Lão hóa ở mức độ tế bào được cho là liên quan đến sự lão hóa về mặt tế bào, cụ thể là sự rút ngắn các telomeres các phần cuối của nhiễm sắc thể với mỗi chu kỳ tế bào.. Các yếu tố từ môi
Trang 1HÂN HẠNH ĐƯỢC SỰ ĐỒNG HÀNH CỦA CÁC NHÀ TÀI TRỢ
NHÀ TÀI TRỢ ĐỒNG
CÙNG CÁC NHÀ TÀI TRỢ KHÁC
Trang 2PHIÊN 1: ĐÀO TẠO LIÊN TỤC “SỰ HẤP DẪN LÀN DA THEO THỜI GIAN”
SESSION 1: CME “THE ATTRACTION OF THE SKIN THROUGH TIME”
Chủ tọa/ Chairmen: PGs.Ts Nguyễn Tất Thắng, PGs.Ts Huỳnh Văn Bá, PGs.Ts Văn Thế Trung, Ts Nguyễn Trọng Hào Thời gian
10:15 - 10:30 Sự bí ẩn của làn da theo thời gian
Trường ĐHYD Cần Thơ
10:30 - 10:45 Săn chắc da bằng siêu âm hội tụ Ts Châu Văn Trở
PHIÊN 2: MỘT SỐ TIẾN BỘ TRONG THẨM MỸ DA
SESSION 2: THE INNOVATION IN SKIN AESTHETICS
Chủ tọa/ Chairmen: PGs.Ts Nguyễn Tất Thắng, PGs.Ts Huỳnh Văn Bá, Ts Nguyễn Trọng Hào
Thời gian
Time Tên báo cáo Topics Báo cáo viên Speakers
11:40 - 11:55 Xu hướng kết hợp laser và ánh sáng trong thẩm mỹ da Bs.CKII Đoàn Quốc Tuấn
BV Da liễu tỉnh Đồng Tháp
11:55 - 12:10 Chăm sóc và trẻ hóa vùng môi, mắt Bs.CKII Phạm Thúy Ngà
12:10 - 12:25 Ứng dụng ánh sáng trị liệu trong điều trị mụn trứng cá Ths Huỳnh Bạch Cúc
Trường ĐHYD Cần Thơ
12:25 - 12:30 Thảo luận
PHIÊN 3: CẬP NHẬT MỘT SỐ QUI TRÌNH KỸ THUẬT TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH HOA LIỄU
SESSION 2: UPDATE SOME TECHNICAL PROCESSES IN THE TREATMENT OF VENEREOLOGICAL DISEASES
Chủ tọa/ Chairmen: PGs.Ts Văn Thế Trung, Ts Châu Văn Trở, Bs.CKII Phạm Thúy Ngà
13:45 - 14:00 Cập nhật tình hình bệnh lậu hiện nay Bs Lạc Thị Kim Ngân
Trường ĐHYD Cần Thơ
Phiên 1: ĐÀO TẠO LIÊN TỤC “SỰ HẤP DẪN LÀN DA THEO THỜI GIAN”
SESSION 1: CME “THE ATTRACTION OF THE SKIN THROUGH TIME”
Chủ tọa/ Chairmen : PGs.Ts Nguyễn Tất Thắng, Bs.CKII Vũ Hồng Thái, PGs.Ts Văn Thế Trung, Ts Nguyễn Trọng Hào
Phiên 2: MỘT SỐ TIẾN BỘ TRONG THẨM MỸ DA
SESSION 2: THE INNOVATION IN SKIN AESTHETICS
Chủ tọa/ Chairmen : PGs.Ts Nguyễn Tất Thắng, Bs.CKII Vũ Hồng Thái, PGs.Ts Huỳnh Văn Bá, Ts Nguyễn Trọng Hào
Phiên 3: CẬP NHẬT MỘT SỐ QUI TRÌNH KỸ THUẬT TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH HOA LIỄU
SESSION 3: UPDATE SOME TECHNICAL PROCESSES IN THE TREATMENT OF VENEREOLOGICAL DISEASES
Chủ tọa/ Chairmen : PGs.Ts Văn Thế Trung, Ts Châu Văn Trở, Bs.CKII Phạm Thúy Ngà
Hội trường 6: DA LIỄU
Hall 6: DERMATO-VENEREOLOGY
Địa điểm: GĐ 10/KT
Location: GĐ 10/KT
Trang 314:00 - 14:15 Cập nhật tình hình đề kháng kháng sinh của Nesseria
gonorrhoeae gây bệnh lậu hiện nay
Ths Trần Thị Như Lê
Trường ĐHYD Cần Thơ
14:15 - 14:25 Thảo luận
PHIÊN 4: CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH DA
SESSION 4: UPDATE ON DIAGNOSIS AND TREATMENT OF SKIN DISEASES
Chủ tọa/ Chairmen: PGs.Ts Nguyễn Tất Thắng, PGs.Ts Huỳnh Văn Bá, PGs.Ts Văn Thế Trung
14:40 - 14:55 Nồng độ IL4 huyết thanh trong viêm da cơ địa người lớn
14:55 – 15:10 Bệnh vảy nến và chất lượng cuộc sống
15:10 - 15:25 Cập nhật một số nghiên cứu trong chăm sóc tại chỗ bệnh vảy nến
15:25 - 15:40 Cập nhật một số nghiên cứu trong điều trị Inconigto tinea
15:40 – 15:50 Thảo luận
BÁO CÁO POSTER
POSTER PRESENTATION
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, giai đoạn và mức độ chàm thể tạng người
lớn tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ năm 2017-2019
Cập nhật mụn trứng cá ở trẻ em
Cập nhật mụn trứng cá ở phụ nữ mang thai
Cập nhật mụn trứng cá ở người trưởng thành
Cập nhật điều trị ghẻ trẻ em
Cập nhật và điều trị di chứng đau sau zona
Bs.CKI Nguyễn Thị Thùy Trang
Trường ĐHYD Cần Thơ
Ths Trần Gia Hưng
Trường ĐHYD Cần Thơ
Bs.CKI Nguyễn Thị Lệ Quyên
BV Da liễu TP Cần Thơ
Bs Từ Mậu Xương
Trường ĐHYD Cần Thơ
Bs Nguyễn Thị Thúy Liễu
Trường ĐHYD Cần Thơ
Bs.CKI Nguyễn Thị Thùy Trang
Trường ĐHYD Cần Thơ
Bs Phạm Thanh Thảo
Trường ĐHYD Cần Thơ
Bs Hồ Thị Bảo Ngân
Trường ĐHYD Cần Thơ
Bs Hoàng Văn Tư
Trường ĐHYD Cần Thơ
Bs Đỗ Thu Uyên
Trường ĐHYD Cần Thơ
Bs Nguyễn Thị Thảo My
Trường ĐHYD Cần Thơ
Phiên 4: CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH DA
SESSION 4: UPDATE IN DIANOSIS AND TREATMENT OF SKIN DISEASES
Chủ tọa/ Chairmen : PGs.Ts Nguyễn Tất Thắng, Bs.CKII Vũ Hồng Thái, PGs.Ts Văn Thế Trung, Ts Nguyễn Trọng Hào
Trang 6SỰ BÍ ẨN CỦA LÀN DA THEO THỜI GIAN
PGS.TS.BS Huỳnh Văn Bá*, BS.Nguyễn Thị Thùy Trang*, BS Trần Gia Hưng*
*Bộ môn Da liễu - Trường ĐHYD Cần Thơ
Tóm tắt
Lão hóa da được đặc trưng bởi các tiến trình nội sinh và ngoại sinh Lão hóa nội sinh diễn ra theo trình tự thời gian, được xác định có tính di truyền và không thể tránh khỏi, bao gồm cả vùng da không tiếp xúc với ánh nắng Quá trình lão hóa nội sinh xảy ra một cách tự nhiên và ngày càng trầm trọng thêm do quá trình lão hóa bên ngoài gây ra bởi môi trường
Các thay đổi liên quan đến da lão hóa bao gồm teo mỏng các lớp da, da dễ bị tồn thương, chảy xệ
và xuất hiện các nếp nhăn Các khu vực tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cho thấy những thay đổi rõ rệt liên quan lão hóa, bao gồm rối loạn sắc tố, nếp nhăn xuất hiện sớm, dãn mạch
pH sinh lý bề mặt của da nằm trong khoảng từ 4 đến 6 Sự gia tăng độ pH da liên quan đến tuổi tác
có thể ảnh hưởng tiêu cực đến các chức năng sinh lý của da như độ thẩm thấu của hàng rào bảo vệ, tính toàn vẹn, sự gắn kết của lớp sừng và khả năng kháng khuẩn
Theo các đề xuất của một số nghiên cứu, các sản phẩm chăm sóc da cho người cao tuổi phải có công thức với độ pH bằng 4, có thể làm bình thường hóa độ pH da tăng lên do tuổi tác và do đó giúp duy trì chức năng da sinh lý làn da
Các từ khóa: lớp sừng, pH acid bề mặt da, pH lớp sừng, các acid amin, các acid béo tự do
THE MYSTERY OF THE SKIN OVER TIME
Assoc Prof Huynh Van Ba PhD.,MD.*, Nguyen Thị Thuy Trang, MD.*, Trần Gia Hưng, MD.*
* Department of Dermato-Venereology, Can Tho University of Medicine and Pharmacy, Vietnam
Abstract
Cutaneous aging is characterized by intrinsic and extrinsic processes Intrinsic, or chronologic, aging is a genetically determined and inevitable process in skin, including photoprotected skin Intrinsic aging naturally occurs and is exacerbated by extrinsic aging, which is environmentally induced
Age-associated skin changes include thinning, skin laxity, fragility, and wrinkles Sun-exposed areas demonstrate additional aging changes, including dyspigmentation, premature wrinkling, telangiectasia
Physiological pH of the skin ranges between 4 and 6 The acidity of the skin surface is crucial for physiological skin functions The age-related increase of skin pH may negatively affect physiological skin functions, such as barrier permeability, integrity/cohesion of the stratum corneum (SC), and antimicrobial capacity Following the suggestions of some studies, skin care products for the elderly should be formulated with a pH of 4, which may normalise the age-related increase of skin pH and thereby help to maintain physiological skin functions
Keywords: stratum corneum (SC), the acidic skin surface pH (pHSS), stratum corneum pH (pHSC), amino
acids (AAs), free fatty acids (FFAs)
1 Cấu trúc giải phẫu của da lão hóa
Các thay đổi liên quan đến da lão hóa bao gồm sự teo mỏng, da dễ bị tồn thương, chảy xệ và xuất hiện các nếp nhăn Các vùng da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời có những thay đổi liên quan lão hóa bao gồm rối loạn sắc tố, các nếp nhăn xuất hiện sớm, dãn mạch và các bệnh lý liên quan sợi đàn hồi do ánh nắng
Trang 7Lão hóa da được biểu hiện đặc trưng bởi các tiến trình nội sinh và ngoại sinh Lão hóa nội sinh là
sự diễn ra theo trình tự thời gian được xác định có tính di truyền và không thể tránh khỏi, bao gồm cả vùng
da không tiếp xúc với ánh nắng Quá trình tự lão hóa nội sinh xảy ra một cách tự nhiên và ngày càng trầm trọng do quá trình lão hóa bên ngoài gây ra bởi môi trường
Lão hóa ở mức độ tế bào được cho là liên quan đến sự lão hóa về mặt tế bào, cụ thể là sự rút ngắn các telomeres (các phần cuối của nhiễm sắc thể) với mỗi chu kỳ tế bào
Các yếu tố từ môi trường có thể làm gia tăng sự lão hóa nội sinh bao gồm sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và thuốc lá Sự tiếp xúc với UVA trong một thời gian dài sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình lão hóa nội sinh thông qua sự hình thành các loại phân tử và nguyên tử oxy phản ứng (reactive oxygen species: ROS) ROS làm tăng các cytokine gây viêm và điều chỉnh tăng lên các metalloproteinase trong các thành phần cơ bản, dẫn đến sự phá vỡ collagen Tia UVB cũng có thể góp phần vào quá trình lão hóa này bằng cách gây đột biến trực tiếp deoxyribonucleic acid (DNA) [2]
Về mô học, lão hóa da do ánh nắng được biểu hiện bởi sự mỏng dần của đường nối giữa bì và thượng bì, làm giảm vận chuyển các chất dinh dưỡng qua lại giữa các lớp, thường biểu hiện thông qua viêm
da ánh sáng (heliodermatitis) hoặc các tình trạng viêm mạn tính Ở lớp bì, các nguyên bào sợi bị kéo dài và phá vỡ, các sợi collagen bị rối loạn cấu trúc, gây suy giảm collagen và có thể gây tích tụ các sợi đàn hồi một cách bất thường tạo nên bệnh lý sợi đàn hồi do ánh nắng [12]
Người ta chứng minh rằng các acid amin là những yếu tố quan trọng trong việc điều chỉnh độ pH của da Khoảng 70-100% các acid amin tự do của lớp sừng xuất phát từ các protein giàu histidin của các hạt keratohyalin, như filaggrin Filaggrin được biểu hiện trong quá trình biệt hóa của các tế bào biểu bì và cần thiết cho việc điều chỉnh độ ổn định của tế bào biểu bì Nó được thủy phân ở phần trên lớp sừng thành acid amin histamine, glutamine và arginine, (trong số đó) được chuyển hóa thành acid urocanic, đóng góp đáng kể vào việc điều chỉnh pH da Ngoài ra, các acid béo tự do có nguồn gốc từ phospholipids đóng một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh độ pH da
3 Chức năng sinh lý của pH da
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự acid hóa bề mặt da rất quan trọng giúp cho làn da khỏe mạnh, bảo vệ cơ thể khỏi những ảnh hưởng của môi trường Màng acid của da giúp duy trì các chức năng của da bao gồm: (1) Sự kết nối và tính toàn vẹn của lớp sừng; (2) Sự cân bằng của hàng rào bảo vệ thượng bì; (3)Phòng chống vi khuẩn Điều hòa các chức năng này rất quan trọng để giữ cho làn da luôn mịn màng, ngăn ngừa nhiễm trùng, và tránh được sự nhạy cảm với các chất kích ứng Độ thẩm thấu của lớp biểu bì trên cơ thể phụ thuộc vào tính chất kỵ nước của nó, sự phân bố lipid, và sự phân bố của các lipid này vào một loạt các lamellar bilayers Nó được cho là sự phân bố được điều chỉnh bởi các cơ chế phụ thuộc pH:
sự hình thành các thành phần thân dầu và các tương tác giữa các chất béo Hai enzyme chính trong chuyển hóa lipid là β-glucocerebrosidase và sphingomyelinase acid cả hai đều có hoạt tính cao nhất ở pH có tính
Trang 8Tính toàn vẹn của lớp sừng và sự liên kết của các tế bào sừng được trung gian bởi corneodesmosomes và lipid ngoại bào Sự mất kiểm soát của các tế bào sừng (sự bong vảy) được trở nên mạnh mẽ và liên quan đến sự suy thoái của các protein corneodesmosome như desmoglein, desmocollin và corneodesmosin
Sự suy thoái này dẫn đến sự bong vảy, qua trung gian chymotryptic và protease serine tryptic, kallikrein 5 và 7 Quan trọng nhất, các enzym này đòi hỏi pH trung tính Ở người cao tuổi - với độ pH da tăng cao - cấu trúc và chức năng của lớp sừng bị suy giảm do hoạt động protease serine thay đổi nhưng cũng có thể ức chế tiết chất lamellar Điều này có thể dẫn tới sự gia tăng bong tróc da, da thô
Da và bề mặt da có đặc tính kháng khuẩn, có vai trò chủ chốt trong việc phòng ngừa sự xâm chiếm bởi các tác nhân gây bệnh Các vi sinh vật thuộc da thuộc về các loài cư trú thoáng qua, thường trú hoặc tạm thời Các vi sinh vật sinh lý của da phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau; tuy nhiên, pH rất có thể là một trong những yếu tố quan trọng nhất
Các vi sinh vật thường trú thân hiện trên da đòi hỏi các giá trị pH acid để tăng trưởng tối ưu, trong
khi một số vi khuẩn gây bệnh phát triển tốt hơn ở các mức độ pH trung tính Staphylococcus aureus, một
tác nhân gây bệnh có liên quan đến các bệnh ngoài da khác nhau, có tốc độ tăng trưởng tốt nhất ở pH 7,5, trong khi ở tốc độ tăng trưởng của acidic pH tốc độ tăng trưởng giảm Ngoài ra, các peptide kháng khuẩn (như cathelicidin [LL-37], dermcidin , chất cation và nitrates trong mồ hôi của con người) sẽ phát triển hoạt tính kháng khuẩn của chúng chỉ ở pH acid
Tất cả các chức năng sinh lý này phụ thuộc rất nhiều vào việc điều chỉnh và duy trì pH da có tính acid Do đó, bất kỳ sự thay đổi độ pH da nào, nội sinh hay ngoại sinh đều làm suy yếu chức năng sinh lý của da Các yếu tố bên trong như bệnh đái tháo đường, và các yếu tố bên ngoài đặc biệt là chất tẩy rửa da
và các sản phẩm chăm sóc da, thường được bảo quản và không điều chỉnh pH da Đặc biệt, các sản phẩm kem và lotion không được tối ưu hóa về độ pH và được sử dụng thường xuyên có thể làm ảnh hưởng không tốt đến pH da hoặc ảnh hưởng đến thảm vi sinh vật bình thường trên da, có thể được thực hiện trong các nghiên cứu lâm sàng khác nhau
4 Sự thay đổi pH liên quan đến lứa tuổi
PH da acid của trẻ sơ sinh là trung tính đến kiềm ngay sau khi sinh Quá trình acid hóa bắt đầu trong vòng 24 giờ đầu tiên, và trong những tuần đầu pH da có tính acid Trong thời kỳ trẻ sơ sinh, pH bề mặt da đạt đến độ acid bình thường sau khoảng 6 tháng Các nghiên cứu trước đây cho thấy pH bề mặt da tăng nhẹ theo độ tuổi Mặc dù không có tiêu chí số tiêu chuẩn của Liên Hợp Quốc (UN) cho các lứa tuổi khác nhau, LHQ đã đồng ý tuổi 60 để đề cập đến tuổi già hoặc người cao tuổi, và trong điều này giúp chúng ta xem xét phân loại này Nói chung, một mối tương quan tuyến tính giữa pH bề mặt da và tuổi được khẳng định qua quan sát bởi hai nhóm độc lập
Ba cơ chế phân tử chịu trách nhiệm cho việc acid hóa da dường như bị xáo trộn khi tuổi tác tăng lên: giảm biểu hiện NHE1, giảm phân huỷ phospholipid thành acid béo FFAs và giảm sự phá vỡ filaggrin thành các yếu tố giữ ẩm tự nhiên Ngoài ra, chất bã nhờn và sự bài tiết mồ hôi giảm ở người cao tuổi, do
đó làm giảm thêm khả năng đệm của da Sự tăng pH bề mặt da liên quan đến tuổi làm thay đổi một số chức năng trong da của người cao tuổi, và do đó có thể gây nên những tác động tiêu cực PH bề mặt da gia tăng làm giảm chức năng của lớp sừng, có thể gây ra sự rối loạn lipid, gây ra bởi ảnh hưởng của hai enzyme lipid chuyển hóa lipid β-glucocerebrosidase và sphingomyelinase acid, cả hai hoạt tính cao nhất ở pH thấp
Do đó, hoạt động của chúng sẽ giảm dần theo tuổi tác
Hơn nữa, sự trưởng thành của màng lamelar bị chậm trễ Người ta đã chứng minh rằng sự phục hồi của rào bảo vệ da ở tuổi già, so với trẻ hơn, lớp biểu bì của con người giảm xuống Hơn nữa, pH da gia tăng
sẽ dẫn đến sự suy thoái sớm của corneodesmosomes và làm tăng sự bong vảy vì hoạt động của protease serine tăng song song với độ pH của da
Trang 9Do đó, lớp sừng có thể dễ dàng loại bỏ, một lượng lớn protein được loại bỏ, lý giải cho tính toàn vẹn/kết nối bị xáo trộn của lớp sừng ở người cao tuổi Bên cạnh đó, các tín hiệu dẫn truyền các hiện tín hiệu tăng trưởng bất thường và sự suy giảm tổng hợp các lipid biểu bì như ceramid, cholesterol và acid béo
Sự tổng hợp lipid và các hoạt tính enzyme không chỉ suy giảm mà còn không đủ đáp ứng điều hòa sau những tác động gây phá vỡ hàng rào bảo vệ cấp tính xảy ra Bên cạnh đó, các cơ chế bảo vệ chống vi khuẩn của lớp sừng bị suy giảm do pH da tăng lên Như đã đề cập ở trên, các giá trị pH sinh lý bảo vệ sự hình thành vi khuẩn bình thường của da, trong khi da ở tuổi già lại có tính nhạy cảm với các mầm bệnh tạo
ra các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Do đó, sự gia tăng độ pH của bề mặt da phụ thuộc vào tuổi tác rất có thể sẽ thúc đẩy sự xâm nhiễm của bề mặt da với sự thay đổi của thảm vi sinh vật trên da, góp phần vào sự phát triển của một mùi đặc trưng của cơ thể
Ở da lão hoá, cơ chế chế tạo lipid bị suy giảm và hàm lượng lipid giảm Lipid có thể làm chậm sự thâm nhập của các chất bôi trên da và chúng cần thiết để duy trì hệ thống đệm của da Ở da người cao tuổi, các sản phẩm tại chỗ có thể xâm nhập dễ dàng hơn vào lớp biểu bì, do đó cũng có thể gây kích ứng và dị ứng Với độ tuổi ngày càng tăng, khả năng đệm của bề mặt da bị suy giảm, dẫn đến khả năng chống lại sự thay đổi pH nội sinh và ngoại sinh ít hơn
Do đó, da lão hóa nhạy cảm hơn với các chất gây kích ứng và dị ứng, phần nào giải thích sự gia tăng viêm da tiếp xúc ở người cao tuổi Do đó, lão hóa da biểu hiện tăng tính dễ tổn thương, không chỉ các stress cơ học do sự teo da mà còn bởi vì độ pH da tăng lên Hơn nữa, da của người cao tuổi xuất hiện thô
và khô, đôi khi có liên quan đến ngứa, có thể liên quan đến pH bề mặt da tăng lên Vì vậy, các sản phẩm chăm sóc da thích hợp (sản phẩm để lại cũng như các chất tẩy rửa) cho người cao tuổi nên được xây dựng
để bình thường hóa độ pH liên quan đến độ tuổi [11]
5 Da lão hóa tự nhiên so với da lão hóa do nắng
Da giống như tất cả các cơ quan khác, lão hóa theo thời gian Người cao tuổi có thể được xác định bên trong và yếu tố bên ngoài Sự lão hóa nội sinh là dấu hiệu của quá trình lão hóa diễn tiến tư nhiên của con người và xảy ra ở cả da tiếp xúc với ánh mặt trời và không tiếp xúc với ánh nắng mặt trời Ngược lại, lão hóa bên ngoài bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường như bức xạ UV
So với da bị tổn thương do nắng, da được bảo vệ chống nắng có đặc điểm khô da, nếp nhăn, teo
da, màu sắc đồng nhất và các dầy sừng tiết bã Ngược lại, da lão hóa có nguồn gốc bên ngoài có đặc điểm
là gồ ghề, khô, nếp nhăn thô, xuất hiện các nếp nhăn, teo, màu sắc không đồng đều, và các bất thường mạch máu ở bề mặt (ví dụ giãn mạch) Điều quan trọng cần lưu ý là các thuộc tính này không tuyệt đối và
có thể thay đổi theo cách phân loại da của Fitzpatrick và tiền sử tiếp xúc với ánh nắng mặt trời
Những thay đổi trên lớp bì của da lão hóa do ánh nắng tùy thuộc vào lượng tổn thương UV Elastasis
do ánh nắng là đặc điểm mô học nổi bật nhất của da lão hóa do ánh nắng Số lượng elastin trong da giảm ở
da lão lão hóa tự nhiên, nhưng ở da tiếp xúc với tia cực tím, elastin tăng theo tỷ lệ tiếp xúc với tia UV Sự lắng đọng elastin thay đổi này biểu hiện lâm sàng như nếp nhăn và sự đổi màu của da
Một đặc điểm khác của da lão hóa do ánh nắng là sự hủy hoại tổ chức sợi collagen Các sợi collagen trưởng thành, tạo thành phần lớn các mô liên kết của da bị thoái hóa Thêm vào các đặc điểm của
da lão hóa do ánh nắng bao gồm gia tăng sự lắng đọng glycosaminoglycans và các protein trong các thành phần cơ bản ngoại bào Trên thực tế, mật độ tế bào tổng thể trong lão hóa da do ánh sáng tăng lên, dẫn đến
sự gia tăng nguyên bào sợi và sự xâm nhập của các chất gây viêm gây ra các biểu hiện viêm mãn tính Những thay đổi trong vi mạch cũng xảy ra, như tình trạng giãn mạch và các bất thường về mạch máu cũng được tìm thấy trên lâm sàng [4]
6 Chăm sóc da của da người cao tuổi
Trang 10nữa, pH da tăng ngay lập tức nhưng chỉ thoáng qua (lên đến 1 hoặc 2 ngày) nếu da được rửa bằng nước máy
Rửa tay bằng xà phòng kiềm làm tăng pH bề mặt da lên đến 3 đơn vị, kéo dài> 90 phút Hơn nữa, các sản phẩm sử dụng tại chỗ không được điều chỉnh đến độ pH sinh lý của da, như chất khử mùi, ảnh hưởng đến pH bề mặt da trong vài giờ Ví dụ, sodium lauryl sulphate, một chất gây kích ứng tiếp xúc, dẫn tới sự gia tăng đáng kể pH bề mặt da và gây rối loạn chức năng hàng rào bảo vệ da Do đó, nhiều nghiên cứu trên người đã đề cập đến sự thay đổi của pH bề mặt da, cũng như các sản phẩm chăm sóc da
Có thể cho thấy rửa tay bằng nước khoáng có tính acid, hoặc sử dụng tắm nước khoáng trị liệu có tính axit (pH 2), có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn, làm giảm pH bề mặt da trong một thời gian dài,
và làm giảm mức Staphylococcus aureus ở 76% trường hợp Lặp lại việc sử dụng nước có ga (pH 5,4)
hoặc các công thức có acid lactic (pH 3,7-4,0) làm giảm đáng kể độ pH bề mặt da và giảm sự mất nước xuyên qua da, cũng như cải thiện đáng kể chức năng hàng rào bảo vệ da Sữa tắm dành cho da nhạy cảm với một chất nhũ tương có độ acid nhẹ (pH 5,5) chỉ làm giảm nhẹ chức năng lớp sừng so với rửa bằng nước (pH 7.0)
Trong một nghiên cứu khác, pH bề mặt da giảm đáng kể trong 3 giờ sau khi sử dụng một nhũ tương dầu trong nước có chứa 10% hydroxyl-hydroxy acid Hơn nữa α-hydroxy acid dường như có hiệu quả trong việc giảm các tình trạng da khô và tăng cường chức năng rào bảo vệ da Sự kết hợp của axit glycolic và axit α-lipoic (phức hợp glypoic) trên da bị ảnh hưởng bởi ánh nắng mặt trời và da bị lão hóa thậm chí còn cải thiện kết cấu da, sắc tố, biến màu và dẫn đến các nếp nhăn ít phát triển Một trong những cơ chế cơ bản đã được tìm thấy trong nghiên cứu in vitro điều tra tác động của acid glycolic đối với con người Trong nghiên cứu này, các hoạt động của proteinase điều chỉnh việc bong tróc đã được chứng minh gia tăng đáng kể ở
pH 3,98
Người ta khuyến cáo rằng các sản phẩm chăm sóc da nên có độ pH <5,5 để không làm ảnh hưởng đến độ pH sinh lý của da Tuy nhiên, theo tài liệu chuyên môn, có sự gia tăng pH da với tuổi tác ngày càng tăng, dẫn tới sự suy giảm chức năng của lớp sừng và khả năng đệm bị suy giảm Những ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng độ pH da phụ thuộc vào độ tuổi có thể được khôi phục lại bởi sự acid hóa bên ngoài của
bề mặt da
Vì vậy, các sản phẩm chăm sóc da cho da lão hóa nên được xây dựng để chúng bình thường hóa độ
pH da tăng lên phụ thuộc vào độ tuổi để cải thiện sự suy giảm về chức năng của lớp sừng Vì vậy, rửa mặt cũng như các sản phẩm cho người cao tuổi nên được pha chế với độ pH acid hơn so với các sản phẩm chăm sóc da bình thường Một thử nghiệm lâm sàng cho thấy một ảnh hưởng tích cực của nhũ tương dầu trong nước sử dụng tại chỗ với pH khác nhau là 3,5 hoặc 4,0: pH bề mặt da ở những người trên 80 tuổi giảm đáng
kể sau khi áp dụng một lần nhũ tương đến pH bề mặt da <5,0 trong hơn 7 giờ
Hơn nữa, α-hydroxy acid, có chứa nhũ tương (nước trong dầu hoặc dầu trong nước), với độ pH 4 gần đây đã được chứng minh làm giảm pH bề mặt da trong nhiều giờ Hơn nữa, thậm chí các mức thấp hơn của lớp sừng đã giảm đáng kể pH bề mặt da qua nhiều giờ Tuy nhiên, nhiều dữ liệu cho thấy ứng dụng dài hạn (4 tuần) của nhũ tương nước trong dầu được điều chỉnh tới pH 4.0 có thể làm giảm đáng kể pH bề mặt
da Sau 14 ngày, pH bề mặt da đã giảm khoảng 0,38, và sau 28 ngày thậm chí bằng 0,52 đơn vị pH, gợi ý
sử dụng dài hạn thay vì điều trị ngắn hạn
Ditre và cộng sự: 109 trường hợp nghiên cứu có đối chứng với giả dược cho thấy độ dầy của da tăng lên do tổng hợp collagen và các sợi đàn hồi sau khi điều trị với một lotion có độ pH 3.5 Nghiên cứu
đã đưa ra khuyến cáo rằng, nên sử dụng các sản phẩm chăm sóc da sử dụng liên tục mỗi ngày, cần quan tâm đến trong công thức phải phù hợp với các thay đổi liên quan đến tuổi tác của da, đặc biệt là tăng pH và giảm sự hydrat hóa lớp sừng Điều này đã được đề xuất bởi Maibach và Levin trong một bài viết được xuất bản vào năm 2011 trong Cosmetics and Toiletries Các sản phẩm như vậy có pH acid để bình thường hoá
sự tăng lên phụ thuộc vào độ tuổi có thể cải thiện không chỉ ngoại hình thẩm mỹ mà còn cả chức năng sinh
Trang 117 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức đề kháng làn da
Nhiều nghiên cứu cho thấy da người sản xuất ra hai loại kháng khuẩn khác nhạu, LL-37 và Defensin Việc sử dụng corticosteroids bôi có thể ức chế sự sao chép các gen mã hóa cho các loại peptides này, vì thế sẽ làm cho các nhiễm trùng da trở nên trầm trọng hơn (Angela N et al, 2008)
β-Nghiên cứu của Melnik B C.(2009) cho thấy sự tiêu thụ sữa và các thực phẩm có hàm lượng đường cao làm gia tăng insulin và IGF-1 (insulin- like growth factor-1) trong máu, kích thích 5α- reductase, sinh tổng hợp androgen thượng thận và sinh dục, các thụ cảm androgen, sự tăng sinh tế bào mỡ và tổng hợp chất béo, làm gia tăng sự trầm trọng trứng cá Kết quả tương tự cho thấy thuốc lá có thể ức chế 21- hydroxylase thượng thận, dẫn đến sự gia tăng sản xuất androgen thượng thận, làm gia tăng tính rầm trọng của trứng cá (Melnik B C., 2009)
Đường kích hoạt một quá trình trong cơ thể gọi là glycation, tại đó các phân tử đường bám chặt vào các với sợi protein collagen và elastin Quá trình glycation còn khiến những protein này đột biến, tạo ra những phân tử mới có hại gọi là Advanced Glycation End products (AGE) AGE - Sản phẩm glycat hóa bền vững (advanced glycation end products) là các protein hoặc chất béo bị glycat hóa sau khi tiếp xúc với các đường Chúng là nguyên nhân gây ra những tổn hại cho hệ thần kinh, các bệnh về mắt, thận và tim ở người bị tiểu đường và cũng là nguyên nhân gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực của quá trình lão hóa nhanh
ở nhiều người Quá trình này được tăng tốc trong tất cả các mô cơ thể khi đường tăng lên và tiếp tục được kích thích bởi ánh sáng cực tím trong da (Danby FW, 2010)
Các nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng chiết xuất khói thuốc lá làm suy yếu quá trình sản xuất collagen
và làm tăng sản xuất tropoelastin và matrix metallicoproteinase (MMP), làm suy giảm cấu trúc protein và cũng gây ra sự sản xuất bất thường của cấu trúc elastosis Hút thuốc làm tăng nồng độ MMP, dẫn đến sự suy thoái của collagen, sợi đàn hồi và proteoglycan, cho thấy sự mất cân bằng giữa sinh tổng hợp và suy thoái trong chuyển hóa mô liên kết ở da (J Dermatol Sci., 2007)
Căng thẳng tâm lý có liên quan đến sự kích thích của hệ thống thần kinh tự chủ, hệ thống angiotensin và hệ thống vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận, góp phần gây viêm, stress oxy hóa và tổn thương DNA ảnh hưởng đến tất cả các mô, kể cả da (Katlein França, Mohammad Jafferany, 2016)
renin-Stress oxy hóa là sự mất cân bằng giữa các chất oxy hóa (gốc tự do) và chất chống oxy hóa nghiêng
về các gốc tự do Tổn thương tế bào hoặc bệnh tật là do sự mất cân bằng giữa sản xuất và thải trừ ROS ở
da Nhiều quá trình của tế bào, bao gồm chuyển hóa tế bào, dẫn truyền tín hiệu, viêm, tăng sinh tế bào và lão hóa, bị ảnh hưởng bởi stress oxy hóa Tăng các gốc tự do làm thay đổi cấu trúc và chức năng của protein, lipit và axit nucleic, và có thể dẫn đến tổn thương mô Các chất oxy hóa chính bao gồm ROS và RNS Nguồn ROS nội sinh là từ ty thể, peroxisome, tế bào viêm (bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan và đại thực bào), flavin, adrenaline và dopamine, quinone, phức hợp enzyme cytochrom P450, NADPH oxydase và xanthine oxydase Nguồn ngoại sinh của ROS có thể từ kim loại nặng, phóng xạ và các hợp chất hóa học bao gồm thuốc chống ung thư, hút thuốc lá và rượu ROS là tác nhân gây tổn thương tế bào quan trọng nhất
(Amanda Wong, Boyang Zhang, 2016)
8 Kết luận
PH bề mặt da sinh lý của da nằm trong khoảng từ 4 đến 6 Tính acid của bề mặt da rất quan trọng đối với chức năng sinh lý của da Một sự thay đổi tính acid của lớp sừng được quan sát thấy trong da lão hóa, có thể ảnh hưởng tiêu cực đến các chức năng da sinh lý, như độ thẩm thấu của hàng rào bảo vệ, tính toàn vẹn / sự gắn kết của lớp sừng, và khả năng kháng khuẩn
Theo các đề xuất của Maibach và Levin, các sản phẩm chăm sóc da cho người cao tuổi (sản phẩm
Trang 12TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Amar Surjushe, Resham Vasani (2008), aloe vera: a short review, Indian J Dermatol; 53(4), pp 163–
166
2 Bardia Amirlak (2015), Anatomy of Aging Skin, Drugs & Diseases
3.Gordon JR, Brieva JC (2012) Images in clinical medicine Unilateral dermatoheliosis N Engl J Med
366(16), e25
4 Gilchrest BA (2013) Photoaging J Invest Dermatol 133(E1), E2–6 Review
5 Hiroko-Miyuki Mori, Hiroshi Kawanami (2016), Wound healing potential of lavender oil by acceleration
of granulation and wound contraction through induction of TGF-β in a rat model, National Center for
Biotechnology Information, U.S National Library of Medicine 8600 Rockville Pike, Bethesda MD, 20894
9 Pazyar N, Yaghoobi R(2013), Jojoba in dermatology: a succinct review, G Ital Dermatol
Venereol;148(6), pp.687-691
10 Satyapal , Mahajan (2015), Phytochemical Analysis, In-Vitro Antioxidant and Antimicrobial Activities
of Flower Petals of Rosa damascene, International Journal of Pharmacognosy and Phytochemical
Research; 7(2); 246-250 ISSN: 0975-4873
11.Stephan Schreml (2014), skin pH in the elderly and appropriate skin care, european medical journal
12 Zoe Diana Draelos (2016), photoaging, Cosmetic Dermatology Products and Procedures, second
edition, Wiley Blackwell, pp.12-27
Trang 20kỹ thuật viên thiếu hiểu biết sâu rộng và kỹ năng chưa lành nghề đã mang đến nguy cơ gây biến chứng của các kỹ thuật ít xâm lấn
Biến chứng do tiêm Botulinum toxin A (BoNTA)
Trong thẩm mỹ da được dùng hiệ nay (bao gồm chính thức và không chính thức) để điều trị các nếp nhăn trán, nhăn châu mày, nhăn chân chim, nếp nhăn quanh miệng, nhăn cổ BoNTA được xem là chất sinh học có nguy cơ thấp Tác dụng phụ được chia thành thoáng qua, sớm, kéo dài Đa số là thoáng qua, hiếm khi kéo dài, và không có biến chứng nào vĩnh viễn Các tác dụng phụ sớm bao gồm dị ứng, nhức đầu, đau chỗ tiêm, bầm chỗ tiêm Biến chứng muộn hơn bao gồm dãn quá mức cơ làm sụp mi tạm thời hoặc tạo nếp nhăn mới (trán), xếch mắt, mặt không cân, lệch miệng Tất cả biến chứng muộn này có thể phòng ngừa dễ dàng nếu hiểu biết về giải phẫu và sử dụng liều lượng hợp lý Hình thành kháng thể là khả năng tiềm tàng cần được quan tâm làm cho giảm tác dụng của BoNTA
Biến chứng do tiêm chất làm đầy
Ngày nay có hàng trăm loại chất làm đầy khác nhau được lưu hành trên thế giới nhưng rất ít trong số đó có
số liệu nghiên cứu đầy đủ Chất làm đầy phổ biến nhất là hyaluronic acid (HA), calcium hydroxylapatite (CaHa), collagen, poly-L-lactic acid (PLLA), polymethyl metharcrylate (PMMA), mỡ tự thân Chất làm đầy có loại có khả năng giáng hóa sinh học (tạm thời) hoặc loại không giáng hóa sinh học (vĩnh viễn) Biến chứng không nghiêm trọng bao gồm đau chỗ tiêm, bầm máu, tiêm không đều, vón cục, thay đổi màu da tại chỗ Biến chứng hiếm gặp như dị ứng, hình thành mô hạt, nhiễm trùng với sự hình thành biophim của quần thể vi khuẩn Biến chứng đáng lo ngại nhất thuộc về kỹ thuật tiêm đó là tắc mạch gây hoại tử da và có thể gây mù mắt Các biến chứng này từng được xem là biến chứng hiếm gặp, tuy nhiên với việc sử dụng tràn lan bởi các kỹ thuật tiêm sai và thiếu hiểu biết về giải phẫu thì gần đây có nhiều báo cáo, tin tức về biến chứng nghiêm trọng này Hyaluronidase dùng ly giải HA với liều lượng đã được hướng dẫn Hữu hiệu trong điều trị các biến chứng nhẹ như vòn cục, tắc mạch nông Tuy nhiên, việc cứu vãn nguy cơ mất thị lực khi đã xảy ra còn tùy thuộc nhiều yếu tố và dường như không hiệu quả cao, đã cảnh báo rằng việc tiêm đúng kỹ thuật, tránh tiêm lượng nhiều, áp lực cao và tránh vùng nguy cơ cao là giải pháp tốt nhất
Biến chứng do châm kim
Đây là kỹ thuật xâm lấn Tác dụng phụ là đau và chảy máu ít Tuy nhiên, vấn đề lo ngại là lây nhiễm từ bàn tay kỹ thuật viên Ngoài ra, rác thải y tế của kim châm chưa được quản lý ở các spa cũng có thể mang đến môi trường nguồn bệnh không được kiểm soát
Biến chứng do lột da băng hóa chất
Đây là biện pháp kinh điển, làm bong da, loại bỏ lớp tế bào sừng, kích thích tái tạo trẻ hóa da, điều trị sẹo Các hóa chất được dùng bao gồm các glycolic acid, trichloacetic acid, AHA, BHA, tretinoin… Phương pháp này có thể chia làm lột nông, trung bình, lột sâu tương ứng đến lớp sừng, lớp đáy và bì nhú Biến chứng bao gồm nóng rát châm chích lúc đang áp hóa chất, đỏ sau lột da, rối loại sắc tố, nhiễm trùng, da nhạy cảm Một số ít trường hợp để lại vết trợt, sẹo, ngột độc Phòng ngừa băng cách chỉ định đúng, kỹ thuật
Trang 21viên đánh giá đúng điểm đáp ứng lâm sàng (frost) Xử lý băng cách áp lạnh, trung hòa kịp thời, chống nắng, dưỡng ẩm, kháng sinh … tùy từng trường hợp
Biến chứng do điều trị Laser/ánh sáng
Ngày nay có rất nhiều thiết bị laser/ánh sáng trong thẩm mỹ da điều trị sắc tố , trẻ hóa da, điều trị bất thường mạch máu, triệt lông
Bên cạnh lợi ích mang lại, rất nhiều trường hợp biến chứng do sử dụng qui trình không cẩn thận, không phù hợp vì sự thiếu hiểu biến về tác động của laser/ánh sáng trên mô Nhiều bệnh nhân bị mảng giảm sắc
tố, sẹo, tăng sắc tố sau viêm do điều trị laser/ánh sáng Phòng ngừa bằng cách sử dụng năng lượng thấp, tăng dần đến điểm đáp ứng lâm sàng Không vội điều trị chóng khỏi mà phải hiểu biến quá trình sinh học của thương tổn (ví dụ xóa xăm nhiều lần) Biến chứng nhiễm trùng trong laser tuy hiếm nhưng cũng cần lưu ý tiền sử nhiễm herpes simplex Uống acyclovir trước và sau điều trị laser trên người có tiền căn nhiễm herpes simplex được khuyến cáo Sau cùng, an toàn laser cho mắt (bệnh nhân, người thực hiện) là quan trọng nhất
Căng chỉ
Nâng cơ mặt và cổ băng chỉ là kỹ thuật ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây Nhiều loại sản phẩm trên thị trường đang được quảng cáo và sử dụng, số lượng càng ngày càng tăng Nhiều báo cáo cho thấy hiệu quả của phương pháp này rất tốt, thời gian nghỉ dưỡng ngắn Biến chứng bao gồm liên quan đến kỹ thuật như bầm máu, nhiễm trùng, mặt không cân xứng, đau nhức Biến chứng dị ứng, hình thành mô hạt, lòi chỉ … thì hiếm nhưng cũng cần quan tâm trước khi thực hiện
Tiêm tiêu mỡ
Kỹ thuật tiêm nhiều điểm dưới da để giảm tích tụ mỡ vùng nọng cằm ở bụng và vùng khác được báo cáo
từ hơn 10 năm trước Gần đây FDA chứng nhận sodium deoxycholate (10mg/mL) tiêm dưới da điều trị mỡ nọng cằm Biến chứng thường gặp liên quan đến qui trình như đau, bầm cứng tại chỗ Tiêm đủ sâu (, ở cổ 6mm và 9-11mm cho vùng khác), mỗi điểm tiêm lượng nhỏ (không quá 0.2mL) Nổi mày đay, loét da hiếm gặp
Kết luận
Mặc dù lợi ích rõ ràng của thẩm mỹ da mang đến cho nhiều người nhưng việc sử dụng qui trình này cũng
có những biến chứng có hại Bác sĩ, kỹ thuật viên cần được đào tạo bày bản, cập nhật kiến thức và kỹ năng thường xuyên để tận dụng lợi ích tối đa của kỹ thuật và giảm thiểu rũi ro cho khách hàng cũng như chính người thực hiện
Tài liệu tham khảo
1) Daniela Hartmann, Thomas Ruzicka, Gerd G Gauglitz Complications associated with cutaneous aesthetic procedures Journal of The German Society of Dermatology (2015)
2) Catherine Fairris An Introduction to Injectable Complications AesthethicsJournal.com (2019) 3) Fernando Urdiales-Gálvez et al Preventing the Complications Associated with the Use of Dermal Fillers in Facial Aesthetic Procedures: An Expert Group Consensus Report Aesthetic Plastic Surgery 2017
4) Firas Al-NiaImi Laser and energy-based devices’ complications in dermatology Journal of Cosmetic and Laser Therapy, 2015
5) Shahraam Kamalpour, Keith Leblanc, Jr., Injection Adipolysis: Mechanisms, Agents, and Future Directions, J Clin Aesthet Dermatol, (2016 )
Trang 22MESOTHERAPY TRONG THẨM MỸ DA
(Mesotherapy in cosmetic dermatology)
TS.BS Nguyễn Trọng Hào
Bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh
Mesotherapy, do bác sĩ người Pháp Michel Pistor phát triển vào năm 1952, đại diện cho những kỹ thuật xâm lấn tối thiểu gồm tiêm trong da hoặc dưới da lượng nhỏ các chiết xuất thực vật tự nhiên, chất vi lượng đồng căn (homeopathic agents), thuốc, vitamin, hay những chất có hoạt tính sinh học khác để thúc đẩy một đáp ứng sinh học và sửa chữa tình trạng bệnh lý ở vùng cần điều trị Chỉ định chính của mesotherapy trong
da liễu thẩm mỹ là da sần vỏ cam, tạo đường nét cơ thể, tích tụ mỡ khu trú, rụng tóc, trẻ hoá da, và tăng sắc
tố da Kỹ thuật này còn được gọi là tiêm vi điểm (microinjection) trong một số chỉ định, ví dụ tiêm vi điểm acid hyaluronic, botulinum toxin Trong những năm gần đây, mesotherapy ngày càng trở nên phổ biến do xâm lấn tối thiểu, ít đau, nhưng cho đến nay, cơ chế tác dụng của nhiều sản phẩm vẫn chưa rõ hay còn bàn cãi và chưa có hướng dẫn rõ ràng về liều lượng và hiệu quả của các sản phẩm Vì vậy, cần có thêm những thử nghiệm lâm sàng được thiết kế chuẩn để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của của kỹ thuật và các sản phẩm có liên quan
Trang 25XU HƯỚNG KẾT HỢP LASER VÀ ÁNH SÁNG TRONG THẨM MỸ DA
BSCKII Đoàn Quốc Tuấn
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước đây, tại Việt Nam chuyên ngành Da liễu sử dụng các trang thiết bị công nghệ cho dịch vụ làm đẹp còn hạn chế Cùng với sự phát triển về khoa học công nghệ làm đẹp của Thế giới từ năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu sử dụng laser CO2 vào điều trị da liễu thẩm mỹ da, tiếp đến sử dụng công nghệ IPL, sau đó Qs ND:YAG, Laser xung nhuộm màu (PDL), QS ND:YAG xung dài, phát triển tiếp tục lăn kim, RF, siêu âm hội tụ, Erbium YAG
Sau thời gian dài sử dụng các công nghệ làm đẹp người ta nhận thấy rằng việc điều trị với các công nghệ đơn lẻ nó cho kết quả điều trị còn hạn chế và những tác dụng phụ Bây giờ xu hướng kết hợp các công nghệ lại cho phù hợp cho từng chỉ định cụ thể như kết hợp laser xâm lấn và laser không xâm lấn, laser và ánh sáng, trong cùng laser kết hợp các bước sóng có cùng tính năng để tối ưu hóa trong vấn đề điều trị Ngoài ra, còn kết hợp thuốc, mỹ phẩm, hóa chất, filler, botulinum toxin, mesotheraphy, chỉ, RF, HIPU với nhau để tăng hiệu quả điều trị Trong chuyên đề báo cáo này, tôi chỉ trình bày xu hướng kết hợp laser và ánh sáng
II/ ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ KẾT HỢP TRONG THẨM MỸ DA
1/ Mục tiêu điều trị:
- Nâng cao hiệu quả điều trị: giảm số phiên điều trị, kết quả tại mỗi phiên điều trị được nâng cao, giảm nguy cơ tai biến, ít đau đớn, thoải mái hơn cho bệnh nhân
- Giảm chi phí đầu tư của BS/chủ đầu tư, tiết kiệm thời gian cho bệnh nhân và bác sĩ
2/ Phương pháp tiếp cận trong điều trị kết hợp
- Điều trị những tầng khác nhau (điều trị đa tầng) trên da trong cùng một phiên điều trị (different layers treatment)
- Điều trị cùng 1 tầng/1 vùng mô đích nhưng với cơ chế khác nhau Ví dụ: cùng dùng quang cơ và quang nhiệt trong 1 tầng điều trị (One layer/target tissue treatment with different mechanisms)
3/ Các ứng dụng trong điều trị kết hợp
3.1/ Ứng dụng điều trị kết hợp Nám da
- QS 4D(Clearlift) + AFT Dye-VL, giúp đóng mạch máu, năng lượng tập trung xuống tầng cần điều trị, chế
độ vi điểm giúp cho hạn chế tăng sắc tố sau viêm
- QS 4D (Clearlift)+ QS (Clearlift), QS 4D sử dụng trước với chế độ vi điểm giúp tạo lỗ xuyên qua da tạo cửa sổ sinh học, sau đó bắn QS xuống da giúp dẫn lưu nhiệt làm giảm tác dụng phụ và giúp laser xuống sâu hơn giúp làm vỡ các sắc tố ở tầng sâu
- QS + IPL: thực hiện thường xuyên giúp cho phòng ngừa tái phát
- Laser vi điểm + QS: thực hiện thường xuyên giúp cho phòng ngừa tái phát
3.2/ Ứng dụng điều trị kết hợp Trẻ hóa da
- QS 4D + NIR face kết hợp hiệu ứng quang cơ với hiệu ứng quang nhiệt kích thích tăng sinh collagen
- QS LP 1064 + Er YAG 2940 kết hợp hiệu ứng quang nhiệt với hiệu ứng quang nhiệt bóc tách kích thích tăng sinh Collagen
3.3/ Ứng dụng điều trị kết hợp mụn trứng cá
Trang 26Er:YAG 2940 giúp bóc tách lấy đi collagen dư thừa trên sẹo, kết hợp QS 4D kích thích collagen III tăng sinh giúp cho sẹo mềm mại, AFT Dye-VL đóng các mạch máu nuôi mô sẹo giúp cho điều trị sẹo lồi/sẹo phì đại có hiệu quả
da sau khi bắn laser xóa xăm
3.8/ Phác đồ kết hợp điều trị Tông da với 60 ngày(TONE 60)
Điều trị toàn diện cả sắc tố lẫn mạch máu, cải thiện màu sắc của da, giảm bả nhờn, giảm gồ ghề, cải thiện sẹo, thu nhỏ lỗ chân lông, trẻ hoá, săn chắc da
3.9/ Phác đồ kết hợp điều trị láng mịn với 30 ngày( Texture 30)
Điều trị trẻ hoá da, thu nhỏ lỗ chân lông, giảm bả nhờn, giảm gồ ghề, cải thiện sẹo lõm đặc biệt là sẹo boxscar
Trang 273.10/ Phác đồ kết hợp điều trị săn chắc da(nâng cơ) 30 ngày(Tightening 30)
Điều trị trẻ hoá da, săn chắc da (thường được gọi là nâng cơ), thu nhỏ lỗ chân lông, nâng tông da, cải thiện sẹo lõm
IV/ KẾT LUẬN
Xu hướng hiện nay điều trị kết hợp các công nghệ lại với nhau sẽ giúp tăng hiệu quả trong điều trị thầm
mỹ da hơn so với việc sử dụng các công nghệ đơn riêng lẻ Với việc sử dụng hệ thống đa chức năng với các công nghệ độc lập tích hợp trong một hệ thống tổng giúp cho chi phí đầu tư thấp, an toàn, khả năng nâng cấp những công nghệ khác với chi phí thấp, dễ thực hiện phác đồ điều trị kết hợp, giải quyết được 80% mặt bệnh đến khám tại phòng khám sẽ có ưu điểm tốt hơn điều trị kết hợp mà sử dụng từng công nghệ đơn lẻ kết hợp với nhau sẽ cần chi phí đầu tư lớn, khó sử dụng phác đồ kết hợp
Trang 28CHĂM SÓC VÀ TRẺ HÓA DA VÙNG QUANH HỐ MẮT
(SKIN CARE AND REJUVENATION OF THE PERIORIAL REGION)
- Lông mày (Eye brows)
- Vùng da mí trên, mí dưới (Upper & Lower eyelid skin)
- Vùng giữa 2 lông mày (Glabella region)
- Và vùng quanh đuôi mắt (Pericanthal area)
Các biểu hiện của sự lão hóa da thường gặp vùng quanh hố mắt bao gồm:
- Các nếp nhăn (wrinkles), vết nhăn (rhytides)
- Quầng đen dưới hố mắt (infraorbital dark circles)
- Sưng húp dưới mắt (under-eye puffiness)
- Lông mày và lông mi thưa (thinning lashesand brows)
- Khô da (dryness), sẹo (scaring)
- Thay đổi sắc tố da (changes in pigmentation)
- Tổn thương da do ánh sáng (Photodamages)
Các nguyên nhân gây lão hóa da:
- Bức xạ tia cực tím (Ultraviolet radiation) là nguyên nhân hàng đầu gây lão hóa da, tổn thương
da do ánh sáng (photodamage)
- Yếu tố di truyền (genetic factor)
- Hút thuốc lá (cigarette smoking)
- Yếu tố môi trường (environmental factor)
Các yếu tố trên làm giảm sự đàn hồi của da (skin elasticity) gây lão hóa da (development of aging
skin)
II Điều trị
Hiện tại có nhiều phương pháp điều trị được áp dụng trong chăm sóc da (skin care) và trẻ hóa da vùng hố mắt (perioerital rejuvenation)
- Liệu pháp tại chỗ (topical therapies)
- Các kỹ thuật tái tạo bề mặt da (skin resurfacing techniques) bằng hóa chất (chemica) hoặc cơ học (mechanical)
- Sử dụng laser (use of lasers)
- Các dụng cụ cắt đốt bằng tần số radio (radio-frequency devices)
- Các chất làm đầy (fillers)
- Dùng Botox (use of botulinum toxin = BONT)
- Liệu pháp tế bào gốc (stem cell therapy)
- Phẫu thuật (surgery)
Mỗi một phương pháp trị liệu cho một lợi ích chuyên biệt (specific benefit) cũng như tác dụng phụ (side effect) cần lưu ý, vấn đề là ở chỗ phối hợp làm sao để cho những kết quả tối ưu (maximize results)
Ngày nay, với tiến bộ vượt bậc (advancements) về mỹ phẩm làm đẹp (cosmetic medicine), các phương pháp điều trị chăm sóc và trẻ hóa da vùng mặt và hố mắt không dùng phẫu thuật (non-surgery)
Trang 29hoặc chỉ xâm lấn tối thiểu (minimally envasine procedures) đã trở nên lựa chọn hàng đầu (first-line
treatment options) cho các BS Da liễu
2.1 Liệu pháp tại chỗ (topical therapies) ngoài da
Chăm sóc da phụ trợ (Adjunctive skin care) đóng một vai trò quan trọng để làm trẻ hóa da (rejuvenation) và giúp duy trì kết quả của các liệu pháp điều trị khác (help maintain results)
Có tới hàng ngàn sản phẩm (thousands of products) cho liệu pháp tại chỗ, vấn đề là BS lựa chọn
thích hợp và hiệu quả cho người bệnh
Da vùng mi mắt (eyelid skin) mỏng nhất trong cơ thể, chỉ dày 0,2mm Rất nhạy cảm với bất kỳ sản phẩm nào bôi ngoài da (sensitive to any of the topical products)
2.1.1 Kem chống nắng (sunscreems)
Kem chống nắng là thành phần không thể thiếu (indispensable element) trong chăm sóc da vùng mí mắt (skin care) và quanh hố mắt (eyelids)
Kem chống nắng mua không cần toa (Over The Counter drugs = OTC)
Kem giúp phòng ngừa tổn thương da do ánh sáng (photodamage) và làm giảm quá trình tiến triển của tăng sắc tố da (hyper pigmentation)
Kem chống nắng thường được khuyến cáo sử dụng là loại phổ rộng chống tia cực tím (broad UV
protection) gồm:
- UVA (Ultra Violet A) 320-400nm
- UVB (Ultra Violet B) 290-320nm
2 loại trên là không thể thiếu (Integral) dùng cho việc phòng ngừa tác dụng ức chế miễn dịch của tia cực tím (Preventing UV Immuno supperession)
Cũng là 2 loại kem chống nắng được Cơ quan Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ chấp thuận (Approved
by US Food and Drug Administration = FDA)
Về cơ bản kem chống nắng được chia làm 2 nhóm:
- Nhóm hữu cơ – hóa học (Chemical - Organic)
- Và nhóm vô cơ – lý học (Physical - Inorganic)
+ Kem chống nắng hóa học (Chemical screems) như: benzophenone, Homosanate, Methyl
Anthdanilate, Oxybenzone, Avodenzone
Cơ chế hoạt động của nhóm kem này là chuyển hóa (Converting) bức xạ tia cực tím B (UVB
radiation) thành nhiệt (heat)
+ Kem chống nắng vô cơ - lý học (Physical - Inorganic): zinc oxide, Titanium dioxide, Kaolin, Iron
oxide, Ich thammol
Cơ chế hoạt động của nhóm kem này là phân tán, phản chiếu và hấp phụ bức xạ mặt trời (scatter,
reflect and absorb solar radiation)
Lợi điểm của nhóm kem vô cơ này là hầu như không gây nguy cơ (minimal risk) nhạy cảm do tiếp xúc (contact sensitivity) dùng rất tốt cho những vùng da quá mỏng như ở mi mắt (delicate eyelid skin)
2.1.2 Các thuốc chống oxy hóa dùng ngoài (Topical anti oxidants)
Thuốc chống oxy hóa là thuốc “dọn dẹp” (scavenge) các gốc tự do (free radicals), các gốc tự do có thể làm tổn thương màng tế bào (cellular membranes), DNA và protein trong tế bào
Các gốc tự do (free radicals) được sản sinh bởi chuyển hóa bình thường của tế bào nhưng cũng có thể được kích hoạt bởi yếu tố bên ngoài (external factors) như bức xạ tia cực tím hay hút thuốc lá
Trang 30Vitamin C dùng ngoài (topical vitamin C = accorbic acid) làm giảm tổn thương da, gây ra bởi tia cực tím (UV induced) như:
- Ban đỏ (erythema)
- Sạm da do nắng (sunbrun)
- Xuất hiện các vết nhăn (wrinkles)
Vitamin C đóng vai trò quan trọng trong sản xuất collagen, nghiên cứu chứng minh Vitamin C kích
thích sản xuất collagen khi thêm vào trong môi trường nuôi cấy nguyên bào sợi da người (human skin
fibroblasts)
* Vitamin E
- Vitamin E làm giảm sạm da do nắng (sunburn)
- Giảm tổn thương da gây ra bởi tia cực tím B (UVB)
- Ức chế hình thành khối u do tia cực tím gây ra (UV induced tumor formation)
- Phối hợp giữa 2 vitamin C và E có tác dụng bảo vệ da dưới tác động của ánh sáng
(photoprotection) tốt hơn dùng đơn lẻ
- Một hạn chế của Vitamin E cần lưu ý: khi dùng ngoài da bôi (apply), có thể gây viêm da tiếp xúc (contact dermatitis)
* Trà xanh (green tea)
- Trà xanh chống oxy hóa được chiết xuất (extract) từ các búp chè
- Có tác dụng: giảm ban đỏm giảm sạm da do nắng, giảm tổn thương DNA tế bào do tia cực tím gây ra
- Trà xanh bôi ngoài còn làm giảm được hiện tượng viêm (inflammation) gây ra bởi tia cực tím B (UVB induced)
* Vitamin B3 (Niacinamide)
Niacinamide bôi ngoài (topically applied niacinamide) có tác dụng:
- Chống oxy hóa (anti-oxidant)
- Kháng viêm (anti-inflammatory)
- Cải thiện (improve) tăng sắc tố da (hyperpigmentation) bằng cách làm giảm vận chuyển các hạt melanin (melanosomes) tới tế bào sừng (keratinocyte)
2.1.3 Retinoids bôi ngoài (Topical Retinoids)
Cải thiện được nếp nhăn (wrinkles) bởi tăng tổng hợp collagen và ức chế phân hủy collagen
Chỉ có 2 loại Retinoids được Cơ quan Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ chấp thận: Tretinoin và
Tazarotene cho điều trị tổn thương da do ánh sáng (photodamage)
Tuy nhiên cả 2 loại Retinoids được FDA chấp thuận đều có thể gây tác dụng phụ: khô da, đỏ da, dễ
kích thích da (irritation to the skin)
Loại Retinoids không cần kê toa (mua không cần toa) (Over the counter = OTC) như Retinol ít gây kích thích da hơn Retinoid acid (Tretinoin) nhưng lại kém hiệu quả hơn Tretinoin tới 20 lần
2.1.4 Peptides và các yếu tố tăng trưởng (Growth factors)
Cả hai đều cải thiện được nếp nhăn (improve wrinkles) thông qua cơ chế tăng tổng hợp collagen và giảm phân hủy (break down) collagen bởi sinh bệnh học (pathogenesis) của lão hóa da đặc trưng là giảm
tổng hợp collagen, cùng lúc tăng phân hủy collagen
Biến chứng về mặt lý thuyết (theoretical complication) khi sử dụng các yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ người (human growth factors) có thể gây ung thư da (skin cancer), tuy nhiên chưa có trường hợp
nào được báo cáo trong y văn (no reports inliterature)
2.1.5 Bimatoprost 0,03% bôi ngoài (Topical Bimatoprost 0,03%)
Trang 31Thuốc được FDA Hoa Kỳ chấp thuận 2003 dùng để nâng lông mi (enchancement of eyelashes), làm đen lông mi, tăng chiều dài và mật độ lông mi (density)
Thuốc an toàn và hiệu quả, dung nạp tốt
Thuốc được bôi mỗi đêm (nightly) 4 tháng liên tục để đạt được kết quả tối ưu (optimal results), sau
đó duy trì 3-4 đêm/ 1 tuần
Tác dụng phụ thường gặp: đỏ và ngứa (redness & druritus)
2.2 Tái tạo bề mặt da (Skin rusurfacing)
Các kỹ thuật này nhằm cải thiện:
- Độ mịn của da (skin texture)
- Màu sắc da (color), sẹo (scarring)
- Các nếp nhăn (wrinkles)
Làm trẻ hóa da vùng quanh hố mắt (periorbital rejuvenation)
Các kỹ thuật này bao gồm:
- Lột da hóa học (chemical peels)
- Bào mòn da (cà da) bằng cơ học (dermabrasion)
- Liệu pháp laser (laser therapy)
2.2.1 Lột da hóa học (Chemical peels)
Lột da hóa học (chemical peels) là lựa chọn tốt (effective option) để điều trị các tổn thương da như:
- Tổn thương da do ánh sáng (photodamage skin)
- Vết nhăn (rhytides)
- Vết sẹo (scarring)
- Loạn sắc tố da (dyschromia)
Lột da hóa học còn:
- Tẩy lớp tế bào chết trên bề mặt da
- Làm dày lớp biểu bì (epidermal thickening)
- Làm sáng da (skin lightening)
- Và tạo lớp collagen mới (new collagen formation)
Các yếu tố trên làm trẻ hóa da (skin rejuvenation)
Lột da hóa học về cơ bản được chia làm 3 loại:
- Lột da hóa học bề mặt (superficial chemical peels)
- Lột da hóa học trung bình – sâu (medium depth chemical peels)
- Lột da hóa học sâu (deep chemical peels)
Vì sao lại có tới 3 loại ? bởi :
Nồng độ thuốc trong mỗi loại khác nhau, ví dụ thuốc Trichloroacetic acid = TCA
Trang 32- Loạn sắc tố biểu bì (epidermal dyschromia)
Loại lột da sâu (deep chemical peels) thích hợp điều trị các tổn thương:
- Nếp nhăn sâu hơn (deeper rhytides)
- Lão hóa da do ánh sáng từ nặng đến trung bình (moderate to severe photoaging)
- Dày sừng do quang - hóa lan tỏa (extensive actinic keratoses)
2.2.2 Tái tạo bề mặt da (Mechanical skin resurfacing), mài mòn (derma brasion)
Mài mòn da (derma brasion) có 3 phương pháp:
- Siêu mài mòn (micro – derma brasion)
- Mài mòn bằng tay (manual derma brasion)
- Mài mòn bằng máy – mô tơ (motorized derma brasion)
Mài mòn da trong chăm sóc da quanh hố mắt (periobital region) gần như bị suy tàn (declined) trong công chúng bởi nhiều kỹ thuật mài mòn ra đời (newer technology), hơn nữa vùng da này rất mỏng không
phù hợp cho mài mòn cơ học
Tuy nhiên vẫn còn sử dụng trong một số trường hợp như: loạn sắc tố da (dyschromia), làm mịn da (skin texture)
2.3 Tái tạo bề mặt da bằng laser (Laser resurfacing)
Lasers hiện vẫn là một trong những phương pháp thông dụng nhất (most popular methods) để tái
tạo bề mặt da Có 2 loại:
- Laser cắt bỏ (ablative lasers)
- Laser không cắt bỏ (non-ablative lasers)
Laser cắt bỏ bằng CO2 (ablative CO2 laser) vẫn là tiêu chuẩn vàng trong tái tạo bề mặt da (Gold standard for skin resurfacing)
Laser không cắt bỏ (non-ablative lasers) rất tốt để lựa chọn điều trị (good treatment option) cho
những bệnh nhân không thích hợp với tác dụng phụ và thời gian điều trị kéo dài của phương pháp laser cắt
bỏ
Laser phân đoạn (Laser fractional):
- Laser fractional là loại điều trị không xâm lấn (non-invasive treatment)
- Cũng được chia làm 2 loại:
o Loại không cắt bỏ (non-ablative fractional laser)
o Và loại cắt bỏ (ablative fractional laser)
Laser fractional thường dùng điều trị trong:
- Nếp nhăn vùng mặt (facial wrinkles)
- Tổn thương da do ánh nắng mặt trời (sun damage)
- Lão hóa da do ánh sáng (photoaging of skin)
- Sẹo mụn trứng cá (acne scarring)
- Rối loạn sắc tố da (digmentation disorders) như da đồi mồi (melasma)
2.4 Botox (Neuro modulation – điều biến thần kinh)
Botox (BoNT = Botulinum toxin) được sử dụng từ những năm 1980 để điều trị lác mắt (strabismus)
và co mí mắt (blepharo - spasm)
20 năm trở lại đây (last 20 years) Botox trở thành một dạng mỹ phẩm thông dụng nhất (most
common cosmetic) dùng để nâng mắt (facial enhancement)
Kỹ thuật tiêm (injection techniques) được nghiên cứu rất kỹ cho vùng quanh hố mắt (deriorrital
region) và được người bệnh rất hài lòng (patient satisfaction is very high)
Trang 33- Nếp nhăn giữa lông mày (glabella lines)
- Nâng chân mày (brow elevation)
- Tạo hình chân mày (lông mày) (brow reshaping)
- Nếp nhăn ở đuôi mắt (lateral canthal lines)
Một vài lời khuyên then chốt (some keytips) khi tiêm Botox vùng quanh mắt (periocular injection)
bao gồm:
- Tìm kiếm (look for) sự không cân đối (asymmetries) trước khi tiêm (tức so sánh hai bên mặt của
bệnh nhân)
- Có những bức ảnh tốt chụp thấy rõ lúc nhăn và lúc co cơ
- Dữ liệu về liều tiêm và cách thức tiêm phải rõ ràng, chính xác để giúp ích điều chỉnh về sau
- Bệnh nhân thường không có hiểu biết (kiến thức) về việc không cân đối trên khuôn mặt trước khi làm phải tư vấn, giải thích kết quả có thể đạt được để tránh làm thất vọng người bệnh (có thể không đạt được kết quả mỹ mãn)
- Cử động của vùng má sẽ là khó khăn cho việc điều trị bằng Botox đơn thuần vùng đuôi mắt
Sử dụng Botox trước khi tái tạo mặt da, cho kết quả tốt hơn tái tạo mặt da đơn thuần, đặc biệt là tái
tạo mặt da bằng laser (laser resurfacing) Tiêm Botox trước 1 – 2 tuần làm resurfacing
Các tác dụng phụ của chất làm đầy (side effect of using fillers) cần lưu ý:
- Bầm tím (bruising)
- Ban đỏ (erythema)
- Đau khi va chạm (tender)
- Phù (edema), nhiễm trùng (infection), u hạt hình thành (granuloma) hiếm gặp hơn (more rarely)
- Hoại tử chỗ chích (injection site necrosis)
- Thuyên tắc mạch (artherial embolization), đặc biệt tắc động mạch mắt (ophthalmic artery) có
thể gây mù vĩnh viễn
2.6 Liệu pháp tế bào gốc (Stem cell therapy)
Tế bào gốc (Stem cells) là chuyên đề HOT trong nhiều lĩnh vực y khoa hiện nay, trong đó có thẩm
mỹ chăm sóc da, là xu hướng đang nổi (emerging trend)
Thêm vào đó gần đây FDA đã ra thông báo đình chỉ (suspension) phương pháp: cấy nguyên bào sợi
tự thân (injection of an autologus fibroblast) để điều trị những đường hằn (fine lines) và nếp nhăn (wrinkles)
lại càng làm cho liệu pháp tế bào gốc được quan tâm hơn
Tuy nhiên, cần nhiều thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát (controlled clinical trials) để chứng minh hiệu quả của phương pháp tế bào gốc (Stem cells)
2.7 Phương pháp phẫu thuật
Vùng quanh hố mắt (Periorbital region) và vùng da mặt (facial area) có nhiều biểu hiện liên quan
Trang 34- Thoát vị mỡ (fat herniation)
Để lấy lại sắc xuân (restoring a youthful) và làm trẻ hóa (rejuvenation) các biểu hiện trên, trả lại sức sống cho khuôn mặt (vibrant appearance), cần phải phối hợp nhiều phương pháp, trong đó có phẫu
thuật tạo hình thẩm mỹ
Muốn đảm bảo thành công (sucessful) và an toàn (safe) cho người bệnh trong điều trị trẻ hóa vùng quanh hố mắt (periorbital rejuvenation operation) yêu cầu phải nắm rất rõ về giải phẫu của vùng da này (periorbital anatomy), đặc biệt là hệ mạch máu và các sợi dây thần kinh tránh tối đa các biến chứng (sẽ
là một chuyên đề riêng)
III Kết luận
1/ Bức xạ tia cực tím là nguyên hàng đầu gây tổn thương da do ánh sáng (photodamage), vì vậy bảo vệ da chống lại ánh nắng mặt trời là chế độ không thể thiếu trong chăm sóc da (sin care regimen) bao gồm các thuốc bôi ngoài da: kem chống nắng, các Retinoids, các thuốc chống oxy hóa (anti oxydants), tăng cường collagen (collagen boosters)
2/ Có rất nhiều phương pháp lựa chọn để làm trẻ hóa vùng quanh hố mắt (deriobrital rejuvenation) Việc thăm khám để xác định độ nặng của lão hóa (severity of aging) và ước nguyện của người bệnh (patient
expectation) là rất quan trọng, để lựa chọn phương pháp tốt nhất điều trị cho người bệnh (selecting the best therapeutic option)
- Nếu tổn thương da nhẹ (minimal photodamage) với những nếp nhăn nông (superficial rhytides) thì chỉ cần liệu pháp bên ngoài tại chỗ: lột da hóa chất bề mặt (superficia chemica pells)
- Tổn thương da trung bình (moderate photodamage) nếp nhăn sâu hơn (deeper rhytides) thì
sẽ điều trị với loại lột da trung bình → sâu (medium – depth pells) hoặc Er: YAG Laser
- Còn bề mặt da bị tổn thương nặng (severe photodamage skin surface) để cải thiện những nếp nhăn sâu (deep rhytides) thì phải dùng:
o Laser carbon dioxide
o Cũng như tiêm Botox (as well as BoNT injection) và fillers
3/ Các phương pháp phẫu thuật để những dấu hiệu lão hóa (signs of aging) vùng quanh hố mắt (periorbital area) đã đi cùng với sự phát triển của những thủ thuật thẩm mỹ xâm lấn tối thiểu (minimally
invasive aesthetic procedures), hiểu sâu hơn (deeper understanding) về giải phẫu (anatomy) và sinh lý
(physiology) của các tổn thương do lão hóa da sẽ cho kết quả điều trị bằng phương pháp phẫu thuật tốt hơn
Tài liệu tham khảo
1 Dee Ana Glaser MD, Anactacia Kurts (2016), Periorbital rejuvenation – overview of non-surgical treatment options Department of Dermatology, Saint Louis University School of Medicine, USA
2 Vivian W Bucay MD, Doriday MD, MA (2013), Adjunctive skin care of the grow and periorbital region Department of Dermatology, New York University Langone Medicine Center, USA
3 Sinethan B Bryrak MD, John D Kriet MD (2018), Selecting the best eyelid techniques Facial Blast Surg 2018, 34 497-504, New York, USA
4 Jack F Scheuer III, MD Alan Matarasso MD (2017), Optimizing maze periorbital rejuvenation Amaerican Society for Dermal Surgery 2017, 43, S196-S202 New York, USA
5 Gary Linkov MD, Allan E Wulc MD (2016), Management of lower eyelid laxity Department of Otolaryngology – Head & Neck Surgery: Philadelphia 2016, 153-159, USA
6 Mark A Dinsky MD, PA (2017), Efficacy & Safety of an Anti-Aging technology Journal of Clinical
& Acsthet Derma (JCAD) 2017, 10 (12): 27-35, Florida – USA
Trang 35CHĂM SÓC VÀ TRẺ HÓA MÔI
(LIP CARE AND REJUVENATION)
BS.CKII Phạm Thúy Ngà
I Đại cương
1.1 Giải phẫu môi (Lip Anatomy)
- Thang điểm môi (lip make up) là yếu tố cốt yếu (essential element) tăng thêm sự quyến rũ (seduction), phụ nữ thường sử dụng các loại son (lipsticks) để làm bộ mặt của mình lôi cuốn hơn (attractive)
- Môi có giải phẫu phức tạp (complex anatomy) gồm có: niêm mạc (mucosa) và da (skin) Trong tổ chức môi (labial tissue) có dày đặc các receptors cảm giác, vì vậy rất nhạy cảm với stress của môi trường (environmental stress )
- Vì môi có một ít tổ chức sừng (little cornified tissue) hoặc melanin nên chúng rất nhạy cảm với các tổn thương do: hóa chất (chemical), cơ học (physical) và vi trùng (microbial)
- Trong môi còn có phức hợp cơ vòng (orbicularis orbis muscle) bao quanh lấy mồm (encircles the
mouth) và các mạch máu nuôi môi
1.2 Các yếu tố nguy cơ với môi
- Môi khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời kéo dài (prolonged exposure sunlight), đặc biệt là những người da trắng (fair-skinned people) thường dễ bị viêm môi do ánh nắng (actinic cheilitis), thậm chí còn bị ung thư biểu mô tế bào gai (spingcellular carcinoma)
- Bôi kem chống nắng (suncreem) thường xuyên (frequent) sẽ có tác dụng bảo vệ môi tốt hơn, chống
lại ánh nắng mặt trời
- Hút thuốc lá được cho là yếu tố nguy cơ chủ yếu (major risk factor) gây ra ung thư lưỡi (lip
cancers)
1.3 Lão hóa môi (aging of the lips)
- Lão hóa của môi (aging of the lips), nhất là môi dưới (lower lip) sẽ nhỏ dần theo tuổi (recede with
age), môi trên (upper lip) bị xệ xuống và to ra (enlarged), môi trở nên kém thun giãn và mềm mại (less elastic) bởi vì sang chấn cơ học (mechanical stress) được lặp đi lặp lại nhiều lần (repeated), cộng thêm sự
yếu đi của cơ vòng theo tuổi (orbicularis orbic musle)
(ghi chú: orbicullaris orbis muscle là một phức hợp cơ (complex of muscles) trong lưỡi nhưng nó bao quanh mồm (encircles the mouth))
1.4 Viêm môi (cheilitis)
Các nguyên nhân có thể gây viêm môi:
- Do lạnh (cold enveronment)
- Do khô (dry enveronment)
Trang 36o Vitamin B6 (pyridoxine)
o Nicotinic acid
o Acid folic
o Hoặc sắt (iron)
1.5 Khiếm khuyết màu sắc của môi (defects of lip pigmentation)
- Thay đổi màu sắc của môi theo thời gian có thể xảy ra những nốt tàn nhang (ephelides) và các đốm sắc tố sẫm màu (lentigos)
- Môi của một số dân cư (some populations) như người Thái Lan, có thể trở nên sẫm màu do tích tụ melanin ở lớp đáy của biểu bì (basal layer of the epidermis) mà hoàn toàn không có sự tăng lên về số lượng của tế bào biểu bì tạo sắc tố (melaocytes)
- Sự rối loạn trên có thể là bẩm sinh (may be congental), nhưng cũng có thể do hút thuốc lá (smoking) hoặc dị ứng với một số thuốc bôi tại chỗ (allergic reaction to a topical compound)
- Hút thuốc có thể làm tăng sắc tố (pigmentation) ở vùng niêm mạc miệng (bucca mucosa) ở những chủng tộc có làn da đen hơn (darker-skinned people) như Châu Phi (Africans), Châu Á (Asians) và Ấn Độ (Indians)
II Mỹ phẩm chăm sóc môi (Lip cosmetics)
- Năm 1946 phụ nữ Mỹ đã bỏ ra khoảng 30 triệu đô la hàng năm cho 5.000 tấn son môi (5000 tons
of lipstick)
- Năm 1990 với kỹ thuật tạo màu mới hơn (newer pigment technology) son môi có màu sắc đẹp sững sờ (dazzling colors) cuốn hút phụ nữ ở mọi lứa tuổi (women of all ages)
- Ban đầu mỹ phẩm thường được sử dụng ở phụ nữ trưởng thành hay lớn tuổi (aldolescent or elderly
women) dùng hàng ngày Ngày nay hầu hết phụ nữ Mỹ (most women in USA) đều xuất hiện khi ra ngoài
với bộ mặt được nhuộm môi (colored lips)
2.1 Son môi (lipsticks)
- Son môi là mỹ phẩm dùng để bôi lên môi – đường viền môi (vermilion border) với các màu thông dụng (empart color) và những chất giúp môi phòng chống những tác động của môi trường (protection from
environmental conditions)
- Son môi là an toàn khi ăn vào (ingest) không gây khó chịu về mùi hay vị (unpleasant odor or
taste) và được chia làm 5 loại:
1) Sáp (waxes)
2) Chất làm mềm và giữ ẩm da (emollients)
3) Chất ổn định (stabilizers)
4) Chất nhuộm màu (collorants)
5) Các thành phần khác có mang tính chức năng và tiếp thị (marketing and functional ingredients)
* Thành phần cấu tạo của son môi (lipsticks formullation) kinh điển là:
- Sáp (wax 15%) : dạng rắn ở nhiệt độ phòng (room temperature), làm cho chắc (hardness) và mịn