Mở bài 0,25 điểm Giới thiệu được câu chuyện chính là bài học về một lối sống đẹp: sống nhân ái, luôn yêu thương và bao dung với cuộc đời.. Kết bài 0,25 điểm + Khẳng định vấn đề đặt ra t
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI TỪ
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 CẤP THCS NĂM HỌC 2016 - 2017
Môn: Ngữ văn
Thời gian 150 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (4 điểm)
Từ văn bản sau, em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng một trang rưỡi giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa cho và nhận trong cuộc sống.
TIẾNG VỌNG TỪ RỪNG SÂU
Có một cậu bé ngỗ nghịch thường bị mẹ khiển trách Ngày nọ giận mẹ, cậu chạy đến một thung lũng cạnh khu rừng rậm Lấy hết sức mình, cậu hét lớn: “Tôi ghét người” Từ khu rừng có tiếng vọng lại: “Tôi ghét người” Cậu hoảng hốt quay về sà vào lòng mẹ khóc nức nở Cậu không sao hiểu được từ trong khu rừng lại có người ghét cậu.
Người mẹ nắm tay con, đưa trở lại khu rừng Bà nói: “Giờ thì con hãy hét thật to: Tôi yêu người ” Lạ lùng thay, cậu vừa dứt tiếng thì có tiếng vọng lại: “Tôi yêu người” Lúc đó người mẹ mới giải thích cho con hiểu: “Con ơi, đó là định luật trong cuộc sống của chúng ta Con cho điều gì con sẽ nhận điều đó Ai gieo gió thì gặt bão Nếu con thù ghét người thì người cũng thù ghét con Nếu con yêu thương người thì người cũng yêu thương con”.
(Theo Quà tặng cuộc sống, NXB Trẻ, 2004)
Câu 2 (6 điểm)
Trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600 mét, có một anh cán bộ khí tượng kiêm vật
lý địa cầu sống một mình, bốn bề chỉ có cây cỏ, mây mù lạnh lẽo và một số máy
móc khoa học Nhưng khi gặp ông họa sĩ già, anh vẫn khẳng định: “Cháu sống thật hạnh phúc”.
(Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long)
Ngoài biển khơi xa, trong đêm tối, có những con người vẫn háo hức ra đi trong
tiếng hát Họ“Ra đậu dặm xa dò bụng biển/Dàn đan thế trận lưới vây giăng”.
(Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)
Núi cao biển xa, chân trời góc bể nhưng những người lao động ấy vẫn nhiệt tình, âm thầm mang sức lao động của mình cống hiến cho Tổ quốc
Dựa vào hai tác phẩ m trên, em hãy làm sáng tỏ vẻ đẹp của người
lao độ ng mới.
H t ế
Họ và tên thí sinh ……… SBD………
Trang 2PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI TỪ
HƯỚNG DẪN CHẤM BÀI THI CHỌN HỌC SINH GIỎI NĂM HỌC 2016 - 2017
Môn: Ngữ văn lớp 9 Câu 1:
Học sinh có thể trình bày vấn đề theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
A Mở bài (0,25 điểm)
Giới thiệu được câu chuyện chính là bài học về một lối sống đẹp: sống nhân
ái, luôn yêu thương và bao dung với cuộc đời
B Thân bài (3,5 điểm)
- Câu chuyện đề cập đến mối quan hệ giữa cho và nhận trong cuộc đời mỗi con người khi con người trao tặng cho người khác tình cảm gì thì sẽ nhận lại được tình cảm đó Đấy là mối quan hệ nhân quả và cũng là quy luật tất yếu của cuộc sống
- Mối quan hệ giữa cho và nhận trong cuộc sống vô cùng phong phú, bao gồm
cả vật chất và tinh thần
- Mối quan hệ giữa cho và nhận không phải bao giờ cũng ngang bằng trong cuộc sống: có khi ta cho nhiều nhưng nhận lại ít hơn và ngược lại
- Mối quan hệ giữa cho và nhận không phải bao giờ cũng là cho người đó và nhận của người đó, mà nhiều khi mình nhận ở người mà mình chưa hề cho Và cái mình nhận có khi là sự bằng lòng với chính mình, là sự hoàn thiện hơn nhân cách làm người trong cuộc sống
- Làm thế nào để thực hiện tốt mối quan hệ giữa cho và nhận trong cuộc sống? + Con người phải biết cho cuộc đời những gì tốt đẹp nhất: Đó là sự yêu thương, trân trọng, cảm thông giúp đỡ nhau cả về vật chất lẫn tinh thần chứ không phải là sự cho-nhận vì mục đích vụ lợi
+ Con người cần phải biết cho nhiều hơn nhận lại
+ Phải biết cho mà không hy vọng được đáp đền
+ Để cho nhiều hơn, con người cần phải cố gắng phấn đấu rèn luyện và hoàn thiện mình, làm giàu cho mình cả vật chất lẫn tinh thần để có thể yêu thương nhiều hơn cuộc đời này
C Kết bài (0,25 điểm)
+ Khẳng định vấn đề đặt ra trong câu chuyện là bài học về một lối sống đẹp: sống nhân ái, luôn yêu thương và bao dung cuộc đời
Câu 2 (6 điểm )
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh nhận thức đúng yêu cầu của đề về kiểu bài, nội dung, giới hạn
Trang 3- Biết cách làm bài nghị luận văn học: bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ; diễn đạt trong sáng, biểu cảm; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu
* Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải bám sát yêu cầu của đề Cần chỉ ra và làm sáng tỏ những nét đẹp nổi bật của con người lao động mới (người lao động sau Cách mạng tháng Tám) được thể hiện qua hai tác
phẩm Đoàn thuyền đánh cá (Huy cận), Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long) Cụ
thể cần đảm bảo được các nội dung cơ bản sau:
1 Mở bài: (0,5 điểm)
Nêu đúng vấn đề và giới hạn - vẻ đẹp của người lao động mới trong hai tác phẩm: “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận và “Lặng lẽSaPa” của Nguyễn Thành Long
2 Thân bài: (5 điểm)
* Bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác (0,5 điểm)
Sau chiến thắng chống thực dân Pháp, miền Bắc nước ta bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng CNXH Một không khí phấn khởi, hăng say lao động kiến thiết đất nước dấy lên khắp mọi nơi
“Đoàn thuyền đánh cá” - Huy Cận (1958), “Lặng lẽ Sa Pa” - Nguyễn Thành Long (1970) đều là kết quả của những chuyến đi thực tế mà các tác giả sống trực tiếp cùng với những con người lao động Hình tượng người lao động đã được khắc họa rõ nét trong hai tác phẩm Họ thuộc đủ mọi lớp người, mọi lứa tuổi, với những nghề nghiệp khác nhau, làm việc ở những vùng khác nhau nhưng đều có chung những phẩm chất cao đẹp
Luận điểm 1 (0,5 điểm): Công việc, điều kiện làm việc của họ đầy gian khó,
thử thách.
Người ngư dân trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” ra khơi khi thiên nhiên,
vũ trụ vào trạng thái nghỉ ngơi Đánh cá trên biển là một công việc rất vất vả và nguy hiểm Nhưng những người ngư dân đã hòa nhập với thiên nhiên bao la và trở thành hình ảnh sáng đẹp
Trong “Lặng lẽSaPa”: Anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét Anh sống một mình, xung quanh anh chỉ có cây cỏ, mây mù lạnh lẽo và một số máy móc khoa học Cái gian khổ nhất với anh là sự cô độc Công việc của anh là “đo gió, đo mưa dự báo thời tiết” Công việc ấy đồi hỏi phải
tỉ mỉ, chính xác Mỗi ngày anh đo và báo số liệu về trạm bốn lần Nửa đêm, đúng giờ “ốp” dù mưa tuyết, gió rét thế nào thì vẫn phải trở dậy làm việc
Luận điểm 2 (2 điểm): Trong điều kiện khắc nghiệt như vậy nhưng những
người lao động ấy vẫn nhiệt tình, hăng say, mang hết sức lực của mình để cống hiến cho Tổ quốc.
- Những người ngư dân là những con người lao động tập thể Họ hăm hở:
Trang 4“Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.”
Họ làm việc nhiệt tình, hăng say trong câu hát
- Anh thanh niên có những suy nghĩ đúng đắn, sâu sắc về công việc Anh hiểu việc mình làm có ý nghĩa quan trọng “ phục vụ sản xuất…” Công việc tuy lặp lại đơn điệu song anh vẫn rất nhiệt tình, say mê, gắn bó với nó ( qua lời anh nói với ông họa sĩ)
Luận điểm 3 (2 điểm): Đó còn là những con người sống có lí tưởng và tràn
đầy lạc quan Họ thực sự tìm thấy niềm hạnh phúc trong công việc lao động đầy gian khổ.
- Đánh cá trong đêm đầy vất vả, nguy hiểm, người ngư dân đã thu về thành quả thật tốt đẹp Họ ra đi, làm việc và trở về đều trong câu hát Hình ảnh thơ cuối bài rạng rỡ niềm vui, tin tưởng, hi vọng của người lao động Họ vui say lao động vì một ngày mai “huy hoàng”
- Lí tưởng sống của anh là vì nhân dân, vì đất nước Chính từ suy nghĩ :
“mình sinh ra… vì ai mà làm việc?” mà anh đã vượt lên nỗi “thèm người” để gắn
bó với đỉnh Yên Sơn trong công việc thầm lặng
Trong cái lặng im của Sa Pa ấy, không phải chỉ có anh thanh niên mà còn có
cả thế giới những người “làm việc và lo nghĩ cho đất nước” qua lời anh kể như: ông kĩ sư vườn rau, đồng chí cán bộ nghiên cứu lập bản đồ sét… Họ thực sự tìm thấy niềm hạnh phúc trong lao động cống hiến
* Đánh giá (0,5 điểm): Người lao động vô danh trong hai tác phẩm đủ mọi
thành phần, lứa tuối , nghề nhiệp, dù ở núi cao hay biển xa đều là những người nhiệt tình, say mê công việc, sống có lí tưởng Họ là điển hình cao đẹp của con người lao động mới, con người trưởng thành trong công cuộc xây dưng CNXH ở miền Bắc
3 Kết bài (0,5 điểm)
Khẳng định thành công của các tác giả trong việc khắc họa hình ảnh người lao động và nêu cảm nghĩ hoặc liên hệ mở rộng
Lưu ý:Ngoài cách triển khai như trên, nếu học sinh làm bài chứng minh lần lượt theo từng tác phẩm nhưng biết dùng lập luận tổng - phân - hợp ( khái quát rõ
vẻ đẹp nói chung của người lao động trong hai tác phẩm rồi mới chứng minh cụ thể, sau đó tổng hợp, nâng cao) để vấn đề được sáng tỏ thì vẫn cho điểm cao Nếu bài viết lạc sang phân tích tràn lan, không bám sát các gợi mở ở đề bài thì dù viết hay giám khảo không nên cho qúa 1/2 số điểm
* Chú ý: Trên đây là định hướng chấm, trong quá trình chấm giám khảo cần linh hoạt vận dụng biểu điểm, trân trọng những sáng tạo của học sinh.
……… Hết ………
Trang 5UBND HUYỆN ĐẠI TỪ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9
NĂM HỌC 2017 - 2018 Môn thi: Ngữ văn
Thời gian: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (8 điểm)
Đọc câu chuyện sau:
NGƯỜI ĐI SĂN VÀ CON VƯỢN
Có một người săn bắn rất tài Nếu con thú rừng nào không may gặp phải bác ta thì hôm đó coi như là ngày tận số của nó.
Một hôm, người đi săn xách nỏ vào rừng Bác thấy một con vượn lông xám đang ngồi ôm con bên tảng đá Bác nhẹ nhàng rút mũi tên bắn trúng tim vượn mẹ.
Vượn mẹ giật mình hết nhìn mũi tên lại nhìn về phía người đi săn bằng đôi mắt căm giận, tay vẫn không rời con Máu ở vết thương từ từ rỉ ra loang khắp mũi tên Người đi săn đứng im chờ kết quả…
Bỗng vượn mẹ nhẹ nhàng đặt con xuống, vơ vội nắm bùi nhùi gối lên đầu con, rồi nó hái cái lá to, vắt sữa vào và đặt lên miệng con Sau đó, vượn mẹ nghiến răng, giật phắt mũi tên ra, rú lên một tiếng ghê rợn rồi từ từ gục xuống.
Người đi săn đứng lặng Hai giọt nước mắt từ từ lăn trên má Bác cắn môi,
bẻ gãy chiếc nỏ và lẳng lặng quay ngoắt ra về.
Từ đó về sau, bác không bao giờ đi săn nữa.
Câu chuyện gợi cho em suy nghĩ gì?
Câu 2 (12 điểm)
“Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp” (Tố Hữu).
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 9 để làm sáng tỏ ý kiến đó
-Hết -Họ và tên thí sinh:……….Số báo danh:
………
Trang 6PHÒNG GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO ĐẠI TỪ
HƯỚNG DẪN CHẤM THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9
NĂM HỌC 2017 - 2018 Môn thi: Ngữ văn Câu 1 (8 điểm)
A Yêu cầu diễn đạt
Bài làm của học sinh càn đạt các yêu cầu sau:
1 Yêu cầu kĩ năng
- Biết cách làm bài nghị luận xã hội
- Văn phong trong sáng, ngôn từ có sự chọn lọc, lập luận chặt chẽ, lôgic
2 Yêu cầu kiến thức
a Nội dung câu chuyện
- Khi bị bác thợ săn bắn trúng, vượn mẹ trước khi chết vẫn một lòng lo cho
sự sống của con
- Tình mẫu tử cao đẹp đã làm thay đổi tình cảm, nhận thức của nhân vật bác thợ săn Tình thương con, sự quên mình của vượn mẹ đã cho người thợ săn một bài học sâu sắc
- Câu chuyện ngợi ca sự thiêng liêng và sức mạng kì diệu của tình mẫu tử, đồng thời bàn đến hành động lỗi lầm và sự hối hận, phục thiện của con người trong cuộc đời
b Bàn luận, mở rộng vấn đề
- Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và cao đẹp Trong cuộc đời này cũng
đã có biết bao nhiêu người mẹ yêu con, hi sinh cho con đến quên mình
- Con người có thể gây ra lỗi lầm thậm chí là những hành động tội ác nhưng con người cũng sẽ biết thức tỉnh nếu tâm hồn được thanh lọc, soi sáng bởi những tình cảm cao đẹp đầy nhân tính
- Mối quan hệ và cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên: Phải chăng, sự vô tình của con người gây ra những hậu quả đau lòng đối với môi trường
tự nhiên? Con người cần có nhận thức và hành động như thế nào để bảo vệ môi trường tự nhiên và cũng là môi trường sống của chính mình?
c Bài học cho bản thân
- Thấy được vai trò của mẹ vô cùng lớn lao và cao cả Bổn phận làm con phải hiếu thảo để đền ơn sinh thành, dưỡng dục của mẹ
- Tu dưỡng trí tuệ và tâm hồn để trở thành con người có ích Biết ứng xử nhân văn với mọi người và vạn vật xung quanh
B Biểu điểm
- Điểm 7,5 - 8: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên
Trang 7- Điểm 5,5 - 7: Đáp ứng ở mức độ tương đối tốt các yêu cầu đã nêu Còn mắc một số lỗi nhỏ về diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp
- Điểm 3,5- 5: Về cơ bản đáp ứng các yêu cầu của bài Có thể mắc một số lỗi
về diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp nhưng vẫn rõ ý của mình
- Điểm 1 - 3: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề bài Bài viết lan man không thoát
ý hoặc còn quá sơ sài
- Điểm 0: Lạc đề hoặc không làm bài.
Câu 2: (12 điểm)
A Nội dung
1 Giải thích (2.0 điểm)
- “Thời đại”: Bối cảnh lịch sử, xã hội của đất nước thời điểm tác giả
đang sinh sống và sáng tác
- “Cao đẹp”: Lớn lao, đẹp đẽ (trái với cao đẹp là tầm thường)
- Ý nghĩa của nhận định: Thể hiện một cách quan niệm về thơ Theo
tác giả, thơ đồng nghĩa với sứ mạng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của con người cũng như những điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống
2 Chứng minh (10 điểm)
- Mở bài (1 điểm): Dẫn dắt và đưa ra nhận định của nhà thơ Tố Hữu.
Khẳng định đó là quan niệm tiến bộ, tích cực của thơ ca (thơ ca phải góp phần ngợi ca con người và cuộc sống)
- Thân bài (6 điểm): Chứng minh nội dung của nhận định: Thơ thể
hiện con người và thời đại một cách cao đẹp
+ Thơ thể hiện những con người cao đẹp: Đó là những con người bình
dị mang vẻ đẹp tâm hồn: yêu nước, dũng cảm, lạc quan trong cuộc sống (những người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật); ca ngợi tình mẫu tử tử thiêng liêng, ca ngợi công ơn của những bậc sinh thành (Bài thơ Con cò của Chế Lan Viên); ca ngợi tình cảm thành kính, thiêng liêng đối với lãnh tụ (bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương);
ca ngợi ước nguyện sống đẹp, cống hiến cho quê hương đất nước của mỗi con người (bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải)
+ Thơ thể hiện vẻ đẹp cuả thời đại: Thơ đề cập đến những vấn đề lớn lao của thời đại: Những gian khổ khốc liệt và tinh thần lạc quan cách mạng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Con cò ); niềm tin và tình cảm thiêng liêng thành kính của cả dân tộc đối với lãnh tụ (Viếng lăng Bác); thấy được xu thế đi lên của thời đại
và luôn tin tưởng vào tương lai của đất nước trong hoàn cảnh còn nhiều những khó khăn (Mùa xuân nho nhỏ)
* Trên đây chỉ là những dẫn chứng minh hoạ Phạm vi dẫn chứng của
đề là những bài thơ trong chương trình Ngữ văn lớp 9 không nhất thiết như trên nhưng làm rõ được vấn đề
Trang 8- Kết bài (2 điểm)
+ Khẳng định lại tính chất đúng đắn, tiến bộ của nhận định + Phê phán những quan điểm lệch lạc, sai lầm về thơ
+ Có thái độ nhận thức về vai trò, sứ mạng của thơ ca đối với cuộc sống
- Bài viết có cảm xúc, câu văn trong sáng, không có lỗi về diễn đạt, chính tả, dẫn chúng tiêu biểu, đúng phạm vi yêu cầu của đề bài (chương trình Ngữ văn cấp THCS) được khuyến khích 1 điểm.
B Biểu điểm
- Điểm 11-12: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, lời văn lưu loát, ý sâu sắc, sáng
tạo; có cảm xúc, khuyến khích bài làm có hiểu biết, suy nghĩ, cảm thụ sâu sắc
- Điểm 9-10: Đáp ứng được phần lớn những yêu cầu trên, diễn đạt khá tốt,
văn mạch lạc, trong sáng, còn mắc sai sót nhỏ
- Điểm 7-8: Hiểu và nắm được yêu cầu, bố cục mạch lạc, văn có cảm xúc,
có thể vẫn mắc một số lỗi nhỏ về diễn đạt
- Điểm 5-6: Hiểu và nắm được yêu cầu đề tuy chưa đáp ứng hết yêu cầu
nhưng vẫn làm rõ trọng tâm, còn sai sót nhỏ về diễn đạt
- Điểm 3-4: Hiểu đề song khai thác chưa sâu, còn lúng túng khi giải quyết
vấn đề, không xác định được trọng tâm, diễn đạt lủng củng, tối nghĩa
- Điểm 1-2: bài làm chỉ nêu được một vài kiến thức về tác phẩm song lan
man, mắc nhiều lỗi diễn đạt
- Điểm 0: Hiểu sai vấn đề hoặc không làm bài.
Trang 9UBND HUYỆN ĐẠI TỪ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9
NĂM HỌC 2018 - 2019 Môn thi: Ngữ văn
Thời gian: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
(Đề thi gồm có 01 trang)
Câu 1 (8,0 điểm)
Câu chuyện: CHO VÀ NHẬN
Một người đàn ông bị lạc giữa một sa mạc rộng lớn Ông mệt lả và khát khô, sẵn sàng đánh đổi bất kì cái gì chỉ để lấy một ngụm nước mát
Đi mãi đi mãi, đến khi đôi chân của ông đã sưng lên nhức nhối, ông thấy một căn lều cũ, rách nát, không cửa sổ Ông nhìn quanh căn lều và thấy ở một góc tối
có một cái máy bơm nước cũ và rỉ sét Người đàn ông vội vã bước tới, vịn chặt vào tay cầm, ra sức bơm Nhưng không có một giọt nước nào chảy ra cả Thất vọng, người đàn ông lại nhìn quanh căn lều Lúc này, ông mới để ý thấy một cái bình nhỏ Phủi sạch bụi cát trên bình, ông đọc được dòng chữ nguệch ngoạc viết bằng cách lấy viên đá cào lên: “Hãy đổ hết nuớc trong bình này vào cái máy bơm Và trước khi đi, hãy nhớ đổ nước đầy lại vào chiếc bình này”.Người đàn ông bật cái nắp bình ra, và đúng thật, trong bình đầy nước mát Bỗng nhiên, người đàn ông rơi vào một tình thế bấp bênh Nếu ông uống ngay chỗ nước trong bình, chắc chắn ông
có thể sống sót Nhưng nếu ông đổ hết nước vào cái bơm cũ kia, có thể nó sẽ bơm được nước trong lành từ sâu trong lòng đất, cũng có thể mình sẽ mất số nước hiếm hoi trong bình nếu máy bơm không thể hoạt động được
Ông cân nhắc kĩ Nhưng rồi cuối cùng, ông cũng quyết định rót hết nước vào cái máy bơm Rồi ông tiếp tục nhấn mạnh cái cần của máy bơm, một lần, hai lần chẳng có gì xảy ra cả! Tuy hoảng hốt, nhưng nếu dừng lại, ông sẽ không còn một nguồn hy vọng nào nữa, nên người đàn ông kiên trì bơm lên xuống, lần nữa, lần nữa …nước mát và trong lành bắt đầu chảy ra từ cái máy bơm cũ kỹ Người đàn ông vội vã hứng nước vào bình và uống Rồi ông hứng đầy bình, dành cho người nào đó có thể không may mắn bị lạc đường như ông và sẽ đến đây Ông đậy nắp bình, rồi viết thêm một câu dưới dòng chữ có sẵn trên bình:“Hãy làm theo chỉ dẫn Bạn phải cho trước khi bạn có thể nhận.”
(Theo hạt giống tâm hồn)
Từ câu chuyện trên, em hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ về mối quan hệ giữa cho và nhận trong cuộc sống
Câu 2 (12,0 điểm)
"Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng ( ) Nhưng văn học không phản ánh máy móc, thụ động như một tấm gương mà thông qua tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà văn."
(SGK Ngữ văn 9 – Tập 2, Trang 115)
Phân tích hình tượng người lính trong hai bài thơ "Đồng chí" (Chính Hữu)
và "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" (Phạm Tiến Duật) để làm sáng tỏ nhận định
trên
Trang 10………… Hết ………
Họ và tên thí sinh:……… Số báo danh:
……….
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI TỪ
HƯỚNG DẪN CHẤM THI CHỌN HỌC SINH GIỎI NĂM HỌC 2018 - 2019
Môn: Ngữ văn lớp 9
Câu 1: (8,0 điểm)
A Yêu cầu cần đạt
Bài làm của học sinh cần đạt các yêu cầu sau:
- Yêu cầu về kĩ năng: cần xác định đây là đề nghị luận xã hội về một vấn đề tư
tưởng đạo lí Học sinh có thể lựa chọn thao tác lập luận phù hợp, nhuần nhuyễn, huy động được các chất liệu đời sống
- Yêu cầu về kiến thức: cần làm rõ những nội dung cơ bản sau:
1 Giải thích
- Giải thích tư tưởng đạo lý nêu ra trong câu chuyện - cho và nhận.
+ Cho là sự san sẻ, giúp đỡ, yêu thương xuất phát từ tâm, từ trái tim của con người + Nhận là sự hưởng thụ, thừa hưởng những thành quả mang lại từ cuộc sống Cho
và nhận là mối quan hệ nhân quả
- Ý nghĩa: Câu chuyện “ Cho và nhận” kể về người đàn ông bị lạc trong sa mạc .Cuối cùng đã nhận được thành quả vì đã biết cho đi và không quên nhắn gửi thông điệp cho những người không may vướng vào hoàn cảnh như ông
2 Phân tích, chứng minh
- Phân tích, chứng minh, làm rõ những khía cạnh của vấn đề (kèm theo dẫn chứng minh họa từ câu chuyện và trong cuộc sống).
3 Bình luận
- Bình luận, đánh giá, bàn bạc, mở rộng, đề xuất ý kiến của bản thân
Trong cuộc sống vẫn còn rất nhiều mảnh đời bất hạnh …cần được chia sẽ khi ta cho đi thì nghĩa là chúng ta sẽ nhận lại rất nhiều …‘‘Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”- Tố Hữu, “có ba cách để tự làm giàu mình: mỉm cười, cho đi và tha thứ” (Theo: Hạt giống tâm hồn)
- Bác bỏ, phê phán
+ Vẫn tồn tại những kẻ lợi dụng cho và nhận vào mục đích bất chính…
+ Xã hội vẫn còn một bộ phận không nhỏ trong đó có thanh niên , học sinh đang của lối sống thờ ơ, họ chỉ biết “nhận”- hưởng thụ từ cha mẹ, người thân để rồi sống ích kỉ, vô cảm với đồng loại của mình
- Có những người sớm đạt được thành công nhưng: