1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

FETP - Bài đọc thêm về Thương mại - Chương 4

34 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quaû nhieân, nghieân cöùu naøy öôùc löôïng raèng söï gia taêng cung ngöôøi nhaäp cö coù kyõ naêng thaáp töø naêm 1980 ñeán naêm 1995 ñaõ laøm giaûm tieàn löông cuûa nhöõng ngöôøi boû h[r]

Trang 1

Lập luận cho rằng thương mại (ngoại thương) ngày càng tăng chắc hẳn làm hại đến công ăn việc làm và làm tăng mức thất nghiệp tổng cộng ở Hoa Kỳ không đứng vững được ngay cả sau khi xem xét sơ sài bằng chứng về vấn đề này Mức việc làm ở Hoa Kỳ đã và đang tăng cao Tỷ lệ thất nghiệp giảm đều đặn trong thập niên 1990 – vào thời điểm viết bài này (vào khoảng năm 1998), tỷ lệ thất nghiệp xấp xỉ 4,5 phần trăm, đó là mức thấp nhất trong khoảng thời gian một thế hệ – bất chấp sự gia tăng rất nhiều trong kim ngạch nhập khẩu và kim ngạch xuất khẩu Biết rõ các diễn biến này, những người chỉ trích toàn cần hóa trong những năm gần đây đã tập trung vào một tuyến tấn công khác: đó là sự kết hợp của thương mại gia tăng, đầu tư hướng ra bên ngoài nhiều hơn, và nhập cư tăng thêm đã kiềm chế tiền lương (tiền công) của công nhân ở Hoa Kỳ trong khi làm trầm trọng thêm những bất bình đẳng về thu nhập

Chúng ta không thể phủ nhận rằng mức gia tăng tiền lương đã chậm lại và tiền lương đã trở nên bất bình đẳng hơn Đường phía dưới cùng trong hình 4-1 minh họa rằng sau khi tăng lên với một tốc độ lành mạnh cho đến đầu thập niên 1970, thu nhập trung bình tính theo giờ (không bao gồm phụ cấp) trong số các công nhân phi nông nghiệp đã thật sự giảm xuống, sau khi điều chỉnh đối với lạm phát giá tiêu dùng Tiền lương đã ngày càng bất bình đẳng hơn trong suốt thời kỳ nói trên, điều này làm cho vấn đề tồi tệ thêm Hình 4.2 cho thấy, thí dụ như, vào năm 1973, đàn ông ở phân vị thứ chín mươi của phân phối tiền lương kiếm được xấp xỉ 3,5 lần tiền lương của đàn ông ở phân vị thứ mười Đối với phụ nữ, tỉ số này hơi thấp hơn Tuy nhiên, vào năm

1996, tỉ số tiền lương của các công nhân ở phân vị thứ chín mươi so với các công nhân

ở phân vị thứ mười đã tăng lên đến 4,5 đối với nam và 4,0 đối với nữ

Vấn đề mà chương này xem xét là liệu sự mở cửa, trong tất cả khía cạnh của nó, có phải là nguyên nhân của những diễn biến đáng lo này hay không, và đến mức độ nào?

Trang 2

Hình 4-1 Mức Gia tăng Tiền lương và Năng suất ở Hoa Kỳ, 1959-96

Nguồn: Bộ Lao động Hoa Kỳ (1997); và Hội đồng Cố vấn Kinh tế (1997)

a Hoạt động Kinh doanh Phi nông trại

b Sử dụng hệ số khử lạm phát giá ngầm ẩn trong hoạt động kinh doanh phi nông trại

c Sử dụng hệ số khử lạm phát Chỉ số Giá Tiêu dùng

Hình 4-2 Tỉ số Tiền lương Theo giờ ở Điểm Cao nhất trên Tiền lương Theo giờ ở

Điểm Thấp nhất của Phân phối Tiền lương của Hoa Kỳ, 1973-96

Nguồn: Các mẫu luân phiên đi ra trong cuộc Điều tra Dân số Hiện hành của Cục Tổng Điều tra Dân số, do Viện Chính sách về Việc làm ước lượng

a Tỉ số của tiền lương ở phân vị thứ chín mươi trên tiền lương ở phân vị thứ mười

Chỉ số, 1959=1

Thù laoc

Tiền lương Trung bình theo giờ

Tỉ số a

Nam giới

Nữ giới

Trang 3

Lý lẽ của những người chỉ trích

Luận lý (logic) hậu thuẩn cho lời khẳng định thương mại gia tăng là nguyên nhân chủ yếu của mức gia tăng tiền lương chậm hơn và bất bình đẳng về tiền lương tăng lên dường như không chê vào đâu được Nếu người Hoa Kỳ có thể mua một cách tự do hàng hóa do công nhân ở các nước khác sản xuất ra, thế thì có phải công nhân Hoa Kỳ thực tế là không nằm trong cùng một đội ngũ lao đông như công nhân hải ngoại hay không? Nếu đúng như thế, thì phải chăng thương mại không mở rộng nguồn cung công nhân mà không thay đổi cầu đối với sản phẩm của họ, bằng cách đó thúc ép tiền công của công nhân Hoa Kỳ giảm xuống? Và phải chăng sức ép hướng xuống này không đặc biệt nghiêm trọng đối với các công nhân Hoa Kỳ được trả lương thấp nhất, mà kỹ năng (tay nghề) thấp của họ đặt họ vào thế cạnh tranh trực diện với công nhân không có kỹ năng ở nước ngoài?

Những người chỉ trích mở cửa có thể làm ra vẻ sử dụng lý thuyết kinh tế tinh vi để hỗ trợ cho những lời khẳng định của họ Trong nửa đầu của thế kỷ này, hai nhà kinh tế học Thụy Điển, Eli Hecksher và Bertil Ohlin, đã xây dựng một lý thuyết giải thích mô thức của thương mại quốc tế giữa các quốc gia mà trong đó có những khác biệt quan trọng về sự dồi dào tương đối của các yếu tố sản xuất khác nhau, như lao động, thiết bị vốn (thiết bị sản xuất), và tài nguyên thiên nhiên Nhà kinh tế học của MIT, Paul Samuelson, vào thập niên 1940 đã mở rộng lý thuyết này để chứng tỏ rằng thương mại tự do giữa hai quốc gia có cùng công nghệ sản xuất sẽ không những thúc ép các giá của hàng hóa họ mua bán đến các mức đồng nhất, mà sẽ còn thúc ép như thế đối với giá của các yếu tố sản xuất then chốt: tiền lương của các công nhân và suất sinh lợi từ vốn của các chủ sở hữu vốn.1 Luận lý (logic) hậu thuẩn cho “định lý về sự cân bằng giá yếu tố sản xuất” thật đơn giản: nếu công nhân có kỹ năng tương tự quanh thế giới cạnh tranh với nhau trên một thị trường chung, thì tiền lương của họ sẽ như nhau.2 Những người chỉ trích tự do thương mại sử dụng kết quả này để đưa ra ý kiến rằng khi Hoa Kỳ tiến hành thương mại tự do với Mehico và Philippines, ở những nước này tiền lương thấp hơn rất nhiều, thì tiền lương ở Hoa Kỳ chắc hẳn bị đẩy xuống đến ngang mức tiền lương thịnh hành ở các nước nghèo đó

Một mạch khác của lý thuyết kinh tế có vẻ hỗ trợ cho lời khẳng định rằng việc tháo bỏ các rào cản thương mại đặc biệt bất lợi cho công nhân có kỹ năng thấp nhất, những công nhân này tuy kiếm được tiền lương thấp ở Hoa Kỳ nhưng ở các quốc gia đang phát triển tiền lương của họ thậm chí còn thấp hơn Phát triển dựa trên những hiểu biết sâu sắc của Hecksher và Ohlin, hai nhà kinh tế học Hoa Kỳ là Wolfgang Stolper và Paul Samuelson, vào thập niên 1940, đã chứng minh rằng sự gia tăng giá nội địa của một sản phẩm, gây ra bởi một mức thuế nhập khẩu (thuế quan) cao hơn đánh trên sản phẩm, sẽ làm tăng giá của yếu tố sản xuất được sử dụng nhiều trong việc sản xuất ra sản phẩm đó.3 Kết quả của Stolper – Samuelson có ý nghĩa, chẳng

Trang 4

hạn, nếu giày dép được sản xuất chủ yếu bằng lao động của các công nhân phổ thông (không có tay nghề), thì gia tăng thuế nhập khẩu đối với giày dép nhập khẩu sẽ có khuynh hướng làm tăng tiền lương của các công nhân phổ thông Dĩ nhiên là lý thuyết

này cũng dẫn đến kết quả trái ngược: việc bãi bỏ thuế nhập khẩu đối với giày dép nhập khẩu sẽ làm giảm tiền lương của công nhân phổ thông Nếu tất cả công nhân có

xấp xỉ cùng một trình độ tay nghề, thì việc bãi bỏ thuế nhập khẩu sẽ làm giảm mức

tiền lương trung bình mà tất cả công nhân kiếm được

Đối với những người chỉ trích mở cửa thì đầu tư ra nước ngoài bởi các công ty Hoa Kỳ làm tăng thêm sự tổn hại mà công nhân Hoa Kỳ phải chịu đựng Vốn (tư bản) có tính “di động, không bị ràng buộc vào địa điểm đầu tư” trong khi lao động thì không

di động Những người chỉ trích mở cửa nói rằng lao động không thể có cơ may trong môi trường này và tất yếu phải mất sức mạnh mặc cả Các lập luận về kìm hãm tiền lương của thập niên 1990 có những điểm tương tự với những lời khẳng định trong thập niên 1980 rằng thương mại đang chuyển những công việc tốt thành những công việc tồi Đó là khi ứng viên tổng thống của Đảng Dân Chủ (Hoa Kỳ), Walter Mondale, và những người khác chê bai thực tế rằng Hoa Kỳ đang mất những công ăn việc làm trong công nghiệp chế tạo vào tay người nước ngoài (đáng chú ý là Nhật Bản) và có nguy cơ trở thành một quốc gia của những tay bán bánh mì tròn kẹp thịt và các tiệm giặt tẩy khô quần áo

Tuy nhiên, những người chỉ trích thương mại của thập niên 1990 nhận thấy những mối nguy hiểm thậm chí lớn hơn đang ở phía trước Họ nhận xét rằng hầu như toàn bộ tăng trưởng dân số trong tương lai sẽ xảy ra ở các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, và Indonesia, những nơi này tiền lương chỉ bằng một phần nhỏ của tiền lương

ở Hoa Kỳ Đồng thời, vốn có tính di động cao đang chảy vào những nơi này ngày càng nhiều, trang bị công nghệ hàng đầu thế giới cho công nhân trong thế giới thứ ba Kết quả cuối cùng dường như không thể tránh khỏi: Hoa Kỳ và các quốc gia công nghiệp hóa khác sẽ tràn ngập những mặt hàng công nghiệp chế tạo rẻ nhưng chất lượng cao mà cuối cùng sẽ phá hủy các ngành công nghiệp chế tạo của riêng họ Ngay cả khi điều đó không xảy ra, thì công nhân trong tất cả khu vực kinh tế của nền kinh tế Hoa Kỳ cũng đối mặt với viễn cảnh tiền lương của họ bị sút giảm, bởi vì công nhân ở cả hai khu vực công nghiệp chế tạo và dịch vụ đều là một phần trong một lực lượng lao động toàn quốc duy nhất

Trang 5

Mở cửa và tiền lương trung bình

Nếu như toàn cầu hóa, hay các lực lượng bên ngoài nền kinh tế Hoa Kỳ, bằng cách nào đó là nguyên nhân gây ra mức gia tăng tiền lương trung bình đáng thất vọng của Hoa Kỳ, thì chắc người ta kỳ vọng sẽ nhận thấy một khoảng cách ngày càng tăng giữa năng suất của công nhân Hoa Kỳ và tiền lương các công nhân này được trả Nghĩa là, nếu đúng là sự cân bằng giá yếu tố sản xuất đang thúc ép tiền lương trong các nền kinh tế của các quốc gia thuộc thế giới thứ nhất giảm xuống mức tiền lương ở các quốc gia thuộc thế giới thứ ba, và nếu đúng là những đe dọa sẽ chuyển đến các địa điểm khác ở nước ngoài của các công ty Hoa Kỳ đang tăng cường tác động thúc ép tiền lương này, thì gia tăng tiền lương trung bình phải chậm chạp không theo kịp gia tăng năng suất của công nhân Điều này đã không xảy ra Năng suất và thù lao (compensation) của lao động (được đo lường một cách phù hợp) đã thay đổi vào khoảng cùng một tốc độ như nhau Thù lao trung bình đang tăng với tốc độ chậm hơn trước năm 1973 vì một lý do thật đơn giản: hiện tại năng suất cũng không gia tăng nhanh bằng đã từng gia tăng trong quá khứ

Tuy nhiên, ít nhất là mới thoạt nhìn, hình 4-1 có vẻ không phù hợp với những

nhận định nói trên: giữa tiền lương theo giờ (hourly wages) (đường dưới cùng) và năng

suất (đường trên cùng) đã có chênh lệch ngày càng tăng Nhưng những biểu hiện bề ngoài thường có thể đánh lừa, và việc xem xét kỹ hơn hình 4-1 này sẽ bộc lộ lý do tại sao Sự so sánh đơn giản giữa tiền lương theo giờ và năng suất bỏ qua sự thể là hầu hết công nhân nhận được không những tiền lương bằng tiền mặt, mà còn một gói phụ cấp, bao gồm bảo hiểm y tế và trợ cấp hưu trí Hình 4-1 cho thấy mối liên quan chặt

chẽ hơn nhiều giữa mức gia tăng thù lao tổng cộng (total compensation) (đường thứ hai

từ dưới lên) và mức gia tăng năng suất

Điều cũng hết sức quan trọng là phải điều chỉnh giá trị tính theo đồng đô la thực tế của thù lao mỗi giờ (compensation per hour) tại một thời điểm cho trước bằng cách sử dụng một thước đo thích hợp về lạm phát Tiền lương theo giờ, được biểu diễn bởi đường dưới cùng trong hình 4-1, chỉ được khử lạm phát bằng cách sử dụng mức thay đổi giá của hàng hóa và dịch vụ mà người Hoa Kỳ tiêu dùng Nhưng năng suất toàn bộ của quốc giao bao gồm hàng hóa và dịch vụ được bán ra cả cho mục đích tiêu dùng lẫn cho mục đích đầu tư Trong những năm gần đây, năng suất đã gia tăng với tốc độ chậm hơn trong các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng so với trong các ngành công nghiệp chế tạo máy móc và thiết bị (đặc biệt là máy tính) Khi

thù lao tổng cộng được đo lường theo sức mua của công nhân đối với tất cả hàng hóa

và dịch vụ họ sản xuất ra – cả hàng hóa và dịch vụ được mua cho mục đích tiêu dùng lẫn hàng hóa và dịch vụ được mua cho mục đích đầu tư – thì hình 4-1 cho thấy (đường thứ hai từ trên xuống) mức gia tăng thù lao thực về cơ bản tương xứng với mức gia tăng năng suất

Trang 6

Các nhà điều hành có thể đổ lỗi cho sự cạnh tranh của nước ngoài hoặc đe dọa

di chuyển ra nước ngoài trong suốt các cuộc đàm phán về lao động, nhưng để hiểu được yếu tố nào thúc đẩy nền kinh tế, ta cần lắng nghe những thông tin đích thực, chứ không phải các giai thoại Và thông tin đích thực bộc lộ rằng trong khi cả năng suất lẫn thù lao theo giờ (hourly compensation) tăng nhanh hơn 2,5 phần trăm hàng năm từ năm 1959 đến năm 1973, thì mức gia tăng thù lao thực hàng năm (dựa trên các giá của sản lượng trong khu vực kinh doanh phi nông trại) đã sụt giảm mạnh còn khoảng 1 phần trăm kể từ 1973 Chẳng có gì bí ẩn về lý do tại sao tiền lương và thù lao (wages and compensation) trong hai thập niên vừa qua lại tăng chậm hơn: mức gia tăng thù lao đã giảm xuống bởi vì mức gia tăng năng suất đã sụt giảm hầu như cùng một tốc độ Các xu hướng về thương mại may mắn lắm thì cũng chỉ đóng một vai trò thật nhỏ trong xu hướng tiến đến mức gia tăng năng suất thấp hơn.4

Chúng tôi nhấn mạnh đến tính từ “được đo lường phù hợp” trong việc mô tả các xu hướng năng suất, bởi vì trong những năm gần đây người ta đã đặt nghi vấn về tính chính xác của chỉ số mà chính phủ sử dụng để đo lường thay đổi giá cả trong nền kinh tế Thí dụ, Báo cáo của Boskin năm 1996 về Chỉ số Giá Tiêu dùng của Cục Thống kê Lao động của Hoa Kỳ đã kết luận rằng những phương pháp hiện nay thể hiện cao (overstate) tỷ lệ lạm phát giá, cao hơn thực tế một lượng là 1,1 phần trăm mỗi năm Nếu có sự thể hiện cao tỷ lệ lạm phát, thì chắc hẳn điều này có nghĩa là tỷ lệ tăng trưởng sản lượng thực, các tỷ lệ gia tăng năng suất và thù lao đã bị thể hiện thấp một lượng tương đương (bởi vì các chỉ số giá được sử dụng để khử lạm phát các thước đo danh nghĩa của sản lượng nhằm tính toán mức sản lượng đã được điều chỉnh đối với lạm phát, hay mức sản lượng “thực”)

Thực ra, các kết luận trong Báo cáo của Boskin đã gây ra nhiều tranh cãi Nhiều nhà kinh tế học tin rằng mặc dù các chỉ số giá hiện hành có thể thể hiện cao lạm phát một ít, nhưng các sai số không lớn gần bằng mức mà báo cáo cho thấy Hơn nữa, mặc dù một trong những nhận xét phê phán quan trọng nhất của báo cáo này là sự cần thiết phải thực hiện những điều chỉnh đáng kể đối với những cải thiện về chất lượng hàng hóa, nhưng thực ra các chuyên viên thống kê của chính phủ đã làm điều này rồi, và họ đang tiếp tục làm việc để cải tiến các phương pháp của họ Nhưng bất kể mức độ chính xác của sự thể hiện thấp các thước đo năng suất và thù lao thực ra

sao, các sai số liên quan đến chất lượng ảnh hưởng đến các thước đo đó trong tất cả các năm, chứ không phải chỉ trong các thập niên gần đây khi các tốc độ gia tăng năng

suất và thù lao đã chậm lại Nói tóm lại, những người nào tin rằng tốc độ gia tăng thù lao ở Hoa Kỳ đã chậm lại đều chắc chắn là đúng, bất kể mức độ đo lường sai Chỉ số Giá Tiêu dùng

Tuy nhiên, một số người chỉ trích toàn cầu hóa nêu ra khả năng sinh lời ngày càng tăng của doanh nghiệp Hoa Kỳ trong thập niên 1990 như là bằng chứng cho thấy

Trang 7

rằng công nhân Hoa Kỳ đã bị đối xử không công bằng qua việc trả lương không xứng đáng do có sự cạnh tranh của nước ngoài Xét một cách nông cạn thì lời khẳng định này cũng có phần hợp lý Nếu các cổ đông đang nhận được phần lớn hơn của chiếc bánh kinh tế, thì theo định nghĩa, công nhân chắc chắn đang nhận được lát bánh nhỏ hơn Toàn cầu hóa chắc hẳn có vẻ là cách giải thích hợp lý cho sự phân chia ngày một thay đổi giữa các nhà tư bản và các công nhân

Tuy nhiên, một lần nữa, điều quan trọng là nhìn vào những thông tin đích thực Hình 4-3 cho thầy điều gì đã xảy ra kể từ năm 1959 đối với thù lao của lao động (labour compensation) và các loại thu nhập khác, được tính theo tỷ trọng của thu nhập quốc dân Hình này cho thấy rõ rằng tỷ trọng lợi nhuận quả có tăng lên trong thập niên 1990, nhưng vẫn còn nhỏ hơn mức đã tồn tại trong thập niên 1960 Hơn nữa, thành phần thu nhập khác mà các chủ sở hữu vốn nhận được, đó là các khoản chi trả tiền lãi, đã giảm trong thập niên 1990 do các lãi suất thấp hơn Về thù lao của lao động thì tỷ trọng đã không giảm: vào năm 1996, tỷ trọng này thật sự hơi cao hơn cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 (Dĩ nhiên là trong khi toàn thể lao động có thể nhận được lát bánh hơi lớn hơn trong chiếc bánh kinh tế, thì các nhóm công nhân nhất định nào đó và một số công nhân đơn lẻ chắc chắc đã tụt hậu) Nói tóm lại, lời khẳng định rằng, tính theo trung bình, công nhân đang nhận được phần bánh nhỏ hơn trong chiếc bánh kinh tế của Hoa Kỳ là không có thực chất Vấn đề ở đây là bản thân chiếc bánh không lớn thêm nhanh như đã từng xảy ra trong quá khứ Nhưng đối với sự phát triển này thì thương mại không chịu trách nhiệm gì

Hình 4-3 Thu nhập Quốc dân của Hoa Kỳ phân theo Loại Thu nhập, 1959-96

Nguồn: Hạch toán Thu nhập và Sản phẩm Quốc gia, nhiều năm

phần trăm

Loại thu nhập khác

Thù lao của Lao động Lợi nhuận Công ty

Trang 8

Tiền lương trung bình và tiến hành thương mại

với các quốc gia có tiền lương thấp

Còn lời khẳng định rằng nhập khẩu từ các quốc gia có tiền lương thấp đang tác hại đến công nhân Hoa Kỳ thì sao? Hãy tạm gác lại một bên ý tưởng cho rằng cạnh tranh từ các quốc gia đang phát triển hẳn là đặc biệt tác hại đến các công nhân Hoa Kỳ có tay nghề thấp hơn, đúng là sự thể nhiều quốc gia trả lương cho công nhân của họ chỉ bằng một phần nhỏ của tiền lương ở Hoa Kỳ chắc hẳn đang kìm hãm thù lao trung bình của người Hoa Kỳ Bằng chứng về các xu hướng về thù lao, năng suất, và tỷ trọng trong thu nhập quốc dân có thể quá mơ hồ đến nổi không thể có tiếng vang đối với hầu hết mọi người Có bằng chứng nào khác liên quan trực tiếp hơn đến ảnh hưởng của thương mại đối với tiền lương? Thật may mắn là có nhiều dữ liệu khác

Thứ nhất, những so sánh đơn giản về tiền lương của Hoa Kỳ với tiền lương ở các quốc gia khác hết sức gây lầm lẫn nếu những so sánh này không đồng thời thể hiện thêm những chênh lệch về năng suất của công nhân ở các quốc gia khác nhau Hình 4-4 minh họa mối quan hệ rất chặt chẽ giữa chi phí về lao động trong công nghiệp chế tạo và năng suất trung bình của công nhân (được đo lường theo tổng sản

phẩm nội địa bình quân đầu người) tại nhiều quốc gia khác nhau vào năm 1985 Số liệu trong hình này chứng tỏ rằng tiền lương ở các quốc gia nghèo thấp bởi vì năng suất của công nhân ở các quốc gia này thấp Năng suất thấp này không có gì đáng

ngạc nhiên, bởi vì công nhân ở các quốc gia nghèo không có trình độ học vấn cao bằng công nhân Hoa Kỳ, không có những thuận lợi của việc được làm việc với thiết bị tinh vi trong nhà máy hay trong một nền kinh tế có cơ sở hạ tầng hiện đại (đường sá tốt và máy tính và phương tiện viễn thông mới nhất), và, trong nhiều trường hợp, sống dưới các chính phủ gây trở ngại cho tiến trình đổi mới và cải thiện kinh tế

Trang 10

a Lao động trong công nghiệp chế tạo

Thứ hai, mặc dù Hoa Kỳ chắc chắn là tiến hành thương mại với các quốc gia đang phát triển trả tiền lương thấp hơn nhiều so với tiền lương mà công nhân Hoa Kỳ nhận được, nhưng hầu hết hàng nhập khẩu của Hoa Kỳ được sản xuất tại các quốc gia phát triển, như hình 4-5 chứng tỏ Hàng nhập khẩu từ các quốc gia đang phát triển đang trở nên quan trọng hơn, và hiện chiếm gần 40 phần trăm tổng số nhập khẩu Nhưng bởi vì tổng số nhập khẩu chỉ chiếm tỷ trọng 12 phần trăm sản lượng quốc gia, nên nhập khẩu từ các quốc gia đang phát triển chiếm ít hơn 5 phần trăm sản lượng quốc gia Như thế dù cho nhập khẩu từ các quốc gia có tiền lương thấp đang thúc ép tiền lương trung bình ở Hoa Kỳ giảm xuống – mà đây là vấn đề chúng tôi nghi ngờ là không đúng – thì tỷ trọng nhỏ của nhập khẩu này so với qui mô của toàn bộ nền kinh tế cho thấy rằng tác động nào như thế chắc hẳn là nhỏ

Hình 4-5 Nhập khẩu phân theo Nơi Xuất phát, 1978-96

Nguồn: Hội đồng Cố vấn Kinh tế (1997, bảng B-103)

Tỷ lệ phần trăm của tổng nhập khẩu

OPEC và Đông Âu

Các quốc gia công nghiệp

Các quốc gia đang phát triển

Trang 11

Hình 4-6 Tiền lương ở Các Quốc gia Đối tác Thương mại của Hoa Kỳ tính theo

Tỷ lệ Tiền lương ở Hoa Kỳ, trong Công nghiệp chế tạo

Nguồn: Tính toán của Susan Collins, dựa trên Niên giám Thống kê Lao động, nhiều năm của Tổ chức Lao động Quốc tế; và Niên giám Thống kê Chiều hướng Thương mại, nhiều năm, của Quỹ Tiền tệ Quốc tế

Thứ ba, ngay khi nhập khẩu từ các quốc gia đang phát triển gia tăng, thì tiền lương tại các quốc gia này, so với tiền lương ở Hoa Kỳ, cũng gia tăng Như hình 4-6 cho thấy, năm 1960, quốc gia không phải là quốc gia công nghiệp hóa (nonindustrialized country) trung bình chỉ trả lương hơi cao hơn 10 phần trăm tiền lương trong công nghiệp chế tạo của công nhân ở Hoa Kỳ Đến năm 1992, tiền lương

ở các quốc gia đang phát triển đã tăng lên đến vào khoảng 30 phần trăm tiền lương trong công nghiệp chế tạo của Hoa Kỳ, thể hiện những cải thiện trong năng suất ở các quốc gia đó Đồng thời, tiền lương trong công nghiệp chế tạo ở các quốc gia công nghiệp hóa cũng đã tăng nhanh hơn ở Hoa Kỳ, do đó vào năm 1992 tiền lương ở các nước này đã cao hơn tiền lương ở Hoa Kỳ Quả thực, hình 4-7 cho thấy rằng, vào năm

1996, thù lao theo giờ (hourly compensation) trong công nghiệp chế tạo ở Hoa Kỳ thấp hơn hẳn thù lao theo giờ ở một số đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ Nếu các hãng Hoa Kỳ không thể cạnh tranh một cách thành công với các hãng của Đức trong việc bán hóa chất sang các nước Mỹ La tinh hay với các công ty Nhật Bản trong việc bán xe ô tô sang Đông Nam Á, thì những thất bại của họ chắc chắn không thể xuất phát từ tiền lương thấp ở Đức hay Nhật Gia tăng đồng thời trong tiền lương ở cả thế giới các nước phát triển lẫn thế giới các nước đang phát triển được thể hiện trong hình 4-8 Hình này cho thấy rằng thù lao trung bình có trọng số (weighted average compensation) trong công nghiệp chế tạo ở các quốc gia đối tác thương mại của Hoa Kỳ đã tăng mạnh so với thù lao ở Hoa Kỳ Quả nhiên, vào năm 1996, tiền lương trung bình trong khu vực sản xuất trong tất cả các quốc gia đối tác thương mại của Hoa Kỳ đã thực sự rất gần bằng tiền lương của công nhân sản xuất ở Hoa Kỳ.6 Điều này gián

Các Quốc

gia Công

nghiệp Các Quốc gia

không phải là Quốc gia Công nghiệp Tỷ lệ phần trăm

Trang 12

tiếp cho thấy rằng, ngay cả khi bỏ qua những chênh lệch về năng suất giữa các quốc gia, thì tiền lương trung bình của các quốc gia đối tác thương mại của Hoa Kỳ cũng không thể tạo ra nhiều áp lực buộc tiền lương trung bình ở Hoa Kỳ giảm xuống

Thứ tư, ở Hoa kỳ có tương đối ít công nhân Hoa Kỳ phải cạnh tranh trực tiếp với công nhân của Trung Hoa hay Mehico Hầu hết công nhân Hoa Kỳ sản xuất các hàng hóa hay dịch vụ cho các thị trường mà trong đó có ít hay không có thương mại xuyên biên giới Thương nghiệp bán lẻ, thông tin liên lạc và vận tải, chăm sóc sức khỏe, xây dựng, và các dịch vụ cá nhân là một số ngành mà trong đó các nhà sản xuất Hoa Kỳ cung cấp một cách độc quyền, hay hầu như độc quyền, cho người tiêu dùng Hoa Kỳ Những công nhân được trả lương thấp sống ở Braxin hay Trung Quốc không cạnh tranh với công nhân Hoa Kỳ trong việc phục vụ các bửa ăn ở nhà hàng, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hay xây dựng nhà và các tòa nhà làm văn phòng (Tuy nhiên, những người nhập cư từ các quốc gia này quả thực có cạnh tranh với các công nhân bản địa có tay nghề thấp ở Hoa Kỳ và dường như thực sự kiềm chế tiền lương của họ, như chúng tôi sẽ thảo luận dưới đây)

Thứ năm, trong số các ngành mà hàng hóa và dịch vụ quả thực có di chuyển xuyên các biên giới quốc tế, có nhiều ngành trong đó các công nhân ở Hoa Kỳ và ở thế giới thứ ba không cạnh tranh trực tiếp với nhau Một lý do là các công nhân trong công nghiệp chế tạo tại các quốc gia giàu và các quốc gia nghèo có khuynh hướng chuyên môn hóa vào việc sản xuất ra các sản phẩm khác nhau Máy bay phản lực dân dụng và máy tính có tính năng cao được sản xuất tại các nước giàu; áo quần và đồ chơi như thú nhồi bông được làm ra ở các nước đang phát triển Một số công nhân

Hoa Kỳ được thuê làm việc trong những ngành mà trong đó sản xuất của thế giới thứ

ba là quan trọng hay đang tăng lên, và họ đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng mà đất nước Hoa Kỳ cần giải quyết thông qua sự hỗ trợ điều chỉnh nhân đạo và đúng đắn theo phương cách như chúng tôi trình bày chi tiết trong chương kết luận của chúng tôi Nhưng điều quan trọng là đặt vấn đề này trong bối cảnh của nó Năm 1996, khu vực công nghiệp chế tạo chỉ chiếm 15 phần trăm tổng số việc làm trên bảng lương của Hoa Kỳ, và hầu hết các công việc làm công nghiệp chế tạo đều nằm trong các ngành mà cạnh tranh từ các quốc gia giàu quan trọng hơn cạnh tranh từ các quốc gia thuộc thế giới thứ ba.7

Mặc dù cho đến bây giờ tiền lương thấp ở các quốc gia đang phát triển đã không kìm hãm tiền lương ở Hoa Kỳ, nhưng trong tương lai thì sao? Rốt cuộc thì điều được nhiều người công nhận là dân số của các quốc gia đang phát triển, vốn đã quá đông so với dân số ở các quốc gia tiên tiến hơn, đang gia tăng nhanh hơn dân số ở thế giới các quốc gia công nghiệp hóa Có lẽ William Greider diễn đạt hay nhất quan điểm cho rằng sự gia tăng dân số tiếp tục và sự mở rộng kèm theo của năng lực về công nghiệp chế tạo ở thế giới các quốc gia đang phát triển sẽ dẫn đến tình trạng “dư

Trang 13

thừa trên toàn cầu” hàng hóa do các quốc gia có tiền lương thấp sản xuất ra, không những kìm hãm giá cả khắp thế giới, mà còn kìm hãm tiền lương nữa.8

Quan niệm cho rằng các quốc gia thuộc thế giới thứ ba tạo ra mối đe dọa đối với Hoa Kỳ biểu hiện một sự chuyển hướng mạnh khỏi cách thức nhìn nhận các quốc gia trong suốt thời gian chiến tranh lạnh Trước khi Liên Xô (cũ) tan rã, ở Hoa Kỳ người ta đã quan niệm các quốc gia đang phát triển là một “chiến trường” cho các hệ

tư tưởng cạnh tranh với nhau, trong một số trường hợp thì tiến hành chiến tranh nhưng phổ biến hơn là cạnh tranh bằng cách thuyết phục và tuyên truyền Hoa Kỳ đã tìm cách mở rộng thương mại với các quốc gia đang phát triển như là một cách thức làm cho các quốc gia này giàu lên và thuyết phục các quốc gia này rằng nền kinh tế thị trường – và nền dân chủ – đưa ra nhiều hứa hẹn hơn nhiều về cải thiện đáng kể so với nền kinh tế kế hoạch tập trung và chủ nghĩa tập thể

Chiến lược của Hoa Kỳ đã chứng tỏ là thành công Thương mại đã thực sự nâng cao thu nhập trung bình ở thế giới các quốc gia đang phát triển, không chỉ tính theo giá trị tuyệt đối, mà còn tương đối so với thu nhập ở Hoa Kỳ Tuy đã thành công như thế, nhưng nhiều người ở Hoa kỳ hiện nay dường như đã mất niềm tin vào chính sách mở của và giúp mang lại thắng lợi

Hình 4-7 Thù lao theo giờ trong Công nghiệp Chế tạo, Các Quốc gia Công nghiệp Chọn lọc, 1996

Trang 14

Nguồn: Cục Thống kê Lao động đô la Mỹ

Trang 15

Hình 4-8 Thù lao Theo giờ ở Các Đối tác Thương mại Nước ngoài tính theo tỷ lệ của Thù lao ở Hoa Kỳ, 1975-96

Nguồn: Cục Thống kê Lao động

a Giá trị ước lượng của thù lao theo giờ trung bình có trọng số của công nhân sản xuất trong công nghiệp chế tạo ở hai mươi tám đối tác thương mại của Hoa Kỳ (loại trừ Trung Quốc vì ở đây tiền lương không được biết)

Đã đến lúc người Hoa Kỳ một lần nữa phải xem thế giới các quốc gia đang phát

triển như là một cơ hội kinh tế to lớn – đó là, một thị trường lớn tiềm tàng và ngày

càng tăng đối với hàng hóa và dịch vụ mà Hoa Kỳ và các quốc gia giàu khác sản xuất

ra – chứ không phải là một mối đe dọa Kể từ thập niên 1980, các nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển đã tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với các nền kinh tế của thế giới công nghiệp hóa (Nhìn trong tầm thời gian hai thập niên thì điều này chắc hẳn tiếp tục xảy ra ngay cả với sự trì trê về kinh tế dự kiến vào năm 1998 và có thể một số năm nữa trong tương lai ở Đông Nam Á) Tăng trưởng nhanh có nghĩa là không những tiền lương sẽ cao hơn, như chúng tôi đã chứng minh, mà còn cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng lên Những quan sát sau đây từ một báo cáo vào tháng chín năm 1997 của công ty đầu tư Morgan Stanley Dean Witter minh họa rõ ràng cho tiềm năng tăng trưởng ở thế giới các quốc gia đang phát triển của các sản phẩm và dịch vụ được sản xuất bởi người Hoa Kỳ.9

 Trong khi điện thoại di động đang có mặt khắp nơi ở các quốc gia tiên tiến và một

ít thị trường mới nổi, thì hơn 50 phần trăm dân số thế giới chưa bao giờ được gọi điện thoại

 Mặc dù có thể dường như có cửa hàng của McDonald ở mọi góc đường ở Hoa Kỳ, nhưng công ty này vẫn chỉ mới phục vụ ½ phần trăm của dân số thế giới

Tỷ lệ Phần

trăm

Trang 16

 Trong khi Fuji và Kodak đấu tranh về việc liệu thị trường Nhật Bản có bị đóng cửa một cách không hợp lý hay không, thì một nửa dân số thế giới chưa bao giờ được sử dụng máy ảnh để chụp một tấm ảnh

Đằng sau mỗi mẩu thông tin hữu ích này là một sự thực cơ bản bao quát Thế giới các quốc gia đang phát triển biểu hiện một cơ hội thương mại to lớn cho các hãng và công nhân Hoa Kỳ Trong điều kiện chi phí của công suất tính toán của máy tính sụt giảm nhanh chóng như hiện nay – và triển vọng vô tuyến truyền hình và các thiết

bị “mạng” đơn giản sẽ đưa năng lực máy tính đến đại chúng ở cả Hoa Kỳ lẫn nước ngoài – khả năng các sản phẩm do người Mỹ chế tạo và công nghệ của Mỹ trong việc thâm nhập các thị trường khắp thế giới dường như chẳng kém phần gây kinh ngạc

Những người chỉ trích mở cửa, nêu lên bóng ma của tình trạng cung cấp dư thừa trên toàn cầu, thật ra là không để ý đến những cơ hội to lớn cho Hoa Kỳ và các quốc gia tiên tiến khác trong việc bán hàng hóa và dịch vụ sang các quốc gia đang phát triển Lời khẳng định của họ cho rằng các quốc gia đang phát triển đơn thuần là các đầu máy xuất khẩu, vốn đe dọa làm tràn ngập thế giới với quá nhiều hàng hóa có giá thấp, cũng hoàn toàn sai Nếu như lời khẳng định này đúng sự thực, thì người ta chắc hẳn dự kiến các quốc gia đang phát triển sẽ có được các khoản thặng dư thương mại lớn với các nước khác trên thế giới, đặc biệt là, với các nước tiên tiến Thực ra, như bảng 4-1 cho thấy, nhiều quốc gia đang phát triển đã chịu những khoản thâm hụt thương mại với các quốc gia tiên tiến.10 Hơn nữa, trong những khu vực lớn của thế giới các quốc gia đang phát triển, các khoản thâm hụt này đã ngày càng tăng, chứ không phải ngày càng giảm

Trang 17

Bảng 4-1 Cán cân Thương mại với Các Quốc gia Công nghiệp hóa, các Quốc gia

Đang Phát triển Chọn lọc, 1980-96

Tỷ đô la Mỹ

Trung Âu và Liên Xô cũ

Cộng hòa Séc b n.a  10

a Cán cân tích lũy

b Số liệu trong thời kỳ 1993-96

c Số liệu trong thời kỳ 1992-96

Nguồn: quỹ Tiền tệ Quốc tế, Niên giám Thống kê Chiều hướng Thương mại, nhiều năm.

Ngày đăng: 06/04/2021, 18:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w