là ẩn số, chưa được giải thích Vậy nên, phải hủy bỏ cả 2 bản án và xét xử sơ thẩm lại để bảo đảm quyền lợi giữa các đương sự

+ Nếu ông Hội đáp ứng được các điều kiện được quy định trong Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015:

“Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.” thì giao dịch đó được xem như có hiệu lực

+ Nếu ông Hội không đáp ứng được các điều kiện được quy định tại Khoản 1 điều 117 BLDS

2015 thì căn cứ theo điều 128 BLDS 2015 “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.” thì giao dịch đó bị xem như không có hiệu lực

Câu 10 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có vô hiệu không?

Vì sao?.

Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó không vô hiệu, dù

cho ông Hội bị mất năng lực hành vi dân sự vào thời điểm đó Bên cạnh đó, căn cứ theo điểm b, khoản 2, điều 125 BLDS 2015, giao dịch tặng cho ông Hội chỉ làm phát sinh thêm quyền giữa ông với người đã xác lập, thực hiện giao dịch

+ Vì ông hội đã được Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nên ông không thể tự thực hiện bất cứ giao dịch nào và cần phải thông qua người đại diện theo pháp luật của mình căn cứ theo Khoản 1, Điều 125, BLDS 2015: “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất

Trang 6

năng lực hành vi dân sự, người có khó khan trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý.”

+ Đồng thời, theo Khoản 2, Điều 22, BLDS 2015 quy định “Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”

Vì vậy, giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó vô hiệu.

*Giao dịch xác lập do có lừa dối

Câu 11 Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS 2005 và BLDS 2015;

• Căn cứ vào Điều 132 BLDS 2005 và điều 127 BLDS 2005:

+ Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà

án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu

+ Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó

• Căn cứ theo Điều 127 BLDS 2015 và điều 132 BLDS 2005 qui định điều kiện để tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do có yếu tố lừa dối là:

+ “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà

án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”

+ Đồng thời, điều 127 BLDS 2015 và điều 132 BLDS 2005 cũng đã nêu rõ: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”

Câu 12 Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài trong việc xử lý một bên cố tình không cung cấp thông tin liên quan đến tài sản trong quá trình xác lập giao dịch.

• Sau đây là một số quy định của pháp luật Châu Âu và pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức về cung cấp thông tin tài sản thi hành án và cũng là những kinh nghiệm tốt để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự:

+ Quy định của pháp luật châu Âu về trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản thi hành án:

 Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án

Để hướng dẫn thực hiện tốt hơn các Kiến nghị hiện hành của Hội đồng châu Âu về Thi hành án dân sự đã được thông qua bởi Ủy ban châu Âu về tính hiệu quả của hoạt động tư pháp, tại phiên họp toàn thể lần thứ 14 đã chỉ ra rằng, sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước khác nhau và giữa các tổ chức tư nhân phù hợp với quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân

là hết sức cần thiết để có thể tiếp cận trực tiếp và nhanh nhất các nguồn thông tin đa dạng

về tài sản của bị đơn dân sự

 Thời gian cung cấp thông tin tài sản của người phải thi hành án

Kiến nghị số 17 ngày 09/09/2003 của Ủy ban Bộ trưởng các quốc gia thành viên Châu

Âu về thi hành án dân sự, được thông qua bởi Ủy ban các Bộ trưởng ngày 09/09/2003 tại

Trang 7

phiên họp thứ 851 yêu cầu, việc tiếp cận các nguồn thông tin cần thiết về tài sản của người bị kiện tại các cơ quan đăng ký và từ các cơ quan, tổ chức khác cũng như từ tuyên

bố cung cấp thông tin của người bị kiện phải được thực hiện một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất có thể Ngoài ra, HDUBCA cũng đã yêu cầu các quốc gia thành viên nên cho phép người có thẩm quyền thi hành án tiếp cận trực tiếp ở mức độ nhanh nhất thông tin về tài sản của người phải thi hành án

 Đặc điểm thông tin và yêu cầu thiết lập cơ sở dữ liệu thông tin tài sản thi hành án

Kiến nghị số 17 khẳng định rằng: thủ tục thi hành án dân sự chỉ có thể được thực hiện một cách có hiệu quả khi người bị kiện cung cấp các thông tin được cập nhật mới nhất về thu nhập, các loại tài sản và những vấn đề khác có liên quan Cơ sở dữ liệu tích hợp thông tin này được tiếp cận hạn chế và có điều kiện nhằm bảo đảm các yêu cầu về bảo mật thông tin, hạn chế rủi ro do bị rò rỉ thông tin và cũng là nhằm bảo vệ quyền lợi cho người phải thi hành án Các quốc gia thành viên nên có những quy định pháp lý chặt chẽ, hiệu quả để bảo đảm rằng bất kỳ yêu cầu cung cấp thông tin nào về tài sản của người bị kiện cũng phải có lý do chính đáng và hợp lý

 Bí mật thông tin và bảo vệ dữ liệu thông tin tài sản của người phải thi hành án

Pháp luật Châu Âu khuyến nghị quy định của pháp luật trong nước về bảo vệ dữ liệu cá nhân nên được kiểm tra, bảo đảm phù hợp với những thay đổi của pháp luật thi hành án dân sự Trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ thì các biện pháp trách nhiệm kỷ luật nên được áp dụng, cùng với chế tài dân sự và hình sự

+ Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Cộng hòa Liên bang Đức về thông tin tài sản của người phải thi hành án:

 Chủ thể cung cấp thông tin tài sản thi hành án

Pháp luật CHLB Đức lựa chọn phương án trao quyền cho cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp yêu cầu người phải thi hành án phải cung cấp thông tin về tài sản của mình Theo quy định của pháp luật CHLB Đức, người được thi hành án là người có quyền lựa chọn cơ quan có thẩm quyền thi hành án hoặc nhân viên tòa án tổ chức thi hành án với các yêu cầu thi hành án của mình Vì vậy, người được thi hành án mới là người kiểm soát và quyết định các biện pháp tổ chức thi hành án, ví dụ các trường hợp thu giữ ô tô, nắm giữ giấy tờ thế chấp bất động sản, bán đấu giá bất động sản, v.v Để thuận lợi cho người được thi hành án trong việc dễ dàng lựa chọn một loạt các biện pháp thi hành án phù hợp thì người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp một bản kê khai chi tiết về tài sản của mình cho người có thẩm quyền thi hành án theo lựa chọn của người được thi hành án

 Mức độ thông tin về tài sản mà người phải thi hành án phải cung cấp

Hiện nay có hai quan điểm chính về mức độ thông tin về tài sản của người phải thi hành

án mà họ phải cung cấp:

Quan điểm thứ nhất: người phải thi hành án phải cung cấp toàn bộ các thông tin

về tất cả các tài sản của mình Quan điểm thứ hai: người phải thi hành án chỉ phải cung cấp thông tin về tài sản tương ứng với mức yêu cầu thi hành án do người được thi hành án đưa ra

Trang 8

Như vậy, quan điểm thứ hai có xu hướng bảo vệ quyền lợi của người phải thi hành án nhưng có nguy cơ rủi ro nhiều hơn cho người được thi hành án và thời gian tổ chức thi hành án có thể sẽ phải kéo dài hơn nếu người được thi hành án không thể đề nghị áp dụng được ngay những biện pháp thi hành án phù hợp với loại tài sản mà người phải thi hành

án đã cung cấp, do vậy, việc yêu cầu cung cấp thông tin tài sản thi hành án sẽ phải được thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần

 Thời điểm cung cấp thông tin tài sản thi hành án và khoảng thời gian trước khi có bản án

mà người phải thi hành án đã thực hiện việc chuyển nhượng tài sản cho người có quan hệ gần gũi

Theo quy định của khoản 1 Điều 802f Bộ luật TTDS Đức, Chấp hành viên thi hành án sẽ

ấn định hai tuần để người phải thi hành án phải cung cấp thông tin về tình hình tài chính

và tài sản của mình Bản kê khai chi tiết về tài sản của người phải thi hành án sẽ được lưu giữ tại trung tâm đăng ký của các bang và có thể được xem trực tuyến để lấy thông tin thông qua Tòa Thi hành án, Tòa án giải quyết phá sản, những Tòa án lưu giữ thông tin đăng ký về thương mại và những cơ quan đăng ký khác cũng như các cơ quan có thẩm quyền truy tố theo quy định tại Điều 802k Bộ luật TTDS Đức

Ngoài ra, theo quy định của đoạn 1 khoản 2 Điều 802c Bộ luật TTDS và khoản 1 Điều

284 Đạo luật về Thuế của Đức , người phải thi hành án còn phải cung cấp một danh sách tất cả các giao dịch với những người có quan hệ gần gũi trong thời gian hai năm trước đó tính đến thời điểm người phải thi hành án cung cấp bản kê khai thông tin tài sản cho cơ quan thi hành án Đối với các loại dịch vụ được cung cấp miễn phí bởi người phải thi hành án thì họ cũng phải kê khai tất cả các giao dịch này trong thời gian bốn năm trước

đó tính đến thời điểm cung cấp bản kê khai thông tin tài sản cho cơ quan thi hành án

 Chế tài áp dụng nếu người phải thi hành án vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin về tài sản của mình

Theo pháp luật thi hành án dân sự của Đức, đối với các yêu cầu thi hành án về tiền, người phải thi hành án phải có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài sản và tình hình tài chính của mình cho Chấp hành viên thi hành án theo yêu cầu Nếu người phải thi hành án không đến văn phòng của Chấp hành viên theo lịch hẹn để cung cấp thông tin về tài sản

và tình hình tài chính của mình mà không có lý do chính đáng hoặc từ chối cung cấp thông tin về tài sản và tình hình tài chính của mình, theo Điều 802c Bộ luật TTDS Đức,

mà không đưa ra được bất kỳ một lý do phù hợp nào thì họ sẽ bị bắt giữ để buộc người phải thi hành án phải cung cấp các thông tin theo yêu cầu

Tóm lại, qua những qui định về thi hành án dân sự của Pháp luật Châu Âu cũng như của CHLB Đức, ta có thể rút ra được các kết luận chung sau:

+ Thứ nhất, thời điểm và khoảng thời gian mà theo đó tài sản của người phải thi hành án phải được kê khai được pháp luật quy định rộng và theo hướng mở

=> Góp phần loại trừ các giao dịch giả tạo nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án được thực hiện trước hoặc sau khi có bản án, quyết định của Tòa án

+ Thứ hai, việc yêu cầu phải liệt kê chi tiết tất cả các giao dịch giữa người phải thi hành án với những người có quan hệ gần gũi với họ

=> Góp phần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán tài sản cho những người này thông qua các giao dịch mà bề ngoài có vẻ như là hợp pháp để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án

Trang 9

+ Thứ ba, trách nhiệm phải cung cấp thông tin tài sản và tình hình tài chính là nghĩa vụ pháp lý được đặt lên trước tiên đối với người phải thi hành án, vì hơn ai hết, họ là người hiểu rõ nhất thực trạng tài sản của mình và là người phải đang chấp hành nghĩa vụ từ bản án, quyết định của Tòa

án Nếu không cung cấp hoặc từ chối hợp tác với cơ quan thi hành án mà không có lý do chính đáng thì hoặc là hành vi gian dối, thiếu trung thực hoặc là hành vi cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ pháp lý Do đó, họ sẽ ngay lập tức phải gánh chịu hậu quả bất lợi phát sinh thông qua việc họ sẽ bị bắt và giam giữ để thực hiện nghĩa vụ kê khai thông tin về tình trạng tài sản của mình cho cơ quan thi hành án cũng như những hậu quả bất lợi khác

+ Thứ tư, quyền hạn của Chấp hành viên thi hành án được thực hiện trực tiếp, nhanh chóng, thông qua việc họ được pháp luật trao cho quyền bắt giữ người phải thi hành án trên cơ sở Lệnh của Tòa án Lệnh bắt giữ cũng không cần phải được thông báo trước mà sẽ chuyển cho người phải thi hành án ngay khi họ bị bắt giữ Những quy định trao quyền thực chất cho Chấp hành viên thi hành án vừa bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, vừa bảo đảm quy trình thi hành án được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả mà không phải thông qua nhiều khâu trung gian hoặc các thủ tục hành chính, giấy tờ phức tạp khác Qua đó nhằm răn đe, nâng cao ý thức tự giác chấp hành án của người phải thi hành án, bảo đảm niềm tin của người dân vào hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án

+ Thứ năm, các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có liên quan không được viện dẫn bất kỳ một lý do nào về bí mật trong kinh doanh hoặc các lý do khác để từ chối cung cấp thông tin cho cơ quan, người có thẩm quyền thi hành án dân sự khi có yêu cầu Quy định này nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác phối hợp thi hành án và bảo đảm tôn trọng bản án, quyết định của Tòa án và tính tôn nghiêm luật pháp

+ Thứ sáu, tăng cường hoàn thiện các thiết chế bảo đảm giữ bí mật thông tin khi tiếp cận các nguồn thông tin tài sản của người phải thi hành án nhằm bảo vệ quyền về bí mật thông tin cá nhân

và tài sản của người phải thi hành án

Câu 14 Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ anh/chị biết?

Hướng giải quyết trên chưa có tiền lệ.

Vì:

+ Theo khái niệm :Tiền lệ pháp hay phép xét xử theo tiền lệ (án lệ) là một hình thức của pháp

luật, theo đó Nhà nước thừa nhận những bản án, quyết định giải quyết vụ việc của tòa án (trong

các tập san án lệ) làm khuôn mẫu và cơ sở để đưa ra phán quyết cho những vụ việc hoặc trường

hợp có tình tiết hay vấn đề tương tự sau đó Tiền lệ pháp còn là quá trình làm luật của toà án trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới trong quá trình xét xử

+ Theo nguyên tắc áp dụng tiền lệ (án lệ) thì:

 Trường hợp áp dụng án lệ thì số bản án, quyết định của Toà án có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ phải được viện dẫn, phân tích, làm rõ trong bản án, quyết định của Toà án

 Trường hợp không áp dụng án lệ thì phải phân tích, lập luận, nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Toà án

Trong bản án này không có một tình tiết viện dẫn nào , mà chỉ căn cứ vào Luật (Khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự) để giải quyết.

Trang 10

Câu 15 Hướng giải quyết trên có còn phù hợp với BLDS năm 2015 không? Vì sao?

Hướng giải quyết trên còn phù hợp với BLDS năm 2015

Vì:

+ Tại điều 127 của BLDS 2015 quy định cụ thể ”Khi một bên tham gia giao dịch dân dự do bị lừa dối hoặc bị đe doạ, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Toà án quyết tuyên bố giao dịch dân sự đó

là vô hiệu” để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có thể quyền và nghĩa vụ liên quan

+ Tại điểm b), Khoản 1, Điều 132 của BLDS 2015 quy định cụ thể “Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;”

 Theo bản án, thì anh Vinh và người liên quan (ông Toàn, bà Vân- họ hàng của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bên thỏa thuận hoán đổi đã có Quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù ( căn nhà đã có quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái định cư theo Quyết định 135/QĐ-UB ngày 21-11-2002) là có sự gian dối

Theo điều khoản trên thì hợp đồng này là vô hiệu.

Câu 16 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu?

Người được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu là: ông Tài Nếu ông

Tài không biết việc ông Dưỡng giả mạo chữ ký của bà Nhất khi tiến hành giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Người không được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu là: bà Nhất Bởi

lẽ, theo quy định của BLDS 1995 và BLDS 2005 bà Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch với ông Tài, nên bà Nhất không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu do lừa dối

Trong trường hợp bà Nhất khởi kiện, thì Tòa án phải căn cứ quy định tại Điều 28 Luật hôn nhân

và gia đình về “Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” để xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên bị vô hiệu theo Điểm b), Khoản 1, Điều 122 “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” và Điều

127 Bộ luật dân sự “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều

122 của Bộ luật này thì vô hiệu.” Khi đó ông Tài là bị đơn

Câu 17 Trong Quyết định số 210,theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối có còn không ? Vì sao ?

Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

do lừa dối không còn

Vì:

+ Bà Nhất khai năm 2007 vợ chồng ly hôn bà mới biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký của bà để chuyển nhượng đất cho ông Tài, nhưng đến 10/12/2010 bà Nhất mới khởi kiện

+ Và theo Khoản 1 Điều 142 Bộ luật dân sự 1995 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố

hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là một năm; Khoản 1 Điều

136 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập

Ngày đăng: 18/04/2021, 19:03

w