Phạm vi về nội dung Đề tài nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý thu thuế tài nguyên đối với các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên do Ngành thuế tỉnh Thái Nguyên quản lý theo 4
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ THU TRANG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ THU TRANG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 8.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đình Tuấn
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
"Công tác quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" là
trung thực, là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Tôi xin cam đoan, luận văn là công trình nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết đã được học tập và qua tìm hiểu tình hình thực tiễn tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên, dưới dự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đình Tuấn GS.TS Trầnn
Những số liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, các giải pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu, kinh nghiệm phù hợp với địa phương và chưa được sử dụng để bảo vệ bất cứ một luận văn nào
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên
Thái Nguyên, tháng 07 năm 2020
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thu Trang
Trang 4Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới ban Lãnh đạo, tập thể cán bộ, các phòng thuộc Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên, trong thời gian tôi thực tế nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài
Đây là công trình nghiên cứu, là sự làm việc nghiêm túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn, chắc rằng đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, bạn bè và bạn đọc quan tâm tới đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2020
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế tài nguyên 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của quản lý thu thuế tài nguyên 17
1.1.3 Nội dung của quản lý thu thuế tài nguyên 18
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế tài nguyên 23
1.2 Kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên của một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thái Nguyên 26
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên của một số địa phương 26
1.2.2 Bài học kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên cho tỉnh Thái Nguyên32 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 34
Trang 62.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 35
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 36
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 37
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 37
2.3.1 Công tác Tổ chức thực hiện quản lý thu thuế tài nguyên 37
2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh công tác chỉ đạo điều hành quản lý thu thuế tài nguyên 40
2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh công tác thanh tra, kiểm tra 41
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 43
3.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên 43
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 43
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 45
3.2 Tình hình tổ chức của Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 48
3.3 Thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 51
3.3.1 Công tác hoạch định, lập dự toán thu thuế tài nguyên 51
3.3.2 Công tác tổ chức thực hiện quản lý thu thuế tài nguyên 52
3.3.3 Công tác chỉ đạo, điều hành quản lý thu thuế tài nguyên 63
3.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra thu thuế tài nguyên 73
3.4 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 77
3.4.1 Các yếu tố khách quan 77
3.4.2 Các yếu tố chủ quan 80
3.5 Đánh giá chung về quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 81
3.5.1 Kết quả đạt được 81
3.5.2 Một số hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 87
CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP
Trang 7TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THÁI NGUYÊN 92
4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 92
4.1.1 Quan điểm về quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 92
4.1.2 Định hướng thực hiện công tác quản lý thu thuế tài nguyên 93
4.1.3 Mục tiêu của công tác quản lý thu thuế tài nguyên đến năm 2025 94
4.2 Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 95
4.2.1 Nâng cao ý thức trách nhiệm của người nộp thuế 95
4.2.2 Nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thuế 100
4.2.3 Các giải pháp khác 102
4.3 Kiến nghị 107
4.3.1 Đối với Chính phủ 107
4.3.2 Đối với UBND tỉnh Thái Nguyên 109
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 115
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình thực hiện thu thuế tài nguyên so với dự toán tại Cục Thuế
tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017-2019 52 Bảng 3.2 Số lượng đơn vị khai thác tài nguyên được quản lý tại Văn phòng
Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017 - 2019 53 Bảng 3.3 Số thu thuế tài nguyên trên tổng số cán bộ tại Văn phòng Cục
Thuế giai đoạn 2017 - 2019 53 Bảng 3.4 Số bài viết tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng
giai đoạn 2017 – 2019 56 Bảng 3.5 Số lượt NNT được giải đáp vướng mắc tại cơ quan thuế, qua điện
thoại trên số cán bộ của bộ phận tuyên truyền hỗ trợ 57 Bảng 3.6 Tỷ lệ văn bản trả lời NNT đúng hạn, số cuộc đối thoại, lớp tập huấn
đã tổ chức trên số cán bộ của bộ phận tuyên truyền hỗ trợ giai đoạn
2017 - 2019 58 Bảng 3.7 Tỷ lệ cán bộ làm việc tại 4 chức năng quản lý thu thuế tài nguyên
giai đoạn 2017 - 2019 61 Bảng 3.8 Tỷ lệ cán bộ thuộc 4 chức năng quản lý thu thuế tài nguyên có
trình độ đại học trở lên giai đoạn 2017 – 2019 61 Bảng 3.9 Cơ cấu về độ tuổi của cán bộ thuộc 4 chức năng quản lý thu thuế
tài nguyên giai đoạn 2017 - 2019 62 Bảng 3.10 Tỷ lệ doanh nghiệp nộp tờ khai thuế tài nguyên qua mạng trên số
doanh nghiệp đang hoạt động giai đoạn 2017 - 2019 66 Bảng 3.11 Tỷ lệ tờ khai thuế tài nguyên nộp đúng hạn trên số tờ khai thuế đã
nộp giai đoạn 2017 - 2019 67 Bảng 3.12 Tỷ lệ tờ khai thuế tài nguyên đã nộp trên số tờ khai thuế phải nộp
giai đoạn 2017 - 2019 67 Bảng 3.13 Tỷ lệ tờ khai thuế tài nguyên đúng trên số tờ khai thuế đã nộp giai
đoạn 2017 - 2019 68
Trang 10Bảng 3.14 Tỷ lệ tiền nợ thuế với số thực hiện thu của ngành thuế tỉnh Thái
Nguyên giai đoạn 2017 - 2019 73 Bảng 3.15 Tỷ lệ doanh nghiệp đã thanh tra, kiểm tra trên số doanh nghiệp
đang hoạt động khai thác thuế tài nguyên giai đoạn 2017 - 2019 74 Bảng 3.16 Tỷ lệ doanh nghiệp đã thanh tra, kiểm tra phát hiện có sai phạm
giai đoạn 2017 - 2019 74 Bảng 3.17 Số thuế truy thu bình quân 1 cuộc thanh tra, kiểm tra giai đoạn
2017 - 2019 75
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Bộ máy tổ chức của văn phòng Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 50
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của NNT đối với cơ chế chính
sách thuế tài nguyên của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 54 Biểu đồ 3.2: Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của NNT đối với giải đáp
chính sách, thủ tục hành chính thuế qua điện thoại, email, văn bản của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 59 Biểu đồ 3.3: Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của NNT đối với tinh thần
thái độ phục vụ của cán bộ thuế tại bộ phận TTHT NNT của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 60 Biểu đồ 3.4: Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của NNT đối với quy trình kê
khai và thủ tục nộp thuế của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 69 Biểu đồ 3.5: Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của NNT đối với công tác
hướng dẫn kê khai các chỉ tiêu khai thuế trên tờ khai thuế của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 70 Biểu đồ 3.6: Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của NNT đối với công tác
tiếp nhận và xử lý tờ khai thuế tài nguyên của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 71 Biểu đồ 3.7: Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của NNT đối với công tác kê
khai và kế toán thuế tài nguyên 71 Biểu đồ 3.8: Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của NNT đối với công tác
kiểm tra hồ sơ thuế tài nguyên của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 76 Biểu đồ 3.9: Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của NNT đối với công tác
thanh tra, kiểm tra thuế tài nguyên 76
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên là tài sản quan trọng của quốc gia và hầu hết là tài nguyên không tái tạo được cần được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế bền vững trong mối quan hệ hài hoà với giải quyết vấn đề xã hội và môi trường trước mắt cũng như lâu dài Thuế tài nguyên chính là một công cụ quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường công tác quản lý, giám sát quá trình hoạt động khai thác tài nguyên theo quy định của pháp luật Đối với một quốc gia có nhiều tài nguyên khoáng sản như Việt Nam, nguồn thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và thuế tài nguyên đóng góp nguồn lực rất lớn cho sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, việc
lệ thuộc quá mức vào nguồn thu thuế tài nguyên cũng dẫn đến nhiều hệ lụy như ô nhiễm mỗi trường, cạn kiệt tài nguyên Trong khi đó thì công tác quản
lý nhà nước về khai thác và quản lý thu thuế tài nguyên cũng bộc lộ nhều vấn
đề yếu kém Hậu quả dẫn đến tình trạng khai thác trái phép, không đúng quy hoạch và gian lận trong kê khai thuế và thất thu thuế diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương trên cả nước
Đồng hành cùng cả nước trong thực hiện cải cách hệ thống chính sách thuế, hoạt động quản lý thuế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Công tác tổ chức thu thuế được cải cách, hiện đại hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các bộ thuế ngày càng tăng, số thuế thu được năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên, trong cơ cấu thuế thu được, số thu từ thuế tài nguyên của tỉnh luôn chiếm một tỷ lệ khá thấp Mặc dù Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, nơi sở hữu rất nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản như than, apatits, đá, sỏi cát, đá sét do đó tiềm năng nguồn từ nguồn thu thuế tài nguyên là rất lớn Bên cạnh đó, công tác quản lý tài nguyên khoáng sản chưa được thực hiện một cách triệt để, hoạt động khai
Trang 13thác tài nguyên khoáng sản diễn ra tràn lan, khai thác không phép hoặc vượt phép dẫn đến thất thoát tài nguyên, thất thu NSNN và nợ đọng thuế gây mất
ổn định xã hội và ô nhiễm môi trường Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như việc thiếu cơ chế giám sát thực tế của doanh nghiệp, công tác phối kết hợp giữa các cấp, ngành, địa phương chưa thực sự chặt chẽ, thiếu đồng bộ
và chưa thường xuyên; việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật chưa thực sự kiên quyết và đủ sức răn đe, công tác quản lý khai thác ở nhiều nơi còn lỏng lẻo…
Rõ ràng, việc quản lý thuế tài nguyên kém sẽ dẫn đến hậu quả làm thất thoát tài nguyên và thất thu ngân sách nhà nước Mà NSNN là nguồn thu chính để nhà nước cải thiện môi trường và những tác động do khai thác thuế tài nguyên gây ra Việc đẩy mạnh công tác quản lý thuế tài nguyên chính là việc làm cần thiết và phải được thực hiện nghiêm túc Việc đi sâu nghiên cứu công tác quản lý thuế tài nguyên sẽ góp phần làm tăng cường tính hiệu lực,
hiệu quả của chính sách thuế Chính vì vậy tôi lựa chọn đề tài: “Công tác quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế tài nguyên
- Đánh giá thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 14- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về không gian
Đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, thuộc phạm vi
quản lý của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên
3.2.2 Phạm vi về thời gian
Đánh giá thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Thái
Nguyên giai đoạn 2017 - 2019 Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn từ nay đến năm 2025
3.2.3 Phạm vi về nội dung
Đề tài nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý thu thuế tài nguyên đối với các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên do Ngành thuế tỉnh Thái Nguyên quản lý theo 4 nội dung sau:
+ Công tác hoạch định, lập dự toán thu thuế tài nguyên;
+ Công tác tổ chức thực hiện quản lý thu thuế tài nguyên;
+ Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thu thuế tài nguyên;
+ Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý thu thuế tài nguyên;
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
4.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn đã tổng hợp và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý thu thuế tài nguyên, luận giải những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế tài nguyên
Trang 15Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan và cá nhân quan tâm, là tài liệu dùng trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong nhà trường
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế tài nguyên Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
THU THUẾ TÀI NGUYÊN 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế tài nguyên
1.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm về thuế
Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế Chẳng hạn theo quan niệm của Ph.Ăngghen trong tác phẩm nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá " Với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực Nhà nước Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm rằng trong một Nhà nước có giai cấp (một giai cấp giành được quyền thống trị) thì thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp
Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm khác nhau về thuế, được nhìn nhận trên các bình diện khác nhau Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass and Bryan Lowes (1994), đứng trên giác độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng: Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp, trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ và trên tài sản
Trang 17Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu trong cuốn
"Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell and Bruy-M (1993), dựa trên cơ sở đối giá như sau: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty hoặc các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản tiền đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" (Thuế Nhà nước, 2000) Trong quan điểm này người ta chỉ nhìn nhận thuế trên giác độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế như là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mình đang kinh doanh hoặc sinh sống Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định
Trên giác độ phân phối thu nhập định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
Trên giác độ người nộp thuế thì: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước
Trên giác độ kinh tế học thì: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
Những khái niệm về thuế nêu trên mới chỉ nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc độ khác nhau nên chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế Đến nay tuy chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế,
Trang 18nhưng các nhà kinh tế đều thống nhất cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế, thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau:
- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp;
- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt – việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước;
- Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định;
- Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung
Trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, thì một định nghĩa về thuế vẫn còn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze (1934) trong Giáo trình tài chính công Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm về thuế như sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng
* Khái niệm về thuế tài nguyên và chính sách thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động khai thác tài nguyên của các tổ chức, cá nhân, nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước để bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên
Xét về mặt bản chất, thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, thu vào người tiêu dùng, vì thuế tài nguyên đã được tính trong giá thành sản phẩm tài nguyên Người khai thác chỉ là người nộp hộ cho người tiêu dùng Tuy nhiên,
Trang 19xét ở góc độ quan hệ sở hữu, nó mang tính chất là một khoản thu về từ việc chuyển nhượng TNTN giữa một bên là Nhà nước, một bên là các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên Bản chất của vấn đề này tương tự như việc các tổ chức, cá nhân trả tiền để mua tài nguyên từ các quốc gia khác về để sản xuất, kinh doanh
Để thực hiện được mức thu thuế tài nguyên theo mục tiêu đề ra người
ta phải sử dụng công cụ để thực hiện đó chính là chính sách thuế tài nguyên
Chính sách thuế tài nguyên là hệ thống các biện pháp, cách thức của Nhà nước tác động vào việc sử dụng tài nguyên nhằm mục đích khai thác sử dụng mọi nguồn tài nguyên của đất nước một cách có hiệu quả và tiết kiệm, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước
Chính sách thuế tài nguyên là một trong những công cụ về tài chính, thể hiện vai trò sở hữu Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân
Nhà nước cũng đã ban hành các Luật, Nghị định và Thông tư hướng dẫn liên quan đến thuế tài nguyên cụ thể như: Luật số 71/2014/QH13 ban hành ngày 26/11/2014; Nghị định 50/2010/NĐ-CP ban hành ngày 14/5/2010
12/2015/NĐ-CP ban hành ngày 12/02/2015 sửa đổi bổ sung một số điều NĐ 50/2010/NĐ-CP, Thông tư 152/2015/TT-BTC ban hành ngày 02/10/2015 hướng dẫn về Thuế tài nguyên, Thông tư 174/2016/TT-BTC và Thông tư 12/2016/TT-BTC sửa đổi bổ sung một số khoản; Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-BTC hợp nhất hai Nghị định 12 và 50; các công văn,… Các văn bản chính sách quy định về thuế tài nguyên đã phần nào giúp cho việc quản lý thuế tài nguyên được hiệu quả hơn đặc biệt là quản lý thu thuế tài nguyên
* Khái niệm về quản lý thu thuế tài nguyên
Quản lý thu thuế là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và
Trang 20có nhiều cách quan niệm khác nhau Mỗi quan niệm đều nhìn nhận quản lý thuế ở một góc độ, phạm vi khác nhau và với mục đích, ý nghĩa thực tiễn khác nhau Dù vậy theo chúng tôi, các quan niệm về quản lý thu thuế đều có các điểm chung là:
+ Đều đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế,
+ Đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý lên người bị quản lý bằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định Chủ thể quản lý là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp) Người bị quản
lý là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ về thuế Mục đích quản lý là để người nộp thuế và các người có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định
về thuế của mình Phương tiện quản lý là sử dụng các quy định về đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất cần thiết để quản lý
Quản lý nhà nước về thuế là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế, còn quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy Nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp
về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật định nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua Theo nghĩa rộng, quản lý thu thuế là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác của chính người nộp thuế và sự hỗ trợ của cơ quan thuế và các cơ quan Nhà nước có liên quan
Như vậy, ta có thể định nghĩa khái quát về quản lý thu thuế như sau:
"Quản lý thu thuế là việc nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ"
Quản lý thu thuế tài nguyên là hoạt động quản lý của Nhà nước nhằm kiểm soát, hướng dẫn, điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên
Trang 21thiên nhiên của đất nước, bảo vệ môi trường sinh thái và động viên một phần thu vào NSNN
* Phân loại thuế tài nguyên
Theo quy định hiện hành của pháp luật thuế tài nguyên thì đối tượng chịu thuế tài nguyên là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, bao gồm vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam và quốc gia liên quan và thềm lục địa, thuộc chủ quyền của nước Việt Nam bao gồm:
- Khoáng sản kim loại: Gồm khoáng sản kim loại đen (sắt, man gan, ti tan ) và khoáng sản kim loại màu (vàng, đất hiếm, bạch kim, thiếc, won fram, đồng, chì, kẽm, nhôm )
- Khoáng sản không kim loại, kể cả khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và đất làm gạch, đất khai thác san lấp, xây dựng công trình, đất khai thác sử dụng cho các mục đích khác; đá, cát, sỏi, than, đá quý, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên
- KS năng lượng như: Dầu mỏ, khí đốt; than đá
- Tài nguyên rừng tự nhiên: gồm các loại thực vật, động vật được phép khai thác là sản phẩm của rừng tự nhiên, như: gỗ (kể cả cành, ngọn, củi, gốc, rễ tre, nứa, giang, vầu; các loại dược liệu và các loại thực vật, động vật được phép khai khác
- Thuỷ sản tự nhiên: Các loại động vật, thực vật tự nhiên ở biển, sông, ngòi, hồ, ao, đầm thiên nhiên
- Nước thiên nhiên gồm: Nước mặt (biển, hồ, sông, suối, kênh, rạch, ao, đập ); nước ngầm dưới đất, trừ nước nóng, nước khoáng thiên nhiên theo
QĐ của Luật Khoáng sản (2010)
- Và các loại tài nguyên thiên nhiên khác chưa nêu ở các nhóm trên Các loại tài nguyên nhân tạo không thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên
* Vai trò của thuế tài nguyên
Trang 22Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về tài nguyên ngày càng tăng, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt các nguồn tài nguyên chắc chắn sẽ xảy ra nhất là các loại tài nguyên không có khả năng tái tạo Cho nên, yêu cầu đặt ra là phải khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có, nuôi dưỡng, bảo vệ các nguồn tài nguyên tái sinh Nhà nước thông qua nhiều công cụ khác nhau để bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài nguyên, trong đó có công cụ tài chính đó là chính sách thuế tài nguyên Chính vì thế thuế tài nguyên có vai trò:
- Thuế tài nguyên đảm bảo nguồn thu cho NSNN để chi phí cho việc cải tạo môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng nơi khai thác tài nguyên và các khoản chi khác
Số thu hàng năm từ thuế tài nguyên của cả nước chiếm trên dưới 10% trong tổng thu NSNN hàng năm Thuế tài nguyên (trừ dầu thô) là khoản thu điều tiết 100% cho ngân sách địa phương Đây là nguồn thu quan trọng đối với ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tạo môi trường nơi khai thác và đảm bảo an ninh xã hội địa phương
- Thuế tài nguyên là một công cụ để phân phối lại, đảm bảo công bằng
xã hội Một trong những khuyết tật của kinh tế thị trường là sự phân phối không công bằng và đi cùng với nó là sự phân hoá giàu nghèo Rất nhiều các
tổ chức, cá nhân giàu lên nhanh chóng từ việc khai thác tài nguyên Thuế tài nguyên là chi phí đầu vào ảnh hưởng tới lợi nhuận của nhà đầu tư, chính vì thế có tác dụng tham gia điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư Đồng thời NSNN quản lý sử dụng nguồn thu từ thuế tài nguyên để đầu tư cơ sở hạ tẩng, cải tạo môi trường phục vụ an sinh xã hội
- Thuế tài nguyên đảm bảo khoản chi phí đầu vào của quá trình sản xuất cho nên nó có vai trò điều tiết sản xuất, tiêu dùng Nếu việc thu thuế tài nguyên quá cao sẽ khiến các nhà sản xuất kinh doanh tìm các nguyên vật liệu khác rẻ hơn để thay thế hoặc có thể chuyển hướng kinh doanh Ngược lại thu
Trang 23thuế tài nguyên quá thấp các tổ chức cá nhân khai thác sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư tập chung vào ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên
- Thuế tài nguyên khuyến khích các tổ chức, cá nhân đổi mới công nghệ khai thác, chế biến tại chỗ Khi tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, việc khai thác tác động xấu đến môi trường, buộc Nhà nước phải có các công cụ quản lý để hạn chế khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài nguyên Thuế tài nguyên là một trong những công cụ Nhà nước sử dụng để bắt buộc các nhà đầu tư khai thác tài nguyên phải đổi mới công nghệ khai thác, chế biến tài nguyên, hạn chế xuất khẩu thô
- Thuế tài nguyên tác động tới khuynh hướng tiêu dùng Tài nguyên thiên nhiên không chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các nước trên thế giới ngày càng cạn kiệt do vậy Nhà nước phải quản lý ngày càng chặt chẽ hơn Thuế tài nguyên cũng được hoàn thiện phù hợp với mỗi thời kỳ khác nhau Vì thế, nếu một loại tài nguyên nào đó có thuế suất cao tức là mức thu cao, giá thành sản phẩm từ loại tài nguyên đó sẽ cao, người tiêu dùng sẽ tìm đến sản phẩm khác thay thế Ví dụ như một số sản phẩm kim loại đang dần được thay thế bằng các sản phẩm nhựa có giá thành rẻ hơn
* Chức năng của thuế tài nguyên
- Thuế tài nguyên là một trong những nguồn thu chung của NSNN để dùng cho các hoạt động điều tiết xã hội khác nhau;
- Cũng giống như các loại thuế khác, thuế tài nguyên cũng có chức năng phân phối các nguồn lực; tái phân phối thu nhập; và ổn định nền kinh tế;
- Thuế tài nguyên là công cụ góp phần ổn định giá, chống lạm phát qua
đó tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động, đồng thời nâng cao đời sống nhân dân
* Đối tượng chịu thuế tài nguyên
Theo quy định hiện hành của pháp luật thuế tài nguyên thì đối tượng
Trang 24chịu thuế tài nguyên là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, bao gồm vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam và quốc gia liên quan thuộc chủ quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Các loại tài nguyên nhân tạo không thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên
Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế đơn vị tài nguyên và thuế suất thuế tài nguyên
Việc xác định số thuế tài nguyên phải nộp được tính như sau:
X
Giá tính thuế đơn nguyên
X Thuế suất -
Số thuế tài nguyên được miễn, giảm (nếu có)
Sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác
có thể bán ra được trên thị trường Tùy theo tính chất lý, hoá của loại tài nguyên để xác định theo số lượng, trọng lượng hay khối lượng tài nguyên khai thác trong kỳ làm căn cứ tính thuế Sản lượng tài nguyên làm căn cứ tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ, không phụ thuộc vào hiện
Trang 25trạng và mục đích khai thác tài nguyên (để bán ngay, đem trao đổi, tiêu dùng nội bộ, dự trữ đưa vào sản xuất tiếp theo ) Với quy định này đảm bảo người khai thác tài nguyên phải kê khai, nộp thuế tài nguyên đầy đủ, kịp thời
* Sản lượng tài nguyên tính thuế
Sản lượng tài nguyên là sản lượng tài nguyên khai thác có thể bán ra trên thị trường (sản lượng tài nguyên thương phẩm) Tùy theo tính chất lý, hoá của loại tài nguyên để xác định theo số lượng, trọng lượng hay khối lượng tài nguyên khai thác trong kỳ Sản lượng tài nguyên làm căn cứ tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ, không phụ thuộc vào hiện trạng và mục đích khai thác tài nguyên (để bán ngay, đem trao đổi, tiêu dùng nội bộ,
dự trữ đưa vào sản xuất tiếp theo ) cụ thể:
+ TN khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng TN tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của TN thực tế khai thác
+ TN khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại
+ TN khai thác không bán mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác thì sản lượng TN tính thuế được căn cứ vào số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm
+ Nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất thuỷ điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không xác định theo hệ thống đo đếm, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận
Trang 26+ Nước thiên nhiên: nước khoáng TN, nước nóng, nước dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng TN tính thuế được xác định bằng m3 hoặc lít
+ TN được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm có giá trị dưới 200 triệu đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ hoặc định kỳ để tính thuế
+ Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định
- Giá tính thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau:
+ Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện là giá bán điện thương phẩm bình quân;
+ Đối với gỗ là giá bán tại bãi giao; trường hợp chưa xác định được giá bán tại bãi giao thì giá tính thuế được xác định căn cứ vào giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định;
+ Đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu
là giá xuất khẩu;
Trang 27+ Đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là giá bán tại điểm giao nhận Điểm giao nhận là điểm được thoả thuận trong hợp đồng dầu khí mà ở
đó dầu thô, khí thiên nhiên, khí than được chuyển giao quyền sở hữu cho các bên tham gia hợp đồng dầu khí
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể giá tính thuế đối với tài nguyên chưa xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên, trừ dầu thô, khí thiên nhiên, khí than và nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện
* Thuế suất
Thuế suất thuế tài nguyên là căn cứ rất quan trọng, thể hiện quyền quản
lý, điều tiết của Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia, là tỷ lệ huy động của Nhà nước đối với người khai thác tài nguyên, đảm bảo thực hiện mục tiêu quản lý các nguồn tài nguyên, tạo lập nguồn tài chính duy trì, nuôi dưỡng, tái tạo, phát triển các nguồn tài nguyên đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế một cách ổn định, bền vững
Nhà nước căn cứ vào yêu cầu quản lý Nhà nước, căn cứ tính chất, đặc điểm, giá trị sử dụng, mục đích sử dụng của loại tài nguyên, nhu cầu, tập quán sinh sống của dân cư để quy định các mức thuế suất thuế tài nguyên phù hợp, đảm bảo đời sống kinh tế xã hội ổn định và phát triển
Luật thuế tài nguyên 2009 và Nghị quyết 1084/2015/UBTVQH2013, biểu mức thuế suất đối với các loại tài nguyên, trừ dầu thô và khí thiên nhiên,
khí than như sau: (Xem Phụ lục 3 và Phụ lục 4)
Căn cứ vào khung quy định trên, UBTV Quốc hội quy định mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên trong từng thời kỳ bảo đảm các nguyên tắc sau:
+ Phù hợp với danh mục nhóm, loại tài nguyên và trong phạm vi khung thuế suất do Quốc hội quy định;
+ Góp phần quản lý nhà nước đối với TN; bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên;
Trang 28+ Góp phần bảo đảm nguồn thu NSNN và bình ổn thị trường
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của quản lý thu thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên: là loại thuế đánh vào tài nguyên thiên nhiên khai thác được Thuế tài nguyên là công cụ để quản lý, kiểm soát, hướng dẫn, điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ môi trường sinh thái và động viên một phần thu nhập cho NSNN
+ Quản lý thuế thực hiện một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài chính: Đó là điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đây là một trong những nội dung quan trọng nhất nhằm đảm bảo phát huy tối
đa chức năng, vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội Ngoài ra, nó còn
có mục tiêu quan trọng khác đó là huy động số thu cho ngân sách nhà nước
Nó thể hiện quyền lực tối cao và sự độc quyền của nhà nước trong việc quản
lý và điều hành đất nước
+ Giúp nhà nước kiểm soát việc nộp thuế của người nộp thuế Với vai trò kiểm tra, giám sát, vai trò của nhà nước về quản lý thuế định hướng, sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện các luật thuế dù vô tình hay cố ý sai phạm, đều phải duy trì bình đẳng xã hội trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế
+ Giúp nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế Một mặt, đảm bảo bộ máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót Mặt khác, xuất phát từ lợi ích cá nhân của những con người trong bộ máy quản lý thu thuế của nhà nước hám lợi sẵn sàng bắt tay với người nộp thuế nhằm giúp họ trốn thuế và thu những mối lợi bất chính làm thất thu cho ngân sách, hoặc cố tình gây khó dễ, sách nhiễu để vòi vĩnh
+ Hướng dẫn người nộp thuế, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục sẽ nâng cao ý thức người dân trong việc chấp hành các luật thuế, đảm bảo việc thực hiện các luật thuế được nghiêm chỉnh
Mặt khác, việc xử lý các sai phạm đảm bảo nghiêm minh, đúng người, đúng việc nhằm răn đe những đối tượng vi phạm, đồng thời làm gương cho các đối tượng khác
Trang 291.1.3 Nội dung của quản lý thu thuế tài nguyên
a) Công tác hoạch định, lập dự toán thu thuế tài nguyên
Công tác lập dự toán thu NSNN, trong đó có thu thuế tài nguyên được thực hiện định kỳ hàng năm, Cục Thuế căn cứ vào ước thực hiện năm trước, dự báo tình hình phát triển kinh tế xã hội, tình hình đầu tư, SXKD, cơ chế chính sách, tiến độ thu thuế tài nguyên trong kỳ làm kế hoạch; tác động ảnh hưởng đến nguồn thu, tác động đến số thu ngân sách trên địa bàn Từ đó phân tích:
- Dự báo số lượng người nộp thuế tài nguyên và khả năng số thuế nộp ngân sách tăng hay giảm ngay trong năm làm kế hoạch để tiên lượng tăng, giảm khoản thu
- Đánh giá nhận định, dự báo khả năng thu và đánh giá tăng, giảm, phân chia cụ thể theo từng loại tài nguyên, theo tiến độ thu hàng tháng trong năm
- Dự kiến số thu thuế tài nguyên ngay trong năm lập kế hoạch từ đó xây dựng kế hoạch thu cho năm sau đảm bảo con số giao kiểm tra
Việc lập dự toán phải luôn phải bám sát các quy định tại các Thông tư hướng dẫn, sửa đổi bổ sung để loại trừ một số khoản dự kiến sẽ không thu trong tương lai do có các chính sách Quốc Hội, Chính Phủ đưa ra để thúc đẩy nền kinh tế, kích thích tiêu dùng
b) Công tác tổ chức thực hiện quản lý thu thuế tài nguyên
Để tổ chức tốt công tác thu thuế, trước hết phải thực hiện tốt việc tổ chức bộ máy thu thuế Cơ quan thuế các cấp thực hiện sắp xếp, bố trí công chức thuế vào các vị trí phù hợp khả năng, sở trường của cán bộ thuế và để thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế tài nguyên, cần phải xây dựng một đội ngũ công chức thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thu thuế tài nguyên
Khai thuế tài nguyên (trừ dầu thô) là loại khai theo tháng và quyết toán năm hoặc khai quyết toán đến thời điểm có quyết định về việc doanh nghiệp thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động
Trang 30Người nộp thuế chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc lập tờ khai thuế tài nguyên Trường hợp cơ quan thuế qua công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện các số liệu trên tờ khai là không trung thực, không chính xác, cơ sở kinh doanh sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
Người nộp thuế tự tính số thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế
do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ, người nộp thuế có trách nhiệm nộp số tiền thuế đã kê khai vào NSNN, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
Ở từng cấp, bộ máy cơ quan thuế có thể được tổ chức theo các mô hình sau: Mô hình tổ chức theo sắc thuế, mô hình tổ chức theo chức năng, mô hình
tổ chức theo đối tượng nộp thuế
Quản lý thuế tài nguyên là quản lý theo chức năng Do vậy bộ máy quản lý thuế tài nguyên tại các tỉnh thành trên toàn quốc chính là đội ngũ cán
bộ thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thu thuế tài nguyên Đội ngũ này được tổ chức một cách thống nhất, đồng bộ và có khoa học gồm các phòng:
Phòng Tuyên truyền, hỗ trợ NNT: Phổ biến, hướng dẫn, tuyên truyền Pháp luật thuế tài nguyên bằng công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng của cơ quan thuế, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ NNT thực hiện quyền và nghĩa vụ thuế của mình
Phòng Thanh tra, kiểm tra thuế: có trách nhiệm thực hiện dự toán đã được giao, tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện thống nhất chính sách thuế tài nguyên; thanh tra, kiểm tra giám sát việc thực hiện quản lý thuế tài nguyên tại các chi cục thuế; tổ chức thực hiện dự toán thu thuế tài nguyên theo kế hoạch cục thuế giao đối với các tổ chức
Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: tổ chức thực hiện công tác quản lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt về thuế tài nguyên
Trang 31 Phòng Kê khai kế toán thuế: tổ chức thực hiện công tác đăng ký thuế,
xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế, cấp MST cho các đơn vị khai thác tài nguyên
Phòng Tổ chức cán bộ: tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền lương, đào tạo cán bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng cho các cán bộ quản lý thuế tài nguyên trong nội bộ Cục Thuế
c) Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thu thuế tài nguyên
Việc chỉ đạo, điều hành trong quản lý thuế tài nguyên được thể hiện ở việc thành lập các ban chỉ đạo, tổ giúp việc từ Trung ương đến địa phương
Để triển khai tốt luật thuế tài nguyên nhất thiết phải có các chỉ thị, quyết định, nghị quyết, chương trình hành động cụ thể…để làm cơ sở cho cấp trên rà soát, đánh giá tình hình thu
Hàng năm, thực hiện nhiệm vụ quản lý thu thuế tài nguyên của Chính Phủ, Bộ Tài Chính, Tổng cục Thuế giao, Cục Thuế các tỉnh thành phố đã quán triệt và chỉ đạo các Phòng chức năng thuộc Văn phòng Cục Thuế, Chi cục Thuế huyện, thành, thị một số nội dung cơ bản sau:
- Về công tác Kê khai kế và toán thuế tài nguyên:
+ Thực hiện công tác quản lý, cấp mã số thuế, kê khai thuế, theo dõi biến động đối tượng nộp thuế bằng công nghệ thông tin, thường xuyên kiểm tra, rà soát phát hiện các trường hợp thực tế có kinh doanh nhưng không đăng
ký kinh doanh, không đăng ký thuế để đưa vào diện quản lý kê khai thuế
+ Quản lý, giám sát chặt chẽ công tác kê khai thuế tài nguyên:số lượng
tờ khai phải nộp, đã nộp, nộp đúng hạn để có thể đánh giá được ý thức chấp hành kê khai thuế của người nộp thuế
- Về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tài nguyên:
+ Triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp quản lý nợ thuế ngay từ đầu năm.Thực hiện rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách
Trang 32về quản lý nợ thuế, cưỡng chế nợ thuế và xử lý nợ thuế đảm bảo hành lang pháp lý, tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần làm tốt công tác xử lý thu hồi nợ thuế, giảm nợ đọng thuế Tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn về quản
lý nợ thuế, cưỡng chế thu tiền nợ thuế, xóa nợ thuế, miễn tiền chậm nộp thuế
+ Rà soát những vướng mắc trong quá trình quản lý thu nợ thuế để hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung Quy trình quản lý nợ thuế, Quy trình cưỡng chế
nợ thuế theo hướng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các khâu của công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, điện tử hoá hệ thống quy trình nghiệp vụ quản lý nợ thuế và cưỡng chế
nợ từ khâu ban hành thông báo nợ và quyết định cưỡng chế nợ, phân công, phân loại nợ đầy đủ, chính xác, khắc phục tồn tại, bất cập để nâng cao hiệu quả việc quản lý nợ thuế
+ Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan và chính quyền địa phương, các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, phổ biến, giải thích các quy định pháp luật để nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế Công khai thông tin người nợ thuế chây ỳ nợ thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng quy định của pháp luật
Để hoàn thành nhiệm vụ được giao của ngành Tài chính, đặc biệt trong công tác quản lý thu thuế tài nguyên Thủ trưởng cơ quan Thuế các cấp có trách nhiệm tổ chức quán triệt nghiêm túc đến từng cán bộ, công chức thuế thuộc phạm vi quản lý; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác quản lý thu thuế, nâng cao nhận thức chính trị, chuyển biển về tư tưởng, đổi mới phương pháp, thái độ làm việc; xây dựng chương trình, biện pháp cụ thể để triển khai thực hiện nghiêm túc, triệt để các nội dung trong công tác quản lý thuế tài nguyên
d) Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý thu thuế tài nguyên;
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý
Trang 33thuế theo mô hình chức năng Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai
tự nộp thuế của người nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế Thanh tra, kiểm tra là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ
Việc thanh tra kiểm tra thuế phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: + Bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời Các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý thanh tra phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực; nghiêm cấm việc cố ý kết luận sai sự thật, quyết định, xử lý trái
Pháp luật, bao che cho người có hành vi vi phạm Pháp luật
+ Thanh tra thuế nhất thiết phải dựa trên tư tưởng pháp trị, có nghĩa là mọi cuộc thanh tra thuế đều phải dựa trên cơ sở các văn bản pháp quy của Nhà nước, lấy đó làm chuẩn mực cho việc đánh giá, suy xét các sự kiện, các
vụ việc được thanh tra
+ Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế
+ Không cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế
+ Tuân thủ quy định của Luật quản lý thuế và các quy định của pháp luật có liên quan
- Kiểm tra thuế được thực hiện dưới hai hình thức: kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế và kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế
- Các trường hợp tiến hành thanh tra:
+ Doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng
Trang 34+ Doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế có căn cứ xác định người nộp thuế khai thiếu nghĩa vụ thuế, trốn thuế, gian lận thuế nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
+ Doanh nghiệp liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính
Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế đối với đối tượng nộp thuế chủ yếu tập trung vào các vấn đề cơ bản như:
+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành những quy định về Đăng ký thuế,
kê khai nộp thuế Để xác định tính đúng đắn, độ chính xác của các tờ khai đối với tình hình thực tế kinh doanh, phát hiện sai sót và những điều bất hợp lý trong việc kê khai của NNT
+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ Thanh tra thuế có nhiệm vụ đối chiếu những quy định của Nhà nước với tình hình áp dụng chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ thực tế của các doanh nghiệp để tìm ra những sai sót nhằm khắc phục tình trạng gian lận trong việc
kê khai, tính thuế của doanh nghiệp
+ Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho NSNN Để kiểm tra việc tính và chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức, cá nhân nhằm đảm bảo nộp đầy đủ, đúng hạn tiền thuế vào NSNN
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế tài nguyên
a Nhóm yếu tố khách quan
* Chính sách pháp luật về thuế
Chính sách thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, huy động nguồn lực tài chính cho ngân sách để đảm bảo các nhiệm vụ chi thực hiện các chức năng của nhà nước và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập trong xã hội theo mục tiêu của nhà nước Mỗi sắc thuế đều chứa đựng và phản ánh bản chất chính trị, bản chất kinh tế và bản chất xã hội của cả hệ thống thuế Một quốc gia có chính sách thuế thích hợp sẽ nâng cao được hiệu quả sản xuất
Trang 35kinh doanh, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Ngược lại, chính sách thuế không thích hợp sẽ cản trở, triệt tiêu động lực sản xuất - kinh doanh, dẫn đến không đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Thuế tài nguyên
là công cụ tài chính quan trọng, qua đó nhà nước thực hiện vai trò và chức năng quản lý đối với hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân và bổ sung nguồn thu cho ngân sách, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Luật Thuế tài nguyên số 45/2009 QH12 được Quốc hội ban hành ngày 25/11/2009, có hiệu lực ngày 01/07/2010 Luật được phát triển trên cơ sở hoàn thiện Pháp lệnh Thuế tài nguyên trước đây, đồng thời kế thừa
và tham chiếu các luật và quy định khác có liên quan như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí… Việc thực hiện Luật Thuế tài nguyên cho đến nay nhìn chung
đã góp phần bổ sung nguồn thu ngân sách, khuyến khích địa phương tăng cường công tác quản lý và thu thuế tài nguyên, hạn chế hoạt động khai thác tràn lan và khai thác không phép, đảm bảo lợi ích và thuận lợi cho người nộp thuế
Chính sách thuế tài nguyên là yếu tố đầu tiên và cũng là quan trọng nhất ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế tài nguyên vì đây là yếu tố quyết định đến việc tổ chức hoạt động thu nộp thuế tài nguyên
Muốn thực hiện tốt công tác quản lý thuế tài nguyên thì trước hết chính sách thuế tài nguyên phải được xây dựng thống nhất với các văn bản pháp luật hiện hành, chặt chẽ, rõ ràng, chi tiết và dễ hiểu nhằm giúp các đối tượng có liên quan trong công tác quản lý thuế tài nguyên hiểu đúng, đầy đủ và thực hiện tốt công tác quản lý
* Nhận thức của người nộp thuế
- Ý thức chấp hành luật thuế của người nộp thuế: Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu phấn đấu của các nhà kinh doanh là lợi nhuận tối đa Do vậy,
họ luôn tìm cách để tăng lợi nhuận và giảm thiểu chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Với việc cho rằng nộp thuế cho Nhà nước đã làm
Trang 36giảm đi quyền lợi vật chất mà lẽ ra họ được hưởng Cho nên vì lợi ích trước mắt và riêng của mình họ luôn có tư tưởng và hành động không tuân thủ pháp luật về thuế, tìm mọi cách để không phải nộp thuế hoặc nộp thuế với mức thấp nhất so với nghĩa vụ phải nộp theo quy định trong các luật thuế
- Nhiều cơ sở khai thác kinh doanh khoáng sản không kê khai hoặc kê khai thiếu về số lượng các loại tài nguyên khoáng sản, việc áp giá tính thuế còn chưa đầy đủ
b Nhóm yếu tố chủ quan
* Trách nhiệm của cán bộ thuế
Con người là tài sản quan trọng nhất của mọi tổ chức, cũng là yếu tố quyết định mọi sự thành công hay thất bại cuả tổ chức Trong bộ máy quản lý thu thuế, đội ngũ cán bộ công chức thuế là bộ phận quan trọng góp phần quan trọng vào việc áp dụng các quy trình, biện pháp để quản lý thuế hợp lý, khoa học đảm bảo tính minh bạch, công khai, thực hiện mục tiêu thu đúng thu đủ của cơ quan thuế Với vai trò là người thực thi luật quản lý thuế tài nguyên và các văn bản hướng dẫn thi hành, cán bộ thuế đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự thành công cũng như hiệu quả của công tác quản lý thuế tài nguyên Việc khai thác tài nguyên luôn khó kiểm soát đặc biệt là khai thác nhỏ lẻ, các đơn vị khai thác luôn tìm cách trốn nghĩa vụ thuế, vì vậy, cán bộ quản lý thuế tài nguyên đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tinh thần trách nhiệm để xử lý kịp thời, tránh thất thu cho NSNN
* Bộ máy cơ quan quản lý thuế
Xây dựng cơ cấu tổ chức có tác dụng phân bố nguồn lực hợp lý cho từng công việc cụ thể, từ đó có thể tiết kiệm nguồn lực, hạ thấp chi phí hoạt động cho tổ chức Mặt khác, cơ cấu tổ chức có chức năng xác định rõ trách nhiệm và cách thức thể hiện vai trò của mỗi thành viên theo quy chế của bản
mô tả công việc, sơ đồ tổ chức và hệ thống phân cấp quyền hạn trong tổ chức Khi một cơ cấu tổ chức đã hoàn chỉnh, sẽ làm cho nhân viên hiểu rõ những kỳ
Trang 37vọng của tổ chức đối với họ thông qua các quy tắc, quy trình làm việc Ngoài
ra, cơ cấu tổ chức còn góp phần xác định quy chế thu thập, xử lý thông tin để
ra quyết định và giải quyết các vấn đề của tổ chức
Bộ máy quản lý thu thuế có vai trò quyết định đến sự vận hành của hệ thống thuế Bộ máy quản lý thu thuế được tổ chức hợp lý sẽ thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý thu thuế, đảm bảo cho hệ thống pháp luật về thuế được thực thi đầy đủ, nghiêm túc, đảm bảo mục tiêu thu NSNN, nâng cao hiệu quả quản lý thuế, đảm bảo sự thuận lợi cho NNT, giảm chi phí tuân thủ thuế cho NNT, bên cạnh đó giảm chi phí hoạt động cho cơ quan thuế
1.2 Kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên của một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thái Nguyên
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên của một số địa phương
a Kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên ở Hải Dương
Thu thuế trong lĩnh vực thuê đất, tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương luôn là lĩnh vực gặp nhiều khó khăn, phức tạp Vì đối tượng phải nộp thuế lĩnh vực này luôn tìm cách trốn tránh, đối phó các cơ quan chức năng Hải Dương có các nguồn tài nguyên, khoáng sản như đất đai, đá vôi, đất sét, cát Tuy nhiên, việc đưa vào quản lý và khai thác nguồn tài nguyên, khoáng sản này còn nhiều hạn chế Theo phản ánh của nhân dân, tình trạng khai thác trái phép cát, đất sét trắng, than trên địa bàn tỉnh diễn ra trong nhiều năm, nhưng việc kiểm soát, ngăn chặn còn chưa kịp thời Hiện nhu cầu cát tại Hải Dương đáp ứng việc thi công đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, san lấp mặt bằng các dự án khác rất cao Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương, tình trạng khai thác cát trái phép tập trung tại các xã Liên Hòa, Bình Dân, Việt Hưng (Kim Thành), Hồng Phong, Văn Giang (Ninh Giang), Đại Đồng (Tứ Kỳ), An Lạc, Đồng Lạc (Chí Linh), Trùng Khánh (Gia Lộc), phường Ngọc Châu (TP Hải Dương) Khối lượng cát khai thác trái phép được tập kết tại 146 bến bãi;
Trang 38trong đó, chỉ có 58 bến bãi có giấy phép Mỗi năm các điểm khai thác cát trái phép cung ứng cho thị trường gần 200.000 m3 cát
Lợi dụng vào nguồn tài nguyên khai thác trái phép này, nhiều "doanh nghiệp ma" được thành lập Các doanh nghiệp này sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) để hợp pháp hóa "đầu vào" cho các doanh nghiệp từ địa phương khác Các "doanh nghiệp ma" này được thành lập thông qua một đường dây
từ TP Hải Phòng, với thủ đoạn lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của một số người dân thiếu hiểu biết như thuê nông dân ở một số huyện Kim Thành, Chí Linh làm "giám đốc" để đến cơ quan chức năng của tỉnh làm thủ tục đăng ký kinh doanh, mã số thuế, con dấu Trước thực trạng này, ngày 15-9-2008, UBND tỉnh Hải Dương phê duyệt đề án "Tăng cường quản lý, chống thất thu thuế trong lĩnh vực thuê đất, thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản" Theo đó, từ tỉnh đến các huyện, ban chỉ đạo đề án được thành lập với sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành liên quan Các
cơ quan chức năng của tỉnh như Cục Thuế, Công an, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư tích cực tuyên truyền pháp luật hiện hành về thuế; mở các lớp tập huấn nghiệp vụ về thu tiền thuê đất, thu thuế tài nguyên
và phí bảo vệ môi trường; rà soát, đưa vào quản lý các đối tượng thuê đất và thực hiện các chính sách miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật Tỉnh Hải Dương chỉ đạo các ngành, các cấp phối hợp chặt chẽ để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; đẩy mạnh cải cách hành chính trong cấp đăng ký kinh doanh, mã số thuế, con dấu; chấn chỉnh tình trạng khai thác trái phép tài nguyên; kiên quyết xử lý các đối tượng cố tình vi phạm Các tổ chức, cá nhân có thể nộp thuế thuê đất, thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường tại các điểm thu của Cục Thuế hoặc Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Kho bạc Nhà nước tỉnh
Sau hơn một năm triển khai, đề án "Tăng cường quản lý, chống thất thu thuế trong lĩnh vực thuê đất, thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường
Trang 39trong khai thác khoáng sản" tại Hải Dương bước đầu đạt nhiều kết quả khả quan, góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương 62,8 tỷ đồng Đến nay, tỉnh đã đưa vào quản lý 1.121 đối tượng thuê gần 3.000 ha đất, tăng 264 đối tượng và hơn 1.067 ha đất so năm 2007 Năm 2009, tỉnh xác định được số tiền thuê đất phải thu hơn 90,6 tỷ đồng Trong quá trình triển khai đề án, các
cơ quan chức năng đã phát hiện một số dự án chuyển nhượng đất không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ nghĩa vụ tài chính; ẩn dưới hình thức chuyển nhượng vốn để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế Các cơ quan chức năng đã truy thu hơn 27,85 tỷ đồng từ 59 dự án chuyển nhượng đất Tỉnh đưa vào quản lý
143 đối tượng khai thác tài nguyên; thu nộp ngân sách hơn 21,6 tỷ đồng thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường Đến nay, Cục Thuế, Công an, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh đã kịp thời ngăn chặn, phát hiện 43 "doanh nghiệp ma" được thành lập để buôn bán trái phép hóa đơn GTGT; truy thu và xử phạt gần
10 tỷ đồng Cục Thuế đã chủ động phối hợp Công an tỉnh và UBND các huyện kiên trì vận động, thuyết phục các "giám đốc" là nông dân được thuê ra khai báo Qua đấu tranh, các cơ quan chức năng đã lập biên bản và thông báo toàn quốc các số hóa đơn bất hợp pháp với số tiền ghi trên hóa đơn gần 70 tỷ đồng Phần lớn các "giám đốc" là nông dân đều khai báo thành khẩn để tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng điều tra Tuy nhiên, một số doanh nghiệp khi bị phát hiện khai tăng "đầu vào" để chiếm đoạt số tiền lớn từ hoàn thuế GTGT đã phản ứng quyết liệt Cục Thuế tỉnh kiên trì tuyên truyền, vận động, và truy thu được nguồn thuế đáng kể Đối với một số doanh nghiệp cố tình chống đối, Cục Thuế tỉnh chuyển hồ sơ sang cơ quan công an xử lý Rõ ràng, thông qua việc thực hiện đề án này, sức răn đe đối với các doanh nghiệp
có ý định làm ăn bất hợp pháp rất lớn
Thông qua triển khai đề án, tỉnh Hải Dương đã lập lại kỷ cương trong quản lý hoạt động cho thuê đất, khai thác tài nguyên và khoáng sản Đề án đã nâng cao vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc tổ chức chỉ
Trang 40đạo, điều hành triển khai có hiệu quả chính sách, pháp luật của Nhà nước về thuế; tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp đã thuê đất nhưng không có khả năng để triển khai dự án được phép chuyển nhượng Các dự án được tỉnh cho phép chuyển nhượng chỉ khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương Thời gian tới, các cấp, các ngành của tỉnh cần có sự phối hợp chặt chẽ; tăng cường kiểm tra, kiểm soát các hoạt động thuê đất và khai thác tài nguyên, khoáng sản; kiên quyết xử lý, thu hồi đất đối với các dự án "treo" và các hoạt động khai thác trái phép tài nguyên, khoáng sản
b Kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên ở Hòa Bình
Theo số liệu thống kê của ngành chức năng, các doanh nghiệp khai thác tài nguyên trên địa bàn tỉnh được cấp phép thăm dò bao gồm các lĩnh vực khai thác vật liệu xây dựng và xi măng, quặng sắt, vàng, đa kim, than đá, quặng antimon, đồng, kaolin, nước khoáng
Hoạt động của các dự án khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã và đang trở thành một ngành công nghiệp mang lại hiệu quả cho phát triển kinh
tế, tạo thêm việc làm cho người lao động, tăng nguồn thu cho ngân sách Thực tiễn công tác quản lý thuế về khai thác khoáng sản còn khó khăn do phần lớn các doanh nghiệp khai thác khoáng sản có điểm mỏ khai thác tại vùng sâu vùng xa, kết quả khai thác, kinh doanh khó kiểm tra giám sát; một bộ phận nhỏ doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm việc kê khai đầy đủ số thuế thực tế phát sinh, không tính đúng, tính đủ cũng như nộp đúng, nộp đủ số thuế đã kê khai; còn một số doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở của luật pháp để trốn thuế, tránh thuế với những hành vi gian lận thuế ngày càng đa dạng, tinh vi Trong
đó doanh nghiệp được cấp phép khai thác khoáng sản chịu sự điều chỉnh của nhiều sắc thuế liên quan như thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, thuế môn bài, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản nên việc quản lý và thu thuế đòi hỏi phải có nhiều biện pháp