Anh chị hãy phân tích nội dung hai quy định sau: “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định” Điều 51 Hiến pháp năm 1992 “Quyền con người , quyền công dân chỉ có thể bị
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM
BÀI 3 QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
Câu 1 Anh (chị) hãy so sánh quyền con người với quyền công dân và cho ví dụ minh họa.
Trả lời:
* So sánh quyền con người với quyền công dân
- Điểm giống nhau giữa quyền con người với quyền công dân:
Quyền con người và quyền công dân là những quyền cơ bản, quan trọng được quyđịnh trong Hiến pháp
Quyền công dân và quyền con người là hai phạm trù rất gần gũi với nhau nhưngkhông đồng nhất Nhân quyền và dân quyền đều là những quyền lợi mà mọi công dânđều được hưởng và được bảo vệ (trừ những người không có quốc tịch) Trong đó quyềncông dân có nghĩa hẹp hơn so với quyền con người, về bản chất quyền công dân là nhữngquyền con người được nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân nước mình Một sốquyền công dân cũng là quyền con người như: quyền được có nhà ở, quyền tự do kinhdoanh buôn bán, tự do ngôn luận, quyền được học tập, quyền được tham gia quản lí nhànước và xã hôi, quyền được bảo vệ về sức khỏe…
- Điểm khác nhau giữa quyền con người với quyền công dân:
Quyền con người Quyền công dân Khái niệm Là những quyền bẩm sinh, vốn
có của con người, được cộngđồng quốc tế bảo vệ, nếu khôngđược hưởng thì không thể sốngnhư một con người
Là những lợi ích pháp lý đượccác nhà nước thừa nhận và bảo
vệ cho những người có quốc tịchcủa nước mình
Lịch sử Tư tưởng xuất hiện trong các
nền văn minh cổ đại; luật nhânquyền quốc tế chỉ có từ 1945
Từ cách mạng tư sản (khoảngthế kỷ 16
Những tự do và bảo đảm màmột quốc gia dành cho các côngdân của nước mình
Tính chất Tự nhiên, vốn có, không do chủ Do các nhà nước xác định bằng
Trang 2thể nào ban phát Thể hiện vịthế của mỗi cá nhân trong quan
hệ với quốc gia mà cá nhân đó
là công dân và với cộng đồngnhân loại
pháp luật Thể hiện vị thế củamỗi cá nhân trong quan hệ vớiquốc gia mà cá nhân đó là côngdân
Đặc điểm Áp dụng toàn cầu; đồng nhất
trong mọi hoàn cảnh; khôngthay đổi theo thời gian
Áp dụng trong lãnh thổ quốcgia; không hoàn toàn giống nhaugiữa các quốc gia; có thể bị thayđổi theo thời gian
Chủ thể có quyền Mọi thành viên của nhân loại,
bất kể dân tộc, chủng tộc, thànhphần xuất thân, tôn giáo, tưtưởng, giới tính, độ tuổi,…
Chỉ những người có quốc tịchcủa một quốc gia
Chủ thể có nghĩa
vụ bảo đảm
Các nhà nước là chủ thể chính,ngoài ra các tổ chức quốc tế,doanh nghiệp, cộng đồng, cánhân đều có trách nhiệm
Các nhà nước là chủ thể chính,ngoài ra các doanh nghiệp, cộngđồng, cá nhân… cũng có tráchnhiệm
Cơ chế bảo vệ Các diễn đàn, thủ tục điều tra,
giải quyết khiếu nại, tố cáo viphạm nhân quyền của Liên hợpquốc và một số tổ chức liênchính phủ khu vực
Toà án và một số cơ chế tài phánkhác ở mỗi quốc gia Trong một
số trường hợp, các cơ chế quốc
tế được áp dụng như là giải pháptiếp nối
Thời điểm phát
sinh quyền Từ khi con người được sinh ra. Từ khi chủ thể đáp ứng đượcđầy đủ các điều kiện mà mà
pháp luật của mỗi quốc gia quyđịnh
Nhóm quyền chủ
yếu
Kinh tế, xã hội, văn hóa Dân sự, chính trị
* Ví dụ minh họa về quyền con người và quyền công dân:
Ở nhiều góc độ khác nhau - xem so sánh, có thể chứng minh quyền con người làkhái niệm rộng hơn quyền công dân
Ví dụ, về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá
nhân với nhà nước như quyền công dân, mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toànthể cộng đồng nhân loại Về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi chế định quốctịch, nên chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của gia đình nhân loại, bất
kể vị thế, hoàn cảnh, quốc tịch, Nói cách khác, quyền con người được áp dụng mộtcách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàncầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống củachủ thể quyền
Các quyền con người, quyền công dân được pháp điển hóa vào Hiến pháp các nướctrên thế giới theo những cách thức nhất định Tuy là hai phạm trù khác nhau nhưng quyềncon người và quyền công dân hầu như không mâu thuẫn mà ngược lại có sự thống nhất,
bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau Nhìn chung các quyền con người, quyền công dân được phápđiển hóa vào Hiến pháp các nước trên thế giới theo ba cách cơ bản sau:
Trang 3Thứ nhất, đề cập trực tiếp thành các điều khoản trong một chương riêng (có tên
“quyền con người”, “quyền con người, quyền công dân” hoặc quyền công dân” hoặc rảirác trong một số chương của Hiến pháp Đây là cách hiến định nhân quyền phổ biến nhấthiện nay được đa số các quốc gia trong đó có Việt Nam áp dụng
Thứ hai, các quyền con người, quyền công dân được quy định trong một văn bảnriêng và được thừa nhận như là một cấu phần của Hiến pháp
Câu 2 Anh (chị) hãy phân tích nội dung hai quy định sau:
“Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định” (Điều 51 Hiến pháp
năm 1992)
“Quyền con người , quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013)
Trả lời:
* Phân tích “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định” (Điều
51 Hiến pháp năm 1992)
Quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định ở Điều 51 của Hiến pháp năm
1992, với nội dung như sau:
- Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
Trên cơ sở quy định của Điều 51 Hiến pháp 1992, mọi công dân Việt Nam, khôngphân biệt dân tộc, nam nữ, tôn giáo, địa vị xã hội, đều bình đẳng với nhau về quyền vànghĩa vụ Đó là bản chất riêng, không trộn lẫn của Nhà nước ta với chế độ nhà nướckhác
Sự bình đẳng của công dân luôn luôn thể hiện ở hai mặt: Quyền và nghĩa vụ Trongchế độ xã hội ta, không thể chấp nhận tình trạng người được hưởng quyền mà không thựchiện nghĩa vụ và ngược lại Thực tế cho thấy các quyền công dân chỉ có thể được đảmbảo trên cơ sở công dân thực hiện nghĩa vụ của mình Việc công dân thực hiện nghĩa vụchính là điều kiện tiên quyết để tạo ra tiền đề vật chất bảo đảm cho việc thực hiện cácquyền công dân
Hiến pháp năm 1992 quy định việc Nhà nước bảo đảm cho cho các quyền công dânđược thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình Mối quan hệ qua lại cùng
có trách nhiệm giữa Nhà nước với công dân, giữa công dân với công dân chỉ tồn tại vàbảo đảm khi mỗi người, cùng với việc hưởng quyền thực hiện đầy đủ và trách nhiệm cácnghĩa vụ công dân của mình
- Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.
Quyền của mỗi người, công dân là quyền bất khả xâm phạm, mọi người phải có
nghĩa vụ tôn trọng quyền đó, Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân, nếu ai vi phạm
sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Ngược lại, công dân có trách nhiệm thực hiệnnghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội Nghĩa là, công dân phải thực hiện nghĩa vụ đối vớiNhà nước và xã hội, nếu không thực hiện sẽ gánh lấy những chế tài tương ứng Ví dụnhư: Công dân trong độ tuổi pháp luật quy định phải thực hiện nghĩa vụ quân sự Việcthực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dântộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Trang 4- Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.
Để đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ của công dân có thể thực hiện trong thực tế,yếu tố đầu tiên và quyết định là khi quy định phải đảm bảo tính khả thi của chúng Khicác quy phạm pháp luật không mang tính hiện thực thì nó sẽ đánh mất đi tính nghiêm túcvốn có của nó, tạo ra tâm lý nghi ngờ của công dân đối với pháp luật của Nhà nước, dẫnđến thái độ coi thường pháp luật Khi niềm tin đối với pháp luật không còn thì sự tôntrọng dành cho Nhà nước và pháp luật cũng có cơ sở để tồn tại
* Phân tích “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định
của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013)
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, một nguyên tắc chung về giới hạnquyền với tính cách là tư tưởng chủ đạo, định hướng cho việc xác định giới hạn đối vớitất cả các quyền (cần thiết và có thể) đã được quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến phápnăm 2013: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định củaluật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xãhội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng”
Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc về giới hạn quyền trước hết thể hiện quanniệm của các nhà lập hiến Việt Nam về bản chất của quyền con người, quyền công dân.Theo đó, quyền con người tuy mang tính tự nhiên, vốn có và không phải có ai ban phátcho chủ thể các quyền đó nhưng cũng không phải mọi quyền đều có ý nghĩa tuyệt đối vàkhông phải trong mọi trường hợp đều có thể thực hiện (hưởng thụ) quyền một cách tuyệtđối Bởi lẽ, con người hoặc công dân sinh ra và sống, hưởng thụ các quyền trong mộtcộng đồng xã hội Các quyền tuy là của cá nhân mỗi con người hoặc công dân nhưngkhông thể đối lập, loại trừ, hay xâm hại cho quyền của cá nhân khác hay những lợi íchcủa cộng đồng Nói cách khác, vì lợi ích chung, trong những trường hợp cần thiết, quyềncon người, quyền công dân có thể bị giới hạn Với tính cách là luật cơ bản, Hiến phápphải vạch rõ, hiến định nguyên tắc của việc giới hạn này Việc quy định một nguyên tắccho việc giới hạn quyền trong Hiến pháp mang hai ý nghĩa sau:
(1) xác lập tiêu chí để sự giới hạn quyền được chính đáng, tránh sự tuỳ tiện tronghoạt động của bộ máy nhà nước làm triệt tiêu, vô hiệu hoá hay giảm ý nghĩa của quyền;(2) bảo đảm tính hiện thực của quyền vì sự giới hạn đối với quyền con người, quyềncông dân là một giải pháp được lựa chọn cuối cùng khi không có giải pháp nào khác phùhợp hơn Trên tinh thần đó, suy cho cùng, nguyên tắc giới hạn quyền cũng nhằm mụcđích tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Có thể khẳng định nguyên tắc giới hạn quyền không tồn tại một cách biệt lập màtrong mối liên hệ thống nhất với các nguyên tắc khác được quy định tại Điều 15: Quyềncông dân không tách rời nghĩa vụ công dân (khoản 1); Mọi người có nghĩa vụ tôn trọngquyền của người khác (khoản 2); Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối vớiNhà nước và xã hội (khoản 3); Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân khôngđược xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác(khoản 4) Ở chừng mực nhất định và từng khía cạnh cụ thể, các nguyên tắc trên cũng thểhiện tư tưởng giới hạn quyền Tuy nhiên, những nguyên tắc này hướng đến điều chỉnhhành vi của các chủ thể có quyền, còn nguyên tắc giới hạn quyền lại hướng đến chủ thể
có nghĩa vụ, trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền, chính là Nhànước
Trang 5Nguyên tắc giới hạn quyền được quy định như vậy, cho dù đã hoàn toàn phù hợpvới luật nhân quyền quốc tế hay chưa thì đây vẫn được coi là điểm sáng rực rỡ nhất, thểhiện sự tiến bộ, phát triển vượt bậc trong chế định quyền cơ bản của Hiến pháp năm2013.
Trong việc ghi nhận các quyền cụ thể, Hiến pháp năm 2013 cũng kế thừa, phát triểncách thức ghi nhận quyền và kèm theo đó là giới hạn của quyền trong các bản Hiến pháptrước như:
- Quyền sống: Mọi người có quyền sống Tuy nhiên, trên tinh thần tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, luật hình sự Việt Nam thời gian gần đây
đã thu hẹp số lượng các tội danh có khung hình phạt với mức cao nhất là tử hình Luậthình sự cũng quy định không áp dụng hình phạt tử hình, không thi hành án tử hình đốivới người bị kết án đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội hoặc đủ 75 tuổi trở lên khiphạm tội hoặc khi xét xử, phụ nữ đang có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 thángtuổi
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự
và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xửnào khác xâm phạm thân thể, sức khoẻ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm: Không ai bị bắtnếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểmsát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Tuy nhiên, đây là quyền con người,không phải quyền riêng của công dân (chủ thể quyền được mở rộng) Hơn nữa phạm viquyền này cũng được mở rộng hơn ở chỗ mọi người có quyền không bị tra tấn, bạo lực,truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khoẻ,danh dự, nhân phẩm Thân thể của con người không chỉ là đối tượng vật chất (cơ thể) màcòn có cả các giá trị tinh thần như danh dự, nhân phẩm
- Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác (khoản 3 Điều 20): Đây làquyền mới được ghi nhận lần đầu trong Hiến pháp Việt Nam Tính bị giới hạn của quyềnnày thể hiện ở chỗ theo quy định của luật Nếu được diễn đạt: “Việc thực hiện quyền nàytheo quy định của luật” thì phù hợp hơn, như vậy quyền này mới không bị giới hạn bởiluật
- Quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng
tư khác: Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín vàcác hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác (đoạn 2 khoản 2 Điều 21) Mặtkhác, phạm vi quyền được mở rộng hơn, không chỉ bất khả xâm phạm quyền riêng tư quacác đối tượng như thư tín, điện thoại, điện tín mà là bất kỳ hình thức trao đổi thông tinriêng tư nào
- Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở: Việc khám xét chỗ ở do luật định (khoản 3Điều 22) Trong khi đó, Hiến pháp năm 1992, 1980 quy định việc khám xét chỗ ở dongười có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật (Điều 73); Hiến pháp năm
1959 quy định pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân không bị xâm phạm
- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
để vi phạm pháp luật (khoản 3 Điều 24) Giới hạn này cũng tương tự như giới hạn đượcquy định trong các bản Hiến pháp trước
- Quyền khiếu nại, tố cáo: Nghiêm cấm… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vukhống, vu cáo làm hại người khác (khoản 3 Điều 30)
Trang 6- Quyền được suy đoán vô tội: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đếnkhi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệulực pháp luật (khoản 1 Điều 31)
- Quyền sở hữu tài sản: Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc
vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặctrưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường (khoản 3 Điều32) - đó là quan điểm giới hạn đối với quyền này của nhà lập hiến Hiến pháp năm 2013
đã mở rộng hơn các lý do của việc trưng mua hoặc trưng dụng tài sản của cá nhân, tổchức Khả năng bị giới hạn tăng lên đồng nghĩa với phạm vi quyền sở hữu tài sản của cánhân, tổ chức bị thu hẹp hơn so với quy định trong Hiến pháp năm 1992
- Quyền tự do kinh doanh: Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong nhữngngành nghề mà pháp luật không cấm (Điều 33) Quyền này đã được mở rộng về chủ thể,thành quyền của mọi người (quyền con người) Trừ khoảng cấm của pháp luật, còn lại là
tự do kinh doanh Đây là điều kiện cần thiết để xây dựng và phát triển nền kinh tế thịtrường, tăng khả năng thu hút đầu tư, kinh doanh, cạnh tranh kinh tế ở Việt Nam
Câu 3 Quyền con người, quyền công dân có thể bị hạn chế như thế nào? Anh (chị) hãy bình luận vấn đề này
Trả lời:
* Những hạn chế quyền con người, quyền công dân:
“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luậttrong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013)
Giới hạn quyền, khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013: “Ở nước Cộng hoà XHCNViệt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xãhội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và luật” Giới hạnquyền trong Hiến pháp năm 2013 không chỉ là nguyên tắc cho chế định quyền con người,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp (Chương II) mà còn là nguyêntắc cho cả bản Hiến pháp và cũng là nguyên tắc chung cho cả hệ thống pháp luật
Quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng,bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1 Điều 14), Hiến pháp năm 2013
đã thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức lý luận và tư duy lập hiến trong việc ghinhận quyền con người, quyền công dân so với Hiến pháp năm 1992 (chỉ ghi nhận quyềncon người về chính trị, dân sự và kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện ở các quyền côngdân) Điểm nhấn của nội dung này là việc bổ sung nguyên tắc “Quyền con người, quyềncông dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý doquốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộngđồng” (khoản 2 Điều 14) Đây chính là điều kiện để bảo đảm tính hiện thực của quyềncon người, quyền công dân, bảo đảm sự cân bằng, minh bạch và lành mạnh giữa các lợiích trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân, cá nhân và phù hợp vớicác công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; hạn chế tối đa bất
cứ sự lạm dụng hay tùy tiện nào tước đi hay hạn chế các quyền và tự do vốn có của mọingười bởi các cơ quan nhà nước
* Những bình luận hạn chế quyền con người, quyền công dân:
Trang 7Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013: “Quyền con người, quyềncông dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý doquốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộngđồng” Nhưng với tính cách là luật cơ bản, các quy định của Hiến pháp nói chung thườngmang tính khái quát rất cao và đó cũng chính là tư tưởng, định hướng hay chính là nhữngnguyên tắc cho cả hệ thống pháp luật Nhìn nhận như vậy thì mới có thể thấy được mộtcách đầy đủ bức tranh về nguyên tắc giới hạn quyền trong các bản Hiến pháp Việt Nam.Giới hạn quyền được quy định như vậy, cho dù đã hoàn toàn phù hợp với luật nhân quyềnquốc tế hay chưa thì đây vẫn được coi là điểm sáng rực rỡ nhất, thể hiện sự tiến bộ, pháttriển vượt bậc trong chế định quyền cơ bản của Hiến pháp năm 2013.
Hiến pháp năm 2013 quy định về giới hạn quyền trước hết thể hiện quan niệm củacác nhà lập hiến Việt Nam về bản chất của quyền con người, quyền công dân Theo đó,quyền con người tuy mang tính tự nhiên, vốn có và không phải có ai ban phát cho chủ thểcác quyền đó nhưng cũng không phải mọi quyền đều có ý nghĩa tuyệt đối và không phảitrong mọi trường hợp đều có thể thực hiện (hưởng thụ) quyền một cách tuyệt đối Bởi lẽ,con người hoặc công dân sinh ra và sống, hưởng thụ các quyền trong một cộng đồng xãhội Các quyền tuy là của cá nhân mỗi con người hoặc công dân nhưng không thể đối lập,loại trừ, hay xâm hại cho quyền của cá nhân khác hay những lợi ích của cộng đồng Nóicách khác, vì lợi ích chung, trong những trường hợp cần thiết, quyền con người, quyềncông dân có thể bị giới hạn Với tính cách là luật cơ bản, Hiến pháp phải vạch rõ, hiếnđịnh nguyên tắc của việc giới hạn này Việc quy định một nguyên tắc cho việc giới hạnquyền trong Hiến pháp mang hai ý nghĩa sau:
(1) Xác lập tiêu chí để sự giới hạn quyền được chính đáng, tránh sự tuỳ tiện tronghoạt động của bộ máy nhà nước làm triệt tiêu, vô hiệu hoá hay giảm ý nghĩa của quyền; (2) Bảo đảm tính hiện thực của quyền vì sự giới hạn đối với quyền con người,quyền công dân là một giải pháp được lựa chọn cuối cùng khi không có giải pháp nàokhác phù hợp hơn Trên tinh thần đó, suy cho cùng, giới hạn quyền cũng nhằm mục đíchtôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Giới hạn quyền trong Hiến pháp năm 2013 không chỉ là nguyên tắc cho chế địnhquyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp (Chương II)
mà còn là nguyên tắc cho cả bản Hiến pháp và cũng là nguyên tắc chung cho cả hệ thốngpháp luật
Nhìn chung, tư tưởng giới hạn quyền tại khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đượcthể hiện phù hợp với yêu cầu lập hiến ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước và ngàycàng hoàn thiện, tiến bộ hơn trong quá trình phát triển chung của nền lập hiến Việt Nam
Sự giới hạn quyền ngày càng hướng đến mục tiêu bảo vệ các quyền một cách tốt hơn,theo bản chất của quyền đồng thời cũng bảo đảm cho tính hiện thực của quyền
Tuy đến Hiến pháp năm 2013 mới có một quy định xác định chung về giới hạnquyền cho chế định quyền cơ bản trong Hiến pháp nhưng ở các bản Hiến pháp trước đây,
tư tưởng về giới hạn quyền vẫn được xác lập tương ứng với mỗi quyền cụ thể được ghinhận Cho dù đã xác lập nguyên tắc chung về giới hạn quyền nhưng Hiến pháp vẫn cầnphải có giới hạn riêng đối với mỗi quyền cụ thể (nếu cần thiết và có thể) Bên cạnh đó,nguyên tắc giới hạn quyền cũng cần có sự hỗ trợ của những nguyên tắc chung khác củachế định trong một thể thống nhất Giới hạn quyền không chỉ được thể hiện ở việc vạchđịnh phạm vi nội dung quyền mà còn được thể hiện ở cách thức ghi nhận quyền (kỹ thuậtlập hiến) Theo đó, giới hạn quyền thường được thể hiện ở sự ghi nhận, xác định phạm vi
Trang 8chủ thể có quyền, chủ thể có nghĩa vụ hoặc ở cách thức xác định phạm vi các hình thứcpháp lý ghi nhận quyền hay cụ thể hoá việc thực hiện quyền (văn bản luật hay pháp luật).Hiến pháp Việt Nam khi xác định giới hạn quyền vẫn chưa thể hiện rõ ràng về quyềntuyệt đối (không được giới hạn) và quyền có thể bị giới hạn; chưa phân biệt giới hạnquyền với tạm đình chỉ việc thực hiện quyền (trong một số trường hợp).
Câu 4 Xu thế toàn cầu hóa đã làm thay đổi nhận thức của các nhà lập Hiến Việt Nam về vấn đề quyền con người như thế nào?
tế Hiến chương LHQ nêu rõ việc bảo vệ các quyền cơ bản và phẩm giá con người là mộttrong những mục tiêu hàng đầu của LHQ và trên thực tế nhiệm vụ thúc đẩy, bảo vệ quyềncon người cùng với việc duy trì hòa bình-an ninh quốc tế và hợp tác vì phát triển đã trởthành ba trụ cột trong hoạt động của tổ chức này
Trong từng giai đoạn phát triển của xã hội, cùng với việc xuất hiện thế hệ quyền conngười mới làm nảy sinh sự cần thiết khách quan và nhu cầu tự nhiên của việc nghiên cứu,nhận thức sâu sắc, và tiếp đến tư duy lại quyền con người Thế hệ quyền con người thứnhất là các quyền dân sự, chính trị Thế hệ quyền con người thứ hai là các quyền kinh tế,văn hóa, xã hội Thế hệ quyền con người thứ ba có tên gọi là các quyền tập thể, ở phươngdiện lý luận chung là kết quả của việc nhận thức về giai đoạn phát triển mới của quyềncon người gắn liền với quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa, và tương ứng của sự tưduy lại các giai đoạn tiến triển trước đó của quyền con người Có thể gọi thế hệ quyềncon người thứ ba là “các quyền của nhân dân”, “các quyền của sự đoàn kết” Ở phươngdiện lý luận – phương pháp luận, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Ngày 12/11/2013 vừa qua, tại Trụ sở Liên hợp quốc ở Niu-Oóc, Hoa Kỳ, Đại hộiđồng LHQ đã bỏ phiếu kín để bầu các quốc gia thành viên mới của Hội đồng Nhân quyềncho nhiệm kỳ ba năm 2014-2016 với sự tham gia của tất cả 193 quốc gia thành viênLHQ Việt Nam đạt 184/193 phiếu ủng hộ, trúng cử với số phiếu cao nhất trong số 14nước mới trúng cử vào Hội đồng nhân quyền gồm 47 thành viên đại diện cho các khuvực
Việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ xuất phát từ chính sách nhấtquán của Đảng và Nhà nước ta là bảo vệ, thúc đẩy các quyền con người và tích cực đónggóp vào hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này Kết quả Việt Nam trúng cử với số phiếu rấtcao mang nhiều ý nghĩa lớn Trước hết, đó là sự ghi nhận rộng rãi và đánh giá cao củacộng đồng quốc tế đối với các thành tựu của trong công cuộc đổi mới toàn diện, chínhsách, nỗ lực và kết quả tích cực đạt được về quyền con người ở Việt Nam Đây cũng làthành công của công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, thể hiện uy tín, vị thế quốc tếngày càng tăng của Việt Nam và sự đánh giá cao của quốc tế đối với các vai trò, đónggóp của Việt Nam tại Liên hợp quốc và các diễn đàn đa phương khác
Đảng, Nhà nước ta bắt nguồn từ khát vọng thiết tha được hưởng các quyền tự do cơbản của nhân dân Việt Nam vốn đã phải chịu cảnh là người dân của một nước thuộc địa
Trang 9Nhiều bạn bè còn nhắc lại tình cảm, sự ủng hộ đối với nhân dân Việt Nam luôn đi đầutrong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền dân tộc tự quyết Đây là một trong những quyền conngười cơ bản nhất, được ghi nhận trong những điều khoản đầu tiên của các điều ước quốc
tế quan trọng nhất hiện nay về quyền con người Tuyên bố được các nước thành viênLHQ thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người tổ chức vào tháng 6/1993 ởViên (Áo) nêu rõ rằng quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là các dân tộc có quyền tự do lựachọn thể chế chính trị Quyền đó cũng có nghĩa là các dân tộc tự do theo đuổi sự pháttriển kinh tế, xã hội và văn hoá của mình
Con người được đặt là trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong quá trìnhphát triển và công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam Các quyền và tự do cơ bản củanhân dân được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng nhiềuchủ trương, chính sách và cơ chế Vấn đề tôn trọng, thúc đẩy quyền con người đượckhẳng định ngay trong những chương đầu, trở thành những quy định có giá trị thực hiệntrực tiếp trong nội dung sửa đổi của Hiến pháp năm 1992 đã được đăng công khai, lấy ýkiến đóng góp rộng rãi của nhân dân
Đường lối đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện thắng lợi mục tiêu dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và chính sách nhất quán của Đảng, Nhànước ta là bảo vệ, thúc đẩy quyền con người tiếp tục là những định hướng cho việc hoànthiện luật pháp, thể chế nâng cao hiệu quả bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền dân sự,chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của người dân Theo đó và với đường lối đối ngoạiđúng đắn của Đại hội Đảng lần thứ XI, trong đó có chủ trương là đối tác tin cậy, thànhviên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế,chúng ta sẽ nỗ lực để có thêm nhiều đóng góp hiệu quả vào công việc chung, thực hiệntốt vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền
Chế định về quyền con người trong Hiến pháp sửa đổi, do đó, cần được xây dựngtrên nguyên tắc tiếp cận dựa trên quyền Nguyên tắc ấy chỉ ra việc định rõ một cách chínhxác nội hàm của khái niệm quyền công dân và quyền con người Không đơn thuần là chủthể của quyền công dân hẹp hơn chủ thể của quyền con người, điều quan trọng đó là việcxem cá nhân là chủ thể cao nhất và tối cao của các quyền con người
Đến Hiến pháp năm 2013, nhận thức mới về quyền con người và một bước tiến về
kỹ thuật lập hiến là phải xây dựng các đạo luật mới về quyền con người, quyền công dân
mà nước ta chưa có như Luật Trưng cầu dân ý, Luật Về hội, Luật Biểu tình Chỉ trên cơ
sở xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên tinh thần và nội dung mới của Hiến pháp, quyềncon người, quyền công dân mới có điều kiện tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm
Câu 5 Anh (chị) hãy giải thích vì sao chỉ từ Hiến pháp năm 1992, nguyên tắc “Tôn
trọng quyền con người” mới chính thức được ghi trong một điều khoản?
Trả lời:
* Hiến pháp năm 1992, nguyên tắc “Tôn trọng quyền con người” mới chính thức
được ghi trong một điều khoản vì:
Nhà nước ta là nhà nước của dân do dân vì dân nhân dân là chủ nhân dân làm chủnên mọi tất cả mọi hoạt động của nhà nước đều vì mục tiêu phục vụ nhân dân nên việcđảm bảo quyền con người rất được coi trọng 34 điều trong hiến pháp quy định quyền conngười cũng như quyền công dân trong đạo luật cơ bản nhất của nhà nước là bản hiến
pháp 1992 tôn trọng quyền con người là nguyên tắc cơ bản của hiến pháp bên cạnh
những nguyên tắc quan trọng khác
Trang 10Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng của Nhà nước theo địnhhướng bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở nước ta trong hiến pháp 1992 so với cácHiến pháp năm 1959 và 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), lần đầutiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 tuyên bố tôn trọng quyền conngười, nhấn mạnh vai trò của những văn bản có hiệu lực và giá trị pháp lý cao nhất làHiến pháp và luật trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân Hiến pháp năm
1992 đã thể hiện một bước phát triển mới trong việc pháp điển hóa các quyền con người,với việc khẳng định khái niệm và sự tôn trọng các quyền con người (Điều 50) cũng như
bổ sung một loạt các quyền và tự do mới trên tất cả các lĩnh vực Xét trên lĩnh vực dân
sự, chính trị, trong Hiến pháp 1992, có 5 quyền quan trọng được ban hành mới hoặc bổsung thêm, bao gồm: quyền sở hữu tài sản (bao gồm cả tư liệu sản xuất); quyền tự dokinh doanh; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo luật định; quyền đượcthông tin theo luật định; quyền bình đẳng của các tôn giáo; quyền không bị coi là có tội
và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Ngoài ra, Hiến pháp năm 1992 còn đề cập đến việc Nhà nước bảo hộ quyền lợichính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và mở rộng việc bảo vệ, giúp đỡcác nhóm xã hội dễ bị tổn thương Nội dung đảm bảo quyền dân sự – chính trị ở nước tađược thể hiện một cách cụ thể:
- Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân,
- Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về tính mạng,
- Bảo đảm một số quyền dân sự, chính trị khác,
- Bảo đảm quyền làm việc,
- Bảo đảm quyền được tiếp cận với giáo dục,
- Bảo đảm quyền được chăm sóc y tế
- Quyền được bảo đảm xã hội,
Có thể thấy rằng, Nhà nước ta từ lúc thành lập luôn luôn lấy quyền con người làmmục tiêu đấu tranh và phấn đấu Quyền con người luôn luôn được coi là nguyên tắc tronghoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước ta
Tuy nhiên, quyền con người không phải lúc nào cũng được ghi nhận công khaithành một nguyên tắc trong luật cơ bản của Nhà nước Phải khẳng định rằng, với Hiếnpháp 1992, lần đầu tiên quyền con người được chính thức ghi nhận là một nguyên tắcHiến pháp Việc chính thức ghi nhận quyền con người thành một nguyên tắc Hiến pháp làmột bước phát triển đáng ghi nhận trong lịch sử lập hiến Việt Nam, thể hiện một cách rõnét bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Câu 6 Anh (chị) hãy phân tích nguyên tắc “Công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm
quyền con người” với các nội dung sau:
Trả lời:
a Cơ sở hiến định:
Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôntrọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu,
Trang 11nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnhphúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.
Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, vănhóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.Như vậy, trong quy định tại Hiến pháp 2013 đã có sự phân biệt rõ hơn giữa quyềncon người và quyền công dân Quyền con người, quyền công dân không chỉ được tôntrọng (như quy định tại Điều 50 Hiến pháp năm 2013) mà còn được công nhận, bảo vệ,bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Đồng thời Hiến pháp đã bổ sung nguyên tắc hạnchế quyền con người, quyền công dân phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con
người mà Việt Nam là thành viên Theo đó, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể
bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninhquốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng
Nguyên tắc trách nhiệm nhà nước trong việc bảo vệ, bảo đảm quyền con người,quyền công dân không chỉ được thể hiện đầy đủ ở Chương II “Quyền con người, Quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân” mà còn ở nhiều quy định khác của Hiến pháp và lànguyên tắc, tinh thần chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ bản Hiến pháp Chương II là chương
có số điều quy định nhiều nhất, từ Điều 14 đến Điều 49 (36/120 điều) với sự đổi mớinhiều nhất cả về nội dung và cách thức thể hiện, kỹ thuật pháp lý Ngoài việc quy địnhthành nguyên tắc: Quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, vănhóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật(Điều 14); ở hầu hết các điều của Hiến pháp đều quy định trách nhiệm và bảo đảm củaNhà nước Tại Điều 3, Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân;công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiệnmục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; Tại Điều 8 Các cơ quan nhànước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân,liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiênquyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửaquyền; Điều 17 Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài; Điều 28 Nhà nướctạo mọi điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minhbạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân
b Cơ sở lý luận
Khái quát chung về tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,phát triển năm 2011) khẳng định quan điểm “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyềncon người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người” TạiĐiều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảođảm quyền con người, quyền công dân” Như vậy, ở đây Nhà nước nhận về mình tráchnhiệm, nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền con người, quyền công dân; bảo đảm các quyềncon người, quyền công dân; đồng thời chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗingười Các quyền của con người là những giá trị xã hội được con người nhận thức, thừanhận và dần được thể chế hóa trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và được cácquốc gia thừa nhận, cam kết thực hiện Các quyền công dân là hình thức pháp lý, biểuhiện cụ thể của quyền
Trang 12Tuy vậy, không đồng nhất giữa quyền con người và quyền công dân, không đồngnhất giữa các giá trị Quyền con người là những giá trị mà cộng đồng quốc tế nhận thức,thừa nhận, còn quyền công dân chỉ là nhận thức và thừa nhận của một quốc gia cụ thể Vìvậy, không ít những trường hợp giữa quyền con người và quyền công dân vẫn có nhữngkhoảng cách nhất định Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra cáctiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân,các tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của họ đãđược pháp luật ghi nhận Từ góc nhìn của khoa học luật học, trong điều kiện xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước
ta, các bảo đảm pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định, là cốtlõi, là sự thể chế hóa các bảo đảm chính trị, kinh tế, xã hội, tổ chức thành các chuẩn mực
có tính bắt buộc mà nhà nước, các cơ quan nhà nước và xã hội phải thực hiện để bảo đảmcác quyền con người, quyền công dân
Các bảo đảm pháp lý rất đa dạng, phong phú, trước hết là sự ghi nhận các quyềncon người, quyền công dân, đến việc tạo các điều kiện pháp lý, các điều kiện tổ chức,việc thiết lập cơ chế, bộ máy chuyên trách bảo đảm các quyền con người, quyền côngdân Bảo vệ quyền con người, quyền công dân là việc xác định các biện pháp pháp lý, cácbiện pháp tổ chức, cơ chế để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi bị xâmphạm từ phía cơ quan công quyền, hay từ các chủ thể khác nhằm khôi phục các quyền đã
bị xâm phạm
c Yêu cầu đối với các chủ thể liên quan
Các quyền con người, quyền công dân rất đa dạng, được bảo đảm, bảo vệ bằng cả hệthống pháp luật: Từ luật công đến luật tư; từ Luật Hiến pháp, Luật hành chính, Luật hìnhsự… đến Luật dân sự, Luật lao động, Luật hôn nhân gia đình Mỗi lĩnh vực pháp luật bảođảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng những phương thức, cách thứcchuyên biệt riêng có của mình Pháp luật hành chính là một lĩnh vực rất rộng lớn, luôngắn với con người từ khi sinh ra đến khi mất đi, không có một lĩnh vực pháp luật nào lại
có ý nghĩa sát thực, sâu rộng như lĩnh vực pháp luật hành chính trong việc bảo đảm, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân Pháp luật hành chính bảo đảm, bảo vệ quyền conngười, quyền công dân thông qua từng chế định của nó dù hiểu pháp luật hành chính theonghĩa rộng, nghĩa hẹp khác nhau Vì vậy, việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảmquyền con người, quyền công dân bằng pháp luật hành chính cần phải xem xét ở từng chếđịnh của lĩnh vực pháp luật Đây là công việc đòi hỏi những nghiên cứu công phu của cácnhà khoa học thuộc nhiều thế hệ khác nhau trong công cuộc xây dựng con người, xâydựng phát triển đất nước
d Thực tiễn thực hiện nguyên tắc
Việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trên thực tế gồm các quyềnsau:
+ Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin: Quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam đã được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật;được đảm bảo ngày càng tốt hơn nhờ sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình vàphong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng
+ Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng: Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, với sự
hiện diện của các tôn giáo được truyền vào từ bên ngoài như Phật giáo, Công giáo, Tinlành, Hồi giáo… và các tôn giáo được hình thành trong nước như đạo Cao Đài, Phật giáoHòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn
Trang 13trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do tôn giáo, tínngưỡng; coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, đảm bảo sự bìnhđẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổchức tôn giáo bằng pháp luật
+ Quyền tự do lập hội, hội họp: Được quy định trong Hiến pháp (điều 69) và được
pháp luật bảo vệ bằng nhiều văn bản luật và dưới luật Ngoài ra, Chính phủ cũng đã banhành Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản
lý hội nhằm tạo cơ sở pháp lý cho công dân, tổ chức ở Việt Nam thành lập hội và tạo cơchế, chính sách cho hoạt động của các hội, đảm bảo quyền lập hội của công dân
+ Đảm bảo quyền của người đang chấp hành án phạt tù, người bị tạm giam, tạm giữ đề điều tra: Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài
sản, danh dự, nhân phẩm của những người bị tạm giữ, tạm giam Người bị tạm giữ, tạmgiam có thể được gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác theo quy định củapháp luật; được tiếp cận thông tin qua hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình trong nhàtạm giữ, tạm giam; có quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật và
quy chế của nhà tạm giữ, tạm giam Việc tổ chức quản lý phạm nhân và đảm bảo chế độ
đối với phạm nhân tại các trại giam, qua đó phạm nhân đã được nâng cao các chế độ về
ăn, mặc, ở, sinh hoạt và chăm sóc y tế
+ Quyền được xét xử công bằng: Tại Việt Nam, hoạt động tố tụng được tiến hành
trên nguyên tắc bảo đảm cho người tham gia tố tụng được thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của mình một cách đầy đủ, công bằng, dân chủ; bảo đảm việc xét xử được công khai,minh bạch, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật trong khuôn khổ nhà nước pháp quyền
+ Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa: Việt Nam vẫn đạt một số kết quả đáng ghi
nhận về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội Tốc độ tăngtrưởng kinh tế được duy trì ở mức khá, trung bình 5,5-6%/năm Nhờ tăng trưởng kinh tế,mỗi năm Việt Nam tạo thêm hơn 1 triệu việc làm; giáo dục, y tế và an sinh xã hội ngàycàng được đảm bảo tốt hơn
+ Đảm bảo an sinh xã hội: Những tiến bộ trong việc đảm bảo an sinh xã hội được
thể hiện rõ qua việc xây dựng và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm, góp phần giảmbớt khó khăn, ổn định cuộc sống cho người dân Việt Nam đã thiết kế các nhóm chínhsách ngày càng đồng bộ hơn về phát triển thị trường lao động, thực hiện chế độ bảo hiểm
xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, giảmnghèo và hỗ trợ người dân tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
+ Phát triển thị trường lao động, thúc đẩy việc làm: Để phát triển thị trường lao
động và tạo việc làm, Nhà nước chú trọng củng cố hệ thống chính sách, pháp luật về laođộng và nâng cao hiệu quả các biện pháp triển khai trên thực tế Việc sửa đổi Bộ luật Laođộng (có hiệu lực từ 1/5/2013) và ban hành Chính sách bảo hiểm thất nghiệp (có hiệu lực
từ năm 2009) là những bước phát triển mới về hoàn thiện khung chính sách trong lĩnhvực này
+ Xóa đói, giảm nghèo: Giảm nghèo toàn diện và bền vững luôn được xác định là
ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam trong việc bảo đảm các quyền con người vàcác Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (MDGs) Trong những năm gần đây, côngcuộc giảm nghèo tại Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc Nhờ các thành tựu vềtăng trưởng kinh tế và chính sách an sinh xã hội, Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạnMDG về xóa đói, giảm nghèo