Những công trình tiêu biểu thời Lê sơ là điện Kính Thiên, điện Cần Chánh, điện Vạn Thọ tại Đông Đô Hà Nội và Lam Kinh tại Tây Đô Thanh Hóa.Điện Kính Thiên là nơi thiết triều trong cung c
Trang 1Những công trình tiêu biểu thời Lê sơ là điện Kính Thiên, điện Cần Chánh, điện Vạn Thọ tại Đông Đô (Hà Nội) và Lam Kinh tại Tây Đô (Thanh Hóa).
Điện Kính Thiên là nơi thiết triều trong cung cấm, xây dựng từ thời Lê Thái Tổ; sang thời Lê Thánh Tông được sửa sang thêm vào năm 1465 Ngày nay phần lớn công trình này bị phá hủy và vùi sâu, chỉ còn 4 bậc cửa bằng đá với dấu tích điêu khắc đương thời.
Công trình Lam Kinh được xây dựng từ năm 1433 sau khi Lê Thái Tổ qua đời, bao gồm khu quần thể kiến trúc các cung điện (điện Quang Đức, điện Sùng Hiếu, điện Diễn Khánh…) và miếu, lăng
mộ các vua Lê Ngày nay khu vực này bị phá huỷ gần hết, chỉ còn lại một ít phế tích tượng ngựa
đá, voi đá, nghê đá, hổ đá và bia Vĩnh Lăng, bia Hựu Lăng, bia Chiêu Lăng.
Ngoài các cung điện, các công trình khác gồm có Quốc Tử Giám, nhà Thái học được mở rộng đáng kể Văn bia tiến sĩ ở Văn Miếu cũng là di tích về điêu khắc thời kỳ này còn để lại đến ngày nay.
Việc xây cất các chùa, quán mới bị hạn chế nhưng việc tu bổ các chùa, quán sẵn có được coi trọng Từ thời Lê Thái Tông đến Lê Chiêu Tông, nhà Lê cho trùng tu nhiều chùa như chùa Minh Độ
ở Thanh Hà (Hải Dương), chùa Thiên Phúc (chùa Thày) ở Quốc Oai (Hà Nội), chùa Kim Liên (Hà Nội), chùa Thuý Lai (Thạch Thất, Hà Nội), chùa Đại Bi (huyện Gia Lương, Bắc Ninh) Tháp chùa Hoa Yên xây thời Trần Nhân Tông bị đổ cũng được sửa chữa đầu thời Lê.
Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, điện Kính Thiên được xây dựng năm 1428 đời vua Lê Thái Tổ và hoàn
thiện vào đời vua Lê Thánh Tông Điện Kính Thiên được xây dựng trên núi Nùng, ngay trên nền cũ của cung Càn Nguyên – Thiên An thời Lý, Trần Điện Kính Thiên là công trình trung tâm của hoàng cung thời nhà Lê (thế kỉ 15-18) ở Thăng Long-Đông Kinh (Hà Nội)
Năm 1428, sau chiến thắng quân Minh, Lê Thái Tổ tiếp tục đóng đô tại Thăng Long, cho xây dựng sửa sang lại Hoàng thành bị hư hại Điện Kính Thiên được xây dựng trong thời kì này Đến năm 1886, điện bị phá hủy, hiện chỉ còn di tích thềm bậc và nền điện (trong khu Thành cổ Hà Nội ngày nay) Điện Kính Thiên là một kiến trúc gỗ
Điện Cần Chánh trong Tử Cấm thành (Huế), là nơi vua thiết triều, thường tiếp sứ bộ ngoại giao, tổ chức yến tiệc của hoàng gia và triều đình của triều Nguyễn, hiện nay đã trở thành phế tích do bị phá huỷ từ năm 1947.
Điện Cần Chánh được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804), sau còn được tu bổ nhiều lần Về tổng thể, Điện Cần Chánh được bố trí trên trục chính (đường "Dũng đạo") của Đại Nội - nằm giữa điện Thái Hoà (nơi thiết triều chính) và điện Càn Thành (nơi ở của vua) Trước Điện Cần Chánh có "Sân bái mạng", là nơi tập hợp văn võ bá quan khi chầu vua, dâng biểu Điện cùng với nhà tả vu, hữu vu (phục vụ việc chuẩn bị nghi lễ và chiêu đãi khách) họp thành bố cục kiến trúc hình chữ môn [1]
Điện có kết cấu gỗ lớn và đẹp nhất trong Tử Cấm thành Nền đài cao gần 1m, bó vỉa bằng gạch vồ và đá thanh với diện tích mặt nền gần 1000m2 Chính điện có 5 gian, 2 chái kép; tiền điện 7 gian, 2 chái đơn, hai bên đông tây có 4 hồi lang mỗi bên 5 gian nối qua điện Văn Minh, Võ Hiển và qua Tả Vu, Hữu Vu Bộ khung gỗ gồm 80 chiếc cột bằng gỗ lim [2] Phần lớn kết cấu bộ khung bên trên ( như xuyên, trến, kèo, đòn tay, hệ thống con-xon, các liên ba ) đều được chạm trổ trang trí rất tinh xảo, công phu.
Ngôi điện này đã phá hủy hoàn toàn vào đầu năm 1947 Hiện nay, Trung tâm Bảo tồn Di tích cố Đô Huế cùng với Đại học Waseda Nhật Bản đang triển khai thực hiện dự án phục nguyên điện Cần Chánh bằng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản, với tổng kinh phí đầu tư hơn 10 triệu USD [3]
Khu di tích lịch sử Lam Kinh
(TT&VH Online) - Khu di tích lịch sử Lam Kinh nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân,
cách thành phố Thanh Hóa 51 km về phía Tây Bắc Đây là một địa danh lịch sử được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1962.
Trang 2biên soạn Lam Kinh, nơi bắt đầu của thời kỳ hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, gắn liền với bản anh hùng ca đánh đuổi giặc Minh, thu giang sơn về một mối
Lam Kinh nằm trên đất huyện Thọ Xuân, một huyện đã sinh cho dân tộc Việt Nam hai đời Lê (Tiền Lê, Hậu Lê) – vùng đất mà cách đây gần một ngàn năm cụ tổ của Thái Tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi thấy chim bay
về đậu quây quần thành bầy, quyết định san đất dựng nhà Thành điện Lam Kinh phía Bắc dựa vào núi Dầu (gọi là du sơn) mặt nam nhìn ra sông – có núi Chúa làm tiền án, bên tả là rừng Phú Lâm, bên hữu là núi Hương và núi Hàm Rồng chắn phía Tây Khu Hoàng thành, cung điện và Thái miếu ở Lam Kinh được bố trí xây dựng theo trục Nam – bắc trên một khoảng đồi gò có hình dáng chữ vương Bốn mặt xây thành có chiều dài 314m, bề ngang 254m, tường thành phía Bắc hình cánh cung có bán kính 164m, thành dày 1m
Trang 3Thăng Long thời Lê sơ (năm 1428-1527)
Sau khi chiến thắng quân Minh, ngày 29/4/1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi vua (Lê Thái Tổ) tại Đông Đô, khôi phục tên nước Đại Việt Năm 1430, đổi tên Đông Đô thành Đông Kinh.
Trên cơ sở phát triển của kinh thành Thăng Long từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV và dựa vào sức dân, Lê Lợi và các đời vua nối tiếp dần dần khôi phục và xây dựng một kinh thành Thăng Long mới rộng rãi, đẹp
đẽ và sầm uất hơn xưa.
Năm 1466, gọi phủ sở tại là Phủ Trung Đô, sau đó ít lâu đổi là Phủ Phụng Thiên Thời kỳ này, đứng đầu quản lý kinh thành là chức Phủ Doãn.
Kinh thành Thăng Long ở đầu thời Lê vẫn là kinh thành Thăng Long thời Lý-Trần Những cung điện, đền đài ở trong Hoàng thành bị phá hủy từ trước, nay được nhà Lê cho sửa chữa và xây dựng mới ngày càng nhiều.
Năm 1473, vua Lê Thánh Tông cho tu sửa tường Hoàng thành, đắp lại những chỗ vỡ lở Đầu năm 1477, Vua Lê Thánh Tông cho sửa đắp Thành Đại La cho kiên cố hơn.
Từ năm 1490 đến hết thế kỷ XVI, kinh thành Thăng Long có nhiều thay đổi Trong thời gian này, tường Hoàng thành cũng như tường Thành Đại La luôn luôn được sửa chữa xây đắp mở rộng thêm.
Năm 1490, nhà vua Lê Thánh Tông cho quân lính xây dựng lại Hoàng thành dài rộng thêm 8 dặm nữa Công việc xây dựng phải 8 tháng mới xong Trong Hoàng thành, Vua Lê Thánh Tông dựng thêm cung điện
và lập vườn Thượng Lâm để nuôi bách thú.
Năm 1514, Lê Tương Dực mở rộng Hoàng thành mấy nghìn trượng (mỗi trượng 3m60) bao bọc cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ (tức đền Quán Thánh) và chùa Kim Cổ Thiên Hoa Tường Hoàng thành đắp
từ phía đông nam đến phía tây bắc, chắn ngang sông Tô Lịch, bên trên sông đắp hoàng thành, bên dưới mở cống xây bằng gạch đá, dùng sắt chắn suốt bề ngang.
Theo bản đồ Hồng Đức vẽ năm 1490 thì Hoàng thành thời kỳ này bao gồm cả khu vực Hoàng thành Thăng Long thời Lý-Trần và khu vực tỉnh thành Hà Nội trong thời kỳ nhà Nguyễn sau này Phía tây Hoàng thành thời kỳ này là phía tây Hoàng thành thời Lý-Trần, giáp sông Tô Lịch và phía đông Hoàng thành ra tới gần
bờ sông Hồng Thời kỳ này, vua Lê Thánh Tông gộp 61 phường thời nhà Trần thành lập 36 phường.
Thăng Long thời Mạc-Lê Trung Hưng (1527-1786)
Trong thời kỳ này, Đông Kinh trở lại tên gọi Thăng Long và vẫn giữ vị trí là kinh đô Công việc xây dựng kinh thành chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu chính trị, quân sự Để tăng cường hệ thống bảo vệ kinh thành, năm 1588, nhà Mạc huy động dân 4 trấn vùng đồng bằng đắp 3 lần lũy đất.
Theo bản đồ Hà Nội hiện nay, tòa lũy này bắt đầu từ Nhật Tân, chạy theo bờ Hồ Tây, qua Bưởi, Cầu Giấy theo đường Giảng Võ-La Thành, qua Ô Chợ Dừa, đê Kim Liên, Đại Cồ Việt, Trần Khát Chân tới đê sông Hồng.
Đầu thế kỷ XVII, Thăng Long mang tên Kẻ Chợ đã có thương điếm Hà Lan (năm 1645-1699) và Anh (năm 1633-1697) đặc biệt là thương nhân người Hoa rất đông Dân cư lúc đó có thể lên tới một triệu người, khoảng 20.000 nóc nhà Khu vực kinh thành đã hình thành các phố nghề như Hàng Khay, Hàng Bạc, Hàng Trống, Hàng Đào, Bát Đàn, Hàng Đồng…/.
Trang 4Bút Tháp như một trong những di tích độc đáo bậc nhất của Bắc Ninh Nói đến Bắc Ninh,
ta sẽ nhớ ngay đến chùa Bút Tháp Ðây là một ngôi chùa cổ được xây dựng từ thời hậu Lê (thế kỷ 17) Theo lịch sử, chùa được bà Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ vua Lê Thánh Tông) cùng hai nhà sư người Việt gốc Hoa thiết kế Mặc dù đã trải qua những lần trùng tu, sửa chữa nhưng chùa vẫn giữ được những nét nguyên sơ hấp dẫn của nó
Chùa có tên chữ là "Ninh Phúc Thiền Tự" được xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc" Ngoài cùng là Tam Quan, tiếp đến là gác chuông rồi đến Tiền Ðường, tiếp theo là Thượng điện - gian đẹp nhất cả kiến trúc lẫn điêu khắc
Phía ngoài Thượng điện có lan can bằng đá xanh bao quanh, chạm khắc các hình động vật, điểm xuyết thêm mây, trời, hoa, lá
Ðáng chú ý là hình chim, hươu, khỉ, rồng, đều được chạm khắc rất sinh động, thần tình Bên trong có bày các bộ tượng Tam Thế, Tam Thân và tượng Phật Bà Quan Âm nghìn
Trang 5mắt, nghìn tay Những cái tên, những kiểu kiến trúc gợi nên một vẻ cổ kính mà hấp dẫn Pho tượng Quan Âm trong chùa có kích thước lớn và đồ sộ: cao 3,7m, có 11 đầu, 42 bàn tay lớn và 958 tay nhỏ Ðiều kỳ lạ là mỗi bàn tay có một mắt, ấn tượng hơn nữa là nhịp điệu mỗi cánh tay không giống nhau Tượng được đặt trên toà sen Rồng đội, đằng sau là vầng hào quang toả sáng, bên dưới là các hình trang trí sóng nước sống động như một thuỷ cung.
Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt
Nối giữa Thượng điện và Tích thiện là chiếc cầu đá cong mà ngồi ở đó, ta có thế ngắm những nét đẹp riêng của cảnh chùa Cầu được chạm khắc rất công phu, tinh xảo và bố trí rất hợp lý: đầu cầu là hai con sư tử, còn thành cầu là những hoa văn cổ quen thuộc được
Trang 6Thú vị hơn là nó có thể quay được và không hề phát ra tiếng kêu dù được làm từ nhiều thế
kỷ nay
Ðến với chùa là đến với một điểm du lịch mang tính nhân văn cao Trong chùa, có nhiều
cổ vật quý, nhiều tháp to, nhỏ rất đẹp là nơi đặt xá lị của các thiền sư xưa Tháp Bảo Nghiêm, trên đỉnh có hình nậm rượu, 5 tầng, 8 mặt, cao 13m, là nơi đặt xá lị của thiền sư Chuyết Chuyết; tháp Tôn Ðức 5 tầng, cao 10m là nơi đặt xá lị thiền sư Minh Hành, vị tổ thứ hai của chùa
Chùa Keo (Thần Quang tự 神光寺) là một ngôi chùa ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh
Thái Bình, Việt Nam, được xây dựng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông ở hương Giao Thuỷ ven sông Hồng Ban đầu, chùa có tên là Nghiêm Quang tự, đến năm 1167 mới đổi thành Thần Quang tự Vì Giao Thủy có tên Nôm là Keo, nên ngôi chùa này cũng được gọi
là chùa Keo
Năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm ngập làng nơi có chùa Một bộ phận dân cư dời đi nơi khác, xây dựng ngôi chùa Keo mới, thường được gọi là chùa Keo Dưới hay chùa Keo Hành Thiện (nay ở xã Xuân Hồng, huyện Xuân Thuỷ, Nam Định) Một bộ phận dân cư dời sang tả ngạn sông Hồng, lập làng Dũng Nhuệ trên đất Thái Bình và cũng dựng lên một ngôi chùa, gọi là chùa Keo Trên, tức ngôi chùa đang nói tới ở đây Công việc xây dựng ngôi chùa này được bắt đầu từ năm 1630 và hoàn thành vào năm 1632 theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ Chùa được trùng tu nhiều lần, vào các năm 1689, 1707, 1941 Lần trùng tu năm 1941, có sự giúp đỡ của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp
Chùa Keo
Gác chuông chùa Keo Thái Bình
Văn bia và địa bạ chùa Keo còn ghi lại diện tích toàn khu kiến trúc chùa rộng khoảng 58.000 m², gồm nhiều ngôi nhà làm thành những cụm kiến trúc khác nhau Hiện nay toàn
bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc"
Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25 m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa, cao 2 m, rộng 2,6 m, chạm một
ổ rồng với rồng mẹ và rồng con, chầu mặt nguyệt Nếu đôi cánh cửa ở chùa Phổ Minh tiêu biểu cho kiến trúc đời nhà Trần thì đôi cánh cửa chùa Keo tiêu biểu cho kiến trúc đời nhà
Lê
Trang 7Qua tam quan, đi tiếp vào chùa, gặp ở hai bên 24 gian hành lang là khách hành hương sắm
lễ vào Chùa lễ Phật và lễ Thánh
Đi đến phần chùa thờ Phật, gồm ba ngôi nhà nối vào nhau Ngôi nhà ở ngoài, gọi là chùa
Hộ, ngôi nhà ở giữa gọi là ống muống và ngôi nhà trong là Phật điện Đặc biệt ở đây có tượng Thích Ca nhập Niết bàn, tượng Bồ Tát Quan Âm Chuẩn Đề đặt giữa tượng Văn Thù
Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Toàn bộ khu thờ Phật của Chùa Keo có gần 100 pho tượng
Chùa ngoài thờ Phật, còn thờ Không lộ - Lý Quốc Sư Toàn bộ công trình đều làm bằng gỗ lim và là nơi được các nghệ nhân điêu khắc thời nhà Hậu Lê chạm khắc rất tinh xảo Sau khu thờ Phật là khu thờ thánh Tại hội chùa Keo, sau khi đã có những nghi lễ như mọi hội chùa khác, thì diễn ra trò chơi kéo nứa lấy lửa, nấu xôi, nấu chè và nấu cơm chay để mang cúng Thánh Phía ngoài có một giếng nước Thành giếng xếp bằng 36 cối đá thủng
đã từng dùng giã gạo nuôi thợ xây chùa từ xưa
Đáng kể và tiêu biểu nhất ở đây là kiến trúc tòa gác chuông chùa Keo Gác chuông chùa Keo là một kiến trúc đẹp, cao 11,04 m, có 3 tầng mái,kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với nhau bằng mộng, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng Gác chuông được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn Ở tầng một có treo một khánh đá cao 1,20 m Tầng hai
có quả chuông đồng lớn đúc năm 1686 cao 1,30 m, đường kính 1 m Hai quả chuông nhỏ treo ở tầng ba và tầng thượng cao 0,62 m, đường kính 0,69 m đều được đúc năm 1796
Hai hành lang chạy dài từ chùa Hộ nối với nhà tổ và nhà trai sát gác chuông, bao quanh toàn bộ chùa
Đến thăm chùa, ta có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà tương truyền rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá
và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành
Trải qua gần 400 năm tu bổ, tôn tạo, chùa Keo vẫn giữ nguyên bản sắc kiến trúc độc đáo của mình Gác chuông với bộ mái kết cấu gần 100 đàn đầu voi là viên ngọc quý trong gia tài kiến trúc Việt Nam Bộ cánh cửa chạm rồng là bộ cửa độc đáo của cả nước Chùa còn bảo lưu được hàng trăm tượng Pháp và đồ tế thời Lê Có thể nói Chùa Keo là một bảo tàng nghệ thuật đầu thế kỷ 17, với nhiều kiệt tác đặc sắc
Hằng năm vào ngày mùng 4 tháng giêng Âm lịch, nhân dân làng Keo lại mở hội xuân ngay
ở ngôi chùa mang tên làng
Hơn chín tháng sau, vào các ngày 13, 14, 15 tháng 9 Âm lịch, chùa Keo lại mở hội mùa thu Đây là hội chính, kỷ niệm 100 ngày Thiền sư Không Lộ (1016-1094), người sáng lập ngôi chùa, qua đời (ngày 3 tháng 6 Âm lịch)
Trang 8thực, thật sinh động
Có câu ca dao về hội chùa Keo:
Dù cho cha đánh mẹ treo,
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm
1 Chùa Keo, Thai binh
Chùa Keo:
tên thật là Thần Quang Tự.thuộc xã Duy Nhất, Vũ Thư, Thái Bình
Chùa là nơi thờ thần và đức Dương Không Lộ thiền sư, đời Lý
chùa keo qua nhiều lần tu bồ nhưng vẫn giữ nguyên bản sắc kiến trúc thời Lê trung Hưng chùa Keo với 128 gian phân bố trên diện tích 2022m2
hàng năm chùa Keo diễn ra 2 lễ hội : Xuân và Thu.
chùa Keo 05.2007 ; photo: neik
thap chuong
Trang 9Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thời hậu Lê Được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn, gác chuông cao 11,04 m gồm 3 tầng mái, kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau Bộ khung gác chuông làm bằng
gỗ liên kết với nhau bằng mộng ngậm, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng Tầng một treo khánh đá 1,20 m và chuông đồng cao 1,30 m, đường kính 1m đúc vào thời Lê Hy Tông (1686); hai tầng trên treo chuông nhỏ cao 0,62m, đường kính 0,69 m đúc vào năm 1796
Trang 11chi tiet cot va dau dao cua chua Keo
Trang 12ho ( ao) truoc chua
Đứng soi mình xuống hồ nước phẳng lặng giữa một không gian thoáng đãng, chùa Keo không chỉ lưu giữ nhiều di vật quý giá mà còn chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời Thiền sư Không Lộ
.
than
Trang 13ben trong dien tho.
Trang 14năm 1061, Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên hữu ngạn sông Hồng Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang Tự Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa và đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: một nửa dời về đông nam hữu ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Định); một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Thái Bình này.
Trang 15.
Trang 16ong gia viet so truoc cong chua Keo
.
lam ban tho;
"Dù cho cha đánh mẹ treo,
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm "
Thế giới Phật giáo có vô số nhân vật, ngay hàng ngũ Bồ Tát cũng rất nhiều Quan Âm chỉ thuộc hàng Bồ Tát, nhưng lại gắn bó với các Phật tử Việt Nam hơn cả, đi vào tiềm thức để trở thành chỗ dựa tâm linh của mọi người Mỗi khi gặp điều gì phiền não, dù ở đâu người ta cũng cầu khẩn ngài và sau đó cảm thấy yên tâm Trong điêu khắc Phật giáo, tượng tròn gần gũi với mọi người nhất, và cũng thành công nhất chính là tượng Quan Âm Thật ra Quan Âm cũng có nhiềi loại: Quan Âm Nam Hải (tức Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, thường cũng kết ấn Chuẩn Đề nên cũng gọi là Quan Âm Chuẩn Đề), Quan Âm Tọa Sơn, Quan Âm Tống Tử Quan Âm còn gọi là Quán Âm, đều là tên gọi tắt của Quan Thế Âm hoặc Quán Thế Âm đều hàm nghiã quan sát và nghe ngóng để suy tư cứu vớt thế gian.
Sử cũ và văn bia ở một số chùa cho biết thời Lý - Trân đã có hiện tượng thờ Quan Âm, song tượng Quan Âm còn lại đến nay sớm nhất là thuộc thời Lê sơ, các thế kỷ sau đó đều có ở khá nhiều chùa, phổ biến là tượng Quan Âm nhiều tay rất khó dựng hình song phần lớn lại rất thành công.
- Sớm nhất là tượng Quan Âm Nam Hải chùa Cung Kiệm (tên chữ Hưng Phúc Tự - Bắc Ninh) bằng đá Cả lưng tượng và bệ tượng đều khắc những nội dung giống nhau, cho biết: năm Kỷ T� niên hiệu Thái Hòa 7 (1449) đời vua thứ ba nhà Lê, các tín chủ Đào Ngân, Nguyễn Thị Biên, Nguyễn Lăng, Đào Thị Điều, Nguyễn Bế, Nguyễn Thị Thiếu ở xã Kiệm huyện Vũ Ninh trung lộ Bắc Giang (cung tiến) Đây là sáu người dân địa phương, có thể là vợ chồng của ba gia đình, đã góp tiền thuê thợ tạc pho tượng này, lại để ngay ở chùa làng, như vậy đã khẳng định tính dân gian của tác phẩm Tượng và bệ là hai khối đá riêng có kích thước tương xứng, tượng cao 51 cm và bệ cao
37 cm , giữa hai bộ phận có gờ cong trùng khít nhau Tượng bị gẫy đầu đã được chắp lại, song vẫn
bị mất cánh tay phải từ khuỷu trở xuống Tượng được thể hiện trong khối đặc hình chóp đóng kín,
có đường viền rõ ràng, do đó gây cảm giác cân bằng vững chắc Tư thế của tượng ở thế ngồi bán kiết, cẳng chân phải ở trên để ngửa bàn chân trên đùi trái phù hợp với quan niệm dương động và nhẹ ở trên, là cách ngồi mẫu cho các tượng Phật và Bồ Tát về sau Mặt tượng đôn hậu bầu bĩnh, tai dài, mắt khép hờ nhìn xuống chóp mũi, đầu đội mũ thiên quan trang trí hoa sen, hoa cúc và mây, ngực đeo dây anh lạc, mình khoác hai lớp áo với nhiều nếp chảy tự nhiên, tay trái để thấp trên đùi cầm chén nước Tượng được tạo hình đơn giản, lấy mẫu từ những người thôn nữ khỏe mạnh, có chú ý kết hợp trang trí ở mức khiêm nhường Bệ tượng có dáng chung như một mỏm núi, nhìn kỹ thì thấy phần trên là tòa sen nở ra, các cánh mập nhưng thô, đoạn giữa thót lại, phía dưới lại nở ra theo chân đế vuông được chạm những lớp sóng to nhấp nhô, từ đấy nhô lên hai đầu rồng tương tự đầu rắn ở phía trước, còn đuôi quấn quít rồi tỏa về hai phía Với kiểu dáng bệ
Trang 17thoáng gợi đề tài Quan Âm Tọa Sơn, lại gợi đề tài Quan Âm Nam Hải, là sự thể nghiệm để rồi từ thế kỷ XVI sẽ phát triển (ảnh 32a, b)
32a- Quan Âm nam Hải chùa Cung Kiệm (mặt trước) chùa Cung Kiện(mặt sau) 32b-Quan Âm Nam Hải
- Thời Mạc là giai đoạn thương mại phát triển, mà gắn với các đoàn thuyền buôn thường có việc thờ Quan Âm Nam Hải phát triển từ tượng Quan Âm chùa Cung kiệm, trong đó có tượng ở chùa Phẩm có niên đại tuyệt đối.
+ Chùa Phẩm (tên chữ Động Ngọ Tự - Hải Dương) có pho tượng Quan Âm Nam Hải đích thực là mẫu cho các tượng loại này về sau Tượng được tạc theo tư thế một phụ nữ ngồi thiền trên tòa sen có vạt áo phủ kín chân (như kiểu tượng Phật Thế Tôn thời Lý ở chùa Phật Tích), ngoài hai tay chính như mọi người đang kết ấn Liên hoa trước ngực, còn năm cặp cánh tay khác (đã bị rụng mất ba tay) mọc ra từ sườn, tỏa về hai bên cân đối như một đôi tay đang từ từ chuyển động, làm cho pho tượng gắn được cả nghệ thuật không gian với nghệ thuật thời gian Đầu tượng đội mũ thiên quan được trang trí những bông hoa, để lộ búi tóc ở đỉnh đầu, từ sườn vành mũ lại rủ dải tóc mai chảy qua tai xuống vai rồi phủ lên áo Tượng mặc áo dài, ống tay rộng, các nếp chảy xuôi rộn ràng, cân đối Mặt tượng trái xoan, mắt đăm chiêu, mũi dọc dừa, miệng mỉm cười tế nhị, tai dài đeo hoa, thân tượng thon thả, cao dong dỏng lại được các nếp áo chảy dọc làm cho nó như được kéo dài hơn, các cánh tay phụ để trần thon tròn lại đeo vòng càng làm tôn lên vẻ đẹp ngọc ngà của
cô thôn nữ Tượng được ngồi trên tòa sen, các cánh sen nổi khối mập mạp lại trang trí cánh sen cuộn mũi bên trong Nguyên xưa tòa sen được một đầu quỷ đội đưa qua biển cả, nhưng nay đầu qủy đã bị mất, tóa sen đặt trực tiếp trên mặt của chiếc bệ tam cấp tám cạnh, các mặt bên của mỗi cạnh đều chạm những ô hoa thường gặp ở thời Mạc, mà tiêu biểu là cặp sừng trên nền cây vũ trụ
Điều đáng chú ý là phía sau của bệ được khắc dòng chữ: "Tân tạo Phật tượng Nhất hội chủ (kể tên 14 người, phần lớn là phụ nữ) Diên Thành tuế thứ Nhâm Ngọ ngũ niên, thập nhị nguyệt cốc
nhật tạo" cho biết Bồ Tát cũng được tôn xưng như Phật, được tạc năm 1582 Tượng cao 78cm , tòa sen và bệ cao 50 cm , nguyên xưa có đầu quỷ còn cao hơn chừng 25-30 cm nữa (ảnh 33).
Trang 18Tượng Quan Âm Nam Hải (cũng tức Quan Âm Thiên Thủ Tiên Nhãn) có niên đại tương đối thuộc thời Mạc còn đến nay khá nhiều, như ở các chùa Bối Khê (Hà Tây), chùa Hội Hạ (Vĩnh Phúc), chùa Thượng Trưng (Phú Thọ), chùa Phổ Minh (Nam Định), chùa Keo (Thái Bình), chùa Đào Xuyên (Hà Nội), chùa Bãi và chùa Che (Hà Tây) đều thuộc loại tượng lớn, có nhiều tay (thậm chí rất nhiều tay) Có thể khảo sát mấy pho điển hình:
+ Chùa Hội Hạ (tên chữ Động Lâm Tự - Vĩnh Phúc) có pho tượng Quan Âm Nam Hải thuộc loại lớn nhất trong đề tài này ở nước ta hiện còn, riêng tượng cao 180 cm , kể cả tòa sen và bệ cao tới
327 cm Tượng được tạc ở tư thế ngồi bán kiết để bàn chân phải gác lên đùi chân trái, ngoài hai tay chính kết ấn Liên hoa trước ngực, từ hai bên sườn mọc ra 20 đôi tay phụ, trong đó có một đôi tay kết ấn Tam muội để trong lòng ở trước bụng, còn 19 đôi tay khác tỏa đều sang hai bên, cân đối, các bàn tay đang kết ấn hoặc cầm những báu vật khác nhau như mặt trời, mặt trăng, bảo tháp, tràng hạt, bánh xe, hòm kinh, chuông đồng, gương đồng, sừng tê, giải lụa, bình nước cam lồ và cành dương liễu Tượng ngồi dướn thẳng lưng vuông góc với tòa sen, đầu đội mũ thiên quan vành cao với các trang trí lấy hình đức Phật trong vòng hào quang ở phía trước làm chuẩn rồi tỏa
về hai bên những hình hoa cúc, cánh sen và mây xoắn: Thân tượng khoác áo tạo thành mảng vuông trước ngực và bụng với những nếp chảy song hành, lại như đối lập với khối đùi bè ngang vững chãi Mặt tượng bầu bĩnh phúc hậu, trán nở rồi thuôn dần xuống cằm, tai dài đeo hoa, mắt đăm chiêu, mũi đầy đặn, miệng chúm lại, cổ ngắn Tạo hình của tượng dựa trên vẻ đẹp khỏe mập của phụ nữ nông thôn, mộc mạc, rất người Tòa sen cũng mập, các cánh to đầy đặn, trong mỗi cánh sen cũng lại trang trí một cánh sen cuộn đầu Tòa sen được một đầu quỷ như đầu người dữ tợn nhô lên từ mặt bể để đội, giơ hai bàn tay đỡ hai bên, còn thêm hai đầu rồng như đầu rắn gần giống ở bệ tượng chùa Cung Kiệm (Bắc Ninh) đỡ nhích về phía trước tạo cho chân đế ở mặt bệ rộng ra và chia bớt lực cho đầu quỷ Mặt bệ làm thành mặt bể, từ bên cạnh đầu rồng còn nhô lên mỗi bên một bông sen con làm chỗ đứng hầu cho Kim Đồng - Ngọc Nữ nho nhỏ, xinh xinh, bình dị như người nông dân tất tả trong ngày hội Bệ hình lục giác, ba cấp thót giữa, các góc của tầng giữa được gắn hình chim thần vốn phổ biến trên bệ đá khối hộp thời Trần, đến thời Mạc lại gặp trên một số bệ, có biến đổi đôi chút Các mặt đứng của ba tầng bệ chia ô dài bẹt chạm các hình rồng, lân, cá hóa rồng, long mã, ngựa bay, cặp sừng, sóng nước, hoa lá đều là những hình quen thuộc ở thời Mạc.
Từ trước Cách mạng 1945 họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đã phát hiện ra pho tượng này, năm 1965 đưa
về Bảo tàng Mỹ thuật và được xác định niên đại thuộc đầu thời Mạc với một phong cách mập khỏe, bè ngang, chắc chắn Đây là tượng Quan Âm sớm để làm mẫu cho các thời sau, có 42 cánh tay to mà các tượng thời sau số tay to nhiều nhất cũng chỉ thế (ảnh 34).