1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài tập lớn môn lịch sử văn minh thế giới

14 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 184,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nho giáo là một học thuyết chính trị đạo đức ra đời và tồn tại đến nay đã hơn 2.500 năm. Trong suốt chiều dài lịch sử, Nho giáo đã có ảnh hưởng ở nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam. Đi sâu vào vấn đề này, em xin chọn đề bài số 2: “Ảnh hưởng của Nho giáo trên các lĩnh vực chính trị, pháp luật, nghệ thuật trong nền văn minh Trung Quốc thời trung đại” Chữ “nho” theo Hán tự là do chữ nhân (人) và chữ nhu(需)ghép lại mà thành. Nhân là người, nhu là cần dùng hay còn có nghĩa là chờ đợi, tức là người trí thức chờ đợi người ta cần dùng và gọi đến thì đem tài sức ra giúp đời. Hiểu được nghĩa của chữ “nho” thì hiểu được rằng: “Nhà Nho là những hạng người học thông đạo lý của Thánh Hiền, biết được lẽ Trời Đất và Người, để hướng dẫn người phải ăn ở và cư xử thế nào cho hợp với Đạo Trời, hợp với lòng người”. Sách Pháp Ngôn có câu: “Thông Thiên định Địa viết Nho” nghĩa là: Người biết rõ cả Thiên văn, Địa lý, thì mới gọi là Nho. Phàm những nhà Nho học thì chuyên về mặt áp dụng thực tế, chứ không chú trọng nhiều về mặt lý tưởng. Bởi vậy, từ xưa đến nay, họ là những người sẵn sàng nhập thế cuộc, gánh vác việc đời, làm ích nước lợi dân, khác hẳn với những tu sĩ Phật giáo hay Lão giáo, họ chỉ thiên về việc lo tu độc thiện kỳ thân hay việc xuất thế.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP LỚN MÔN : Lịch sử văn minh thế giới

ĐỀ BÀI: Ảnh hưởng của Nho giáo trên các lĩnh vực chính trị, pháp luật, nghệ thuật trong nền văn minh Trung Quốc thời trung đại”

HỌ VÀ TÊN :

Hà Nội, 2021

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

1 Khái quát về Nho giáo Trung Quốc 2

1.1 Định nghĩa Nho giáo 2

1.2 Sự hình thành và các giai đoạn phát triển Nho giáo 3

1.2.1 Sự hình thành 3

1.2.2 Lịch sử phát triển Nho giáo tại Trung Quốc 3

2 Ảnh hưởng của Nho giáo trên các lĩnh vực chính trị, pháp luật, nghệ thuật trong nền văn minh Trung Quốc thời trung đại 6

2.1 Ảnh hưởng tích cực của nho giáo đến trật tự quan hệ xã hội Trung Quốc 7

2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đến trật tự quan hệ xã hội Trung Quốc 9

KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời và tồn tại đến nay đã hơn 2.500 năm Trong suốt chiều dài lịch sử, Nho giáo đã có ảnh hưởng ở nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam Đi sâu vào vấn đề này, em xin chọn đề

bài số 2: “Ảnh hưởng của Nho giáo trên các lĩnh vực chính trị, pháp luật, nghệ

thuật trong nền văn minh Trung Quốc thời trung đại”

NỘI DUNG

1 Khái quát về Nho giáo Trung Quốc

1.1 Định nghĩa Nho giáo

Chữ “nho” theo Hán tự là do chữ nhân (人) và chữ nhu(需)需)ghép lại mà thành Nhân là người, nhu là cần dùng hay còn có nghĩa là chờ đợi, tức là người trí thức chờ đợi người ta cần dùng và gọi đến thì đem tài sức ra giúp đời Hiểu được nghĩa của chữ “nho” thì hiểu được rằng: “Nhà Nho là những hạng người học thông đạo lý của Thánh Hiền, biết được lẽ Trời Đất và Người, để hướng dẫn người phải ăn ở và cư xử thế nào cho hợp với Đạo Trời, hợp với lòng người”

Sách Pháp Ngôn có câu: “Thông Thiên định Địa viết Nho” nghĩa là: Người biết rõ cả Thiên văn, Địa lý, thì mới gọi là Nho Phàm những nhà Nho học thì chuyên về mặt áp dụng thực tế, chứ không chú trọng nhiều về mặt lý tưởng Bởi vậy, từ xưa đến nay, họ là những người sẵn sàng nhập thế cuộc, gánh vác việc đời, làm ích nước lợi dân, khác hẳn với những tu sĩ Phật giáo hay Lão giáo, họ chỉ thiên

về việc lo tu độc thiện kỳ thân hay việc xuất thế

Chữ “giáo” là dạy, tôn giáo hay một mối đạo Như vậy, Nho giáo được hiểu

là một tôn giáo hay một học thuyết có một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết

lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội thịnh trị, có phương pháp, dạy về Nhân đạo, tức là dạy về đạo làm người trong gia đình xã hội Hệ thống của Nho

Trang 4

giáo theo chủ nghĩa: “ Thiên Địa Vạn vật đồng nhất thể”, nghĩa là: Trời Đất và muôn vật đều đồng một thể với nhau

Phương pháp của Nho giáo là phương pháp chứng luận, lấy Thiên lý lưu hành làm căn bản Học thuyết của Nho giáo có 3 điều cốt yếu:

Thứ nhất về tín ngưỡng: Luôn luôn tin rằng “Thiên Nhân tương dữ”, nghĩa là: Trời và người tương quan với nhau

Thứ hai về thực hành: Lấy sự thực nghiệm chứng minh làm trọng

Thứ ba về trí thức: Lấy trực giác làm cái khiếu để soi rọi tìm hiểu sự vật

1.2 Sự hình thành và các giai đoạn phát triển Nho giáo

1.2.1 Sự hình thành

Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu (từ thế kỷ 17 - 771 TCN), đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu (từ 722 - 481 TCN) xã hội loạn lạc, khoảng cuối thời nhà Châu, đời vua Linh Vương, có Khổng Tử (551-479 TCN) tên là Khâu, tê tự là Trọng Ni, là người

ấp Tâu (nay là thành phố Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông) thuộc nước Lỗ Ông là người

đã chỉnh đốn và phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền

bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo

Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mâu Ni, Giê-xu, người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng tử một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép do các học trò của ông để lại

Khó khăn nữa là thời kỳ "đốt sách, chôn Nho" của nhà Tần,vào khoảng hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời, khiến cho việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử càng khó khăn Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông

Trang 5

Nho giáo hình thành và phát triển qua năm thời kỳ: Nho giáo thời kỳ nguyên thủy (Tiên Tần), Hán Nho, Tống Nho, Nho giáo trong thế kỷ XX và thời kỳ cuối là giai đoạn phục hưng Nho giai đến nay Sau này tại Trung Quốc, Nho giáo độc tôn

từ thời Hán Vũ Đế (thời kỳ thứ hai: Hán Nho), trở thành hệ tư tưởng chính thống cả

về chính trị và đạo đức của Trung Hoa trong hơn 2000 năm Từ thế kỷ thứ IV, Nho giáo lan rộng và cũng rất phát triển ở các nước châu Á khác như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam

1.2.2 Lịch sử phát triển Nho giáo tại Trung Quốc

Thời kỳ Tiên Tần Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Tư tưởng quan trọng của Khổng Tử thực tế chỉ là một chữ

“Nhân”, ý nghĩa của chữ này bao gồm mọi đạo đức tốt đẹp “Nhân” là gì? Khổng

Tử nói: “Nhân giả ái nhân”, có nghĩa là con người yêu thương lẫn nhau Yêu thương bằng cách nào? Là “suy kỉ cập nhân”, vừa là “kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân”, nhường điều có lợi mà mình muốn có cho người khác; vừa là

“kỉ sử bất dục, vật thi vu nhân”, thứ mà bản thân mình không muốn có và việc mình không muốn làm thì khoog nên miễn cưỡng gán cho người khác Người có

“Nhân” thì phải “cư sử cung,chấp sự kính, dữ nhân trung”, cần phải “ngôn trung tín,hành đốc kính” Nếu như làm được những 4 điều này thì “chí sĩ nhân dân, vô cầu sinh nhĩ hại nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân” Làm được như vậy thì mỗi người sẽ có được nhân cách lý tưởng Khổng Tử đã thể hiện được sự đối xử bình đẳng, tôn trọng người khác và sự theo đuổi nhân cách đạo đức hoàn thiện, đây là sự thể hiện rõ ràng về “tư tưởng chủ nghĩa nhân bản” Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử

là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng

Tử là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các

Trang 6

tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo thời kỳ Tiên Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh"

Thời kỳ Hán Nho (111- 87 trước Công nguyên) Dưới đời vua Hán Vũ Đế, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn và được dùng như là một công cụ thống nhất đất nước về mặt tư tưởng Cũng từ đây mà Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến của Trung Quốc Đến thời kỳ này, Nho giáo có rất nhiều điểm khác biệt so với Nho giáo Tiên Tần Đó là đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, đồng thời Hán Nho đã thay thế cho tên gọi Nho giáo lúc trước Trong vấn đề tư tưởng triết học Nho giáo và chính trị, có hai học thuyết đáng chú ý nhất là: “ Trời trao chính quyền” và “ Trời và người có thể thông quan nhau, hiểu biết lẫn nhau” ( thiên nhân tương dữ) Đổng Trọng Thư cho rằng mọi hiên tượng tự nhiên xã hội và trật tự của nó đều xuất phát và được sắp đặt theo ý Trời, thân thể và

ý thức của con người đều do thượng đế ban cho, chính vì vậy mà mọi hoạt động tốt xấu của giai cấp thống trị dưới trần thế đều sẽ được nhận lại những điều tương ứng

Thời Kỳ Tống Nho (960-1297) Thời kỳ này, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chủ yếu của phong kiến Trung Quốc Nhưng cũng trong thời gian này, Phật giáo và Đạo giáo đã bắt đầu có ảnh hưởng ở Trung Quốc, chính vì vậy mà các nhà Nho đã tiếp thu những tu tưởng triết học của Phật giáo và vũ trụ quan của Đạo giáo để bổ sung cho triết lý Nho giáo thêm phần sâu sắc Đặc điểm chung của các nhà Nho thời Tống đó là giải thích vũ trụ và giải thích mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất

mà Nho học gọi là lý và khí Những nhân vật tiêu biểu của Phái lý học là Chu Đôn

Di, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy…

Nho giáo trong thế kỷ XX Với sự sụp đổ của chế độ quân chủ, Nho giáo mất

vị thế độc tôn, thậm chí bị bài trừ ở ngay tại Trung Quốc trong thập niên 1960-1970 khi Mao Trạch Đông làm chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Trung Quốc đứng

Trang 7

trước sự suy thoái của đạo đức xã hội - Nho giáo Trung Quốc từ 1911 đến 1915 Có thể nói đây là thời kỳ chuyển giao thời đại, thời kỳ Nho giáo chịu những tác động mạnh mẽ nhất, mở ra thể chế mới và gạt bỏ tất yếu vị thế của Nho giáo

Từ cách mạng Tân Hợi đến Ngũ tứ vận động, Nho học chịu ba lần tấn công

dữ dội, đó là: Quá trình xác lập hiến pháp mới, nền chính trị mới, nền giáo dục mới

đã kết thúc vị trí hiển học quan phương chính thống mà Nho học đã từng có suốt mấy nghìn năm; việc phê phán phong trào khôi phục nền đế chế của Viên Thế Khải

do ông lợi dụng Nho học làm chỗ dựa tư tưởng để khôi phục nền đế chế; cuối cũng

là phong trào Tân văn hóa vận động, phê phán Nho giáo ở tầng học thuật chiều sâu

- Nho giáo Trung Quốc 1921- 1927 Ở Trung Quốc thời kỳ này xuất hiện 3 kiểu thái độ đối với Nho học, tạo thành 3 xu thế tư tưởng chính Đó là: Thái độ chủ trương phê bình Nho giáo; tư tưởng thừa kế những thành tựu của Nho học; tư tưởng dùng học thuyết Nho giáo làm cơ sở giải thích chủ nghĩ Tam dân

- Nho giáo giai đoạn 1927- 1936 Có bốn tư trào liên quan đến Nho học Đó

là, (1) Quốc dân đảng lợi dụng Nho học với nội dung như: Tưởng Giới Thạch đề cao Nho học là gốc của việc lập quốc; “ Phong trào đời sống mới” với Nho học; Nho học trong “ Duy sinh luận” của Trần Lập Phu; (2) Tư tưởng và hoạt động phục hưng Nho học của Lương Thấu Minh và Hùng Thập Lực;(3) Phùng Hữu Lan lý giải Nho học bằng phương pháp của giai cấp tư sản phương Tây qua tác phẩm Trung Quốc triết học sử; (4) Quách Mạt Nhược, Lữ Chấn Vũ bình giá Nho học bằng quan niệm duy vật lịch sử - Nho giáo giai đoạn 1937 – 1949 Quốc Dân đảng lợi dụng Nho học để duy trì sự thống trị của mình, đặc biệt trong thời gian kháng chiến chống Nhật, thông qua Cương lĩnh Kháng chiến kiến quốc với quy dịnh “chú trọng đến việc tu dưỡng đạo dức quốc dân” Tưởng Giới Thạch lợi dụng những mặt bảo thủ của Nho học để ngăn chặn sự truyền bá tư tưởng tự do dân chủ và tư tưởng khoa học xã hội chủ nghĩa tại Trung Quốc Đây cũng là thời kỳ, Tiền Mục, Phùng

Trang 8

Hữu Lan, Hạ Lân, Lương Thấu Minh đưa ra các tư tưởng, ấn phẩm nhằm phát huy Nho giáo truyền thống Phương châm “ phê phán và kế thừa” của Mao Trạch Đông

và sự phân tích của ông về Nho gia, để xây dựng nền văn hóa mới của chủ nghĩa dân chủ mới

- Nho giáo giai đoạn từ 1950- 1976 Đây là thời kỳ sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc giành được quyền lực, và có thể coi đây là thời kỳ mà Đảng cộng sản

đã tập trung nguồn lực đất nước vào việc phá hủy nền văn hóa truyền thống thông qua việc “ cách mạng hóa”, khiến con người ta xa rời các giá trị truyền thống, lao vào cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ gia đình hoàng tộc, việc sử dụng các thủ đoạn âm mưu, và việc thực hiện chế độ độc tài chuyên quyền, và tạo ra một ấn tượng sai lầm là “ văn hóa Đảng” là một sự kế thừa của văn hóa truyền thống Trung Quốc, thậm chí còn lợi dụng nó để kích động việc từ bỏ văn hóa truyền thống Trung Quốc đích thực Truyền thống lâu đời của văn hóa Trung Quốc – dựa trên tín ngưỡng và tôn trọng đạo đức và Nho giáo cùng với Đạo giáo và Phật giáo cũng vì vậy mà ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân Trung Quốc Đảng tiến hành cùng một lúc tiêu diệt Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo bằng cách phá hủy các văn vật, phá hủy các tín ngưỡng tinh thần

Thời kỳ phục hưng Nho giáo đến nay Đến đầu thế kỷ 21, đứng trước sự suy thoái của đạo đức xã hội, những giá trị của Nho giáo về tu dưỡng, giáo dục con người dần được coi trọng trở lại và được thúc đẩy thành phong trào tại các nước Đông Á Phục hưng Nho giáo trong thế kỷ XXI là phong trào đang lên ở Đông Á,

nó xuất phát từ Trung Quốc và lan truyền ra các khu vực lân cận Nhiều hội thảo quốc tế về phục hưng nền Nho học đã được tổ chức ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản Tập hợp các nhà nghiên cứu Nho giáo trong khu vực và trên thế giới đã kiến lập Hiệp hội nghiên cứu Nho giáo quốc tế

Trang 9

2 Ảnh hưởng của Nho giáo trên các lĩnh vực chính trị, pháp luật, nghệ thuật trong nền văn minh Trung Quốc thời trung đại

Nho giáo được sinh ra từ Trung Quốc, cho nên Nho giáo tại Trung Quốc không phải trải qua giai đoạn du nhập, càng không có sự lựa chọn tiếp thu những cái hay từ Nho giáo như ở Nhật Bản Ở một đất nước đa dạng về tôn giáo như Trung Quốc mà hệ tư tưởng chính trị - đạo đức của Nho giáo lại được nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc, cũng như những nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc tôn trọng và áp dụng để cai quản đất nước, duy trì sự tồn tại và thịnh vượng của triều đại Từ đó có thể thấy, Nho giáo có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới chính trị, pháp luật, nghệ thuật như sau:

a Ảnh hưởng đến đời sống chính trị:

+ Nguyên tắc tổ chức – hình thức Nhà nước: Quan điểm chính trị pháp lý của Nho giáo là các quan điểm Pháp Tiên Vương, Chính danh, Thiên mệnh, Tôn Quân quyền và Đức trị Mà nguyên tắc cơ bản nhất là nguyên tắc Tôn quân quyền có nghĩa là quyền lực tập trung cao trong tay nhà vua chính vì vậy nó quyết định hình thức chính thể là quân chủ chuyên chế Nhà vua được coi là thiên tử, do tư tưởng thiên mệnh của nho giáo Nhà vua có các quyền lực đó là vương quyền và thần quyền

+ Đội ngũ giúp việc cho nhà vua: xuất phát từ quan điểm của nho giáo các quan chức và lạc viên được tuyển chọn thông qua hình thức khoa cử để chọn người

có tài, có đức Những người bất hiếu, con của những người làm nghề cá kỹ sẽ không được dự các kỳ thi

b Ảnh hưởng đến pháp luật:

+ Nguồn hình thành pháp luật phong kiến Trung Quốc: Các lễ nghi Nho giáo được thể chế hóa vào các quy định của pháp luật

Trang 10

+ Nội dung: pháp luật của Trung Quốc là pháp luật Nho giáo hướng đến duy trì bảo vệ một trật tự gia đình, xã hội và quốc gia của Nho giáo

c Ảnh hưởng đến văn học:

+ Nội dung văn học: tác phẩm Tam quốc chí diễn nghĩa nói về tư tưởng Thiên mệnh, tư tưởng Thiên nhân cảm ứng thông qua tác phẩm Động ngao oan Tư tưởng của Nho giáo cũng ảnh hưởng đến cách thức xây dựng hình tượng văn học: người phụ nữ luôn là các liệt nữ, chung thủy, tam tòng tứ đức thông qua rất nhiều các tiểu thuyết và các vở kịch Xây dựng các anh hùng, quân tử: Nhân vật Tống Giang, Lưu Bị thông qua các tiểu thuyết

e Ảnh hưởng đến Giáo dục:

+ Giảng dạy trong các trường học tư: Sử dụng bộ sách Tứ thư ngũ kinh hình thành tư tưởng trong giáo dục Học cổ nhập quan (Vô học bất thành quan) và hình thành tư tưởng trong quan hệ Thầy trò, trò phải kính thầy như cha mẹ mình và quy định trong pháp luật là trò không được lấy vợ của thầy sau khi thầy chết

f Ảnh hưởng đến Nghệ thuật

+ Kiến trúc: Kiến trúc có quy mô to lớn thể hiện cho Đế quyền nhà vua đó chính là cung điện, lăng mộ Vì theo tư tưởng Thiên mệnh nhà vua đại diện cho trời Khổng Tử là người sáng lập ra Nho giáo nên xuất hiện thêm loại hình kiến trúc nữa là Văn Miếu

+ Hội họa: các Nho sỹ đều là các Họa sỹ Hình thành nên dòng tranh Sơn thủy theo tư tưởng thì người nhân thì thích núi người trí thích sông Các biểu tượng Tùng, Cúc, Trúc, Mai

Định hình, hình thành các mối quan hệ xã hội và phân chia các mối quan hệ trong xã hội từ cao xuống thấp (theo tam cương), có ba quan hệ cơ bản là vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, nó phân định rõ ràng quyền, nghĩa vụ của từng người trong

Ngày đăng: 14/04/2021, 09:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w