[r]
Trang 1BÀI 3 BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI
Hướng dẫn học
Bài này giới thiệu về nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới Sinh viên cần nắm được các khái niệm xe cơ giới, vai trò của bảo hiểm xe cơ giới, đối tượng bảo hiểm, phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm liên quan tới bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và bảo hiểm vật chất xe cơ giới Bên cạnh đó, cần hiểu rõ về phạm vi bảo hiểm, từ
đó giải quyết các tình huống rủi ro phát sinh
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu: Giáo trình Bảo hiểm, PGS TS Nguyễn Văn Định chủ biên, NXB Đại học KTQD
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Trang Web môn học
Nội dung
Bài học giới thiệu về nội dung của các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới và cách giải quyết bồi thường khi có tổn thất xảy ra đối với bản thân chiếc xe và trách nhiệm dân sự của chủ xe
Mục tiêu
Sau khi học xong bài này, sinh viên cần thực hiện được các việc sau:
Hiểu được các khái niệm cơ bản trong nội dung bài học;
Phân biệt được các rủi ro, các tổn thất được bảo hiểm và không được bảo hiểm;
Vận dụng được các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết bồi thường bảo hiểm;
Vận dụng được các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết bồi thường bảo hiểm
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Tai nạn xe cơ giới và trách nhiệm của bảo hiểm
Ngày 01/01/2006, chủ xe Lê Văn Thắng có chiếc xe Toyota
giá trị thực tế 300 Triệu đồng tham gia bảo hiểm toàn bộ vật
chất thân xe với số tiền 300 Triệu đồng tại công ty bảo hiểm
Bảo Minh Hải Dương Ngày 13/07/2006 xe gặp tai nạn bị tổn
thất toàn bộ Khi tham gia bảo hiểm, xe đã sử dụng được 5
năm, tỉ lệ khấu hao xe là 5%/năm
1 Thiệt hại của xe sau vụ tai nạn ?
2 Trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm đối với chủ xe ?
Trang 33.1 Khái niệm xe cơ giới và các loại hình bảo hiểm xe cơ giới
Theo luật giao thông đường bộ, xe cơ giới bao gồm:
xe ôtô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác
sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-mooc và sơmi rơ-mooc được kéo bởi xe ôtô hoặc máy kéo), xe mô tô 2 bánh, mô tô 3 bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe dùng cho người tàn tật) có tham gia giao thông
Để đối phó với những rủi ro tai nạn bất ngờ có thể xảy ra gây tổn thất cho mình, các chủ xe cơ giới (bao gồm các cá nhân, các tổ chức có quyền sở hữu xe hay bất kỳ người nào được phép sử dụng xe cơ giới, kinh doanh vận chuyển hành khách bằng xe
cơ giới) thường tham gia một số loại hình bảo hiểm sau:
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới;
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới với hàng hoá chở trên xe;
Bảo hiểm tai nạn hành khách trên xe;
Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe;
Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe;
Bảo hiểm vật chất xe
3.2 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
Đối tượng được bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
Chú ý rằng, bên thứ ba trong BH TNDS chủ xe cơ giới là những người trực tiếp bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn nhưng loại trừ:
Lái, phụ xe, người làm công cho chủ xe;
Những người lái xe phải nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng, con cái
Hành khách, những người có mặt trên xe;
Tài sản, tư trang, hành lý của những người nêu trên
3.2.2 Phạm vi bảo hiểm
Công ty bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lường trước được gây ra tai nạn và làm phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe Cụ thể, các thiệt hại nằm trong phạm vi trách nhiệm của công ty bảo hiểm bao gồm:
o Thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ ba;
o Thiệt hại về tài sản, hàng hoá của bên thứ ba;
Trang 4o Thiệt hại tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc giảm thu nhập;
o Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hạn chế thiệt hại; các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của cơ quan bảo hiểm (kể cả biện pháp không mang lại hiệu quả);
o Những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của những người tham gia cứu chữa, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân
Công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các vụ tai nạn mặc dù có phát sinh trách nhiệm dân sự trong các trường hợp sau:
o Hành động cố ý của chủ xe, lái xe và người bị thiệt hại;
o Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị
an toàn để tham gia giao thông theo quy định của điều lệ trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ;
o Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thông đường bộ như:
Xe không có giấy phép lưu hành, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật
và môi trường;
Lái xe không có bằng lái hoặc bằng bị tịch thu, bằng không hợp lệ;
Lái xe bị ảnh hưởng của các chất kích thích như: rượu, bia, ma tuý
Xe chở chất cháy, chất nổ trái phép;
Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa;
Xe đi vào đường cấm, đi đêm không có đèn hoặc chỉ có đèn bên phải;
Xe không có hệ thống lái bên phải
o Thiệt hại do chiến tranh, bạo động;
o Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sản xuất kinh doanh;
o Thiệt hại đối với tài sản bị cướp, mất cắp trong tai nạn;
o Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia, trừ khi có thoả thuận khác
Ngoài ra, công ty bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm đối với tài sản đặc biệt như vàng, bạc, đá quý, tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt
Phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện Người tham gia bảo hiểm đóng phí BH TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba theo số lượng đầu phương tiện của mình Mặc khác, các phương tiện khác nhau về chủng loại, về độ lớn có xác suất gây ra tai nạn khác nhau nên phí bảo hiểm được tính riêng cho từng loại phương tiện (hoặc nhóm phương tiện)
Phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu phương tiện đối với mỗi loại phương tiện (thường tính theo năm) là:
Xe không đủ điều kiện tham gia giao thông
Trang 5P = f + d Trong đó: P – Phí bảo hiểm /đầu phương tiện
f – Phí thuần
d – Phụ phí (được qui định là tỷ lệ phần trăm nhất định so với tổng phí bảo hiểm) Phí thuần được xác định theo công thức:
n Si.Ti
i 1 n Ci
i 1
f
Trong đó: Si – Số vụ tai nạn có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe được bảo
hiểm bồi thường trong năm i
Ti – Số tiền bồi thường bình quân 1 vụ tai nạn có phát sinh TNDS trong năm i
Ci – Số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm TNDS trong năm i
n – Số năm thống kê, thường từ 3 – 5 năm, i = (1, n) Như vậy, f thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n năm cho mỗi đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó
Khi tai nạn xảy ra, chủ xe (lái xe) phải gửi hồ sơ khiếu nại bồi thường cho công ty bảo hiểm, trong
hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau:
Giấy chứng nhận bảo hiểm;
Biên bản khám nghiệm hiện trường;
Tờ khai tai nạn của chủ xe;
Bản kết luận điều tra tai nạn (nếu có);
Biên bản hoà giải (nếu trong trường hợp có hoà giải);
Quyết định của toà án (nếu có);
Các chứng từ liên quan đến thiệt hại của người thứ ba, bao gồm: thiệt hại về con người, thiệt hại về tài sản Các chứng từ phải hợp lệ
Sau khi nhận được hồ sơ khiếu nại bồi thường, công ty bảo hiểm sẽ tiến hành giám định để xác định thiệt hại thực tế của bên thứ ba và bồi thường tổn thất
Thiệt hại của bên thứ ba bao gồm:
Thiệt hại về tài sản bao gồm: tài sản bị mất, bị hư hỏng hoặc bị huỷ hoại; thiệt hại liên quan đến việc sử dụng tài sản và các chi phí hợp lý để ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục thiệt hại
Thiệt hại về tài sản lưu động được xác định theo giá trị thực tế (giá thị trường) tại thời điểm tổn thất còn đối với tài sản cố định, khi xác định giá trị thiệt hại phải tính đến khấu hao Cụ thể:
Giá trị thiệt hại = Giá trị mua mới (nguyên giá) – Mức khấu hao
Trang 6 Thiệt hại về con người bao gồm thiệt hại về sức khoẻ và thiệt hại về tính mạng
Thiệt hại về sức khoẻ bao gồm:
o Các chi phí hợp lý cho công việc cứu chữa, bối dưỡng phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất hoặc giảm sút như: chi phí cấp cứu, tiền hao phí vật chất và các chi phí y tế khác (thuốc men, dịch truyền, chi phí chiếu chụp X-quang )
o Chi phí hợp lý và phần thu nhập bị mất của người chăm sóc bệnh nhân (nếu có theo yêu cầu của bác sỹ trong trường hợp bệnh nhân nguy kịch) và khoản tiền cấp dưỡng cho người mà bệnh nhân có nghĩa vụ nuôi dưỡng
o Khoản thu nhập bị mất hoặc giảm sút của người đó
o Thu nhập bị giảm sút là khoản chênh lệch giữa mức thu nhập trước và sau khi điều trị do tai nạn của người thứ ba
o Thu nhập bị mất được xác định trong trường hợp bệnh nhân điều trị nội trú do hậu quả của tai nạn Nếu không xác định được mức thu nhập này, sẽ căn cứ vào mức lương tối thiểu hiện hành Khoản thiệt hại về thu nhập này không bao gồm những thu nhập do làm ăn phi pháp mà có
o Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần
Thiệt hại về tính mạng của người thứ ba bao gồm:
o Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc, cứu chữa người thứ ba trước khi chết (xác định tương tự như ở phần thiệt hại về sức khoẻ)
o Chi phí hợp lý cho việc mai táng người thứ ba (những chi phí do hủ tục sẽ không được thanh toán)
o Tiền trợ cấp cho những người mà người thứ ba phải nuôi dưỡng (vợ, chồng, con cái đặc biệt trong trường hợp mà người thứ ba là lao động chính trong gia đình) Khoản tiền trợ cấp này được xác định tuỳ theo qui định của mỗi quốc gia, tuy nhiên sẽ được tăng thêm nếu hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn Như vậy, toàn bộ thiệt hại của bên thứ ba:
Thiệt hại thực tế của bên thứ 3 = Thiệt hại về tài sản + Thiệt hại về con người Việc xác định số tiền bồi thường được dựa trên hai yếu tố, đó là:
Thiệt hại thực tế của bên thứ ba;
Mức độ lỗi của chủ xe trong vụ tai nạn
Số tiền bồi thường = Lỗi của chủ xe + Thiệt hại của bên thứ 3 Trên thực tế, nếu người thứ ba là người không có thu nhập từ lao động (trẻ em chưa đến tuổi lao động, người tàn tật không có khả năng lao động ); hoặc có thu nhập thấp (thuộc các đối tượng chính sách của Nhà nước) bị chết, nhưng gia đình nạn nhân không được hưởng các khoản mất, giảm thu nhập do khi còn sống người này không phải nuôi dưỡng người khác thì một khoản bồi thường sẽ được trả trên tinh thần nhân đạo
Trong trường hợp có cả lỗi của người khác gây thiệt hại cho bên thứ ba thì:
Số tiền bồi thường = (Lỗi của chủ xe + Lỗi khác) × Thiệt hại của bên thứ 3 Sau khi bồi thường, công ty bảo hiểm được quyền đòi lại người khác số thiệt hại do họ gây ra theo mức độ lỗi của họ Cần nhắc lại rằng, công ty bảo hiểm bồi thường theo thiệt hại thực tế nhưng số tiền bồi thường tối đa không vượt quá mức giới hạn trách nhiệm của bảo hiểm
Trang 73.3 Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình bảo hiểm tài sản và nó được thực hiện dưới hình thức bảo hiểm tự nguyện
Chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe là để được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra với xe của mình do những rủi ro được bảo hiểm gây nên
Vì vậy, đối tượng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là bản thân những chiếc xe còn giá trị và được phép lưu hành trên lãnh thổ quốc gia Đối với xe môtô, xe máy thường các chủ xe tham gia bảo hiểm toàn bộ vật chất thân xe Đối với xe ôtô, các chủ xe có thể tham gia toàn bộ hoặc cũng có thể tham gia từng bộ phận của xe (Bộ phận thường thống nhất quy định là tổng thành xe) Xe ôtô thường
có các tổng thành: Thân vỏ; động cơ; hộp số …
3.3.2 Phạm vi bảo hiểm
Trong hợp đồng bảo hiểm vật chất xe, các rủi ro được bảo hiểm thông thường bao gồm:
Tai nạn do đâm va, lật đổ;
Cháy, nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá;
Mất cắp toàn bộ xe;
Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên
Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc xe được bảo hiểm trong những trường hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:
Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các rủi ro được bảo hiểm;
Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;
Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng STBT của công ty bảo hiểm là không vượt quá STBH đã ghi trên đơn hay giấy chứng nhận bảo hiểm (sẽ được đề cập thêm ở phần sau) Đồng thời công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi:
Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa Hao mòn tự nhiên được các tính dưới hình thức khấu hao,
và thường được tính theo tháng
Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng mà không do tai nạn gây ra
Mất cắp bộ phận của xe
Để tránh những “nguy cơ đạo đức” lợi dụng bảo hiểm, những hành vi vi phạm pháp luật, hay một số những rủi ro đặc biệt khác, những thiệt hại, tổn thất xảy ra trong những trường hợp sau cũng sẽ không được bồi thường: