1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CAU HOI ON TAP LUAT HIEN PHAPVN.1,bs

20 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 66,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trả lời: * So sánh đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp đối với điều chỉnh của các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam: Đối tượng điều chỉnh của ngành Hiến pháp Đ

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM

BÀI 1 LÝ LUẬN VỀ LUẬT HIẾN PHÁP, HIẾN PHÁP VÀ LỊCH

SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM

II Câu hỏi tự luận:

Câu 1 Anh (chị) hãy so sánh đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp đối với điều chỉnh của các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam Trình bày nhận xét của anh (chị) về đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp Việt Nam?

Trả lời:

* So sánh đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp đối với điều chỉnh của các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam:

Đối tượng điều chỉnh của ngành Hiến

pháp Đối tượng điều chỉnh của ngành luật khác

Đối tượng điều chỉnh của luật Hiến pháp là

những quan hệ xã hội quan trọng của

nhiệm với việc xác định chế độ chính trị,

kinh tế, văn hóa – xã hội, chính sách đối

ngoại và an ninh quốc phòng, địa vị pháp lý

của công dân cũng như tổ chức và hoạt

động của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam

Đối tượng điều chỉnh của luật Hiến pháp ở

các lĩnh vực: chính trị, kinh tế văn hoá,

giáo dục, khoa học công nghệ, tổ chức và

hoạt động của bộ máy Nhà nước

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật là Những quan hệ xã hội trong một lĩnh vực của đời sống xã hội hoặc những nhóm quan

hệ xã hội có tính chất giống nhau, gần gũi với nhau do một ngành luật điều chỉnh Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh là căn cứ để phân chia các ngành luật trong hệ thống pháp luật Đối tượng điều chỉnh được ghi ngay đoạn đầu các bộ luật hoặc văn bản luật

* Những nhận xét về đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp Việt Nam:

Trước hết, Hiến pháp là một văn bản có hiệu lực cao nhất quy định việc tổ chức quyền lực Nhà nước, là hình thức pháp lý thể hiện một cách tập trung hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo, ở từng giai đoạn phát triển, Hiến pháp là văn bản, là phương tiện pháp

lý cao nhất thể hiện tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới hình thức những quy phạm pháp luật

Xét về mặt nội dung, nếu các luật khác thường chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống, chẳng hạn luật hôn nhân và gia đình, luật đất đai, luật lao động thì đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp rất rộng, có tính chất bao quát tất cả các lĩnh vực của sinh hoạt xã hội: Chế độ chính trị; chế độ kinh tế; đường lối phát triển khoa học, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục; đường lối quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Trang 2

Nằm trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật Hiến pháp có quan hệ mật thiết với các ngành luật khác, cùng góp phần tạo nên hệ thống pháp luật thống nhất của Nhà nước Việt Nam Nhưng so với các ngành luật khác, luật Hiến pháp có một vị trí quan trọng, tạo thành ngành luật cơ bản trong hệ thống các ngành luật Việt Nam Chính vị trí vai trò này của luật Hiến pháp làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam có tính thống nhất Sở dĩ luật Hiến pháp có vị trí như vậy, vì đối tượng điều chỉnh của luật Hiến pháp là những mối quan hệ xã hội quan trọng tạo nên chế độ chính trị của Nhà nước

Các mối quan hệ xã hội khác được các ngành luật khác điều chỉnh đều bắt nguồn từ các mối quan hệ được Luật Hiến pháp điều chỉnh Vì vậy, về cơ bản các ngành luật khác đều phải bắt nguồn hay nói một cách khác hơn phải dựa vào các quy phạm cuả ngành luật Hiến pháp Dựa trên quan điểm nhiều người cho rằng, không những hiến pháp là luật cơ bản của quốc gia, mà cả ngành luật hiến pháp này cũng là ngành luật cơ bản của mỗi quốc gia

Câu 2 Anh (chị ) hãy phân tích tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật

và đời sống xã hội Điểm mới của Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp năm 1992 về vấn

đề gì?

Trả lời:

* Phân tích tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật và đời sống xã hội

Do vị trí đặc biệt quan trọng của Hiến pháp trong một hệ thống pháp luật, trong sinh hoạt Nhà nước và trong sinh hoạt của một xã hội nói chung, Hiến pháp được xem là luật

cơ bản của Nhà nước Hiến pháp không phải là một đạo luật thông thường, như những đạo luật khác, mà là một đạo luật cơ bản của một nước”

Hiến pháp là một đạo luật cơ bản, khác với những đạo luật khác Tính chất luật cơ bản và hiệu lực pháp tối cao của Hiến pháp Việt Nam thể hiện trên nhiều phương diện:

- Trước hết, Hiến pháp là một văn bản có hiệu lực cao nhất quy định việc tổ chức quyền lực Nhà nước, là hình thức pháp lý thể hiện một cách tập trung hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo, ở từng giai đoạn phát triển, Hiến pháp là văn bản, là phương tiện pháp

lý cao nhất thể hiện tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới hình thức những quy phạm pháp luật

- Xét về mặt nội dung, nếu các luật khác thường chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống, chẳng hạn luật hôn nhân và gia đình, luật đất đai, luật lao động thì đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp rất rộng, có tính chất bao quát tất cả các lĩnh vực của sinh hoạt xã hội: Chế độ chính trị; chế độ kinh tế; đường lối phát triển khoa học, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục; đường lối quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

* Điểm mới của Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp năm 1992 về những vấn đề pháp luật và đời sống xã hội:

- Về chế độ chính trị và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước

Chế độ chính trị và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước Hiến pháp của năm 2013 thể hiện những điểm mới sau đây:

+Tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã xác định:“ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” So với Hiến pháp năm 1992, Hiến

Trang 3

pháp năm 2013 đã bổ sung thêm việc “kiểm soát” quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

+Về các hình thức thực hiện quyền lực nhân dân, Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các biện pháp dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước khác”

So với Hiến pháp năm 1992 chỉ mới quy định các hình thức dân chủ đại diện, còn Hiến

pháp năm 2013 đã quy định đầy đủ hai hình thức “dân chủ trực tiếp và dân chủ đại

diện” trong Hiến pháp.

+ Về địa vị pháp lý của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung thêm khoản 2 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục

vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những

quyết định của mình” Hiến pháp 2013 đã quy định bổ sung “các đảng viên Đảng cộng

sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” Những quy định này

xác định nghĩa vụ của các tổ chức của Đảng và các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình Các quy định này là cơ sở pháp lý để nhân dân giám sát các tổ chức của Đảng và các Đảng viên hoạt động theo đúng các yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

+ Chế độ chính trị quy định bổ sung mới về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

đó là “vai trò phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, nhà nước, hoạt động đối ngoại

nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Việc bổ sung quy định trên đây về vai

trò của Mặt trận là hoàn toàn phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa hiện nay ở Việt Nam

+ Hiến pháp năm 2013 thể hiện phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước khi xác lập vị trí, tính chất của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát

nhân dân một cách rõ ràng Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ Quốc hội là cơ quan

thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp (Điều 69), Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp (Điều 94), Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp (Điều 102);Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp (Điều 107).

+ Hiến pháp năm 2013 đã xác định nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là bảo vệ công

lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Về cách thức thực hiện quyền tư pháp Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định mới so với Hiến pháp năm

1992 (sửa đổi năm 2001) Nếu Hiến pháp năm 1992 tại Điều 132 quy định: “quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình” thì Hiến pháp năm 2013 đã quy định thêm cả quyền bào chữa của bị can:

“quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm” (Khoản 7 Điều 103)

Ngoài những nguyên tắc tố tụng đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992, như nguyên tắc tòa án xét xử công khai trừ trường hợp do luật định, nguyên tắc khi xét xử sơ thẩm có Hội thẩm tham gia, nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, Hiến pháp năm

2013 còn xác định thêm các nguyên tắc: “nguyên tắc tranh tụng được bảo đảm” (khoản

5 Điều 103) và “chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm được bảo đảm” (khoản 6 Điều

103) Để bảo đảm tính độc lập của Tòa án, Hiến pháp năm 2013 không quy định Chánh

Trang 4

án tòa án địa phương chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân như quy định của Hiến pháp năm 1992

+ Về chế định Chủ tịch nước, Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ hơn quyền hạn

của Chủ tịch nước khi xác định Chủ tịch nước quyết định phong, thăng, giáng tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị quân đội nhân dân Việt Nam

thay cho quy định quyết định phong hàm, cấp “sĩ quan cấp cao” trong các lực lượng vũ trang nhân dân như quy định trong Hiến pháp năm 1992 Trên thực tế theo Hiến pháp năm 1992, Chủ tịch nước chỉ quyết định phong sĩ quan cấp thượng tướng và đại tướng, còn thẩm quyền quyết định phong sĩ quan cấp thiếu tướng và trung tướng thuộc thẩm quyền của Thủ tướng

+ Trong việc tổ chức quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013 là tổ chức chính quyền địa phương Trong Hiến pháp năm 1992, Chương IX có tên gọi là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân còn trong Hiến pháp năm 2013, Chương IX có tên gọi là:

“Chính quyền địa phương” Việc khẳng định trong Hiến pháp chính quyền địa phương

gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là cần thiết Do Hiến pháp năm 1992 không xác định rõ chính quyền địa phương bao gồm những cơ quan nào nên ở một số địa phương quan niệm Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương cũng là chính quyền địa phương, từ đó đã can thiệp cản trở tính độc lập của Tòa án trong xét xử

+ Hiến pháp năm 2013, ngoài ba cấp chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn, Hiến pháp mới còn

quy định thêm đơn vị hành chính - lãnh thổ đặc biệt do Quốc hội thành lập Mặt khác để

tạo điều kiện thuận lợi cho việc đa dạng hóa chính quyền địa phương, khoản 2 Điều 111

quy định: “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh

tế đặc biệt do luật định.”

+ Về tổ chức thực hiện và kiểm soát quyền lực nhà nước, Hiến pháp năm 2013 còn

có điểm mới là đã có quy định về hai cơ quan hiến định độc lập là Hội đồng bầu cử

Trung ương và Kiểm toán nhà nước Các cơ quan hiến định độc lập do được Hiến pháp

quy định nên thể hiện tính độc lập cao trong tổ chức và hoạt động của mình, nhờ đó mà các thiết chế này có thể hoạt động có hiệu lực, hiệu quả cao và không phụ thuộc vào các thiết chế khác trong bộ máy nhà nước, đảm bảo quyền lực nhà nước được kiểm soát chặt chẽ

* Về chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:

So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 là một bước tiến vượt bậc trong việc bảo vệ các quyền con người và quyền công dân Bên cạnh việc quy định về quyền công dân, quyền con người cũng được quy định một cách chi tiết và đầy đủ Nếu trong Hiến pháp năm 1992 chương Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân chỉ có 29 điều thì

chương Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm

2013 có 36 điều (tăng 7 điều so với Hiến pháp năm 1992) Hiến pháp năm 2013 đã dành

21 điều quy định về quyền con người, 15 điều quy định về quyền công dân Tại Điều 14

khoản 1 Hiến pháp năm 2013 đã xác định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Việc quy

định cụ thể về quyền con người được thể hiện trên các bình diện: quyền bình đẳng trước pháp luật (khoản 1 Điều 16), quyền không bị phân biệt đối xử (Khoản 2 Điều 16), quyền

Trang 5

của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 18), quyền sống, tính mạng được pháp luật bảo hộ (Điều 19); quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 20, khoản 1), quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín (Điều 21) Ngoài ra quyền con người trên các lĩnh vực khác được quy định tại các Điều 22, 24,

26, 30, 31, 32, 33,35, 36, 37, 38, 40, 41, 43, 48,49 Nhìn chung, quyền con người có phạm vi chủ thể rộng hơn quyền công dân Trong khi quyền công dân Việt Nam chỉ dành cho người có quốc tịch Việt Nam thì quyền con người có phạm vi chủ thể rộng hơn là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài, người không có quốc tịch (bao gồm cả người nước ngoài và người Việt Nam) Quyền công dân Việt Nam được pháp luật Việt Nam điều chỉnh, trong khi đó quyền con người vừa được pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam điều chỉnh

Từ những phân tích trên đây có thể khẳng định rằng Hiến pháp năm 2013 là một cột mốc mới đánh dấu sự phát triển, tiến bộ của nền lập hiến Việt Nam về tư tưởng dân chủ;

tổ chức, kiểm soát quyền lực nhà nước; bảo vệ các quyền con người, quyền công dân và

kỹ thuật lập hiến

Câu 3 Nêu và phân tích các điểm khác nhau bản giữa Hiến pháp với các đạo luật thông thường để thấy rằng Hiến pháp là một đạo luật cơ bản của nhà nước Vì sao Hiến pháp được tôn vinh đạo luật có tính tối cao?

Trả lời:

* Phân tích các điểm khác nhau bản giữa Hiến pháp với các đạo luật thông thường

để thấy rằng Hiến pháp là một đạo luật cơ bản của nhà nước:

Những yếu tố để phân biệt giữa hiến pháp so với các đạo luật thông thường khác của quốc gia ở những điểm cơ bản sau:

• Tính chất: Hiến pháp là văn bản thể hiện và bảo vệ chủ quyền của nhân dân, thông qua việc giới hạn quyền lực của nhà nước và khẳng định các quyền con người, quyền công dân Trong khi đó, các đạo luật thông thường là tập hợp những quy tắc cư xử bắt buộc do nhà nước lập ra để quản lý xã hội, vì thế mang tính chất là công cụ pháp lý của nhà nước, chủ yếu phản ánh ý chí của nhà nước (tuy về nguyên tắc không được đi ngược với ý chí của nhân dân vì không được trái với hiến pháp)

• Phạm vi và mức độ điều chỉnh: Hiến pháp có phạm vi điều chỉnh rất rộng, liên quan đến tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của quốc gia, song chỉ tập trung vào các mối quan hệ cơ bản và chỉ đề cập đến các nguyên tắc định hướng, nền tảng, không đi sâu vào chi tiết Trong khi đó, các đạo luật thông thường chỉ đề cập đến một lĩnh vực, thậm chí một nhóm quan hệ xã hội trong một lĩnh vực nhất định, nhưng đi sâu điều chỉnh từng mối quan hệ cụ thể

• Thủ tục xây dựng và sửa đổi: Quy trình xây dựng và sửa đổi hiến pháp bao gồm nhiều thủ tục chặt chẽ và đòi hỏi nhiều thời gian hơn so với các đạo luật thông thường, đặc biệt với những hiến pháp “cứng” Ngay cả với những hiến pháp “mềm dẻo” cũng đòi hỏi việc xin ý kiến nhân dân (ở nhiều quốc gia phải tổ chức trưng cầu ý dân) là bắt buộc khi xây dựng hiến pháp (trong khi ở một số quốc gia việc này không nhất thiết phải thực hiện với mọi đạo luật thông thường) Thêm vào đó, việc thông qua hiến pháp cũng đòi hỏi tỷ lệ biểu quyết cao hơn (đa số 2/3) so với việc thông qua các đạo luật thông thường

* Hiến pháp được tôn vinh đạo luật có tính tối cao vì:

Trang 6

– Thứ nhất, tính tối cao của Hiến pháp thể hiện trước hết qua việc ghi nhận chủ

quyền tối cao của nhân dân Vì vậy, Hiến pháp là văn bản chính trị – pháp lý chứa đựng những giá trị cơ bản, cao quý nhất của xã hội

– Thứ hai, tính tối cao của Hiến pháp thể hiện thông qua quy trình, thủ tục pháp lý

đối với việc ban hành, sửa đổi và hiệu lực pháp lý quy định tại Điều 120 Hiến pháp

2013 (Do nội dung, vị trí, vai trò đặc biệt của Hiến pháp, việc xây dựng, thông qua, ban hành, sửa đổi, thay đổi đều phải tuân theo một trình tự đặc biệt) Việc ban hành, sửa đổi,

bổ sung Hiến pháp phải thuộc quyền của nhân dân nói chung, hoặc cơ quan đại diện

có thẩm quyền cao nhất của nhân dân (Quốc hội) thông qua theo một trình tự thủ tục đặc biệt vì Hiến pháp điều chỉnh và bảo vệ những quan hệ xã hội quan trọng nhất, cơ bản nhất, và là công cụ để bảo vệ thành quả đấu tranh Cách mạng

Bên cạnh đó, điều Điều 119 Hiến pháp 2013 quy định: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.” cho thấy Hiến pháp là văn bản pháp luật duy nhất quy định và thực hiện toàn bộ quyền lực nhà nước – lập pháp, hành pháp, tư pháp

Câu 4 Hiến pháp nhiều quốc gia trên thế giới quy định Hiến pháp được thông qua bằng trưng cầu ý dân hoặc Quốc hội lập hiến Anh (chị) hãy lý giải quy định này và cho biết quan điểm của mình

Trả lời

* Hiến pháp nhiều quốc gia trên thế giới quy định Hiến pháp được thông qua bằng trưng cầu ý dân hoặc Quốc hội lập hiến:

Quy trình, thủ tục lập hiến ở những nét chung nhất là trình tự, thủ tục được quy định cũng như các tập tục truyền thống được áp dụng để ban hành, sửa đổi, bổ sung hiến pháp

So với trình tự, thủ tục lập pháp, trình tự, thủ tục lập hiến có tính đặc biệt và đặc thù hơn Việc ban hành hiến pháp luôn gắn với sự ra đời một chế độ chính trị mới (gọi là lập quốc) Hiến pháp được ban hành gắn liền với việc thiết lập chế độ dân chủ, chế độ hiến pháp Bản hiến pháp được lập ra theo những điều kiện, hoàn cảnh được chấp nhận với những cách thức, thủ tục khác nhau Thường thì, bản hiến pháp do một Quốc hội hay Hội đồng được bầu ra chỉ để thông qua Hiến pháp gọi là Quốc hội, Hội đồng lập hiến, sau là giải tán để lập ra Quốc hội lập pháp theo Hiến pháp (ví dụ, nước Mỹ, và Quốc hội được bầu năm 1946 của nước ta cũng là Quốc hội lập hiến)

Đại hội nhân dân - cơ quan đại diện cũng được bầu ra theo nhiệm kỳ nhưng chủ yếu tập trung vào chức năng lập hiến (còn việc lập pháp thì do cơ quan thường vụ, thường trực thực hiện), bầu các chức sắc cao cấp của nhà nước, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, trong đó có việc phê chuẩn những hiệp ước quốc tế quan trọng (Đại hội nhân dân ở Trung Quốc, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô, Đại hội nhân dân Inđônêxia…)

Chủ thể là Quốc hội, Nghị viện lập pháp cũng được ban hành hiến pháp (đầu tiên) tuy có, nhưng không nhiều và thể hiện như sự một tiếp nối quá trình dân chủ hóa (ở Campuchia, Myanmar…) Đối với cơ quan này, đòi hỏi hiến pháp được thông qua với thủ tục đa số đặc biệt 2/3 hoặc 3/4 trên tổng số đại biểu, sau đó phải được nguyên thủ quốc gia (Vua, Tổng thống) xem xét công bố hoặc đưa ra cho nhân dân phúc quyết (như

là phê chuẩn) Chủ thể là nhân dân gần đây được nhiều nước (như nước Nga hiện nay) áp dụng dưới hình thức trưng cầu ý dân Thực tiễn còn có hiến pháp của một quốc gia hay

Trang 7

một liên minh quốc gia -do một tổ chức soạn thảo, rồi đưa ra cho nghị viện (các nghị viện) thông qua hoặc đưa ra nhân dân từng nước phúc quyết (ví dụ, Hiến pháp liên minh châu Âu - đã có hiệu lực vào 01/12/2009)

Công bố hiến pháp đối với các nước, nếu như các luật sau khi được nghị viện thông qua còn phải trải qua các công đoạn xem xét cuối cùng, công bố hoặc phủ quyết thì việc thông qua hiến pháp luôn cố gắng vượt ra khuôn khổ đó, hiến pháp thông qua là có hiệu lực ngay

Câu 5 Trình bày những khuynh hướng lập hiến chủ yếu ở nước ta trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 và cho ý kiến nhận xét của Anh (chị) về từng khuynh hướng vừa nêu?

Trả lời:

* Khuynh hướng lập hiến chủ yếu ở nước ta trước Cách mạng tháng 8 năm 1945:

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến với chính thể quân chủ chuyên chế nên không có Hiến pháp Tuy nhiên, vào những năm đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản Pháp năm

1789, ảnh hưởng của cách mạng Trung Hoa năm 1911 và chính sách duy tân mà Minh Trị thiên hoàng đã áp dụng ở Nhật Bản,… nên trong giới trí thức Việt Nam đã xuất hiện

tư tưởng lập hiến Có hai khuynh hướng chủ yếu về lập hiến trong thời gian này là:

Khuynh hướng thứ nhất: thiết lập chế độ quân chủ lập hiến ở Việt Nam dưới sự bảo

hộ của Pháp, cầu xin Pháp ban bố cho Việt Nam một bản Hiến pháp trong đó bảo đảm: quyền của thực dân Pháp vẫn được duy trì, quyền của Hoàng đế Việt Nam cần hạn chế và quyền của "dân An Nam" về tự do, dân chủ được mở rộng Đại diện cho xu hướng này là Bùi Quang Chiêu (người sáng lập ra Đảng lập hiến năm 1923) và Phạm Quỳnh

Khuynh hướng thứ hai: chủ trương đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc và

sau khi giành được độc lập sẽ xây dựng bản Hiến pháp của Nhà nước độc lập đó Không

có độc lập dân tộc thì không thể có Hiến pháp thực sự dân chủ Đại diện cho chủ trương này là cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc

* Ý kiến nhận xét về từng khuynh hướng vừa nêu:

Khuynh hướng thứ nhất: thực chất tư tưởng của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu

dù trình bày cách này hay cách khác, người chủ trương xoá bỏ chế độ vua quan, người chủ trương thay thế chế độ quân chủ chuyên chế bằng chế độ quân chủ lập hiến, nhưng tựu trung vẫn đặt đất nước ta dưới sự thống trị của thực dân Pháp

Khuynh hướng thứ hai: Khác với Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu, Phan Bội

Châu, Phan Chu Trinh và Nguyễn ái Quốc chủ trương phải giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, sau đó mới xây dựng Hiến pháp của nhà nước độc lập Không có độc lập tự do thì không thể có Hiến pháp thực sự Đây là khuynh hướng thứ hai và là khuynh hướng đúng đắn nhất

Cũng là những người yêu nước, tìm đường cứu nước, nhưng Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu có những chính kiến riêng của mình Tư tưởng của Phan Bội Châu là đoàn kết nhân dân lao động đánh đuổi thực dân Pháp rồi tiến hành canh tân xã hội Còn Phan Chu Trinh chủ trương đoàn kết nhân dân canh tân, dân chủ hoá xã hội, đánh đổ phong kiến noi theo phương Tây, tự cường dân tộc, giành độc lập Do hạn chế của hoàn cảnh lịch sử mà cả Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh ở mức độ khác nhau đều chưa nhận thức được bản chất thực sự của chủ nghĩa đế quốc

Trang 8

Nhưng có thể nói rằng tư tưởng lớn của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là hai mạch nguồn quan trọng trong tư tưởng của Nguyễn ái Quốc, trong đó có tư tưởng lập hiến Nhờ ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn ái Quốc đã khắc phục được những hạn chế của hai ông, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của Nguyễn ái Quốc

đã kết hợp được ngọn cờ phản đế và phản phong mới đi đến thắng lợi

Câu 6 Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1946 đã tác động như thế nào đến mối quan hệ pháp lý giữa Chủ tịch nước với Nghị viện nhân dân được quy định trong Hiến pháp này?

Trả lời:

* Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1946:

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản "Tuyên ngôn độc lập" khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Ngay sau đó, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3-9-1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm

vụ cấp bách của Chính phủ Một trong những nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng Hiến pháp Người viết: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế

độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ" Ngày 20-9-1945, Chính phủ Lâm thời ra Sắc lệnh thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 người do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Tháng 11-1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và bản dự thảo được công bố cho toàn dân thảo luận Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho bản dự thảo Hiến pháp chứa đựng mơ ước bao đời của nhân dân ta về độc lập và tự do

Ngày 2-3-1946, Quốc hội đã nghe Chính phủ trình bày bản dự thảo Hiến pháp Trên

cơ sở đó, Quốc hội (Khoá I, Kỳ họp thứ nhất) đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm

11 người, đại biểu của nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Ban dự thảo có nhiệm vụ tổng kết các ý kiến đóng góp của nhân dân và xây dựng bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốc hội xem xét và thông qua

Ngày 28-10-1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I đã

khai mạc Ngày 9-11-1946, sau hơn mười ngày làm việc khẩn trương, Quốc hội đã thông

qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với 240 phiếu thuận,

2 phiếu chống

Vào thời điểm Quốc hội thông qua Hiến pháp, thực dân Pháp phản bội các hiệp định đã ký kết với Chính phủ ta, chúng không ngừng khiêu khích và tấn công chúng ta bằng vũ lực, hòng lập lại ách thống trị của chúng ở Việt Nam Trước tình hình đó, trong phiên họp ngày 9-11-1946, sau khi tuyên bố Hiến pháp đã trở thành chính thức, Quốc hội

ra Nghị quyết giao nhiệm vụ cho Ban thường trực Quốc hội cùng với Chính phủ ban bố

và thi hành Hiến pháp khi có điều kiện thuận lợi Theo Nghị quyết của Quốc hội trong điều kiện chưa thi hành được Hiến pháp thì Chính phủ phải dựa vào những nguyên tắc đã quy định trong Hiến pháp để ban hành các sắc luật Ngày 19-12-1946, mười ngày sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Do hoàn cảnh chiến tranh mà Hiến pháp 1946 không được chính thức công bố, việc tổ chức tổng tuyển cử bầu Nghị viện nhân dân không có điều kiện thực hiện Tuy nhiên Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Ban thường vụ Quốc hội luôn luôn dựa vào tinh thần

và nội dung của Hiến pháp 1946 để điều hành mọi hoạt động của Nhà nước

Trang 9

* Mối quan hệ pháp lý giữa Chủ tịch nước với Nghị viện nhân dân được quy định trong Hiến pháp 1946:

Không giống Hiến pháp đầu tiên của một số nước trên thế giới, toàn bộ nội dung Hiến pháp năm 1946 không có một điều khoản nào định nghĩa Chủ tịch nước, nhưng bằng các quy định về cách thức thành lập, thẩm quyền, mối quan hệ của Chủ tịch nước với các cơ quan trong bộ máy nhà nước mà vị trí pháp lý của Chủ tịch nước được khẳng định theo nội dung quy định trong Chương IV – Chính phủ, từ Điều 43 đến Điều

56 của Hiến pháp năm 1946

Theo quy định tại Điều 43 Hiến pháp năm 1946: “Cơ quan hành chính cao nhất

của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa”

“Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng Có thể có Phó Thủ tướng” (Điều

44 Hiến pháp) Do vậy, Chủ tịch nước được xác lập với vị trí tương đối đặc biệt, đó là

nằm trong Chính phủ.

Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Nghị viện nhân dân bầu trong số các Nghị viên của Nghị viện nhân dân và phải được 2/3 tổng số Nghị viên bỏ phiếu thuận (nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ 2/3 số phiếu thì bầu lại lần hai sẽ theo đa số tương đối, tức là chỉ cần trên ½ tổng số Nghị viên bỏ phiếu thuận) Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước

là 05 năm và có thể được bầu lại

Về mối quan hệ pháp lý giữa Chủ tịch nước với Nghị viện nhân dân “cơ quan có

quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” (Điều 22):

Tuy Chủ tịch nước được Nghị viện bầu trong số các Nghị viên nhưng mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Nghị viện nhân dân là mối quan hệ tương đối độc lập cả về mặt tổ chức, cả về mặt thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hai chế định này Chủ tịch nước có nhiệm kỳ khác với nhiệm kỳ của Nghị viện Nhiệm kỳ của Nghị viện nhân dân là

03 năm (Điều 24) nhưng nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là 05 năm Điều này đảm bảo tính độc lập của Chủ tịch nước với Nghị viện nhân dân

Tính độc lập ấy còn thể hiện, Chủ tịch nước không chịu trách nhiệm pháp lý nào trước Nghị viện Nghị viện chỉ có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với Nội các chứ không phải với cả Chính phủ do Chủ tịch nước đứng đầu (Điều 54)

Câu 7 Anh (chị) trình bày điểm khác nhau cơ bản thủ tục sửa đổi Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 2013 Anh (chị) có nhận xét gì về vấn đề này?

* Điểm khác nhau cơ bản thủ tục sửa đổi Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 2013

- Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1946:

+ Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam năm 1946, việc sửa đổi Hiến pháp là do Nghị

viện nhân dân, Quốc hội quyết định với thủ tục bỏ phiếu đa số đặc biệt, việc sửa đổi (kể

cả ban hành) còn phải đưa ra nhân dân phúc quyết Quốc hội có quyền sửa đổi Hiến pháp với thủ tục đa số đặc biệt (2/3)

+ Trong điều kiện khó khăn của chiến tranh Quốc hội lập hiến thay cho Quốc hội lập pháp Quyền lập hiến bao gồm sang quyền lập hiến và cách thức sửa đổi Hiến pháp được Hiến pháp 1946 quy định thành một chương riêng được gọi là Chương VII Sửa đổi Hiến pháp Điều 70 quy định:

Trang 10

Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:

a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu

b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi

c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết

Bổ sung, sửa đổi Hiến pháp cũng do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện, như:

+ Chính phủ: đề nghị soạn thảo, ban hành Hiến pháp năm 1946

+ Quốc hội với 2/3 tổng số đại biểu yêu cầu

+ Nghị viện nhân dân, Quốc hội: đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1946 để ban hành Hiến pháp năm 1959

- Hiến pháp theo Hiến pháp năm 2013:

+ Để thể hiện rõ tính chất, vị trí vai trò của Quốc hội đề nghị trên cơ sở của Hiến pháp

1992, Hiến pháp năm 2013 có thể quy định theo hướng Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lập pháp + Về nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội tại khoản 1 Điều 70 quy định Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn “Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật”

Tại Chương XI Điều 120, việc sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:

1 Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành

2 Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội

3 Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp

4 Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định

5 Thời hạn công bố, thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp do Quốc hội quyết định

* Những nhận xét thủ tục sửa đổi Hiến pháp:

Nhìn chung, quy trình cơ bản sửa đổi, bổ sung hiến pháp nước ta không khác nhiều

so với quy trình chung của các nước trên thế giới Không những thế, nó còn có những ưu việt nhất định: ít rủi ro hơn so với thông qua bằng trưng cầu ý dân vì trong trưng cầu ý dân chỉ có một sự lựa chọn đồng ý hoặc không nên kết quả phụ thuộc rất lớn vào trình độ dân trí của nhân dân; lại tranh thủ được nhiều ý kiến của đông đảo các tầng lớp nhân dân

so với Quốc hội lập hiến và Đại hội nhân dân vì trong cơ chế này đã có đông đảo đại diện nên thường không tổ chức lấy ý kiến nhân dân nữa

Ở nước ta, trong quá trình thi hành các Hiến pháp Việt Nam, ngoài những lần tổ chức sửa đổi, bổ sung Hiến pháp một cách chính thức để thể chế hóa đường lối, chính sách mới của Đảng có nội dung khác với quy định của Hiến pháp hiện hành Việc sửa

Ngày đăng: 10/04/2021, 15:07

w