1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TỰ LUẬN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG

12 32 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 107,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Triết học cổ đại Ấn Độ gắn liền với tôn giáo, người ta viết triết học – tôn giáo  Khó tránh khỏi những yếu tố duy tâm, hữu thần.. 2 Đặc điểm triết học Trung Quốc cổ đại - Triết học Tr

Trang 1

TỰ LUẬN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG

1) Đặc điểm triết học Ấn Độ cổ đại

- Triết học Ấn Độ cổ đại là một nền triết học xuất hiện từ rất sớm – khoảng

2500 năm TCN Kinh Veda được coi là tác phẩm triết học đầu tiên của triết học Ấn Độ cổ đại Thực chất đây là một tác phẩm văn học đồ sộ, được sáng tác vào khoảng trên dưới 2000 năm TCN, gồm 4 tập:

+ Rigveda: Là tập cổ xưa nhất (gồm 1028 khúc hát ca ngợi công lao của các

vị thần đối với thế giới và con người)

+ Samaveda: Là tập nói về các tư thế trong khi tiến hành các nghi lễ

+ Atharvaveda: Là tập nói về ma thuật, y thuật, phù trú cho các sự khẩn cầu khác nhau

+ Yajurveda: Là tập nói về sự tế lễ, khẩn cầu phải như thế nào

 Nhìn chung chưa có những khái quát triết học mà chỉ phản ánh những ước vọng của người dân bình thường Nó phản ánh một tín ngưỡng ma thuật

và đa thần giáo, tuy nhiên cũng hé lên tư tưởng có ý nghĩa triết học của con người là đi tìm bản nguyên của thế giới

Ngay từ thế kỉ VI – IV TCN ở Ấn Độ cổ đại đã hình thành một cách rõ nét nhiều trường phái triết học khác nhau mà tiêu biểu là 9 trường phái chia thành 2 dòng phái chính

+ Chính thống: Mimansa, Vedanta, Samkhya, Yoga, Nyaya, Vaiseisika

+ Không chính thống: Jaina, Lokayata, Phật giáo

- Triết học cổ đại Ấn Độ gắn liền với tôn giáo, người ta viết triết học – tôn giáo  Khó tránh khỏi những yếu tố duy tâm, hữu thần

- Trong triết học Ấn Độ cổ đại những yếu tố duy vật, duy tâm, vô thần và hữu thần thường tồn tại đan xen vào nhau, khó nhận thấy Ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm còn mờ nhạt, không rạch ròi

Trang 2

VD: Thế giới vật chất theo phái Lokayata là do tứ đại (đất, nước, lửa, không khí) tạo nên, hoặc do nguyên tử tạo nên (phái Nyaya, Vaisesika), do Prakriti tạo nên (phái Samkhya) hoặc không có nguyên nhân đầu tiên (Phật giáo – mối liên hệ nhân quả)

- Triết học Ấn Độ cổ đại ít bàn đến những vấn đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận và logic học mà chủ yếu bàn đến những vấn đề thuộc về con người, về thế giới tâm linh của con người

- Trong triết học Ấn Độ cổ đại chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng sơ khai có giá trị như cho rằng thế giới vật chất là vĩnh hằng, nhưng không đứng yên

mà biến chuyển không ngừng từ dạng này sang dạng khác (Samkhya) Hoặc theo phái Jaina mọi thứ đều có thể là cái này, là cái kia chứ không có cái gì bất biến, vĩnh hằng cả Phật giáo đưa ra tư tưởng vô thường, vô ngã

2) Đặc điểm triết học Trung Quốc cổ đại

- Triết học Trung Quốc cổ đại xuất hiện rất sớm (khoảng 2000 năm TCN), là nền triết học đồ sộ, gồm nhiều trường phái khác nhau như Âm dương gia, Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia…

- Triết học Trung Quốc cổ đại phát triển mạnh vào thời kì tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và bắt đầu hình thành chế độ phong kiến

- Triết học Trung Quốc cổ đại đề cập nhiều đến vấn đề chính trị, xã hội, đạo

đứ của con người mà ít chú ý nghiên cứu các vấn đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận, logic học

- Triết học Trung Quốc cổ đại nhấn mạnh sự hài hóa thống nhất giữa tự nhiên và xã hội Hầu hết các trường phái đều phản đối cái thái quá, cái bất cập mà thường xuất hiện các pham trù: “Thiên nhiên hợp nhất”, “Tam vật dung hợp”

Trang 3

- Trong triết học Trung Quốc cổ đại nổi lên lối tư duy trực giác tức là thông qua cảm nhận và thể nghiệm lâu dài, bỗng chốc giác ngộ Chính vì vậy các nhà triết học thường coi trọng cái Tâm, coi Tâm là gốc rễ của nhận thức

- Trong triết học Trung Quốc cổ đại các yếu tố duy vật và duy tâm, vô thần

và hữu thần thường tồn tại đan xen vào nhau, nhiều khi rất khó nhận thấy

3) Tư tưởng nhân, lễ, chính danh của Khổng Tử

- Khổng Tử (551 – 479 TCN) là nhà triết học lớn của Trung Quốc, người sáng lập ra Nho gia

- Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị - xã hội của Khổng

Tử Ông cho rằng “nhân” là yêu thương con người; việc gì ình không muốn thì đừng có làm cho người khác, việc mình muốn thì làm cho người khác, thực hiện theo điều lễ là “nhân” Đạt đến điều nhân là đạt đến đạo người quân tử, chỉ có có người quân tử mới có nhân, còn kẻ tiểu nhân thì không có nhân

- Lễ được hiểu là:

+ Những nghi lễ tôn giáo, thờ cúng

+ Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước và xã hội

+ Quy định về quyền và nghĩa vụ tương ứng của con người về danh phận + Nếp sống văn hóa, cách ứng xử trong quan hệ hàng ngày

Như vậy lễ là lẽ phải, là bổn phận mà mọi người có nghĩa vụ phải tuân theo VD: Hiếu thảo với cha mẹ, hòa thuận anh em, thủy chung vợ chồng, tín nghĩa bạn bè

Theo ông nguyên nhân của xã hội loạn, vô đạo là không giữ được lễ, vì vậy muốn xã hội bình yên, thịnh trị phải khôi phục lễ

- Chính danh: Danh được hiểu là tên gọi, thực là việc làm Danh phải phù

hợp với thực, thực phải đúng với danh Mượn danh, mua danh là không

Trang 4

chính danh Không chính danh là nguồn gốc của mọi tai họa trong xã hội Ông kêu gọi: Ai ở danh vị nào thì làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình

ở danh vị ấy, không ở vị trí ấy không mưu vị trí ấy Có như vậy trật tự xã hội mới phân minh rõ ràng được – “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” Ông đòi hỏi đức cơ bản của vua phải hiền, tôi phải trung, cha phải từ, con phải hiếu

 3 phạm trù này có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khí với nhau Nhân là nội dung, lễ là hình thức, chính danh là con đường để đạt đến nhân

4) Tư tưởng Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi (1380 - 1442) là một nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam ở thế kỉ XV

- Quan niệm về quốc gia và quốc gia độc lập: Nguyễn Trãi khẳng định nước

ta có lãnh thổ riêng, một nền văn hiến riêng, phong tục tập quán riêng, lịch

sử riêng (Đại cáo bình Ngô)

- Tư tưởng nhân, nghĩa:

+ Nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi trước hết được hiểu là một đường lối chính trị, chính sách cứu nước và dựng nước Trong kháng chiến nó là vũ khí phê phán luận điệu của giặc, trong hòa bình nó lại công cụ để tuyên dương việc làm của nhà Lê Tư tưởng này được nâng cao hơn nữa trở thành thàn đường lối, chuẩn mực của đối xử, nguyên tắc giải quyết công việc

+ Nhân nghĩa của ông trước hết là phải cứu nước, cứu dân “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”

+ Nhân nghĩa của ông thể hiện ở lòng thương người, ở sự khoan dung độ lượng

+ Nhân nghĩa của ông thể hiện ở mong muốn đất nước thái bình, nhân dân

no đủ, trên thì vua sáng, dưới tôi hiền

Trang 5

+ Ông lên án chiến tranh

 Nhân nghĩa của ông là một chủ nghĩa nhân đạo cao cả, toàn diện, có sự

kế thừa chủ nghĩa nhân đạo của dân tộc

- Quan niệm về đạo làm người :

+ Ông đề cao cốt lõi của Nho giáo là “Cương thường”

+ Ông chú ý “Ngũ luân” của Nho giáo, đặc biệt là qua nhệ vua tôi và bạn bè Theo ông, bề tôi có nghĩa vụ “trung” với vua, chữ “trung” trong quan niệm của ông khác với chữ “trung” của Nho giáo truyền thống (trung gắn liền với

tổ quốc)

+ Trong quan hệ bạn bè, ông đưa ra nguyên tắc khiêm nhường Con người cần rèn luyện Nhân, trí, dũng, lấy đó làm cơ sở thước đo đánh giá con người

 Quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Trãi trên cơ sở kế thừa những giá trị của Nho nuhwng được cải biến phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch

sử của dân tộc

- Quan niệm về thiên mệnh, trời đất và con người: Khi hành động con người phải tính tới hai điều kiện: Một là lẽ trời (xu thế lịch sử, thời đại), hai là lòng người Trong đó lẽ trời là điều kiện, cơ sở của hành động còn điều kiện thứ hai cần phải hiểu thấu đáo mới thành công Ngoài ra ông còn nhấn mạnh chữ

“thời”, cần nhận biết thời cuộc và có hành động tích cực kịp thời thì sẽ thành công lớn hay tạo ra “thế”

 Nguyễn Trãi để thể hiện tư duy biện chứng, khoa học trong suy nghĩ cũng như hành động Ông xứng đáng là nhà tư tưởng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc Việt Nam

5) Tư tưởng Lê Thánh Tông

Trang 6

Lê Thánh Tông (1442 - 1497) tên thật là Lê Tư Thành, ông có các tác phẩm như Thiên nam dư hạ tập, Hồng Đức quốc âm thi tập

- Thế giới quan:

+ Ông tin vào tư tưởng “Mệnh trời” của Nho giáo, coi sự hưng vong của mỗi triều đại là do trời Thế giới quan của ông là duy tâm khách quan, ông quan niệm nhận thức của con người do giác quan trực tiếp tiếp xúc với sự vật mà

có Ông chống lại quan niệm nhận thức của Phật giáo, phêp hán các tôn giáo khác  Chủ trương độc tôn Nho giáo

+ Ông đứng trên lập trường dân tộc để tiếp thu Nho giáo, chọn lọc cái có lợi, loại bỏ những cái không có lợi cho dân tộc

 Tư tưởng của ông chứa đựng nhiều yếu tố tích cực thể hiện khí thế, tinh thần đi lên của dân tộc, của đất nước mặc dù còn nhiều hạn chế do yếu tố giai cấp

- Đường lối chính trị và lý tưởng xã hội:

+ Nguyện vọng tạo ra xã hội như thời Nghiêu, Thuấn thái bình thịnh trị + Ông chủ trương trị nước theo đường lối “Văn trị” tức “Đức trị” Giáo dục con người theo nguyên tắc của Nho giáo, dùng Lễ, Nghĩa để ràng buộc con người với triều đình, sử dụng coi trọng những người xuất thân từ Nho gia + Ông đề cao trách nhiệm của vua quan Vua phải có “Nhân”, giảm tô thuế cho dân, trừ kẻ tàn bạo

 Thể hiện tư tưởng dân tộc, dân chủ trong đường lối trị nước của mình, thể hiện ý thức tự lực tự cường của dân tộc

- Hạn chế:

+ Thể hiện chủ nghĩa chủ quan Ông đánh giá quá cao triều đại mình, quá đề cao bản thân vượt xa thực tế nên rơi vào chủ quan, tự mãn

Trang 7

+ Ý thức bản ngã nặng nề, sâu sắc Ông cho rằng mọi công lao thuộc về ông, không khách quan trong đánh giá sự nghiệp của quần chúng nhân dân, vì vậy ông không đạt đỉnh cao trong tư tưởng

+ Ông coi tư tưởng và đạo đức Nho giáo là yếu tố quyết định đưa tới thái bình thịnh trị mà không thấy rằng nó phải phù hợp với xã hội đương thời thì mới phát huy tác dụng

6) Đặc điểm Phật giáo thời Lý – Trần

Thời Lý – Trần đã đánh dấu sự phát triển cực thịnh của Phật giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam

- Thế kỉ VI – IX, Phật giáo vào Việt Nam từ Trung Quốc, chủ yếu qua các dòng thiền – Tỳ ni đa lưu chi, Vô Ngôn Thông và Thiền Thảo Đường

- Thời Lý, Phật giáo giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, được giai cấp phong kiến Việt Nam sử dụng vào việc ổn định trật tự xã hội, phát triển chế độ phong kiến, dựng nước và giữ nước Chùa chiến xuất hiện ở nhiềm nơi Phật giáo được các tầng lớp quý tộc, quan liêu ủng hộ, các vua Lý đều tôn sùng Phật giáo

+ Về chính trị : Các nhà sư tham gia chính sự mà không tham dự chính quyền vì học không nhận chức vụ trong triều đình, chỉ tới đóng góp ý kiến rồi về chùa Các nhà sư tiêu biểu: Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh Họ chỉ giữ vai trò cố vấn, không muốn hòa mình trong vòng danh lợi  Triết lý

Vô trụ (bất bạo động)

+ Về văn hóa: Tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần, thơ văn, nghệ thuật, đặc biệt là kiến trúc điêu khắc của dân tộc trong thời kì này Các thiền

sư thường am tường cả tam giáo, không phân biệt kì thị với các học thuyết khác Các nhà sư còn là các nhà thơ, để lại những bài thơ bất hủ đóng góp lớn trong kho tàng văn học dân tộc

Trang 8

+ Kiến trúc, mỹ thuật: Những ngồi chùa, tháp nổi tiếng như 8 ngôi chùa ở Bắc Ninh, chùa Thiên Quang, Thiên Đức, Thiên Vương, chùa Một Cột, “Tứ đại khí”

- Thời Trần, các vua triều Trần cùng quý tộc vẫn ủng hộ Phật giáo

+ Các nhà sư thời Trần không trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính trí nhưng Phật giáo đã là một yếu tố liên kết nhân tâm quan trọng Tinh thần Phật giáo khiến cho các nhà chính trị thời Trần áp dụng những chính sách bình dị, dân chủ

+ Trên phương diện văn hóa, Phật giáo thời kì này có những đóng góp lớn lao Phật giáo luôn thể hiện tinh thần khoan dung, độ lượng, không chống đối và chỉ trích Nho, Lão Chính vì tinh thần ấy mà vua quan đến nhân đân

đã đồng tâm hiệp lực chống ngoại xâm và xây dựng đất nước

+ Văn học thời này phản ánh tinh thần từ ái, hòa đồng của đạo Phật, gắn với tinh thần tự chủ tự cường Thi ca chịu nhiều ảnh hưởng của Thiền học + Các nhà tư tưởng tiêu biểu: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang

 Như vậy, Phật giáo đã giữ một vai trò quan trọng trong xã hội thế kỉ X-XIII, được giai cấp phong kiến sử dụng để thu phục nhân dân và ổn định xã hội Tuy vậy, với giáo lý duy tâm chủ quan về nhận thức Phật giáo đã tỏ ra kém hiệu lực trong việc giải quyết vấn đề hiện thực cuộc sống, nhất là vấn

đề chính trị xã hội nên nó đã phải nhường chỗ cho Nho giáo

7) Đặc điểm Nho giáo thời Lê – Nguyễn

- Đến thời nhà Lê, Nho giáo hoàn toàn chiếm ưu thế và chi phối nhiều lĩnh vực Trước hết là hệ thống giáo dục từ địa phương đến triều đình Nội dung giáo dục là kinh học và sử học Các kì thi hội đều lấy đề tài trong các sách

Trang 9

Luận ngữ, Mạnh tử, Xuân thu, Trung dung, Đại học…Hàng năm còn ban phát sách công cho các phủ như : Tứ thư, Ngũ kinh, Cương mục…

+ Lê Thánh Tông còn đưa Nho giáo vào văn hóa làng xã Tư tưởng trung, hiếu được đặc biệt đề cao vì nó phục vụ cho nhà nước phong kiến tập quyền quan liêu

+ Khoa cử phát triển nên nho sĩ chiếm số lượng lớn trong tầng lớp quan liêu + Văn học thời này chủ yếu do các nho sĩ sáng tác, ca ngợi khí thế vươn lên của dân tộc, đất nước

+ Nhân nghĩa và cương thường được đề cao thể hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi và những lời giáo huấn của Lê Thánh Tông

- Khác biệt với Nho giáo truyền thống :

+ Mang tính chất mềm dẻo

+ Sự trung hiểu không chỉ bó gọn trung với một dòng tộc hay chết vì cha + Đặt giáo hóa lên hàng đầu

- Đến nhà Nguyễn: Ngoại Nho, nội Pháp Bộ luật Gia Long được ban hành, đưa Nho giáo lên độc tôn thể hiện đặc điểm cơ bản:

+ Mang tính chất thần bí của Hán Nho, kết hợp với chủ nghĩa duy tâm khách quan của Tống Nho, chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Minh Nho, tư tưởng phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của Thanh Nho  Tập đại thành

+ Tư tưởng cơ bản là kế thừa học thuyết âm dương ngũ hành, mệnh trời, đề cao tam cương, trung hiếu, lý tưởng cao nhất của con người là phấn đấu trở thành người quân tử

+ Đẩy các giá trị đạo đức cương thường lên mức cực đoan  Tạo ra sự bảo thủ trì trệ, không thay đổi và tiếp thu

8) Nho giáo ở Việt Nam

Trang 10

*Nho giáo ở thời kì Bắc thuộc:

- Nho giáo ở thời kì đầu gắn liền với sự cưỡng bức truyền bá, theo bước chân xâm lược với mục đích đồng hóa  Vấp phải phản kháng, khó khăn Nho giáo chỉ nhằm mục đích giảng dạy cho chính quyền nhà Hán (bình diện mặt trên của xã hội)

- Các nhà Nho truyền đạo: Nhâm Diên, Tích Quang, Sĩ Nhiếp

- Từ thế kỉ II-V có ba cuộc đấu tranh giữa Nho và Phật  Xuất hiện tác phẩm “Lý hoặc luận” của Mâu Tử, trong đó chỉ ra những hiểu biết cơ bản nhất của người Giao Châu, Giao Chỉ về Nho

- Cuối thời kì Bắc thuộc, Nho giáo đã có vị trí nhất định

*Nho giáo ở thời kì Lý – Trần (thế kỉ X - hết XIII)

- Ở giai đoạn đầu tiên

+ Sự thay đổi về mặt chính trị, chuyển từ Bắc thuộc sang độc lập Các triều đại dần hình thành

+ Xã hội phân chia thành các tầng lớp: Vua chúa quý tộc, địa chủ phong kiến, lao động tự do và nông nô  Sự phân chia giai cấp không mang tính chất khắc nghiệt

+ Văn hóa – tư tưởng: Phật giáo chiếm vai trò chủ đạo, thống trị trong xã hội, tinh thần độc lập tự chủ tự cường được đẩy lên cao nhất

- Năm 1075, có khoa thi đầu tiên gọi là Minh kinh bác học

- Năm 1396, hình thức thi cử của Nho giáo mới hoàn chỉnh

- Nội dung cơ bản của Nho giáo thời kì này:

+ Tư tưởng thiên mệnh của Nho giáo

+ Đề cao vai trò của đức trị, lấy dân làm gốc và mong muốn xây dựng một

xã hội hòa hợp Nho giáo đề cao vai trò của trung, nghĩa và hiếu

Ngày đăng: 17/04/2021, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w