1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế Tài nguyên

108 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

31 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài cụ thể như: Đề tài “Tăng cường quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản tại Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang Hà Phúc H

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Đặng Thị Thu Huyền

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Quản lý kinh tế tại Trường Đại học Thủy Lợi, được sự đồng ý của Trường Đại học Thủy Lợi và sự nhất trí của giảng viên hướng dẫn TS Tô Minh Hương, tôi đã tiến hành thực hiện luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế

với đề tài: “Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các quý thầy cô, các anh chị trong tập thể lớp Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Thủy Lợi, và các thầy cô giáo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn;

TS Tô Minh Hương, Cô đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm thực tế quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này;

Xin gửi lời cảm ơn tới những ý kiến đóng góp và sự động viên của gia đình, bạn

bè, các anh, chị trong lớp cao học 25QLKT12 trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn thạc sĩ;

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Lãnh đạo Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn, cán

bộ các Phòng chuyên môn đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu để hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Đặng Thị Thu Huyền

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 5

1.1 Cơ sở lý luận về thuế tài nguyên và quản lý thuế tài nguyên khoáng sản 5

1.1.1 Khái niệm về thuế tài nguyên khoáng sản 5

1.1.2 Nội dung quản lý thu thuế tài nguyên 10

1.1.3 Tiêu chí đánh giá 23

1.1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế tài nguyên 25

1.2 Thực tiễn công tác quản lý thuế tài nguyên và kinh nghiệm quản lý thuế tài nguyên khoáng sản của các địa phương khác, bài học kinh nghiệm cho tỉnh Lạng Sơn 28

1.2.1 Kinh nghiệm ở một số địa phương 28

1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Lạng Sơn 31

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài cụ thể như: Đề tài “Tăng cường quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản tại Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang Hà Phúc Huấn (2 1 ) trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và một số bài học nghiệm thực tiễn của các tỉnh trên cả nước về công tác quản lý các khoản thu thuế tài nguyên đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý các khoản thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp đối với Cục thuế tỉnh Tuyên Quang và kiến nghị với các cấp, ngành có liên quan nh m tăng cường công tác quản lý thu thuế tài nguyên từ hoạt động khai thac trên địa bàn tỉnh cho đến năm 2 1 Đề tài có đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuyên Quang 33

Đề tài của Đào Thị Hồng Thái (2 15) “Quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 11 đề tài này dựa trên nghiên cứu thực trạng quản lý tại địa phương, đề

Trang 4

xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 33Nguyễn Thị Hoài An (2 17) với đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk 12 đã đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp tăng cường quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh để nh m nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đảm bảo trong việc kê khai, nộp thuế, chống thất thu thuế và tăng thu cho NSNN 33

Đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản tại Chi cục Thuế huyện Quỳ Hợp của Bạch Hưng Đoàn (2 17) 13 Xuất phát từ thực tiễn công tác quản lý thuế tài nguyên, đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận

về thuế tài nguyên đồng chỉ ra được những thực trạng trong công tác quản lý thuế tài nguyên tại Chi cục Thuế huyện Quỳ Hợp từ đó đưa ra các giải pháp nh m hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên 34Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập ở mức độ nhất định về quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản Tập trung phân tích, đánh giá một cách khái quát nhất

về công tác quản lý các nguồn thu thuế tài nguyên, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp tăng cường quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh để nh m nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đảm bảo trong việc kê khai, nộp thuế, chống thất thu thuế và tăng thu cho NSNN 34Kết luận Chương 1 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN TẠI CỤC THUẾ TỈNH LẠNG SƠN 35

2.1 Khái quát về tình hình tài nguyên và khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa

bản tỉnh Lạng Sơn 35

2.1.1 Tình hình chung về tài nguyên của Lạng Sơn 35 2.1.2 Hiện trạng nguồn tài nguyên khoáng sản của tỉnh Lạng Sơn 36 2.1.3 Tình hình khai thác tài nguyên khoáng sản của tỉnh Lạng Sơn hiện nay 38

2.2 Thực trạng công tác quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản tại Cục Thuế tỉnh

Lạng Sơn 39

2.2.1 Thực trạng bộ máy ngành thuế Lạng Sơn với nhiệm vụ quản lý thu thuế

tài nguyên khoáng sản 39

Trang 5

2.2.2 Đánh giá công tác quản lý thuế tài nguyên khoáng sản tại tỉnh Lạng Sơn

41

2.2.3 Đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ làm công tác quản lý thuế tài nguyên 57

2.2.4 Công tác phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 59

2.3 Đánh giá công tác quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 61

2.3.1 Những kết quả đã đạt được 62

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 64

2.3.3 Nguyên nhân 64

Nguyên nhân chủ quan: 64

Thứ nhất, Do thuế tài nguyên là một sắc thuế có số thu vào NSNN nhỏ so với các sắc thuế khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt Số lượng các đơn vị khai thác tài nguyên không nhiều, so với tổng số đơn vị quản lý trên địa bàn Trong quá trình thực hiện quản lý thuế theo quy trình, thuế tài nguyên thường ít được quan tâm do thuế tài nguyên được quản lý chung cùng với các sắc thuế khác và được thực hiện chung trong các quy trình về thanh tra, kiểm tra thuế, kê khai và kế toán thuế và quản lý nợ thuế 65

Kết luận Chương 2 68

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN TỚI 70

3.1 Phương hướng, mục tiêu trong công tác quản lý thu thuế tài nguyên 70

3.1.1 Phương hướng 70

3.1.2 Mục tiêu 72

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 76

3.2.1 Tăng cường công tác quản lý thuế tài nguyên theo các quy trình quản lý thuế ở các bộ phận chức năng cơ bản 76

Trang 6

3.2.2 Tăng cường công tác đào tạo và phân công cán bộ quản lý thuế tài

nguyên 83

3.2.3 Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế về chính sách thuế tài nguyên, nâng cao ý thức chấp hành chính sách pháp luật cho người nộp thuế 85

3.2.4 Giải pháp khác 86

Kết luận Chương 3 88

KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 89

TÀI LI U THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 93

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy cục thuế tỉnh lạng sơn 41

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Bảng đánh giá số lượng đơn vị khai thác tài nguyên văn phòng Cục Thuế đang quản lý và tỷ lệ cán bộ từ năm 2 1 đến năm 2 1 42 Bảng 2.2 Bảng số thu thuế tài nguyên với số cán bộ tại văn phòng Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn giai đoạn từ 2 1 - 2018 43 Bảng 2.3 Tổng hợp số liệu tập huấn về thuế tài nguyên tại VP Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn trên số cán bộ làm công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT năm 2 1 đến năm 2 1 45 Bảng 2 Số lượt giải đáp vướng mắc về thuế tài nguyên qua điện thoại và tiếp xúc trực tiếp tại VP Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn từ năm 2 1 đến năm 2 1 46 Bảng 2.5 Bảng khảo sát mức độ hài lòng của NNT đối với công tác tuyên truyền

hỗ trợ tại VP Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn 47 Bảng 2 Bảng tỷ lệ tờ khai thuế tài nguyên bình quân trên số cán bộ KK KTT

từ năm 2 1 đến năm 2 1 48 Bảng 2.7 Bảng tổng hợp tỷ lệ hồ sơ khai thuế nộp đúng hạn 49 Bảng 2 Tỷ lệ hồ sơ khai thuế tài nguyên đúng các chỉ tiêu 49 Bảng 2.9 Bảng tổng hợp chứng từ nộp thuế tài nguyên qua công tác kê khai và

kế toán thuế từ năm 2 1 đến năm 2 1 50 Bảng 2.1 Bảng khảo sát mức độ hài lòng của NNT đối với công tác KK KTT tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn 51 Bảng 2.11 Bảng tỷ lệ số nợ tiền thuế tài nguyên trên số thu thuế tài nguyên tại

VP Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn từ năm 2 1 đến năm 2 1 51 Bảng 2.12 Bảng tỷ lệ nợ thuế tài nguyên đã nộp NSNN tại VP Cục Thuế từ năm

2 1 đến năm 2 1 53 Bảng 2.13 Bảng tỷ lệ đánh giá đơn vị khai thác tài nguyên đã được thanh tra, kiểm tra trên số cán bộ thanh tra, kiểm tra tại VP Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn từ năm 2 1 đến năm 2 1 55

Trang 9

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp số thuế truy thu sau thanh tra, kiểm tra thuế tài nguyên của VP Cục Thuế từ năm 2 1 đến năm 2 1 56

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

KK&KTT Kê khai và kế toán thuế

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây, hệ thống quản lý thuế luôn được đảng, nhà nước quan tâm xây dựng và kiện toàn Hệ thống chính sách pháp luật về thuế được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước và thế giới Số thu về thuế, phí - lệ phí trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, số thu năm sau luôn cao hơn năm trước Trong số các nguồn thu chiếm tỷ lệ cao về thu ngân sách

có nguồn thu về thuế tài nguyên của hoạt động khai thác khoáng sản

Khoáng sản là loại tài nguyên không thể tái tạo và có số lượng cố định, việc đánh giá, nhận định đúng tiềm năng, trữ lượng, quản lý bảo vệ khai thác để sử dụng hợp

lý, tiết kiệm và có hiệu quả phục vụ cho phát triển bền vững an ninh, quốc phòng là vấn đề hết sức quan trọng cả trước mắt và lâu dài Người nộp thuế có hoạt động khai thác khoáng sản phải nộp các loại thuế theo quy định của pháp luật về thuế, đó

là thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng, thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp, phí và lệ phí (phí bảo vệ môi trường) Những đóng góp của hoạt động khai thác khoáng sản góp phần quan trọng cho ngân sách nhà nước và sự phát triển bền vững của đất nước

Tuy nhiên, việc quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản những năm qua đã bộc lộ không ít những hạn chế Khoáng sản khai thác chưa có cơ sở chế biến sâu để trở thành sản phẩm có giá trị cao mà chỉ xuất bán dưới dạng thô Thu ngân sách nhà nước từ hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh chưa tương xứng với sản lượng thực tế khai thác, nói cách khác là còn thất thu từ khoản thu này, hay hiệu quả quản lý thu từ khoản thu này còn thấp Công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng trên địa bàn trong việc quản lý khai thác khoáng sản còn hạn chế, chưa đồng bộ dẫn đến hiệu quả quản lý chưa cao, hiện tượng trốn thuế, phí - lệ phí còn phổ biến dẫn đến tình trạng thất thu ngân sách trên địa bàn

Thực tế tình hình quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thời gian qua đã cho thấy những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên công tác, quản lý thu thuế

Trang 12

tài nguyên trên địa bàn tỉnh lạng sơn vẫn còn tồn tại một số bất cập: do hệ thống chính sách thuế tài nguyên còn một số điểm chưa phù hợp với thực tế của địa phương; sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và các ngành chức năng với cơ quan thuế chưa đồng nhất; một số tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác tài nguyên nhưng chưa thực hiện hoặc đã thực hiện

kê khai, nộp thuế tài nguyên với cơ quan thuế nhưng chưa thực sự kịp thời, đầy đủ, chính xác theo quy định gây thất thoát cho NSNN Chính vì vậy, việc nghiên cứu tình hình và đưa ra giải pháp quản lý nhà nước đối với công tác quản lý thu thuế tài

nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là nhu cầu cấp thiết Đề tài “Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” được lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ Đề tài sẽ góp phần giải

quyết những tồn tại, hạn chế, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

M c đích nghiên c u của đề tài

Mục đích của luận văn là nghiên cứu đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính khả thi nh m tăng cường hơn nữa công tác quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên c u

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý thu thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản và những nhân tố ảnh hưởng đến công tác này trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

b Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về không gian và nội dung của đề tài: là công tác quản lý thu

thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn

Phạm vi nghiên cứu về thời gian

Trang 13

- phạm vi thời gian phân tích: giai đoạn: 2 16-2018

- phạm vi giải pháp: giai đoạn 2 19-2022

4 Phương pháp nghiên c u

Trong quá trình thực hiện luận văn, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể là

- phương pháp thu thập thông tin

- phương pháp tổng hợp thông tin

- phương pháp phân tích số liệu

- phương pháp đối chiếu, so sánh

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

A Ý nghĩa khoa học của đề tài

Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý thu thuế tài nguyên Kết quả đề tài

có thể giúp cho việc nghiên cứu chuyên sâu về công tác quản lý thu thuế tài nguyên

B Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu để ngành thuế lạng sơn tham khảo, vận dụng vào quá trình công tác của ngành, góp phần hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công chức của ngành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý thu thuế tài nguyên

ết quả ự kiến đạt được

- hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản

Trang 14

- thông qua phân tích, đánh giá thực trạng tại địa phương, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tiếp

theo

7 Nội ung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm có 3 chương như sau:

Chương 1: cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế tài nguyên và quản lý thu thuế tài

nguyên trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Chương : thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh

Lạng Sơn tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn

Chương 3: giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản

trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN

VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN HOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

1.1 Cơ sở lý luận về thuế tài nguyên và quản lý thuế tài nguyên khoáng sản

1.1.1 Khái niệm về thuế tài nguyên khoáng sản

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế

Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử, nó ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của một nhà nước

Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này

Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản C Mác đã chỉ rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế má ”[1]

Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho r ng:

“Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản” Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh

được nêu lên trong cuốn “Kinh tế học của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy

như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong

sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật” [2]

Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “Tài chính công đã đưa ra một định

nghĩa tương đối cổ điển nhất: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con

Trang 16

đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước” [3]

Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nh m hình thành các quỹ tiền

tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Trên góc độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nh m thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước

Ở nước ta đến nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (199 ), thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức qui định

Mặc dù còn nhiều các định nghĩa khác nhau, song nếu khái quát chung để tìm các hạt nhân hợp lý của từng quan điểm, có thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế sau đây:

Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội

Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan

và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước

Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật qui định theo mức thu và thời hạn nhất định

Từ những nội dung trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau:

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước

Trang 17

theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng

Thuế có năm đặc điểm phân biệt với các công cụ tài chính khác

Thứ nhất, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội

cho Nhà nước mang tính bắt buộc

Thứ hai, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính hoàn trả

trực tiếp

Thứ ba, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định b ng pháp

luật

Thứ tư, các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu sự ảnh hưởng của

các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định

Thứ năm, các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn

trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản.[4]

* Vai trò:

Thứ nhất, Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nhà nước

“Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước

Thứ hai, Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Thứ ba, Thuế góp phần điều hòa thu nhập và thực hiện công b ng xã hội trong phân

phối.[4]

1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế tài nguyên

Tùy theo các quan điểm quản lý, xác lập quyền sở hữu tài nguyên của quốc gia mà

có cách quản lý và điều tiết đối với hoạt động khai thác tài nguyên dưới hình thức

là một khoản thuế, hay là khoản thu trên quyền khai thác tài nguyên

Ở nước ta, việc điều tiết đối với hoạt động khai thác tài nguyên được ban hành dưới hình thức là một sắc thuế, áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt

Trang 18

động khai thác tài nguyên

Do vậy, thuế tài nguyên được định nghĩa như sau: Là khoản thu của ngân sách nhà nước nh m điều tiết một phần giá trị tài nguyên thiên nhiên khai thác đối với tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên hợp pháp trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia, tạo nguồn thu NSNN, đảm bảo quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên (Nguồn: Bài giảng thuế tài nguyên, Trường Nghiệp

Thuế tài nguyên được tính trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên

Để thu thuế tài nguyên, Nhà nước tính thuế dựa trên sản lượng và giá bán sản phẩm tài nguyên mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên

Thuế tài nguyên được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên là thuế gián thu, Nhà nước thu tiền thuế từ người khai thác tài nguyên, nhưng thực chất người tiêu dùng mới là người phải trả tiền thuế đó Người khai thác tài nguyên tính toán số thuế tài nguyên phải nộp trên mỗi đơn vị tài nguyên khai thác, cấu thành trong giá bán sản phẩm tài nguyên cho người tiêu dùng Vì lẽ đó, người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả tiền thuế tài nguyên.[5] Đối tượng nộp thuế tài nguyên là: Mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên

Trang 19

nhiên, không phụ thuộc vào mục đích sử dụng tài nguyên.[5]

Mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc mục đích

sử dụng tài nguyên, đều phải nộp thuế tài nguyên để đảm bảo sự nhất quán, công

b ng và tận thu thuế tài nguyên đóng góp vào nguồn NSNN

* Vai trò của thuế tài nguyên

Tạo nguồn thu quan trọng cho NSNN

Một nền tài chính lành mạnh phải dựa vào nguồn thu nội bộ từ nền kinh tế quốc dân Một ngân sách lành mạnh trước hết phải dựa vào nguồn thu ổn định trong nước, trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu trong hệ thống đòn bẩy của cơ chế mới Nhờ có khoản đóng góp này, bộ máy nhà nước mới tồn tại và hoạt động được Ngay từ buổi sơ khai, thuế đã được sử dụng với mục tiêu quan trọng là tập trung thu nhập vào tay Nhà nước Lịch sử tồn tại và phát triển của thuế qua các thời kỳ và

ở các nước cũng cho thấy: tỷ trọng thu b ng thuế thường chiếm phần lớn trong tổng thu nhập của NSNN Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, sau khi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số thu b ng thuế, phí chiếm trên 9 % tổng số thu NSNN Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế mới được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Thuế phải bao quát được hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập của các doanh nghiệp và dân cư để đảm bảo yêu cầu huy động được nhiều vốn, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơn trong giai đoạn hiện tại và phát triển lâu dài, góp phần kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định kinh tế xã hội

Thuế tài nguyên trong hệ thống thuế nói chung, là khoản thu bắt buộc của Nhà nước đối với tổ chức hoặc cá nhân khi phát sinh những hoạt động liên quan đến khai thác tài nguyên Thực tế nguồn thu từ thuế tài nguyên tăng cao qua các năm và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong tổng số thu NSNN Cụ thể, trong giai đoạn từ năm 2 16 đến 2 18, số thu thuế tài nguyên của cả nước (bao gồm số thu từ dầu khí và các tài nguyên khác) đạt mức bình quân khoảng 36.322 tỷ đồng/năm (Nguồn: Báo cáo tổng hợp thu nội địa của Tổng cục Thuế).[6]

Trang 20

Góp phần tăng cường quản lý Nhà nước trong việc bảo vệ quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia

Thuế tài nguyên là một trong những công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu của Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng thuế tài nguyên

Với công cụ của mình, Nhà nước điều tiết việc sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên, thể hiện ở việc áp dụng mức thuế suất thuế tài nguyên cao hay thấp theo loại tài nguyên có giá trị cao hay ít giá trị, trữ lượng tài nguyên hiện có nhiều hay ít, cần phải hạn chế sử dụng hay không

Bên cạnh đó, nguồn thu từ thuế tài nguyên sẽ góp cùng nguồn thu từ các sắc thuế khác vào NSNN để có nguồn kinh phí cho các chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung và cho việc cải tạo môi trường sinh thái, nâng cao nhận thức xã hội về vai trò nguồn tài nguyên quốc gia

1.1.2 Nội dung quản lý thu thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên cũng như các sắc thuế khác được thực hiện quản lý theo các quy trình thống nhất toàn ngành thuế, do Tổng cục Thuế ban hành

* Đối tượng chịu thuế tài nguyên theo quy định là các tài nguyên thiên nhiên trong

phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định, bao gồm:

1 Khoáng sản kim loại

2 Khoáng sản không kim loại

3 Sản phẩm của rừng tự nhiên, bao gồm các loại thực vật và các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên, trừ động vật và hồi, quế, sa nhân, thảo quả do người nộp thuế trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ

Hải sản tự nhiên, gồm động vật và thực vật biển

Trang 21

5 Nước thiên nhiên, bao gồm: Nước mặt và nước dưới đất; trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp và nước biển để làm mát máy

6 Yến sào thiên nhiên, trừ yến sào do tổ chức, cá nhân thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác

7 Tài nguyên thiên nhiên khác do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.[7]

* Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng

chịu thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau:

1 Đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản thì người nộp thuế là tổ chức, hộ kinh doanh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản

Trường hợp tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản, được phép hợp tác với tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên và có quy định riêng về người nộp thuế thì người nộp thuế tài nguyên được xác định theo văn bản đó

Trường hợp tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản, sau đó có văn bản giao cho các đơn vị trực thuộc thực hiện khai thác tài nguyên thì mỗi đơn vị khai thác là người nộp thuế tài nguyên

2 Doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh thì doanh nghiệp liên doanh là người nộp thuế;

Trường hợp Bên Việt Nam và bên nước ngoài cùng tham gia thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh khai thác tài nguyên thì trách nhiệm nộp thuế của các bên phải được xác định cụ thể trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Nếu trong hợp đồng hợp tác kinh doanh không xác định cụ thể bên có trách nhiệm nộp thuế tài nguyên thì các bên tham gia hợp đồng đều phải kê khai nộp thuế tài nguyên hoặc phải cử ra người đại diện nộp thuế tài nguyên của hợp đồng hợp tác kinh doanh

Trang 22

3 Tổ chức, cá nhân nhận thầu thi công công trình trong quá trình thi công có phát sinh sản lượng tài nguyên mà được phép của cơ quan quản lý nhà nước hoặc không trái quy định của pháp luật về quản lý khai thác tài nguyên khi thực hiện khai thác sử dụng hoặc tiêu thụ thì phải khai, nộp thuế tài nguyên với cơ quan thuế địa phương nơi phát sinh tài nguyên khai thác

Tổ chức, cá nhân sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi để phát điện là người nộp thuế tài nguyên theo quy định tại Thông tư này, không phân biệt nguồn vốn đầu tư công trình thuỷ lợi

Trường hợp tổ chức quản lý công trình thuỷ lợi cung cấp nước cho tổ chức, cá nhân khác để sản xuất nước sinh hoạt hoặc sử dụng vào các mục đích khác (trừ trường hợp

sử dụng nước để phát điện) thì tổ chức quản lý công trình thủy lợi là người nộp thuế

5 Đối với tài nguyên thiên nhiên cấm khai thác hoặc khai thác trái phép bị bắt giữ, tịch thu thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên và được phép bán ra thì tổ chức được giao bán phải khai, nộp thuế tài nguyên theo từng lần phát sinh tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức được giao bán tài nguyên trước khi trích các khoản chi phí liên quan đến hoạt động bắt giữ, bán đấu giá, trích thưởng theo chế độ quy định.[7]

x

Thuế suất thuế tài nguyên

Trang 23

nguyên phải

nộp trong kỳ

một đơn vị tài nguyên khai thác

Việc ấn định thuế tài nguyên được thực hiện căn cứ vào cơ sở dữ liệu của cơ quan Thuế, phù hợp với các quy định về ấn định thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.[7]

* Sản lượng tài nguyên tính thuế

1 Đối với loại tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế

Trường hợp tài nguyên khai thác thu được sản phẩm tài nguyên có nhiều cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo sản lượng từng loại tài nguyên có cùng cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại như nhau hoặc quy ra sản lượng của loại tài nguyên có sản lượng bán ra lớn nhất để làm căn cứ xác định sản lượng tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong

kỳ

2 Đối với tài nguyên không xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế của tài nguyên khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau và được bán ra sau khi sàng tuyển, phân loại thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định như sau: a) Đối với tài nguyên sau khi sàng tuyển, phân loại thu được từng chất riêng thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng loại tài nguyên hoặc từng chất có trong tài nguyên thu được sau khi sàng tuyển, phân loại

Trường hợp đất, đá, phế thải, bã xít thu được qua sàng tuyển mà bán ra thì phải nộp thuế tài nguyên đối với lượng tài nguyên có trong phế thải, bã xít bán ra theo giá bán

và thuế suất tương ứng của tài nguyên có trong phế thải, bã xít

Trang 24

b) Đối với tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau (quặng đa kim) qua sàng, tuyển, phân loại mà không xác định được sản lượng từng chất có trong tài nguyên khai thác (quặng) thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định đối với từng chất căn cứ sản lượng tài nguyên thực tế khai thác (quặng) và tỷ lệ của từng chất

có trong tài nguyên Tỷ lệ từng chất có trong tài nguyên được xác định theo mẫu tài nguyên khai thác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm định và phê duyệt Trường hợp, tỷ lệ của từng chất có trong tài nguyên khai thác thực tế khác với tỷ lệ từng chất có trong mẫu tài nguyên (quặng) thì sản lượng tính thuế được xác định căn

cứ kết quả kiểm định về tỷ lệ từng chất có trong tài nguyên khai thác thực tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

3 Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán

ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu) thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định như sau:

Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu) thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác được xác định b ng cách quy đổi từ sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ để bán ra theo định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm Định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm do NNT kê khai căn cứ

dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn công nghệ thiết kế để sản xuất sản phẩm đang ứng dụng, trong đó:

- Trường hợp sản phẩm bán ra là sản phẩm tài nguyên thì căn cứ định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm tài nguyên sản xuất bán ra

- Trường hợp sản phẩm bán ra là sản phẩm công nghiệp thì căn định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm công nghiệp sản xuất bán ra

Việc xác định sản phẩm bán ra sau quá trình chế biến là sản phẩm công nghiệp hay

không phải sản phẩm công nghiệp do Bộ quản lý nhà nước chuyên ngành thực hiện

theo thẩm quyền

Trang 25

Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng mua bán điện được xác định theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận

5 Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp, nước thiên nhiên dùng cho sản xuất, kinh doanh thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định b ng mét khối (m3) hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam.[7]

* Giá tính thuế tài nguyên

Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng nhưng không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định; Trường hợp giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định thì tính thuế tài nguyên theo giá do UBND cấp tỉnh quy định

Trường hợp sản phẩm tài nguyên được vận chuyển đi tiêu thụ, trong đó chi phí vận chuyển, giá bán sản phẩm tài nguyên được ghi nhận riêng trên hóa đơn thì giá tính thuế tài nguyên là giá bán sản phẩm tài nguyên không bao gồm chi phí vận chuyển

1 Đối với loại tài nguyên xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên

Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên có cùng phẩm cấp, chất lượng chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng và được áp dụng cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng; Giá bán của một đơn vị tài nguyên được tính b ng tổng doanh thu (chưa có thuế GTGT) của loại tài nguyên bán ra chia cho tổng sản lượng tài nguyên tương ứng bán ra trong tháng

Trường hợp trong tháng có khai thác tài nguyên nhưng không phát sinh doanh thu bán tài nguyên thì giá tính thuế tài nguyên là giá tính thuế đơn vị tài nguyên bình quân gia quyền của tháng trước gần nhất có doanh thu; nếu giá tính thuế đơn vị tài nguyên bình quân gia quyền của tháng trước gần nhất có doanh thu thấp hơn giá tính thuế tài

Trang 26

nguyên do UBND cấp tỉnh quy định thì áp dụng giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định

Trường hợp các tổ chức là pháp nhân khai thác tài nguyên cho Tập đoàn, Tổng công ty

để tập trung một đầu mối tiêu thụ theo hợp đồng thoả thuận giữa các bên hoặc bán ra theo giá do Tổng công ty, Tập đoàn quyết định thì giá tính thuế tài nguyên là giá do Tổng công ty, Tập đoàn quyết định nhưng không được thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh tại địa phương nơi khai thác tài nguyên quy định

2 Đối với loại tài nguyên không xác định được giá bán đơn vị tài nguyên khai thác do

có chứa nhiều chất khác nhau

Giá tính thuế là giá bán đơn vị tài nguyên của từng chất, được xác định căn cứ tổng doanh thu bán tài nguyên trong tháng (chưa có thuế GTGT) tính cho từng chất có trong tài nguyên khai thác theo tỷ lệ hàm lượng của từng chất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm phê duyệt và sản lượng tài nguyên bán ra ghi trên chứng từ bán hàng tương ứng với từng chất

3 Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán

ra (bán trong nước hoặc xuất khẩu)

a) Trường hợp bán ra sản phẩm tài nguyên thì giá tính thuế là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên (trường hợp bán trong nước) tương ứng với sản lượng tài nguyên bán ra ghi trên chứng từ bán hàng hoặc trị giá hải quan của sản phẩm tài nguyên xuất khẩu (trường hợp xuất khẩu) không bao gồm thuế xuất khẩu tương ứng với sản lượng tài nguyên xuất khẩu ghi trên chứng từ xuất khẩu nhưng không thấp hơn giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định

Trị giá hải quan của sản phẩm tài nguyên xuất khẩu thực hiện theo quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu tại Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành và sửa đổi, bổ sung (nếu có)

b) Trường hợp bán ra sản phẩm công nghiệp thì giá tính thuế tài nguyên là giá bán sản phẩm công nghiệp trừ đi chi phí chế biến phát sinh của công đoạn chế biến từ sản

Trang 27

phẩm tài nguyên thành sản phẩm công nghiệp nhưng không thấp hơn giá tính thuế do

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định

Chi phí chế biến phát sinh của công đoạn chế biến từ sản phẩm tài nguyên thành sản phẩm công nghiệp được trừ khi xác định giá tính thuế căn cứ công nghệ chế biến của doanh nghiệp theo Dự án đã được phê duyệt nhưng không bao gồm chi phí khai thác, sàng, tuyển, làm giàu hàm lượng

c) Trường hợp giá tính thuế mà NNT xác định thấp hơn giá tính thuế tại Bảng giá do UBND cấp tỉnh quy định thì áp dụng giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định; Trường hợp tại Bảng giá của UBND cấp tỉnh quy định chưa có giá đối với loại sản phẩm này thì cơ quan thuế phối hợp với cơ quan chức năng thực hiện kiểm tra, ấn định theo pháp luật về quản lý thuế

d) Trường hợp tài nguyên khai thác đưa vào chế biến, sản xuất sản phẩm và thu được sản phẩm tài nguyên đồng hành thì áp dụng giá tính thuế đơn vị tài nguyên theo từng trường hợp cụ thể 7

* Nội dung quản lý thuế tài nguyên gồm các công việc chính theo một trình tự thống nhất như sau:

1.1.2.1 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT

Phổ biến, hướng dẫn, tuyên truyền Pháp luật thuế tài nguyên b ng công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng của cơ quan thuế, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ NNT thực hiện quyền và nghĩa vụ thuế của mình

Phòng tuyên truyền, hỗ trợ NNT thực hiện các bước công việc:

Lập kế hoạch tuyên truyền, hỗ trợ NNT: căn cứ vào chương trình công tác, nhiệm

vụ, biện pháp quản lý thu NSNN của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế; căn cứ vào các thay đổi về chế độ chính sách thuế; căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ NNT để xây dựng kế hoạch tuyên truyền, hỗ trợ NNT Kế hoạch tuyên truyền, hỗ trợ NNT phải được lập hàng năm, đảm bảo tính kịp thời, hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế tại cơ quan thuế; đảm bảo cân đối giữa

Trang 28

nhu cầu cần hỗ trợ của NNT với nguồn nhân lực, cơ sở vật chất của cơ quan thuế; hướng tới mục tiêu chung của toàn ngành thuế Kế hoạch này bao gồm kế hoạch tuyên truyền về thuế và kế hoạch hỗ trợ NNT

Tổ chức thực hiện các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT như Tuyên truyền qua

hệ thống tuyên giáo; tuyên truyền qua tờ rơi, ấn phẩm, pano, áp phích; tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; tuyên truyền qua trang thông tin điện tử

và các trang mạng khác; tổ chức tập huấn, đối thoại với NNT khi có các thay đổi chính sách thuế hoặc khi có vướng mắc về chính sách thuế, thủ tục hành chính thuế; xây dựng và cấp phát tài liệu hỗ trợ NNT; giải đáp vướng mắc về thuế cho NNT; tổ chức các cuộc họp chuyên đề về công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT; khảo sát, thăm dò ý kiến về nhu cầu hỗ trợ của NNT Tất cả các hình thức tuyên truyền,

hỗ trợ nh m đảm bảo cho NNT nắm vững quy định về luật quản lý thuế và thực hiện quyền, nghĩa vụ thuế của mình một cách tốt nhất

Báo cáo đánh giá công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT để có cái nhìn tổng quát về hiệu quả công tác tuyên truyền hỗ trợ, đưa ra những tồn tại, nguyên nhân, biện pháp khắc phục và đề ra phương hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT

Ngoài ra, bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ NNT còn có nhiệm vụ tiếp nhận và trả kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính thuế của NNT theo quy chế “một cửa ,

nh m giúp đỡ NNT giảm bớt thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban chức năng ở cơ quan thuế

1.1.2.2 Công tác kê khai và kế toán thuế

Thực hiện các công việc nh m đảm bảo theo dõi, quản lý NNT thực hiện các thủ tục hành chính về khai thuế, nộp thuế, kế toán thuế, hoàn thành nghĩa vụ thuế đầy

đủ và đúng quy định

Phòng Kê khai và kế toán thuế thực hiện quy trình kê khai, nộp thuế và kế toán thuế bao gồm các nội dung sau:

Trang 29

Quản lý khai thuế của NNT: bộ phận kê khai và kế toán thuế có nhiệm vụ quản lý tình trạng kê khai thuế của NNT, như quản lý NNT phải nộp hồ sơ khai thuế theo từng sắc thuế, từng mẫu hồ sơ khai thuế, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế để xác định

số lượng hồ sơ khai thuế phải nộp và theo dõi, đôn đốc tình trạng kê khai của NNT; quản lý NNT thay đổi về kê khai thuế để theo dõi cập nhật về nghĩa vụ kê khai có liên quan; quản lý khai thuế qua tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục thuế

Sau khi nắm rõ tình trạng kê khai thuế của NNT, bộ phận Kê khai và kế toán thuế tiến hành xử lý hồ sơ khai thuế như cung cấp thông tin hỗ trợ NNT thực hiện kê khai thuế; phối hợp cùng bộ phận tuyên truyền hỗ trợ NNT; thực hiện tiếp nhận hồ

sơ khai thuế qua mạng internet; hồ sơ giấy tờ NNT nộp qua bộ phận “một cửa và các hồ sơ giấy tờ có liên quan khác qua bộ phận hành chính văn thư Tiếp đến kiểm tra, xử lý hồ sơ khai thuế như kiểm tra lỗi thông tin định danh của NNT hay lỗi số học và lập thông báo yêu cầu NNT giải trình, điều chỉnh hồ sơ khai thuế nếu phát hiện có lỗi phát sinh; xử lý hồ sơ khai thuế điều chỉnh, bổ sung của NNT; điều chỉnh hồ sơ khai thuế của NNT do cơ quan thuế nhầm lẫn, sai sót Với hồ sơ khai thuế có gia hạn, sau khi tiếp nhận hồ sơ gia hạn từ bộ phận “một cửa hoặc bộ phận Hành chính văn thư, bộ phận Kê khai và kế toán thuế kiểm tra tính đúng đắn và tiến hành xử lý hồ sơ gia hạn theo quy định Bước công việc cuối cùng của xử lý hồ sơ khai thuế là lưu hồ sơ khai thuế theo từng hình thức lưu hồ sơ khai thuế b ng giấy, lưu hồ sơ khai thuế điện tử và lưu tại cơ sở dữ liệu của ngành

Xử lý vi phạm về nộp hồ sơ khai thuế là bước công việc tiếp theo, bắt đầu từ việc đôn đốc NNT hoặc đại lý thuế nộp hồ sơ khai thuế thông qua thư nhắc nộp hồ sơ khai thuế hoặc thông báo đôn đốc NNT hoặc đại lý thuế chưa nộp hồ sơ khai thuế Nếu NNT không nộp hồ sơ khai thuế, tiến hành ấn định số thuế phải nộp; NNT nộp

hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định thì tiến hành xử lý vi phạm hành chính thuế

Kế toán thuế: bao gồm kế toán thu NSNN và kế toán theo dõi thu nộp thuế của NNT Với công tác kế toán theo dõi thu nộp thuế của NNT, sau khi nhận các văn bản xử lý về thuế đối với NNT do cơ quan thuế thực hiện, bộ phận kê khai và kế toán thuế tiến hành nhập các thông tin liên quan đến số tiền thuế của NNT và hạn nộp của các khoản thuế và kiểm tra, hạch toán vào sổ theo dõi thu nộp thuế, tính sổ

Trang 30

thuế, khóa sổ theo dõi hàng tháng và đối chiếu nghĩa vụ thuế của NNT Đối với NNT có thay đổi MST hay cơ quan thuế quản lý, tiến hành chuyển đổi nghĩa vụ thuế và có xác nhận tình hình thực hiện nghĩa vụ với NSNN của NNT khi có yêu cầu Khi NNT chấm dứt hoạt động và đóng MST, bộ phận kê khai và kế toán thuế thực hiện kết thúc theo dõi thu nộp sau khi đối chiếu số tiền thuế còn nợ, tiền phạt còn thiếu, còn thừa hoặc được khấu trừ để chuyển tới các bộ phận có liên quan giải quyết Tiến hành in và lưu sổ theo dõi thu nộp thuế hàng tháng

Báo cáo định kỳ nh m theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện công tác kê khai và kế toán thuế và có những giải pháp phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận trong cơ quan thuế để thực hiện có hiệu quả quy trình

Ngoài ra, bộ phận kê khai và kế toán thuế còn nắm và thực hiện một số quy trình khác như quy trình kiểm tra hóa đơn, quy trình hoàn thuế, quy trình miễn giảm thuế…nh m đưa ra các bước công việc, triển khai thực hiện thống nhất các nội dung trong công tác quản lý thuế theo từng chức năng, đạt hiệu quả cao trong quá trình thực hiện quản lý thuế

1.1.2.3 Công tác quản lý nợ thuế

Quy định trách nhiệm, nội dung, trình tự, thủ tục, thời gian để triển khai thực hiện thống nhất trong cơ quan thuế các cấp trong việc xây dựng và thực hiện chỉ tiêu, đôn đốc thu hồi và xử lý các khoản tiền thuế nợ của NNT có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN đã được quy định tại Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn về thuế Phòng Quản lý nợ thực hiện quy trình này bao gồm các bước công việc như sau: Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ: xác định số tiền thuế nợ năm thực hiện căn cứ vào số tiền thuế nợ năm trước và tiền thuế nợ tại thời điểm lập chỉ tiêu thu tiền thuế nợ; lập chỉ tiêu thu tiền thuế nợ năm kế hoạch; báo cáo và chờ phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ; triển khai thực hiện chỉ tiêu thu tiền thuế nợ

Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ: phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản

lý nợ thuế theo từng loại hình doanh nghiệp và tình huống phát sinh nợ thuế; phân loại tiền thuế nợ đối với từng nhóm nợ, khoản nợ theo quy định; lập nhật ký và sổ

Trang 31

tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ; đối chiếu số liệu và thực hiện đôn đốc thu nộp Ngoài ra, xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, hoàn thuế kiêm bù trừ; xử lý tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh; khó thu và một số nguyên nhân gây chênh lệch nợ thuế; đôn đốc tiền thuế nợ đối với các đơn

vị xây dựng cơ bản vãng lai ngoại tỉnh, các đơn vị hạch toán phụ thuộc và đơn vị

ủy nhiệm thu Thực hiện báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ và lưu trữ tài liệu quản lý nợ

1.1.2.4 Công tác kiểm tra thuế

Quy trình này nh m mục đích tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuế của NNT nh m chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế; nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của NNT trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế; Thực hiện cải cách hành chính trong việc kiểm tra thuế từ đó tránh gây phiền nhiễu và tạo điều kiện thuận lợi cho NNT phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Phòng Kiểm tra thuế thực hiện các nội dung của quy trình bao gồm:

Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế: bước đầu của quy trình kiểm tra

hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế là thu thập, khai thác thông tin để kiểm tra

hồ sơ khai thuế; dựa trên phân tích rủi ro để lựa chọn cơ sở kinh doanh, lập danh sách kiểm tra hồ sơ khai thuế; Thủ trưởng cơ quan thuế quyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ khai thuế; lên nội dung kiểm tra hồ sơ khai thuế và cuối cùng là xử

lý kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế Công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế là công tác thường xuyên, liên tục, đảm bảo kiểm tra giám sát chặt chẽ hồ sơ khai thuế của cơ quan thuế, phát hiện sai phạm và xử lý theo từng mức độ vi phạm

Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế: đối với các đơn vị thuộc đối tượng phải kiểm tra tại trụ sở đơn vị (không giải trình được thông tin tài liệu chứng minh số thuế khai là đúng hoặc phát sinh các sự vụ yêu cầu phải kiểm tra như hoàn thuế, chia tách, sáp nhập, giải thể, chấm dứt hoạt động…), cơ quan thuế ra quyết định kiểm tra tại trụ

sở của cơ quan thuế để làm rõ nội dung kinh tế phát sinh liên quan tới hồ sơ khai

Trang 32

thuế của đơn vị mà đơn vị không thể giải trình được trong quá trình kiểm tra tại trụ

sở cơ quan thuế, hoặc giải quyết các sự vụ có liên quan tới việc thực hiện quyền và nghĩa vụ thuế của đơn vị Việc kiểm tra được diễn ra tuần tự, có quy định cụ thể về

số ngày của từng bước công việc và những điều cán bộ thuế được phép hay không được phép làm trong quá trình kiểm tra tại đơn vị Kết thúc kiểm tra tại đơn vị, có biên bản ghi nhận những thực trạng, sai sót mà đơn vị mắc phải được phát hiện sau kiểm tra Cơ quan thuế sẽ ban hành quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế quy định rõ về số tiền truy thu, số tiền phạt hoặc hình thức xử lý tương ứng với mức độ vi phạm của đơn vị

Tổng hợp báo cáo và lưu trữ tài liệu kiểm tra thuế: sau khi thực hiện kiểm tra, cơ quan thuế các cấp, theo nhiệm vụ công việc được phân công sẽ có trách nhiệm báo cáo và lưu giữ những tài liệu để có được số liệu tổng quát, phản ánh về chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra cũng như có cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý và kiểm soát của cấp trên nếu cần

1.1.2.5 Công tác thanh tra thuế

Mục đích tạo sự thống nhất trong việc thực hiện công tác thanh tra trong toàn ngành thuế nh m phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân có hành vi gian lận, trốn thuế Phòng Thanh tra thuế xử lý nghiệp vụ về thuế đối với các hành vi vi phạm có mức độ nghiệm trọng và phức tạp hơn là kiểm tra thuế Bước công việc đầu tiên của quy trình thanh tra đó là lập kế hoạch thanh tra năm: dựa trên nguồn thông tin thu thập, khai thác được từ nội bộ ngành thuế và các cơ quan khác có liên quan, cơ quan thuế tiến hành đánh giá, phân tích để lựa chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra, sau đó trình duyệt kế hoạch thanh tra năm, có điều chỉnh bổ sung theo thực tế công tác quản lý

Tổ chức thanh tra tại trụ sở NNT: tuân theo các bước tuần tự theo quy định về chuẩn bị thanh tra, công bố quyết định thanh tra, phân công công việc và lập nhật

ký thanh tra; thực hiện thanh tra theo các nội dung có trong quyết định thanh tra; thay đổi, bổ sung nội dung thanh tra hoặc gia hạn thời gian thanh tra; lập biên bản thanh tra, công bố công khai biên bản thanh tra

Trang 33

Xử lý kết quả sau thanh tra thuế: sau khi kết thúc thanh tra thuế tại trụ sở NNT; Trưởng đoàn thanh tra phải tập hợp đầy đủ hồ sơ trình Thủ trưởng cơ quan thuế để

có cơ sở xử lý vi phạm pháp luật về thuế tương ứng với mức độ vi phạm và thẩm quyền xử lý vi phạm

Công tác tổng hợp báo cáo và lưu trữ hồ sơ thanh tra thuế: được thực hiện nh m đánh giá hiệu quả công tác thanh tra thuế cũng như có cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý và kiểm tra nội bộ khi cần

1.1.3.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động chung

Số NNT bình quân trên một cán bộ thuế;

Tổng thu thuế tài nguyên do ngành thuế quản lý trên tổng số cán bộ của cơ quan thuế

1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá công tác tuyên truyền hỗ trợ

Bài viết tuyên truyền về thuế tài nguyên trên các phương tiện thông tin đại chúng;

Số lượt giải đáp vướng mắc của NNT tại cơ quan thuế trên số cán bộ của bộ phận tuyên truyền hỗ trợ NNT;

Số văn bản trả lời NNT đúng hạn;

Số cuộc đối thoại, lớp tập huấn đã tổ chức trên số cán bộ của bộ phận tuyên truyền

hỗ trợ NNT;

Sự hài lòng của NNT đối với công tác tuyên truyền hỗ trợ

1.1.3.3 Tiêu chí đánh giá công tác kê khai và kế toán thuế

Trang 34

Tỷ lệ hồ sơ khai thuế bình quân trên một cán bộ bộ phận kê khai và kế toán thuế;

Tỷ lệ hồ sơ khai thuế nộp đúng hạn trên số hồ sơ khai thuế đã nộp;

Tỷ lệ hồ sơ khai thuế đã nộp trên số hồ sơ khai thuế phải nộp;

Tỷ lệ hồ sơ khai thuế khai đúng các chỉ tiêu trên số tờ khai thuế đã nộp;

Mức độ hài lòng của NNT với công tác kê khai và kế toán thuế

1.1.3.4 Tiêu chí đánh giá công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

- Đánh giá tỷ lệ tiền nợ thuế tài nguyên với số thực hiện thu thuế tài nguyên của ngành thuế;

- Đánh giá số tiền nợ thuế của năm trước thu được trong năm nay với số nợ có khả năng thu tại thời điểm 31/12 năm trước

- Chỉ tiêu số tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh

1.1.3.5 Tiêu chí đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra

- Đánh giá tỷ lệ doanh nghiệp đã thanh tra, kiểm tra;

- Tỷ lệ doanh nghiệp thanh tra, kiểm tra phát hiện có sai phạm;

- Đánh giá số tiền truy thu bình quân trên một cuộc thanh tra, kiểm tra;

- Tỷ lệ doanh nghiệp đã thanh tra, kiểm tra trên số cán bộ của bộ phận thanh tra, kiểm tra;

- Số thuế truy thu sau thanh tra, kiểm tra trên tổng số thu thuế tài nguyên do ngành thuế quản lý

1.1.3.6 Tiêu chí đánh giá công tác phát triển nguồn nhân lực

- Số cán bộ làm việc tại các phòng chức năng quản lý thuế;

- Bảng tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học trở lên;

- Bảng số cán bộ tăng giảm do tuyển dụng mới, chuyển công tác hoặc nghỉ hưu;

- Bảng tỷ lệ cán bộ thuế được khen thưởng và bị kỷ luật trên tổng số cán bộ của cơ

Trang 35

Thuế tài nguyên cùng với các sắc thuế khác được quy định, hướng dẫn thực thi bởi Luật và các văn bản dưới luật Những quy định này được tuyên truyền rộng rãi và phổ biến đến NNT để NNT nắm rõ và thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ thuế của mình Tuy nhiên, trong thực tế khi thực hiện, NNT hoặc do sự thiếu quan tâm hiểu biết, hoặc do cố tình trốn, gian lận thuế nên phát sinh rất nhiều các tình huống

mà nếu cán bộ thuế không vững về chuyên môn nghiệp vụ, sẽ không thể hướng dẫn, đôc đốc, kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm

Lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản là lĩnh vực hoạt động phức tạp, địa bàn quản lý rộng, có tính đặc thù do tài nguyên khoáng sản luôn gắn liền với tự nhiên, việc khai thác sử dụng là khó kiểm soát, đặc biệt là khai thác, sử dụng nhỏ lẻ Các đơn vị khai thác tài nguyên cũng luôn tìm cách lách luật để trốn tránh nghĩa vụ thuế, càng đòi hỏi cán bộ thuế phải am tường luật pháp và trau dồi kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ để xử lý kịp thời và triệt để, tránh thất thu NSNN, mặt khác đem lại hiệu quả quản lý về mặt xã hội

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý thuế được hiểu bao quát về cả tài, cả đức, nói như Bác Hồ, người cán bộ phục vụ quần chúng nhân dân phải “vừa hồng vừa chuyên , để không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà phải được lòng dân, dân trong giác độ quản lý thuế chính là NNT, người trực tiếp đóng góp vào số thu NSNN để có nguồn chi cho phát triển kinh tế xã hội, phát triển đất nước

Xã hội luôn phát triển vận động không ngừng, quan điểm chủ trương đường lối của

Trang 36

Đảng và Nhà nước cũng có những thay đổi phù hợp với thực tế Về phương diện quản lý thuế nói chung và quản lý thuế tài nguyên nói riêng, các chính sách cũng luôn được cập nhật, bổ sung những yếu tố mới, sửa đổi những yếu tố chưa phù hợp

để ngày càng làm hoàn thiện hơn các văn bản quy phạm pháp luật, để quản lý có hiệu quả hơn Cán bộ thuế, ngươi trực tiếp đại diện Nhà nước thi hành pháp luật về thuế cũng phải luôn cập nhật, trau dồi, học hỏi chính sách pháp luật cũng như nghiệp vụ chuyên môn để truyền đạt, hướng dẫn tận tình cho NNT cũng như kiểm tra, giám sát NNT thực hiện đúng đắn nghĩa vụ thuế của mình

* Cơ chế phối hợp giữa các phòng chức năng trong cơ quan thuế và giữa cơ quan thuế với các cơ quan hữu quan

Bộ máy hoạt động của cơ quan thuế bao gồm các phòng ban chức năng, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của tổ chức, đứng đầu là người lãnh đạo Công tác quản lý thuế cũng được quản lý theo từng phòng chức năng, chịu trách nhiệm công việc tương ứng với các quy trình quản lý thuế Để tạo thành một thể thống nhất, quản lý hiệu quả thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng, nhất thiết phải có sự phối hợp giữa các phòng ban chức năng trong cơ quan thuế

Công tác quản lý thuế theo quy trình quy định rõ nhiệm vụ của từng bộ phận, từng bước công việc trong quá trình quản lý thuế, và bước công việc nào phối hợp cùng với phòng ban nào và phòng ban nào có chức năng nhiệm vụ cùng phối hợp thực hiện Điều này tạo ra sự tương tác, gắn kết giữa các phòng ban, để vừa có sự chuyên sâu trong quản lý, vừa có sự liên kết giữa các bộ phận để cùng nhau thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của ngành là thực hiện tốt công tác quản lý thuế Quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản tạo ra mối liên hệ giữa rất nhiều các cơ quan

tổ chức, không chỉ cơ quan thuế, có rất nhiều các cơ quan khác cùng tham gia, tác động vào để quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản của quốc gia như Sở Tài nguyên môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh…Do đó, trong công tác quản lý thuế tài nguyên, phải có sự phối hợp với cơ quan thuế với các cơ quan hữu quan để cùng đưa ra các giải pháp vừa đảm bảo đúng quy định pháp luật về thuế tài nguyên, vừa đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và các quy định cụ thể của địa phương Điều

Trang 37

này tạo sự nhất quán giữa cơ quan thuế và các cơ quan trên địa bàn tỉnh Bởi bản thân thuế tài nguyên là nguồn thu quan trọng của ngân sách địa phương do được điều tiết 1 % cho ngân sách địa phương (trừ dầu khí) theo Luật NSNN

1.1.4.2 Nhân tố khách quan

* Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của NNT

NNT là người trực tiếp đóng góp, tạo số thu NSNN thông qua việc thực hiện nghĩa

vụ thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh NNT là người bạn đồng hành của

cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế, cơ quan thuế không thể quản lý tốt nếu như không có sự hợp tác của NNT

Với cơ chế “tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm , NNT có nhiều sự chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, nhưng đi cùng với đó là việc phát sinh nhiều tình huống vi phạm pháp luật về thuế do NNT hoặc không am hiểu tường tận về quy định pháp luật về thuế, hoặc do trình độ nghiệp vụ liên quan tới thuế hạn chế, hoặc

do cố tình trốn thuế, gian lận thuế Đòi hỏi cơ quan thuế phải sát sao hơn trong công tác phổ biến, hướng dẫn các quy định pháp luật về thuế, kiểm tra và giám sát việc khai thuế, nộp thuế của NNT

Thuế tài nguyên là loại thuế đặc thù do sản phẩm chịu thuế là tài nguyên, lấy từ thiên nhiên, và thuộc sở hữu của Nhà nước Và mô hình chung, Nhà nước là của dân, chính bởi lẽ đó mà đối tượng khai thác tài nguyên vẫn thường tự cho mình quyền được khai thác và thu lợi nhuận từ tài nguyên đó trong khi lơ là nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Thuế tài nguyên vẫn được coi là sắc thuế mới và luôn được xem xét để bổ sung, sửa đổi cho phù hợp, chính vì vậy, bản thân NNT một mặt không cập nhật kịp thời và đầy đủ quy định, một mặt vẫn giữ thói quen lấy từ thiên nhiên không phải trả phí, nên gây rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý Số thu

từ thuế tài nguyên không lớn, người nộp thuế không nhiều (so với các sắc thuế khác), nhưng công tác quản lý thuế tài nguyên luôn đòi hỏi sự đầu tư, quan tâm và giám sát quản lý chặt chẽ của cơ quan thuế Rõ ràng là trình độ và ý thức của NNT trong việc tuân thủ quy định về thuế tài nguyên là rất quan trọng đối với công tác quản lý thuế tài nguyên

Trang 38

* Sự thay đổi của hệ thống chính sách pháp luật thuế tài nguyên

Sự thay đổi về hệ thống chính sách thuế tài nguyên là tác động mang tính vĩ mô và

sự tác động này mang ý nghĩa đối với công tác quản lý thuế tài nguyên bởi thuế tài nguyên được quy định thực hiện trong chính sách pháp luật thuế tài nguyên

Thời điểm bắt đầu có quy định về thuế tài nguyên là năm 199 với Pháp lệnh về thuế tài nguyên, những quy định mang tính chất khởi đầu và bao quát, tất yếu trong quá trình thực hiện nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập và yêu cầu được sửa đổi Năm 199 , Pháp lệnh thuế tài nguyên sửa đổi ra đời, có quy định chi tiết hơn, rõ ràng hơn về loại tài nguyên khoáng sản thuộc sở hữu của Nhà nước, về đối tượng chịu thuế, về căn cứ tính thuế…Tuy nhiên, trong quá trình thực thi vẫn phát sinh những vấn đề vướng mắc, bất cập cần được sửa đổi bổ sung, rất nhiều các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành sửa đổi bổ sung và cho đến khi Luật thuế tài nguyên ra đời năm 2 9 Sự ra đời của Luật thuế tài nguyên đánh dấu việc hệ thống hóa đối với chính sách pháp luật về thuế tài nguyên Và sau khi Luật thuế tài nguyên được đưa vào sử dụng, Bộ Tài chính cũng ra các văn bản hướng dẫn thi hành để hướng dẫn chi tiết

Mỗi lần bổ sung, sửa đổi chính sách về thuế tài nguyên là một lần giúp công tác quản lý thuế được hoàn thiện hơn Có những thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế, nhưng lại thắt chặt các quy định trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT; có những thay đổi giúp cho NNT thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ tốt hơn Nhưng nhìn chung, sự thay đổi về hệ thống chính sách có tác động đến cách thức quản lý thuế của cơ quan thuế

1.2 Thực tiễn công tác quản lý thuế tài nguyên và kinh nghiệm quản lý thuế tài nguyên khoáng sản của các địa phương khác, bài học kinh nghiệm cho tỉnh Lạng Sơn

1.2.1 Kinh nghiệm ở một số địa phương

1 Công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Cao Bằng

Cao B ng là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản kim loại có giá trị, đặc biệt

là Sắt và Bauxit Cao B ng thu hút rất nhiều các đơn vị khai thác khoáng sản tới

Trang 39

hoạt động khai thác Số thu thuế tài nguyên từ các hoạt động khai thác khoáng sản đóng góp đáng kể vào số thu NSNN của Cục Thuế tỉnh Cao B ng quản lý, ý nghĩa hơn nữa khi số thu này được điều tiết 1 % cho nguồn ngân sách của địa phương

Do đó, Cục Thuế tỉnh Cao B ng luôn nỗ lực trong công tác quản lý để đảm bảo số thu thuế tài nguyên, đồng thời phối hợp với các cơ quan hữu quan trên địa bàn để quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản vô giá

Thực tế tại Cao B ng các đơn vị khai thác khoáng sản nợ thuế tài nguyên khoáng sản rất lớn và khó xử lý Như ở địa bàn huyện Trùng Khánh, có tới 5/ doanh nghiệp đang khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn nợ 17 tỷ 131 triệu đồng tiền thuế Điều này gây khó khăn cho việc thực hiện dự toán thu của Cục Thuế tỉnh Cao B ng Xuất phát từ thực tế khó khăn, Cục Thuế tỉnh Cao B ng đã mạnh dạn đề xuất phương án phối hợp với Ủy ban Nhân dân tỉnh để ra Thông báo đôn đốc, cưỡng chế nợ thuế và có hướng xử lý tạm thời thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản cho tới khi nộp đủ tiền thuế tài nguyên vào NSNN Đây là biện pháp quản lý nợ thuế tài nguyên đem lại hiệu quả cao đối với các đơn vị chây ỳ nợ thuế trên địa bàn Bên cạnh việc đảm bảo nguồn thu thuế tài nguyên vào NSNN, Cục Thuế tỉnh Cao

B ng cũng đề xuất với Sở Tài nguyên tỉnh để trình Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ cấp giấy phép khai thác cho các đơn vị có cơ sở chế biến khai thác sâu tại các vùng có nguồn quặng trữ lượng lớn, ưu tiên các vùng chưa được khai thác.[8]

2 Công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Lào Cai

Lào Cai là một trong các tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản trên cả nước với 15 mỏ

và điểm mỏ, khai thác trên 3 loại khoáng sản, trong đó có một số mỏ khoáng sản

đã được thăm dò, đánh giá trữ lượng, chất lượng thuộc loại quy mô lớn nhất nước

và khu vực như: mỏ Apatit Cam Đường trữ lượng 2,5 tỷ tấn; mỏ sắt Quý Sa trữ lượng 12 triệu tấn; mỏ đồng Sin Quyền trữ lượng 53 triệu tấn; mỏ Molipden Ô Quy Hồ trữ lượng 15, nghìn tấn Đây là cơ sở cho ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản là ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh, đem lại số thu thuế tài nguyên lớn cho tỉnh Lào Cai Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của việc quản

lý thuế tài nguyên đối với các loại khoáng sản trên địa bàn Cục Thuế tỉnh Lào Cai

Trang 40

thực hiện quản lý thuế tài nguyên theo đúng quy định của pháp luật, bên cạnh đó, đưa ra các biện pháp quản lý thuế tài nguyên triệt để đối với các đơn vị khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn

Cục Thuế Lào Cai đang quản lý các Tập đoàn, các Tổng công ty lớn trong nước đến đầu tư, lĩnh vực chủ yếu là khai thác và chế biến khoáng sản Trong đó, lớn nhất là Tổng công ty hóa chất Việt Nam đầu tư khai thác sản xuất chế biến quặng Apatit; Tổng công ty khoáng sản Việt Nam đầu tư dự án khai thác và chế biến tinh quặng đồng; Tổng công ty thép Việt Nam đầu tư vào dự án khai thác và chế biến tinh quặng sắt Tất cả các doanh nghiệp này đều đặt nhà máy khai thác và chế biến tại Lào Cai, nhưng sản phẩm lại không tiêu thụ tại đây mà bán về cho Tổng công ty theo giá nội bộ (giá giao khoán), được quy định b ng hoặc thấp hơn chi phí sản xuất của các nhà máy - công ty con

Ngay từ khi các công ty con thuộc các tổng công ty khai thác khoáng sản trên địa bàn đi vào sản xuất kinh doanh, phát sinh doanh thu tiêu thụ sản phẩm, Cục Thuế tỉnh Lào Cai đã nhận thấy có hiện tượng chuyển giá trong nội bộ doanh nghiệp Theo quy định, giá tính thuế tài nguyên là giá bán tài nguyên tại nơi khai thác Tuy nhiên, các tổng công ty này lại quyết định giao khoán, định giá bán sản phẩm cho các đơn vị trực thuộc theo giá nội bộ Dựa vào quyết định đó, các đơn vị phụ thuộc

đã kê khai thuế tài nguyên theo giá bán sản phẩm cho tổng công ty, sau đó tổng công ty làm thủ tục xuất khẩu sang Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai Trên sổ sách là vậy, nhưng thực chất hàng hóa không được chuyển về tổng công ty để chế biến, mà vẫn do các đơn vị trực thuộc vẫn chuyển sang cửa khẩu Trung Quốc Khảo sát thực tế tại Công ty mỏ tuyển đồng Sinh Quyền, Cục Thuế Lào Cai nhận thấy giá xuất khẩu của tổng công ty chênh lệch so với giá bán nội bộ là 7 1 27 đồng/tấn Khảo sát tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai cũng thấy có hiện tượng giá xuất khẩu quặng sắt qua cửa khẩu Lào Cai của Tổng công ty thép Việt Nam chênh so với giá bán của Công ty khoáng sản luyện kim Việt Trung bán cho Tổng công ty thép là 29 đồng/tấn Trước thực tế đó, Cục Thuế tỉnh đã phối hợp với

Sở Tài chính đề xuất Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai ra quyết định điều chỉnh lại giá tính thuế tài nguyên và mức thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Năm 2 17, Bộ

Ngày đăng: 19/06/2021, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w