Bởi đối với chúng tôi, được tìm hiểu về Bác, tìm hiểu về tình cảm của nhân dân mọi miền tổ quốc qua ca dao về Bác chính là một phần chúng tôi thể hiện lòng thành kính, lòng biết ơn sâu s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Thị Ngọc Lan
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo - Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Lan - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã rất tận tâm, nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn Văn học Việt Nam, các thầy, các cô trong khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Sinh viên
Kiều Trang Mi
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của
TS Nguyễn Thị Ngọc Lan Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, kết quả này không trùng với
kết quả của bất kì tác giả nào đã được công bố
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Sinh viên
Kiều Trang Mi
Trang 5MỞ ĐẦU
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp mới của khóa luận 3
7 Cấu trúc của khóa luận 4
Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ CA DAO VÀ CA DAO VỀ BÁC 5
1.1 Ca dao, ca dao hiện đại 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Giá trị nội dung 6
1.1.3 Giá trị nghệ thuật 7
1.2 Ca dao về Bác Hồ 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Lực lượng sáng tác 10
1.2.3 Hoàn cảnh sáng tác 12
1.2.4 Số lượng 14
Chương 2 CA DAO VỀ BÁC HỒ - ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG 17
2.1 Ca ngợi công lao của Bác 17
2.2 Tình cảm của người dân đối với Bác 20
2.3 Thể hiện vẻ đẹp của Bác 23
Chương 3 CA DAO VỀ BÁC HỒ - ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT 26
3.1 Ngôn ngữ 26
3.1.1 Sự kết hợp giữa ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ địa phương 26
3.1.2 Sự kết hợp giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời thường 27
3.1.3 Cách sử dụng tên riêng chỉ địa điểm 29
3.1.4 Cách sử dụng ngôn ngữ trùng lặp 32
3.2 Thể thơ 32
Trang 63.2.1 Thể lục bát 33
3.2.2 Thể song thất lục bát 37
3.3 Kết cấu 41
3.3.1 Kết cấu đối thoại và kết cấu trần thuật 41
3.3.2 Kết cấu đối lập và kết cấu song hành tâm lý 46
3.4 Các thủ pháp nghệ thuật 52
3.4.1 So sánh 52
3.4.2 Ẩn dụ 53
3.4.3 Hoán dụ 55
3.4.4 Nói quá, nói giảm, nói tránh 55
KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết ca dao là một thể loại của văn học dân gian Việt Nam,
ca dao thể hiện nỗi niềm, tình cảm của con người trong sinh hoạt, cuộc sống hằng ngày cũng như các mối quan hệ xã hội khác Đồng thời, đối tượng mà ca dao lựa chọn để sáng tác cũng rất đa dạng, trong đó có người anh hùng dân tộc
Một trong những nhân vật anh hùng dân tộc tiêu biểu, trở thành đề tài vô tận cho bất cứ thể loại nào, ở bất cứ giai đoạn nào đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về cuộc đời cũng như sự cống hiến lớn lao của Bác và được thể hiện trên rất nhiều các loại hình nghệ thuật khác nhau Nhưng xây dựng chân thật, đẹp đẽ nhất về hình tượng Bác phải kể đến ca dao Số lượng ca dao về Bác chiếm một mảng lớn trong ca dao hiện đại nhưng hiện nay về vấn đề nghiên cứu thì chưa nhiều Các công trình nghiên cứu ca dao về Bác thực sự còn chưa thỏa đáng
Trong thực tiễn nghiên cứu chúng tôi nhận thấy ca dao về những nhân vật lịch sử sẽ hướng người đọc đến những nhận thức, tư duy sâu sắc về lịch sử và thời đại Hơn nữa, ca dao không chỉ bày tỏ tình cảm, nguyện vọng, suy nghĩ của cá nhân
mà còn đại diện cho quảng đại quần chúng nhân dân Vậy nên, chúng tôi nghiên cứu đề tài này mong muốn sẽ giúp hiểu sâu sắc hơn về tình cảm của nhân dân đối với Bác và những biện pháp nghệ thuật làm nên thành công của mảng ca dao này
Ngoài ra, lựa chọn đề tài này cũng một phần dựa trên niềm yêu thích của chúng tôi Bởi đối với chúng tôi, được tìm hiểu về Bác, tìm hiểu về tình cảm của nhân dân mọi miền tổ quốc qua ca dao về Bác chính là một phần chúng tôi thể hiện lòng thành kính, lòng biết ơn sâu sắc đến Người Chúng tôi nhận thấy trong chương trình trung học phổ thông mới chỉ chú trọng nhiều đến thơ về Bác còn ca dao về Bác chưa được dành nhiều sự quan tâm Chúng tôi hy vọng khóa luận này sẽ là nguồn tài liệu hữu ích, làm cơ sở để nghiên cứu thêm về vấn đề này Cho nên trong quá trình lựa chọn đề tài chúng tôi cảm thấy vô cùng hứng thú khi tiếp cận một đề tài liên quan đến người anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh
2 Lịch sử vấn đề
Hiện nay ca dao về Bác là đề tài được rất nhiều người quan tâm Liên quan đến
đề tài “Ca dao về Bác Hồ - Những đặc điểm nổi bật” chúng ta có thể thấy một số
công trình nghiên cứu như: “Suy nghĩ về cảm quan dân gian qua hình tượng Bác Hồ”
Trang 8đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian, số 1/1990 và “Một nét đẹp trong bức tranh văn hóa dân gian đương đại: ca dao về Bác Hồ” đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian số 4/ 1991, Nguyễn Xuân Lạc đã đề cập đến cảm quan dân gian đối với Bác qua ca dao
Thi Nhị có bài “Bác Hồ và nguồn ca dao mới” đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian, số 4/1984 Ở bài viết này tác giả chủ yếu thể hiện tình cảm sâu đậm của nhân đân đối với Bác Hồ kính yêu
Trần Gia Linh với bài viết “Bốn mươi năm ca dao dâng Bác” đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian số 1/1990 đã khẳng định “Ca dao diễn tả về Người như một sự thống nhất tuyệt diệu giữa cái vĩ đại trong sự bình dị; giữa những hình ảnh kỳ vĩ có tính chất thần thoại với những hình ảnh quen thuộc, gần gũi với mọi người; giữa cái tượng trưng cao độ với cái hiện thực sâu sắc trong phương pháp biểu hiện.” [13, 30]
Bên cạnh đó, công trình “Tìm hiểu công thức truyền thống trong một số bài ca dao mới Nam Bộ về hình ảnh Bác Hồ”, Trần Tùng Chinh đã nhận ra rằng: “ca dao về Bác đã có sự kế thừa một số công thức truyền thống của ca dao cổ truyền” “Các bài
ca dao mới nói chung và ca dao về Bác nói riêng còn thiếu sự trau chuốt nhưng lại thừa sự mộc mạc, tự nhiên Tuy nhiên, những công thức truyền thống quen thuộc của
ca dao xưa vẫn in dấu và làm nên chất dân gian trong những bài ca” [1]
Hà Công Tài có bài viết “Vấn đề sưu tầm nghiên cứu thơ ca dân gian hiện đại” được đăng trong cuốn “Một thế kỷ sưu tầm nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian” thuộc Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội - 2001 Ông nhận thấy rằng chúng có nhiều đặc điểm rất tiêu biểu cho ca dao thời hiện đại, từ cách cảm nhận và phản ánh cuộc sống tới đặc điểm thi pháp, từ hoàn cảnh lưu truyền tới sự gắn bó với truyền thống ca dao của dân tộc trong suốt trường kỳ lịch sử
Ngoài ra, trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi còn thấy luận văn thạc sỹ “Đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ” của Nguyễn Thị Thúy Kiều trường Đại học
Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Đây cũng là cơ sở để chúng tôi đi khai thác, tìm hiểu khóa luận của mình
Như vậy, ta có thể thấy, các tác giả đã phần nào bàn được những khía cạnh
về nội dung cũng như nghệ thuật của ca dao về Bác Tuy nhiên còn chưa đi sâu Từ những cơ sở nghiên cứu trên chúng tôi phát triển thành đề tài “Ca dao về Bác Hồ - Những đặc điểm nổi bật” Chúng tôi hy vọng đề tài sẽ góp thêm một cái nhìn cụ thể hơn đặc điểm ca dao về Bác Hồ
Trang 93 Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn góp thêm một cái nhìn đầy
đủ hơn hơn về những đặc điểm nổi bật của ca dao về Bác Hồ ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Đồng thời hiểu thêm về mối tương quan giữa ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại
“Ca dao về Bác Hồ” của Trần Quang Nhật, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003 với 253 bài ca dao
- Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo một số cuốn như: “Ca dao Bảo Định Giang”, “Tục ngữ ca dao Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan, “Ca dao chống Mỹ - tập 2”, “Ca dao chiến sỹ - tập 5”, “Ca dao chiến sĩ - tập 6”, “Ca dao Đồng Tháp Mười”,
“Ca dao sưu tầm - từ 1945 đến nay”,…
- Chúng tôi đã tập hợp và chọn lựa được 521 bài để tiến hành khảo sát, phục
vụ cho mục đích nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn các phương pháp như so sánh, hệ thống, phân tích - tổng hợp… Từ những phương pháp này chúng tôi nhận thấy ca dao vô cùng phong phú và hấp dẫn Giúp chúng tôi nhận thấy được tầm quan trọng của mảng ca dao về Bác trong mối tương quan chặt chẽ giữa ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại Đồng thời, chúng tôi đưa ra được những đánh giá đầy đủ
và ý nghĩa hơn của bộ phận ca dao này
Ngoài ra, phương pháp thống kê đã giúp thống kê tần số xuất hiện của các thể thơ, hình ảnh, từ ngữ hay nội dung mà người sáng tác muốn truyền đạt Dựa vào kết quả và những số liệu thống kê chúng tôi đã khái quát thành những đặc điểm cơ bản nhất về nội dung và nghệ thuật
6 Đóng góp mới của khóa luận
Khóa luận chỉ ra đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ,
lý giải được tầm quan trọng của bộ phận văn học này Đồng thời hiểu thêm về phương thức sáng tác của nhân dân ta trong việc ca ngợi người anh hùng
Trang 10Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu
và giảng dạy văn học Việt Nam
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung khóa luận có 3 chương:
Chương 1: Giới thuyết về ca dao và ca dao hiện đại về Bác Hồ
Chương 2: Ca dao về Bác Hồ - Đặc điểm nội dung
Chương 3: Ca dao về Bác Hồ - Đặc điểm nghệ thuật
Trang 11Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ CA DAO VÀ CA DAO VỀ BÁC
1.1 Ca dao, ca dao hiện đại
1.1.1 Khái niệm
Nguồn gốc của ca dao từ các câu hát dân ca trong cuộc sống sinh hoạt và lao động của người dân và có mối liên quan mật thiết với dân ca Trước hết, để hiểu về khái niệm ca dao chúng ta cần hiểu dân ca là gì? “Dân ca là những bài hát và câu hát dân gian trong đó có cả phần lời và phần giai điệu” [6, 411] Dân ca không chỉ
là những câu hát mà nó còn là một hình thức sinh hoạt đặc sắc của đời sống nhân dân, Qua ca dao, đời sống nhân dân Việt Nam hiện lên vô cùng phong phú và đa dạng như lao động sản xuất, lễ nghi… Dân ca gắn với các môi trường diễn xướng như dưới nước, trên cạn Và dân ca tồn tại khắp các vùng miền: Bắc, Trung, Nam, khắp các dân tộc trên đất nước
Chu Xuân Diên đã nhận định rằng “ca dao là lời của các bài hát dân ca nhưng không có tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, những câu thơ có thể trở thành những làn điệu dân ca” [6, 436]
Nguyễn Xuân Kính lại cho rằng “ca dao là tập những sáng tác văn chương, chúng được phổ biến rộng rãi và lưu truyền qua nhiều thế hệ Đồng thời mang những đặc điểm nhất định và bền vững về mặt phong cách Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian” [9, 79]
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” thì nhận định “ca dao được coi là một danh từ để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).”
Dựa vào thời điểm xuất hiện, có thể chia ca dao làm hai bộ phận chính: ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại
Bàn về khái niệm ca dao cổ truyền, Chu Xuân Diên cho rằng: “… đó là bộ phận những câu hát đã trở thành cổ truyền của nhân dân Gọi là cổ truyền bởi vì những câu hát này được phổ biến rộng rãi và lưu truyền qua nhiều thế hệ Gọi là cổ truyền bởi
vì những câu hát này mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách… trở thành khuôn mẫu cho việc sáng tác thơ ca của nhân dân ở các thế hệ sau” [6, 437]
Nguyễn Hằng Phương nhận định: “ca dao cổ (hay ca dao cổ truyền) là khái niệm chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ của dân ca (không kể tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) được sáng tác từ cách mạng tháng Tám trở về trước” [24]
Trang 12Về khái niệm ca dao hiện đại, trong “Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian hiện đại”, Chu Xuân Diên nhận định rằng “Chúng tôi dùng khái niệm văn học dân gian hiện đại hay văn học dân gian mới để chỉ văn học dân gian thời kỳ từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 trở lại đây” [3,34] Ca dao hiện đạilà một bộ phận của văn học dân gian hiện đại Cho nên ca dao hiện đại là loại ca dao xuất hiện từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945
Bên cạnh đó, Nguyễn Hằng Phương trong “Một cách nhận diện ca dao hiện đại” đã đề cập đến ba tiêu chí nhận diện ca dao như sau:
Tiêu chí thứ nhất bà cho rằng ca dao hiện đại chính là những tác phẩm ca dao mang trong mình những đặc điểm nghệ thuật dân gian truyền thống nhưng lại phù hợp với quan niệm nghệ thuật và hiện thực đời sống của nhân dân trong thời kỳ hiện đại
Ở tiêu chí thứ hai Nguyễn Hằng Phương chỉ ra rằng: ca dao hiện đại thường
là những sáng tác tập thể Họ phản ánh những hiện tượng cuộc sống vào ca dao và hiện tượng đó thường tác động mạnh mẽ đến cả một tập thể chứ không phải một đối tượng riêng lẻ
Cuối cùng, ở tiêu chí thứ ba bà khẳng định ca dao hiện đại có thể ra đời từ rất nhiều nguồn khác nhau nhưng quan trọng chúng phải được lưu truyền rộng rãi bằng phương thức truyền miệng
1.1.2 Giá trị nội dung
Nội dung chủ yếu của ca dao cổ truyền là phản ánh chân thực những sinh hoạt hằng ngày, những tâm tư, tình cảm và cả nỗi đau khổ của nhân dân lao động bị
áp bức: “Gánh cực mà đổ lên non/ Còng lưng mà chạy cực còn theo sau”; “Trời sao trời ở không cân/ Kẻ ăn chẳng hết người lần chẳng ra”;…
Đó là những tình cảm thiêng liêng cao quý của những người thân trong một gia đình: “Ngó lên nuộc lạt mái nhà/ Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”;…cha mẹ và con cái: “Ân cha nặng lắm con ơi/ Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”; “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”; vợ chồng:
“Áo vá vai vợ ai không biết/ Áo vá quàng chí quyết vợ anh”; “Chồng em áo rách
em thương/ Chồng người áo gấm xông hương mặc người”; anh em, chị em, họ hàng: “Anh em như chân với tay/ Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”…
Ca dao hiện đại có nội dung lên án, tố cáo tội ác của giặc Pháp, Mỹ Những hành động, những tội ác của chúng được kể lại với lòng uất hận, căm thù: “Con ơi,
Trang 13mẹ dặn điều này/ Mỹ Diệm một bầy giết hại bà con”; “Chén cơm thuốc độc hãy còn/ Mối thù Phú Lợi núi mòn không phai”…
Nội dung nổi bật nhất của ca dao hiện đại chính là tình cảm của nhân dân đối với Đảng và nhất là đối với Bác Hồ Đề tài này chiếm số lượng lớn nhất trong ca dao hiện đại: “Nhớ ngày mồng ba tháng ba/ Chính là ngày của Đảng ta ra đời/ Đảng
ra đời sáng ngời mọi chỗ/ Đảng ra đời lúa trổ nhiều bông”; “Bác, Đảng lập thành tên nước/ Con cháu ta tiến bước dưới cờ/ Ta làm con cháu Bác Hồ/ Đánh tan Mỹ Ngụy cơ đồ về ta”; “Cụ Hồ ở giữa lòng dân/ Tuy xa, xa lắm, nhưng gần gần ghê”…
Bộ đội là đối tượng làm nhiều ca dao nhất trong hai cuộc kháng chiến:
“Thằng Tây chớ cậy xác dài/ Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày”; “Con đi độc lập con về/ Mẹ yên tâm nhé, con về mẹ vui”; “Em về lo liệu việc nhà/ Để anh yên dạ xông pha trận tiền”; “Ta đi trăng cũng đi theo/ Đường ta dốc núi đỉnh đèo trăng soi/ Bây giờ trăng đã ngủ rồi/ Ta đi lòng vẫn sáng ngời ánh trăng”…
Qua nghiên cứu ta có thể thấy ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại có nhiều điểm tương đồng, song cũng có những nét khác biệt
1.1.3 Giá trị nghệ thuật
Ca dao cổ truyền sử dụng rất nhiều thể thơ khác nhau nhưng phổ biến vẫn là thể lục bát: “Thân em như tấm lụa đào/ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”;… và song thất lục bát: “Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng/ May áo chàng cùng sóng áo em/ Chữ tình cùng với chữ duyên/ Xin đừng thay áo mà quên lời nguyền”;…Thể vãn (vãn bốn, vãn năm…) được sử dụng rất nhiều trong đồng dao: “Chi chi chành chành/ Cái đanh thổi lửa/ Con ngựa đứt cương/ Ba vương ngũ đế”…Ngoài ra ta còn thấy xuất hiện các dạng biến thể của thể lục bát và song thất lục bát: “Yêu em tam
tứ núi cũng trèo/ Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua”
Lối đối thoại là kết cấu chủ yếu trong ca dao cổ truyền
Trang 14ngờ chị ngã em bưng miệng cười”; và kết cấu đối ngẫu tâm lý: “Lên non mới biết non cao/ Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy”;… kết cấu thu hẹp dần hình tượng:
“Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”;…
Nếu ca dao cổ truyền sử dụng những thể thơ truyền thống thì ca dao hiện đại
sử dụng nhiều thể thơ khác nhau: lục bát: “Bao giờ hết cỏ Tháp Mười/ Thì dân Nam mới hết người đánh Tây”…, song thất lục bát: “Chiếc khăn xanh viền quanh chỉ đỏ/ Bàn tay nhỏ thêu họ thêu tên/ Anh vào nhập ngũ Tây Nguyên/ Trao khăn em tặng tình yêu kết tình”… và thể hỗn hợp: “Gió đánh cành tre/ Gió đập cành tre/ Chị ra mặt trận em về tải thương/ Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Xót tình cá nước thì thương nhau cùng/ Gió đánh cành hồng/ Gió đập cành hồng/ Chị về gặt lúa nuôi chồng thương binh/ Chồng em vì nước hy sinh/ Cánh tay mất nửa, mối tình còn nguyên”…
Ca dao hiện đại kế thừa phổ biến các dạng kết cấu của ca dao cổ truyền: Kết cấu đối thoại chủ yếu là kết cấu một vế:
“Con ơi con ngủ cho say,
Mẹ đi phục kích canh hai mẹ về”
Kết cấu thu hẹp dần hình tượng:
“Cái cò, cái vạc cái nông, Nhặt cỏ ruộng đồng tát nước dùm tao
Trang 15Mồ hôi càng đổ tạt rào, Khoai lúa thu vào càng trội hơn lên
Tất cả cho Tổng động viên, Phản công thắng lợi mau yên nước nhà”
Kết cấu đối ngẫu tâm lý:
“Bể đông có lúc vơi đầy, Mối thù đế quốc có ngày nào quên”
1.2 Ca dao về Bác Hồ
1.2.1 Khái niệm
Ca dao về Bác Hồ nằm trong bộ phận của ca dao hiện đại Đó là tổng hợp những bài ca dao do nhân dân khắp mọi miền đất nước sáng tác về Bác từ sau cách mạng tháng Tám: “Có ai về chốn quê nhà/ Gửi lời chúc thọ Cha già mến yêu”;
“Đếm sao cho hết vì sao/ Kể sao cho hết được công lao Bác Hồ”;…và cả những bài
ca gián tiếp nói đến Bác: “Hôm qua anh đến chơi nhà/ Thấy mẹ dệt vải thấy cha đi bừa/ Thấy em mải miết xe tơ/ Thấy cháu i-tờ ngồi học bi bô/ Thì ra vâng lệnh cụ Hồ/ Cả nhà yêu nước thi đua phen này”;…
Nhân dân ta xem Bác như người Cha, người anh trong đại gia đình: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”; “Cụ Hồ là đuốc sáng soi/ Nhắc đến tên cụ muôn người yêu thương”; “Cây quế Thiên Thai mọc trên núi đá/ Trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm/ Tên Bác Hồ thơm hơn hương quế, hương trầm/ Nhìn ra phương Bắc mà thương Bác Hồ”; “Dù ai đi đông đi tây/ Mỗi năm tháng chín nhớ ngày mồng ba/ Dù ai đi gần đi xa/ Chớ quên ngày giỗ Cha già kính yêu”;…
Ta thấy nội dung tăng gia sản xuất không chỉ xuất hiện ở mảng ca dao cổ truyền mà đề tài này còn xuất hiện cả ở ca dao hiện đại: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập” (Hồ Chí Minh toàn tập) Cho nên, ca dao về Bác đề cập đến vấn
đề này: “Chúng con quyết chí thi đua/ Sản xuất, tiết kiệm cho vừa lòng Cha”; “Cụ Hồ
đã dạy dân ta/ Thi đua sản xuất cũng là đánh Tây”; “Cụ dạy chúng ta thi đua để mà đoàn kết/ Có đoàn kết rồi mới thiệt thi đua/ Anh em nông dân mình chăm bón làm mùa/ Công nhân đúc nhiều súng đạn/ Bộ đội đánh mạnh giặc thua chạy dài”;…
Bên cạnh nạn đói, dân tộc ta phải đương đầu với cả nạn dốt Bác đã kêu gọi nhân dân “chống nạn mù chữ”, “diệt giặc dốt” vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc
Trang 16yếu” Từ đó ca dao về Bác xuất hiện hàng loạt các bài cổ động cho phong trào này
Như vậy, nhờ ca dao đã giúp cho bạn đọc hình dung nên bức tranh toàn cảnh của toàn dân tộc ta đối với Bác, đồng thời cảm nhận được cuộc sống của nhân dân
ta trong giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945
1.2.2 Lực lượng sáng tác
a Theo vùng miền
Khắp nơi trên dải đất Việt Nam đâu đâu ta cũng thấy những câu ca dao về Bác Từ Việt Bắc: “Em về giã gạo ba giăng/ Anh lên múc nước Cao Bằng về ngâm/ Đến ngày mười chín tháng năm/ Gói thành đôi bánh đem dâng Bác Hồ” Thủ đô Hà Nội: “Một chiều nắng ấm thủ đô/ Vui sao được thấy Bác Hồ trồng cây” Còn người dân Quảng Bình, Vĩnh Linh, Đông Anh lúc nào cũng đinh ninh lời dạy của Bác:
“Ca rằng: dân tuyến Vĩnh Linh/ Ghi sâu lời Bác đinh ninh đời này”; “Bạc màu là đất Đông Anh/ Làm theo lời Bác vẫn xanh ruộng đồng” Người Tây Nguyên muôn đời nhớ ơn Bác: “Rừng Tây Nguyên muôn đời nhớ Bác/ Đã khắc tên lên bạc đeo tay”; “Hòa Bình dốc thẳm non cao/ Có đi tiếp vận mới biết công lao cụ Hồ”;
“Trường Sơn dậy tiếng Bác Hồ/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”; “Dù cho biển cạn non mòn/ Lòng dân Thuận Hóa vẫn còn trơ trơ/ Vẫn là dân của cụ Hồ/ Trọn đời theo mãi ngọn cờ vàng sao” Bình Trị Thiên: “Đất Trị Thiên là đất của Cụ Hồ/ Đất cha ông chi thằng Bảo Đại mà kéo Tây qua đóng đồn”
Chúng ta bắt gặp ca dao về Bác không chỉ nhân dân trong nước sáng tác mà
cả kiều bào ở nước ngoài cũng có ca dao về Bác Dù xa quê hương nhưng lúc nào
họ cũng hướng về quê hương, nơi có Cụ Hồ đang dắt dìu kháng chiến: “Chúng con
ở bốn phương trời/ Quay về hướng Cụ muôn đời chúc mong”; “Cụ Hồ yêu nước thương nhà/ Dắt dìu dân tộc thắng ba kẻ thù”
Trên đất nước ta đâu đâu cũng có ca dao về Bác Hồ được sáng tác ở tất cả các vùng miền Mỗi địa phương lại có cách biểu hiện tình cảm với Bác khác nhau nhưng tựu chung lại, những tình cảm ấy đã hòa vào làm một, cả dân tộc cùng chung một lòng kính yêu Bác góp phần làm phong phú hơn cho nội dung mảng ca dao về Bác Hồ
b Theo tầng lớp
Đối tượng làm ca dao về Bác nhiều nhất phải kể đến các anh bộ đội, mà ngày
ấy nhân dân ta ưu ái, tin yêu đặt tên cho các anh là anh bộ đội Cụ Hồ Họ sáng tác
ca dao về Bác trong mọi hoàn cảnh, chẳng hạn như lúc hành quân ra mặt trận, mặc
Trang 17cho “đường xa, súng nặng oằn vai”, “gian nan cơm vắt muối vừng”, dù phải đi
“trăm núi ngàn khe”, “qua mấy dốc mấy đèo”, nhưng vẫn luôn dõi theo lời Bác “lời Bác vang vọng non sông”, luôn “thấy Bác mãi còn dõi theo” Các anh thương Bác
“Bác vì đất nước, vì niềm vui chung” “tóc xanh bạc trắng đôi miền” nên ý chí quyết tâm của anh luôn vững vàng: “Dù cho giọt máu cuối cùng/ Con tin vào Bác vững lòng tiến lên/ Con thề: diệt sạch xâm lăng/ Hai miền Nam Bắc cùng xanh đất trời; Bác ơi cháu quyết cắm cờ/ Lên trên đồn giặc như thơ Bác mừng”
Những cô gái dân công tiếp vận cũng cất ca những lời ca tự hào: “Ta là con cháu Bác Hồ/ Nghe tin tiếp vận đan bồ đi ngay” Hay những anh công nhân cầu đường thấy rõ trách nhiệm của mình: “Cầu này ta bắc chóng xong/ Cho xe chóng chạy, cho lòng Bác vui”; “Cầu đường mạch máu chúng ta/ Giặc mà phá đứt thì ta nối liền…/ Tuân theo lời dạy Cha già/ Cầu đường giữ vững, dân ta thắng thù”;…
Nhân dân ta khắc sâu lời dạy của Bác “thi đua sản xuất cũng là đánh Tây”, nhân dân ta không quản ngại mưa nắng nhọc nhằn, quyết tâm sản xuất ra nhiều thóc gạo chi viện cho tiền tuyến “Qua nương xuống ruộng lên đồi/ Ta cuốc, ta xới, ta cười, ta ca/ Rằng: Hồ Chủ tịch dạy ta/ Tăng gia sản xuất cũng là đánh Tây” Có thể thấy, dù đối tượng nào thì ở họ vẫn là tình yêu thương chân thành dành cho Bác
c Tuổi tác
Từ cụ già tóc bạc đến các em thơ đều nói lên tình cảm của mình về Bác bằng ca dao Cụ già cao tuổi có một ước mơ gặp Bác mãnh liệt: “Ước gì đời sống thêm năm/ Ước gì mắt sáng để trông Bác Hồ/ Đêm khuya chợp mắt tôi mơ:/ Lúa vàng thêm mát Cụ Hồ đứng bên” Bà mẹ miền Nam chưa được một lần gặp: “Con
ra thưa với Bác Hồ/ Đất này chỉ một lá cờ vàng sao”
Chồng ra tiền tuyến, người vợ nhắn gửi lời ca dao ngọt ngào mà sâu sắc
“Nghe lời Bác dạy thi đua/ Thử xem ai được, ai thua phen này/ Chàng đi ra trận đánh Tây/ Ruộng để em cày, thóc lúa em gieo/ Nghèo thì em biết phận nghèo/ Nắng sớm mưa chiều, em chẳng quản công/ Sao cho lúa tốt đầy đồng/ Bộ đội no lòng yên chí xông pha/ Con thơ cùng với mẹ già/ Chàng cứ tin chắc ở nhà có em”…
“Anh đi gìn giữ nước non/ Tóc xanh em đợi, lòng son em chờ/ Anh đi ra lính Cụ Hồ/ Khúc sông, đỉnh núi, con đò tiễn anh” Câu ca dao trên là lời của cô gái trong ngày tiễn chàng trai ra chiến trường
“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng” Thiếu niên nhi đồng vô cùng yêu quý Bác:
Trang 18“Ai yêu các nhi đồng Bằng Bác Hồ Chí Minh”
Mỗi cá nhân, địa phương, vùng miền bằng những cảm nhận rất riêng đã có những cách diễn đạt, thổ lộ khác nhau góp phần làm đa dạng hơn nội dung và nghệ thuật của ca dao về Bác
1.2.3 Hoàn cảnh sáng tác
a Trong chiến đấu
Như đã đề cập ở trên bộ đội là đối tượng sáng tác ca dao về Bác nhiều nhất nên có lẽ hầu hết ca dao về Bác được sáng tác trong hoàn cảnh chiến đấu Trong gian khổ, trong chiến đấu, các anh cảm thấy Bác như vẫn ầm thầm dõi theo bước anh: “Gian nan cơm vắt muối vừng/ Mà sao con thấy sáng trưng cuộc đời; Con đi trăm núi, ngàn non/ Vẫn trông thấy Bác mãi còn ngó theo/ Con qua mấy dốc, mấy đèo/ Còn nghe lời Bác vọng theo ân cần” Sau khi bắn cháy máy bay địch, anh pháo thủ ngồi ung dung trên mâm pháo ngâm thơ của Bác: “Máy bay giặc Mỹ cháy rồi/ Đồng xanh lại thắm, ruộng đồng lại xanh/ Niềm vui rộn rã trong lòng/ Ngồi ngâm thơ Bác những dòng kính yêu” Còn đây là ca dao của những người lính đang đứng giữa chiến hào đánh giặc: “Đêm nay đứng giữa chiến hào/ Nghe lời Bác gọi dạt dào niềm tin/ Ngày mai giải phóng quê mình/ Miền Nam đón Bác thỏa tình ước mơ”
Trần Hữu Thung trong “Ca dao về Bác”, Nxb Hà Tĩnh, đã nghe được câu hò
“Thuyền ai xuôi chợ Vực/ Thuyền ai ngược Đô Lương/ Thuyền anh chở khách chở phường/ Thuyền em chỉ chở công lương cho Cụ Hồ” Và tác giả cho biết thêm ngày
ấy cán bộ bộ đội và dân công cuốc bộ hành quân lấy đêm làm ngày Phải hàng tháng trời từ Bình Trị Thiên mới đi thấu ra Việt Bắc Dân công từ Thanh Nghệ ra Hòa Bình cũng phải đi hàng chục ngày đêm Mà cuộc sống dọc đường hành quân mới phong phú làm sao! Những vần ca dao, những câu hò cứ thế nở rộ trên đường dài ra tiền tuyến Bằng những câu ca dao ứng khẩu, hàng vạn dân công đã nói lên khí thế hào hùng của mình Và cũng bằng những câu hò ấy, những câu ca dao ấy, họ
đã ghi lại tấm lòng kính yêu, tin tưởng đối với Đảng, với lãnh tụ
Dù con đường đấu tranh đầy cam go, nguy hiểm, khó khăn nhưng các anh
bộ đội vẫn quyết tâm thực hiện lời dạy, lời khuyên của Bác để thống nhất nước nhà Cho nên, trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, các anh không hề nao núng trước mọi vũ khí hiện đại của kẻ địch: “Bác ơi khẩu súng cầm tay/ Dù muôn gian khổ chẳng lay được lòng/ Lòng còn hẹn với muôn lòng/ Bắc Nam thống nhất thành công mới về”
Trang 19b Trong lao động sản xuất
Ngày mới giành được chính quyền cách mạng cũng là những ngày dân tộc ta phải đương đầu với nạn đói khủng khiếp do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây nên Cho nên, Chính phủ và Bác Hồ kêu gọi đồng bào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm: “Ngót trăm năm thằng Tây sang vơ vét hết ghế hết đòn/ Việt Nam ta nay độc lập nỏ còn miếng chi”
Hưởng ứng lời kêu gọi đó, người nông dân trên đồng ruộng, người công nhân trong xưởng máy thi đua đẩy mạnh tăng gia sản xuất Người nông dân nhắc nhở nhau: “Nghe lời Bác dạy thì no/ Đừng để đất nghỉ, đừng cho máy ngừng/ Đừng
để ao cá vắng tăm/ Chuồng gà vắng trứng, buồng tằm vắng tơ” Các chị em và bà con nông dân ở những vùng sát địch thương Bác lo nghĩ trăm đường nên để có thóc gạo nuôi quân đã phải cấy vội, gặt vội, cất giấu vội, đề phòng địch cướp phá, khủng bố: “Đồng Diên Canh cắt nhanh, giấu vội/ Đồng Phú Nội cắt vội, giấu nhanh/ Bớ o,
bớ chị, bớ anh/ Lúa bên nách giặc ta giành về ta/ Chờ ngày triêng nặng gánh ra/ Thuế ta đóng càng già thóc lương/ Thương Cha lo nghĩ trăm đường/ Việc nhà, việc nước, chiến trường chưa yên,…
Bác chăm lo đủ thứ cho cả các anh, các chị công nhân: “Bác Hồ yêu mến thợ thuyền/ Bác lo chăm sóc thường mọi người/ Lo ăn, lo mặc, lo chơi/ Lo chốn làm việc, lo nơi học hành/ Bác lo chăn ấm, áo lành/ Bác dìu dắt thợ đấu tranh từng giờ” Hiểu tình yêu thương đó của Bác, thấm nhuần lời dạy của Bác, người công nhân như thấy mình tăng thêm sức mạnh nên càng hối hả tăng gia sản xuất: “Con nghe lời Bác vọng về/ Rừng xanh nắng dậy, bốn bề gió reo/ Con nghe đỉnh núi lưng đèo / Tiếng than hối hả, sớm chiều khoan xoay”
c Trong sinh hoạt
Trong lớp học bình dân xóa nạn mù chữ, học viên là các ông các bà đã quá nửa đời sống kiếp nô lệ lần đầu tiên được học chữ Cụ Hồ cũng có ca dao về Bác:
“Trường đây không ghế không bàn/ Chung dầu chung bấc chung đèn/ Chung lòng thực hiện lời khuyên Bác Hồ”; trong phong trào trồng cây xanh: “Một cây bạch đàn/ Hai cây bạch đàn/ Bác ơi quê cháu cả làng trồng cây”; lúc khuyên bảo nhau sống sao cho xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ: “Em ơi cố gắng thi đua/ Đoạt giải Cụ Hồ mới thật là ngoan”; “Cụ Hồ rộng lượng anh ơi/ Đừng theo giặc nữa kẻo đời nhuốc nhơ” lúc về thăm quê Bác: “Bác ơi, nhà Bác cũng nghèo/ Quê hương Bác cũng như nhiều quê hương”; “Chõng tre Bác ngủ còn đây/ Ngọt lành nước lọc vẫn đầy chum xưa”;
Trang 20Ngày 2-9-1969 Bác rời xa chúng ta Bác mất là một tổn thất lớn lao nhưng tên tuổi và sự nghiệp của Bác vẫn sống mãi trong lòng dân tộc Trong dịp tang Bác, biết bao bài ca thấm thía, xúc động lòng người: “Bạc phơ mái tóc phong trần/ Quên mình chỉ nghĩ nhân dân đồng bào/ Bác đi xa mãi rồi sao/ Nghĩa sâu ơn cả thấm vào chúng con”; “Nhất xanh là bạch đàn chanh/ Bác đi để lại hương lành cho con/ Nhất xanh là tán đa tròn/ Bác đi để bóng mát trùm nghìn sau/ Nhất thẳng là ngọn phi lao/ Giữa trời hát mãi công lao Bác Hồ”;
Tóm lại, ca dao về Bác ra đời trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Điều đó vừa phản ánh hoàn cảnh sáng tác, môi trường diễn xướng của ca dao giúp người đọc hình dung được cuộc sống sinh hoạt, lao động, chiến đấu của nhân dân trong giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc
1.2.4 Số lượng
Dựa trên những tài liệu sưu tầm và giới thiệu mà chúng tôi đã nêu trong phần phạm vi khảo sát, qua thống kê chúng tôi thấy số lượng ca dao về Bác khá phong phú, khoảng 521 bài, 59 dị bản Tuy nhiên, đó chưa phải là con số cuối cùng vì trong quá trình lưu truyền ca dao về Bác ít nhiều đã bị thất lạc và trong khả năng giới hạn của mình, người viết vẫn chưa khảo sát hết được Một nhà nghiên cứu cho rằng “Ca dao về Bác như lá xanh trên rừng khó mà đếm hết và chính xác được Đồng thời con
số ấy cũng cho thấy ca dao viết về Bác là một hiện tượng vô cùng độc đáo” [2, 7] Những bài nào có dị bản, chúng tôi chỉ xem như có một bài Ví dụ:
Một điều đặc biệt mà chúng tôi cũng xin được nói thêm Ấy là trong rừng ca dao bao la xanh tốt về Bác Hồ cũng thấy có nhiều tác giả kí tên Tuy nhiên, những câu ca dao văn học đó nhanh chóng được dân gian hóa bởi trước hết là do ngôn ngữ câu ca dao gần với tiếng nói của nhân dân Sau nữa là dù tác giả có là ai đi nữa Nguyên Hồ, Huyền Tâm, Bảo Định Giang, Minh Hiệu thì những bài ca sáng tác về Bác của các đồng chí, các anh chị dường như không còn thấy bản sắc riêng của một
ai cả Tất cả đã hòa làm một và cùng mang cái tên chung là ca dao của nhân dân về
Hồ Chủ tịch Mọi người đều thấy như của riêng mình và cũng đều thấy như của chung tất cả
Chẳng hạn bài cao dao sau:
“Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”
(ca dao Bảo Định Giang)
Trang 21Đây là một trong những bài ca dao hay nhất trong toàn bộ ca dao về Bác Hồ Nhưng đến nay, có lẽ vẫn còn một số người không biết rằng ấy là của Bảo Định Giang
Như đã nói trên , đã có cả một hệ thống ca dao lịch sử ghi lại tên tuổi, sự nghiệp, chiến công của những con người anh hùng Tuy nhiên, chỉ với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta mới sáng tác số lượng ca dao ca ngợi đồ sộ đến thế Ca dao
ca ngợi các anh hùng dân tộc chủ yếu nảy sinh từ quê hương và địa bàn hoạt động của họ rồi dần dần lan truyền sang các địa phương khác nhưng ca dao về Bác lại khác: nó nở rộ khắp nơi
Nguyễn Hằng Phương khi khảo sát các lời ca dao in trong cuốn “Ca dao Việt Nam 1945-1975” đã phát hiện trong số 745 lời ca dao có 93 lời viết về đề tài
Hồ Chủ tịch (chiếm tương đương 13%) Từ kết quả khảo sát ấy, tác giả cũng nhận xét rằng số lời ca dao trực tiếp nhắc đến Hồ Chủ tịch chiếm một số lượng đáng kể Điều đó nói lên sức hút mạnh mẽ của đề tài Hồ Chủ tịch đối với chủ thể sáng tạo tác giả dân gian Vấn đề nảy sinh ở đây là: tại sao đề tài Hồ Chủ tịch lại lôi cuốn đến như vậy? Và tác giả cũng cho rằng đó là do cảm hứng sáng tạo của các tác giả dân gian được khơi nguồn từ hiện thực cuộc sống mà đề tài Hồ Chủ tịch là một “loại” hiện thực chân thực của giai đoạn lịch sử sinh động 1945 -1975 Ở đây người viết cũng hoàn toàn nhất trí với cách giải thích của tác giả bởi trong quá trình tìm hiểu, khảo sát ca dao về Bác, chúng tôi cũng đã nhận thấy điều đó Chúng tôi xin dẫn vài
ví dụ: trong 521 bài ca dao về Bác có nhiều bài phản ánh chân thực giai đoạn lịch sử 1945-1975- một giai đoạn lịch sử vừa đấu tranh vừa xây dựng đất nước và hình tượng Hồ Chủ tịch nổi lên như một mảng hiện thực sinh động: “Bác Hồ tranh đấu vì dân/ Đã bao gian khổ phong trần vượt qua; “Bác luôn chăm sóc đến dân/ Nhất là nông nghiệp ân cần hỏi han”…
Tóm lại, với số lượng 521 bài, ca dao về Bác là bộ phận chiếm số lượng tương đối lớn trong ca dao hiện đại Đồng thời, con số ấy cũng cho thấy truyền thống nhớ ơn của dân tộc là truyền thống tốt đẹp xuyên suốt qua bao lớp người, từ quá khứ đến hiện tại và chắc chắn sẽ còn tiếp diễn trong tương lai
Trang 22Tiểu kết
Qua chương này chúng ta có thể nắm được những đặc điểm khái quát nhất về khái niệm ca dao, ca dao về Bác Hồ cũng như một vài đặc điểm về nội dung và nghệ thuật để từ đó có cái nhìn chung nhất về mảng ca dao về Bác Có thể thấy rằng
số lượng ca dao về Bác chiếm một phần không nhỏ trong kho tàng ca dao hiện đại Phải chăng, đó là do tình cảm của nhân dân ta với Bác xuất hiện ở khắp mọi nơi, mọi lứa tuổi và ngay cả trong những năm tháng khó khăn, ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm thì những câu ca dao vẫn được cất lên, nó là nguồn động lực, tinh thần cỗ vũ vững chắc giúp dân tộc ta danh chiến thắng Trên nền tinh thần đó, tác giả dân gian ta còn biết vận dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật, kết hợp với nghệ thuật từ ca dao cổ truyền như lục bát hay lục bát biến thể để làm nên những bài ca dao hiện đại nhưng vẫn mang đậm nét cổ truyền, thể hiện được cái hồn dân tộc trong từng câu ca dao
Trang 23Chương 2 CA DAO VỀ BÁC HỒ - ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG
2.1 Ca ngợi công lao của Bác
Trong kho tàng ca dao hiện đại, chủ đề ca ngợi công lao Bác Hồ là chủ đề được đề cập đến nhiều nhất Hình tượng Bác Hồ đã đi vào thơ ca, nhạc, họa, và được thể hiện đặc biệt sinh động trong ca dao, dần tạo nên một kho tàng “Ca dao Việt Nam về Bác Hồ”
Với mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ thân yêu và gần gũi như ruột thịt trong gia đình vậy Nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“Người là cha, là bác, là anh Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”
Đối với nhân dân ta, Bác Hồ là tên gọi đẹp nhất, sáng chói nhất, lung linh nhất:
“Tháp Mười đẹp nhất bông sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”
Công ơn trời biển của Bác Hồ đối với đất nước, đối với dân tộc và toàn thể nhân dân ta là không gì có thể so sánh được:
“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bác Hồ hơn mẹ hơn cha
Ơn cao, nghĩa nặng bao la biển trời”
Bác vì dân mà chiến đấu suốt đời và:
“Trên trời có ông sao Rua Việt Nam ta có cụ Hồ, em ơi!
Ánh sao Rua sáng ngời một góc Gương cụ Hồ tỏ khắp năm châu”
Nhân dân ta đã dùng những hình anh so sánh cổ truyền để nói lên công ơn vĩ đại của Bác:
“Đố ai đếm được trời sao
Đố ai đếm được công lao Bác Hồ
Đố ai lên được trời cao
Đố ai đáp được công lao Bác Hồ”
Trang 24Nhân dân ta cũng dùng những hình ảnh cụ thể, những sự vật cụ thể để ghi ơn công đức Bác, của Đảng
“Ngày xưa bưng lấy bát cơm Nhớ thầy, nhớ mẹ phong sương cấy cày Ngày nay bưng bát cơm đầy
Ơn Bác, ơn Đảng ngày ngày không quên”
Bác Hồ để lại muôn vàn tình thương yêu cho nhân dân, cho đất nước Đất nước ta, nhân dân ta cũng kính yêu người với tình cảm sâu sắc, bao la:
“Lòng Bác rộng khắp bao la Lòng dân, lòng Bác chan hoà nước non”
Các cháu thiếu nhi thì luôn luôn ghi nhớ
“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”
và luôn luôn các cháu mong đợi:
“Bao giờ được Bác về chơi
Để cho các cháu khắp nơi đón mừng”
Trải qua những ngày kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ Trải qua những ngày hậu phương tiền tuyến cùng góp sức, góp công, góp của chiến thắng khẻ thù xâm lược quỷ quyệt, tàn ác, nhân dân ta càng thấm thía công ơn của Bác:
“Trèo đèo mới biết đèo cao
Có đi tiếp vận mới biết công lao Cụ Hồ”
Càng nhớ ơn Bác Hồ, mọi người, mọi tầng lớp nhân dân càng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được cách mạng phân công, giao phó:
“Cụ Hồ với dân Như chân với tay Như chày với cối Như cội với cành Toàn dân dốc một lòng thành Làm tròn nhiệm vụ, đáp tâm tình Cụ thương dân”
Nhân dân vùng mỏ Quảng Ninh đã bao đời cực khổ vì bọn thống trị thực dân, bọn chủ mỏ bóc lột, áp bức:
Trang 25“Ăn cơm với cá mòi he Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời”
Họ mong ngày kháng chiến thắng lợi, ngày ánh sáng của Đảng, của Bác Hồ
Nhân dân cả nước ta thấm thía công ơn của Đảng, của Bác Hồ Có Bác Hồ,
có Đảng, nhân dân cả nước mới có độc lập, tự do, có điều kiện để xây nền hạnh phúc cho bản thân mình và cho muôn đời con cháu mai sau Người nông dân càng thấm thía công ơn của Bác mang lại ruộng đất, được làm chủ ruộng đồng, làm chủ quê hương Công ơn Bác, hình ảnh Bác đi liền với hạnh phúc, ấm no:
“Ơn Người lúa lại vàng tươi Sắn khoai lại biếc mây trời lại xanh”
Đồng bào miền Nam khi tiễn con em ra miền Bắc tập kết theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đã nhắn nhủ:
“Con ra thưa với Bác Hồ Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao”
Bác Hồ ở giữa lòng dân, Bác Hồ sống mãi trong lòng nhân dân cả nước Hình ảnh Bác Hồ thật cao quý, thiêng liêng nhưng lại rất thân thiết, gẫn gũi:
“Cụ Hồ ở giữa lòng dân Tuy xa xa lắm mà gần, gần ghê Mỗi khi thư Cụ gửi về Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng”
Trang 26Bác Hồ là lãnh tụ cách mạng, là hình ảnh của toàn dân tộc Bác Hồ đem lại sự đổi đời cho đất nước, cho toàn dân, nhưng Bác Hồ cũng là người ông, người cha, người anh thân thiết của mỗi gia đình người Việt Nam chúng ta Bác Hồ là người dẫn đường, là tấm gương sáng, là ngọn đuốc lung linh soi sáng cho nhân dân cả nước đi lên trên con đường tới độc lập, tự do và hạnh phúc Bác Hồ là cả một chân trời:
“Cụ Hồ là vị cha chung
Là sao Bắc Đẩu, là vừng thái dương Chúng con đi giữa đêm trường Nhờ cha dìu dắt, dẫn đường chúng con
Ơn cha như nước, như non Như gương Hồ Thuỷ, như hòn Thái Sơn”
“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” đó là truyền thống đạo đức của nhân dân ta Được sống trong đất nước hoà bình, độc lập, tự do, nhân dân ta càng thấm thía, càng ghi sâu công ơn và tấm gương đạo đức trong sáng, cao quý của Bác Hồ:
“Uống nước là nhớ đến nguồn Cơm no áo ấm nhớ ơn Bác Hồ
Ơn Bác Hồ sâu hơn Nam Hải Công Bác Hồ bằng dải Trường Sơn Nam Hải sâu ta đo cũng được Trường Sơn dài ta vượt cũng qua Công ơn của Bác bao la Nhân dân kể đến bao giờ cho xong”
Làm sao kể hết công lao của Bác Hồ và làm sao kể hết những câu ca dao của nhân dân ta viết về Bác Hồ vì nhân dân vẫn không ngừng sáng tác những câu ca dao, những bài cao dao ca ngợi công ơn của Bác Các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu và cả nhân dân vẫn tiếp tục sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu… về Người
Và công việc ấy sẽ còn tiến hành mãi mãi… Đó là mạch nguồn cảm hứng vô tận, như nghĩa tình tha thiết dân Việt hướng về vị Cha già dân tộc kính yêu
2.2 Tình cảm của người dân đối với Bác
Thuận Yến đã từng sáng tác những câu hát về Bác “Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất/ Trong lòng dân và trong trái tim nhân loại” Câu hát ấy đã phần nào nói
Trang 27lên được mối liên hệ kỳ diệu giữa Bác Hồ và tình yêu thương, niềm tin tưởng, tự hào của nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ Thế nên ở bất cứ loại hình nghệ thuật nào đều lấy hình tượng Bác Hồ làm cảm hứng viết lên những thi phẩm tuyệt mĩ và ca dao cũng vậy Lắng nghe những dòng ca dao dưới đây của nhân dân miền Nam ta lại càng thêm xúc động với những vần ca dao thắm tình dâng lên Bác của họ:
“Miền Nam là của Việt Nam Miền Nam là của giang sơn Lạc Hồng Miền Nam chỉ có một lòng Miền Nam chỉ viết một dòng chữ thôi Một dòng chữ sáng muôn đời Một dòng chữ có vạn người mến thương Một dòng chữ sáng muôn phương Cần, kiệm, liêm, chính tấm gương chói lòa
Tay để lòng nở trăm hoa Đây là dòng chữ: Cha Hồ Chí Minh”
Miền Nam “đi trước về sau” đánh giặc suốt ba mươi năm không nghỉ, chịu trăm đắng ngàn cay Trong vô vàn thiệt thòi mà nhân dân miền Nam gánh chịu, có một thiệt thòi lớn: phải xa Bác Hồ, không có điều kiện gặp Bác như đồng bào miền Bắc Thậm chí, không được nhìn ảnh Bác vì sợ giặc khủng bố Và nỗi nhớ thương
ấy càng da diết hơn Họ mong thống nhất nước nhà, Bắc-Nam sum họp, Bác cháu gặp nhau, thỏa lòng mong ước:
“Chiều chiều lại nhớ chiều chiều Nhớ câu Bác dặn, nhớ điều Bác khuyên
Những lời vàng ngọc không quên Con đường thống nhất càng bền đấu tranh”
Đồng bào miền Nam hiểu rằng, trong niềm vui chung đó, có niềm vui riêng
mà Bác Hồ đem lại: tình yêu đôi lứa vẹn tròn
“Cắt tấm lụa đào em đề ba chữ Chữ trung với Bác, chữ hiếu với mẹ, chữ nghĩa với anh
Dù xa xôi em vẫn giữ lòng thành
Có Bác chỉ đường dẫn lối thì hai đứa mình sẽ gặp nhau”
Trang 28Ca dao dâng Bác thật phong phú, họ hình tượng hóa tình cảm đó vào những
gì thân thiết nhất gắn liền với miền đất mà họ đang chiến đấu để giữ gìn Đấy là hình ảnh chiếc nón bài thơ bao đời của người dân xứ Huế:
“Nước dưới sông khi dâng khi cạn Trăng trên trời khi sáng khi lu
Ai ra miền Bắc thưa với cụ Hồ Lòng miền Nam vẫn tròn vành vạnh Như chiếc nón bài thơ đội đầu”
Người dân Bến Tre đồng khởi nhớ Bác mênh mông như ruộng lúa, rừng dừa của chính họ vậy:
“Thấy dừa thì nhớ Bến Tre Thấy bông lúa đẹp thương về Cần Thơ Miền Nam mong nhớ Bác Hồ Dừa Bến Tre nước ngọt, lúa Cần Thơ trĩu vàng”
Nước non, sông núi, nắng gió gắn bó với cuộc sống của người dân Việt Nam Chính vì những gấm vóc non sông đó mà họ ra sức chiến đấu giữ gìn Nước non này có toàn vẹn thì công lao Bác Hồ soi đường chỉ lối càng lớn, ơn Bác càng nặng Sức mạnh của dân tộc được nhân lên gấp bội trong cuộc chiến tranh của nhân dân khi được hiệu triệu dưới hình ảnh Bác Hồ Người dân Khánh Hòa đã ví:
“Gió nào bằng gió Tu Bông Sức nào bằng sức nhân dân Cụ Hồ”
Trong vần ca dao Quảng Ngãi - Bình Định hình ảnh nước non và hình ảnh của Bác trong tâm trí người dân đã hòa quyện lẫn nhau:
“Đồng nào cao bằng đồng Thi Phổ Thổ nào cao bằng thổ Ba Tơ
Ơn nào sâu bằng ơn Cụ Hồ Nguồn bao nhiêu nước ơn Cụ Hồ bấy nhiêu Nước sông Trà in hình núi Ấn
Dừa Trung Lương soi bóng Lại Giang”
“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi” Lời Bác rất thấm thía trong lòng các dân tộc Người dân Tây Nguyên nhận ra rằng:
Trang 29“Vùng Tây Nguyên rừng thiêng nước độc Tám, chín năm ở với Bác Hồ lúa mọc đầy nương
Ba năm ở với “quốc gia” khổ sở trăm đường Nay bắt phu, bắt lính, nói gạt nói lường hại dân”
(Ca dao dân tộc Mơ nông)
Người Hơ-rê chất phác, nói “bụng Bác Hồ” đẹp hơn cả hoa Ê-pan nhất buôn, nhất rừng của họ Cũng như người Ê-đê thấy “bụng Bác Hồ” tốt với dân tộc mình thế nào Họ cho thấy:
“Người cứu dân tộc mình Cho suối đánh dần, cho hoa Gơ- ma nở Cho nương đầy lúa, rẫy đầy khoai Cho núi sông đầy cá nước hoa ngàn Cho con gái cườm đeo quanh cổ
Vẻ đẹp của Bác thể hiện qua ca dao trước hết là ở sự dẫn dắt dân tộc Việt Nam trên con đường cách mạng Dân ca xứ Nghệ đã viết:
“Bác Hồ đã dạy chúng ta Còn Mỹ còn đánh chẳng tha một thằng
Trang 30Chúng ta hứa với Bác rằng Còn Mỹ còn đánh một thằng không tha
Người Nghệ An đã làm theo lời Bác "Không có gì quí hơn độc lập tự do"
mà mài sắc dũng khí chiến đấu, rèn dũa tinh thần tiến công cách mạng, ý chí quyết chiến, quyết thắng Ý chí đó, tinh thần đó cũng là ý chí và tinh thần của cả dân tộc
ta Một dân tộc mà khi trên đất nước mình còn thằng Mỹ thì không thể có hạnh phúc nên trong lòng mỗi một con người luôn chuẩn bị cho mình tư thế sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng: "Trường Sơn dậy tiếng Bác Hồ/ Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Chân còn đạp đỉnh non cao/ Mà lòng đã ở chiến hào tiến công (Kim Quốc Hoa) Lời dạy của Bác, hình ảnh người Cha già kính yêu luôn có sức động viên quân dân ta tiến lên giành chiến thắng Hình ảnh Bác luôn hiện hữu trên mỗi chặng đường hành quân vất vả, trong những cơn gió núi, mưa nguồn, trong mỗi bước tiến công và cả trong niềm vui thắng lợi Vành lá ngụy trang kia cũng được mọi người hái từ rừng cây ơn Bác, đôi dép cao su được mọi người gọi là đôi dép Bác Hồ những vần thơ xuân của Bác cũng thôi thúc giục giã quân dân ta vào mùa chiến dịch Tất cả, tất cả đều mang dấu ấn thiêng liêng của Bác kính yêu Lời Bác, tên Bác thấm sâu vào lòng mỗi người và tỏa khắp núi sông Từ đảo khơi xa, trong tiếng sóng vẫn lắng nghe những lời Bác dạy: "Ðảo xa sóng dội bốn bề/ Lắng nghe lời Bác vọng về biển khơi/ Quân nghe phơi phới niềm vui/ Biển nghe dậy sóng hòa lời thiết tha/ Rừng nghe Bác gọi nở hoa/ Pháo nghe, pháo đón tầm xa diệt thù" (Nguyễn Vuông) Hình ảnh Bác được đồng bào các dân tộc thể hiện trong những vần ca dao chân thực, sinh động với những liên tưởng, so sánh độc đáo: “Hồ Chí Minh - Người là con sông lớn/ Người là mặt trời, Người là mặt trăng/ Mùa lạnh nhắc tên Hồ Chí Minh - cái bụng ấm/ Mùa nắng nhắc tên Hồ Chí Minh - mây thêu mặt trời hồng/ Mùa thu nhắc tên Hồ Chí Minh - mây lắng trời trong/ Mùa xuân nhắc tên Hồ Chí Minh - cây cỏ đâm nhựa trổ bông"; hay: "Lên rừng nhắc tên Hồ Chí Minh - quên cả chân chồn, leo dốc nhanh/ Xuống đồng nhắc tên Hồ Chí Minh - cấy lúa suốt ngày không thấy mệt" Miền Nam luôn ở trong trái tim Người, và bởi vậy,
Trang 31hình ảnh Người luôn hiển hiện trong tâm khảm của mỗi một người dân miền Nam yêu quí Muôn triệu tấm lòng, muôn triệu trái tim luôn hướng về Bác, tri ơn tấm lòng của Bác: "Trời còn khi nắng khi mưa/ Miền Nam thương nhớ Bác Hồ không nguôi/ Dù cho vật đổi sao dời/ Ơn sâu nghĩa nặng đời đời không quên" Ý thức hướng về Bác, tấm lòng mong mỏi Bắc Nam xum họp một nhà của nhân dân miền Nam thật lớn lao: “Bắc Nam là con một Cha/ Là gà một mẹ, là hoa một cành/ Nguyện cùng biển thẳm non xanh/ Cùng nhau một chí đấu tranh vững bền Cho dù
Mỹ - ngụy với bao nhiêu mưu mô thâm độc, bao trò lửa phỉnh, mị dân, nhưng
"Trắng đen đã rõ đôi đường/ Lòng dân càng nhớ, càng thương cụ Hồ/ Dẫu rằng biển cạn sông khô/ Nghìn năm công đức Cụ Hồ còn ghi "
Tiểu kết
Có thể thấy rằng, trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam mảng ca dao về Bác chiếm một khối lượng rất lớn Các bài ca dao ngắn gọn, mộc mạc, giản dị, dễ thuộc
dễ nhớ ấy chứa đựng biết bao tấm lòng của nhân dân Ở mỗi vùng miền trên cả nước
và ngay cả kiều bào sinh sống tại nước ngoài đều dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh một niềm yêu quý không gì có thể kể siết Đặt trong dòng chảy với ca dao cổ truyền
ta còn thấy vô vàn điểm chung, sự kế thừa và phát huy từ ca dao cổ truyền, song ở mỗi đối tượng sáng tác, hoàn cảnh sáng tác khác nhau lại cho ra đời những bài ca dao mang đậm phong vị vùng miền, dấu ấn vùng miền riêng Nhưng tựu chung, đọc những câu ca dao viết về Bác ta đều thấy rất rõ điểm chung là đa phần các bài ca dao này thể hiện sự ngợi ca công lao của Bác, nói lên cái quyết tâm đánh giặc, đem lại tự
do cho dân tộc ở mỗi vung miền Tất cả cộng hưởng lên một bản hòa ca bằng vần, điệu như sự thúc giục, cổ vũ tinh thần chiến đấu ở mỗi người Qua ca dao, nhân dân còn thể hiện vẻ đẹp của Bác trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc
Trang 32Chương 3 CA DAO VỀ BÁC HỒ - ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
3.1 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là thành tố nghệ thuật không thể thiếu của ca dao Ngôn ngữ trong
ca dao có sự kết hợp rất độc đáo, sáng tạo giữa ngôn ngữ của đời sống với ngôn ngữ của thơ ca Vì thế, ngôn ngữ ca dao rất tinh tế, uyển chuyển Ngôn ngữ ca dao về Bác cũng mang những đặc điểm như vậy Trong khóa luận này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát ngôn ngữ ca dao về Bác ở một số khía cạnh
3.1.1 Sự kết hợp giữa ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ địa phương
Ca dao về Bác được nhân dân trên cả nước sáng tác nên ngôn ngữ trong ca dao vừa mang tính toàn dân vừa mang đậm sắc thái địa phương
Từ ngữ toàn dân là từ ngữ phổ biến chung của dân tộc Việt Nam Đây là loại
từ ngữ mà khi sử dụng ai ai cũng hiểu, địa phương nào cũng biết Ca dao về Bác Hồ
là tiếng nói tình cảm của nhân dân nên ngôn ngữ toàn dân được nhân dân vận dụng triệt để và linh hoạt Với tính chất trong sáng, giản dị, mộc mạc, trôi chảy, ngôn ngữ toàn dân trong ca dao về Bác đã tạo nên nhiều lời đẹp, thi vị: “Bác về đồng lúa thêm xanh/ Mái nhà lại ấm, sân đình lại vui/ Nụ cười em bé thêm tươi/ Nhân dân nô nức, người người thi đua; Cầm trên tay ngọn lúa vàng/ Nghe câu em hát mênh mang trên đồng/ Hò ơ… Hương lúa thơm nồng/ Người dân đất Mũi nhớ công ơn Cụ Hồ”…
Từ ngữ toàn dân giúp cho ca dao về Bác thêm dễ hiểu, dễ đi vào lòng dân Tuy nhiên, vẫn có không ít những bài ca sử dụng từ địa phương Từ địa phương là
từ ngữ chỉ sử dụng ở một hay một số địa phương nhất định nào đó Một số từ ngữ địa phương miền Trung xuất hiện trong bộ phận ca dao này như: o (cô), nốc (thuyền), chi (gì), mô (đâu), nỏ (không), ngái (xa), bầy tui (chúng tôi)… Cụ thể, Bình Trị Thiên: “Đất này là đất Cụ Hồ/ Đất cha ông chi thằng Bảo Đại mà kéo Tây qua đóng đồn”; “Gió nam từ biển thổi vào/ Gió nam thổi nốc lộn nhào cụ Ngô/ Cụ Ngô là đứa mô mô/ Dân ta chỉ biết Cụ Hồ mà thôi”… Huế: “Bớ o, bớ chị, bớ anh Lúa bên nách giặc ta giành về ta”; Đà Nẵng: “Bác Hồ trong trái tim dân/ Tuy xa nghìn dặm nhưng gần gần ghê”
Phương ngữ Nam bộ cũng xuất hiện với tần số cao: vô (vào), phai lạt (phai nhạt), má (mẹ), nè (này), ngó (nhìn), coi (xem), té ra (thì ra), ơn ngãi (ơn nghĩa), minh minh (mênh mông),… Đọc những câu sau chúng ta dễ dàng nhận ra sắc thái rất riêng của người dân Nam Bộ: “Bác vô, nghe Bác, Bác ơi!/ Bác vô cho được
Trang 33Tháp Mười Bác coi”; “Ngó qua dãy núi gập ghềnh/ Lòng Hồ Chủ Tịch, lòng mình không xa/ Ngày mai thống nhất nước nhà/ Chúng ta vui đón Cha già vào thăm”…
Cách sử dụng từ ngữ địa phương góp phần thể hiện sắc thái riêng của từng địa phương đồng thời qua đó cũng bộc lộ tình cảm của nhân vật trữ tình: chân chất, mộc mạc như chính ngôn ngữ của địa phương ấy Đồng thời, cách sử dụng từ ngữ địa phương giúp người đọc xác định được chính xác bài ca dao ra đời ở địa phương nào, vùng miền nào Qua đó, ta thấy được vô vàn tình cảm rất riêng của địa phương
ấy, vùng miền ấy
3.1.2 Sự kết hợp giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời thường
Ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ thơ ca được gọt giũa, trau chuốt, bóng bẩy, chỉn chu Ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm, có chức năng thông tin và thẩm mĩ Ví dụ ca dao cổ có bài:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Trong bài ca dao này, ngôn ngữ không chỉ cung cấp cho bạn đọc thông tin
về nơi sinh sống, cấu tạo, hương vị, sự trong sạch của cây sen, mà quan trọng là khẳng định và nuôi dưỡng một tư tưởng, một cảm xúc thẩm mĩ “cái đẹp có thể hiện hữu và bảo tồn ngay trong môi trường có nhiều cái xấu” Thế nhưng chức năng thẩm mĩ nêu trên nổi bật là nhờ vào tính hình tượng mà ngôn ngữ bác học mang đến Cũng trong bài ca dao về cây sen ở trên, nội dung tư tưởng tình cảm, cảm xúc
về cái đẹp không phải được biểu hiện trực tiếp qua từ ngữ và câu văn thông thường
mà qua các hình tượng cụ thể (lá xanh, bông trắng, nhị vàng) và cả các lớp lang trong ngoài để gợi tả,…Hơn nữa, bao trùm lên tất cả là hình tượng sen như là một tín hiệu thẩm mỹ về phẩm chất thanh cao, đẹp đẽ trong tự nhiên và cả trong xã hội loài người
Ngôn ngữ ca dao về Bác bóng bẩy, tượng hình không kém:
“Cụ Hồ như cột trụ đồng, Muốn lay chẳng ngã, muốn rung chẳng rời
Cụ hồ như cái gương soi, Soi người trung liệt, soi người tinh ma
Trang 34Cụ Hồ như biển bao la,
“Nhìn sông lại nhớ đến nguồn, Nhìn cây nhớ cội nhìn non nhớ rừng
Dù cho xa cách muôn trùng, Tình dân với Bác vuông tròn thủy chung”
Ngôn ngữ ca dao thật mượt mà, đầy hình ảnh Ngôn ngữ của bài ca là ngôn ngữ của sự liên tưởng sông liên tưởng đến nguồn, cây liên tưởng đến cội Rồi từ đó liên tưởng đến sự gắn bó thủy chung giữa tình dân và Bác
Bên cạnh những lớp từ trau chuốt, bóng bẩy, đầy hình tượng, ca dao về Bác vẫn mộc mạc, chân chất với những từ ngữ đời thường Ngôn ngữ đời thường là khẩu ngữ, là lời nói trong đời sống hằng ngày, ít được trau chuốt, gọt giũa, ít được tỉa tót, công phu
Đọc bài ca dao sau, chúng ta dễ dàng nhận thấy lời nói của người bình dân:
“Tuy rằng Tây phá nơi nơi, Nhưng mà chúng cháu không đời nào lo
Có Bác thì ấm, thì no,
Có Bác thì giặc phải thua, chắc rồi”
Tính khẩu ngữ trong ca dao thể hiện trước hết ở các hình thức như thêm, bớt
âm tiết Hình thức này xuất hiện nhiều ở thể thơ lục bát biến thể, song thất lục bát biến thể Tính khẩu ngữ trong bộ phận ca dao về Bác cũng thể hiện chủ yếu ở hình thức này Chẳng hạn: “Chúc Cụ Hồ mạnh khỏe vui tươi/ Dắt dìu kháng chiến, giành độc lập cho người Việt Nam”; “Chỉ có quân hám sữa cặn, rượu tàn/ Mới nói quấy nói quá hòng làm mất thanh danh Cụ Hồ”; “Dù cho Mỹ Diệm ỳ ra/ Có Cụ Hồ lãnh