Trong tâm trí ông A hiện lên rõ nhất là cuộc nói chuyện cuối cùng với ông trưởng phòng GD (TPGD) vào buổi tối khi ông A quyết định nhận công việc. Ông trưởng phòng đã đưa ra thông điệp[r]
Trang 1DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NCKH Nghiên cứu khoa học
GDĐT Giáo dục và Đào tạo
NDGD Nội dung giáo dục
TTCM Tổ trưởng chuyên môn
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
ĐGKQHT Đánh giá kết quả học tập
Trang 2TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN NỘI DUNG III (Dành cho cán bộ quản lí các trường trung học tỉnh Phú Thọ)
CĂN CỨ XÂY DỰNG TÀI LIỆU:
- Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05-5-2006 về việc ban hành chương trình giáo dục phổ thong;
- Thông tư 26/2012/TT-BGDĐT ngày10 tháng 7 năm 2012 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên đối với giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên;
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;
- Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông;
- Kế hoạch số 808/KH-UBND ngày 11 tháng 3 năm 2014 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo;
- Kế hoạch số 626/KH-SGD&ĐT ngày 25 tháng 4 năm 2014 của Sở Giáo dục
và Đào tạo Phú Thọ về việc thực hiện kế hoạch của UBND tỉnh Phú Thọ thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, giai đoạn 2014-2020…
- Thông tư số 38/2012/TT-BGDĐT ngày 02/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy chế thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia học sinh trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) (sau đây gọi tắt
là Thông tư số 38);
- Hướng dẫn số 791/HD-BGDĐT ngày 25 tháng 6 năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông;
- Văn bản số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/ trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng;
- Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể…
Trang 3Chuyên đề 1:
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GD
I Chuẩn bị nghiên cứu
1 Quá trình chuẩn bị nghiên cứu
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy
Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới
tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương
pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường
Cuộc thi KHKT với mục đích nhằm khuyến khích học sinh trung học NCKH; sáng tạo kĩ thuật, công nghệ và vận dụng kiến thức của các môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn Góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học; đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực và phẩm chấtcủa học sinh; thúc đẩy giáo viên tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; nâng cao chất lượng dạy học trong các cơ sở giáo dục trung học Phát triển văn hóa đọc trong trường trung học gắn với đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh Khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, cơ sở nghiên cứu, các tổ chức và cá nhân hỗ trợ hoạt động nghiên cứu KHKT của học sinh trung học Tạo cơ hội để học sinh trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu KHKT của mình; tăng cường trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các địa phương và hội nhập quốc tế
Trong quá trình chuẩn bị nghiên cứu, người nghiên cứu cần thực hiện những công việc theo trật tự lô gic sau:
Tiếp nhận nhiện vụ nghiên cứu; Phát hiện vấn đề nghiên cứu; Xác định đối tượng và mục tiêu nghiên cứu; Giới hạn phạm vi nghiên cứu; Chọn mẫu khảo sát trong quá trình nghiên cứu; Chuẩn bị tài liệu, tức các thông tin phục vụ nghiên cứu; Chuẩn bị các nguồn lực phục vụ nghiên cứu (nhân lực, phương tiện và thiết bị thí nghiệm tài chính)
2 Tiếp nhận nhiệm vụ nghiên cứu
Trong hệ thống khái niệm phương pháp luận nghiên cứu ở nước ta khái niệm
Trang 4“nhiệm vụ nghiên cứu” được hiểu theo hai nghĩa:
- Nghĩa thứ nhất, đó là một cam kết nghiên cứu mà người nghiên cứu hoặc nhóm nghiên cứu, hoặc tổ chức nghiên cứu tự đặt ra cho mình, hoặc thực hiện theo yêu cầu của một người đặt hàng nào đó Đây là cơ sở hình thành đề tài nghiên cứu
- Nghĩa thứ hai, đó là những công việc nhằm cụ thể hóa mục tiêu nghiên cứu của đề tài Trong khái niệm “đăng ký nhiệm vụ nghiên cứu”, “giao nhiệm vụ nghiên cứu” được sử dụng hiện nay thì “nhiệm vụ nghiên cứu” được hiểu và được
sử dụng theo nghĩa thứ nhất, và có thể được xác định trên cơ sở sau đây:
+ Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia được ghi trong các văn kiện chính thức của các cơ quan có thẩm quyền như: chiến lược phát triển kinh
+ Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình xuất phát từ ý tưởng khoa học, tức một phán đoán chưa có luận cứ của bản thân người nghiên cứu
Cuối cùng, việc lựa chọn đề tài có thể được xem dựa trên những căn cứ được cân nhắc theo các cấp độ ưu tiên theo trật tự lô gic như sau:
- Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không? Đây là điều đầu tiên phải cân nhắc
vì đã là đề tài khoa học thì rứt khoát phải có ý nghĩa khoa học
- Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn nào không? Trong số những đề tài ý nghĩa khoa học được chọn, cần ưu tiên những đề tài có ý nghĩa thực tiễn để làm trước
- Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không? Trong số những đề tài có ý nghĩa thực tiễn, cần ưu tiên những đề tài có ý nghĩa cấp thiết cao hơn, những đề tài
ít cấp thiết phải có mức độ ưu tiên thấp hơn
- Có đủ điều kiện về nguồn lực đảm bảo cho công việc hoàn thành đề tài không?
- Có đủ điều kiện môi trường xã hội đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài không?
Đề tài có phù hợp với sở thích của bản thân không? Điều này sẽ lôi cuốn người nghiên cứu dấn thân cho sự nghiệp nghiên cứu của mình
3 Phát hiện vấn đề nghiên cứu
Đây là công việc hết sức khó khăn, nhất là đối với các đồng nghiệp mới bước vào nghiên cứu
Xét về mặt lý thuyết thì “Vấn đề nghiên cứu” được phát hiện ở nơi chứa đựng những mâu thuẫn giữa lý thuyết vốn tồn tại và thực tế mới phát sinh
Trang 5Như vậy, ở đâu gặp mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực tế, ở đấy có vấn đề người nghiên cứu quan tâm
Một cách khái quát, vấn đề nghiên cứu được đặt ra khi người nghiên cứu đứng trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế của tri thức khoa học trong lý thuyết hiện
có với thực tế phát sinh, đặt ra nhu câu phát triển tri thức đó ở trình độ cao hơn Phát hiện được vấn đề nghiên cứu là giai đoạn quan trọng trên bước đường phát triển nhận thức
Trong nghiên cứu khoa học luôn tồn tại hai loại vấn đề về bản chất sự vật cần tìm kiếm và vấn đề về phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ lý thuyết và thực tiễn, để giải quyết vấn đề thuộc lớp thứ nhất
Như vậy, việc phát hiện vấn đề khoa học chính là nêu ra được những mâu thuẫn để làm cơ sở cho việc tìm kiếm lời giải đáp
Tổng kết từ kinh nghiệm nghiên cứu, chúng ta có thể sử dụng những phương pháp sau đây để tìm kiếm những vấn đề nghiên cứu
Nhận dạng những bất đồng trong tranh luận khoa học:
Khi hai đồng nghiệp bất đồng ý kiến, có thể là họ đã chấp nhận ra những mặt yếu trong lập luận khoa học của nhau Đây là cơ hội thuận lợi để người nghiên cứu nhận dạng những vấn đề mà các đồng nghiệp đã phát hiện, từ đó đặt câu hỏi nghiên cứu
Nghĩ ngược lại quan niệm thông thường:
Người nghiên cứu phải luôn biết đặt những câu hỏi ngược lại quan niệm thông thường
Chẳng hạn, trong khi nhiều người cho rằng trẻ em suy dinh dưỡng là do các
bà mẹ kém hiểu biết về dinh dưỡng của trẻ, thì có người nêu câu hỏi ngược lại: Các
bà mẹ là tri thức chắc chắn phải hiểu biết về dinh dưỡng trẻ em hơn các bà mẹ nông dân Vậy tại sao tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong nhóm con cái các bà mẹ là tri thức lại cao hơn trom nhóm các bà mẹ làm nông dân?
Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tế:
Nhiều khó khăn hiện nảy sinh trong hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội, không thể sử dụng những biện pháp thông thường để sử lý Thực tế này đặt người nghiên cứu trước những câu hỏi phải trả lời, tức là xuất hiện vấn đề, đòi hỏi người nghiên cứu phải đề xuất những giải pháp mới
Nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu:
Đôi khi nhiều câu hỏi nghiên cứu xuất hiện nhờ lời phàn nàn của người hoàn toàn không am hiểu lĩnh vực mà người nghiên cứu quan tâm
Chẳng hạn sáng chế xe điện của Edison chính là kết quả bất ngờ sau khi ông nghe lời phàn nàn của một bà cụ già trong đêm khánh thành mạng đèn điện chiếu sáng đầu tiên ở một thị trấn ngoại ô thành phố New York: “Cái ông Edison giỏi như thế làm được đèn điện mà không làm được xe (chạy điện) cho người già đi đây
Trang 6Những câu hỏi bất chợt xuất hiện
Đây là những câu hỏi xuất hiện ở người nghiên cứu do bất chợt quan sát được một sự kiện nào đó, cũng có thể xuất hiện rất ngẫu nhiên, không phụ thuộc bất kỳ lý do, thời gian hoặc không gian nào
Tư vấn để nghiên cứu mà người nghiên cứu xây dựng cho mình hoặc cho nhóm nghiên cứu của mình một đề tài nghiên cứu
4 Đề tài nghiên cứu là gì?
Đề tài nghiên cứu là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó có một nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu Nhóm nghiên cứu có thể là 1 người hoặc nhiều người
Đề tài được lựa chọn xuất phát từ một vấn đề nghiên cứu
Sau khi đã xác định được vấn đề cần nghiên cứu, người nghiên cứu phải đặt tên đề tài cho mình Tên đề tài rất quan trọng Nó là bộ mặt của tác giả Nó thể hiện
tư tưởng khoa học của tác giả
Làm thế nào đặt tên đề tài có tư tưởng khoa học?
Một đồng nghiệp không coi trọng lắm việc đặt tên cho đề tài, lựa chọn những công thức đặt tên đề tài theo đường mòn Chẳng hạn, “Phá rừng-Hiện trạng, Nguyên nhân và Giải pháp”, hoặc “Hội nhập – Thách thức, Thời cơ”, hoặc tệ nạn
ma túy – Hiện trạng, vấn đề” hoặc Hội phụ huynh học sinh với xã hội hóa công tác giáo dục”
Tên đề tài có vai trò gì không?
Tên đề tài là nơi cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài
Tên một đề tài khoa học khác với tên của tác phẩm văn học hoặc những bài luận Tên của đề tài khoa học mang một ý nghĩa của chủ đề nghiên cứu, không được phép hiểu theo hai nghĩa hay nhiều nghĩa
Chưa có tài liệu nào quy định chặt chẽ và cách đặt tên một đề tài Tuy nhiên, xét trên yêu cầu về nội dung nghiên cứu cần thể hiện cô đọng nhất tên đề tài có thể được đặt theo cấu trúc sau
Trước hết, tên đề tài phải thể hiện được mục tiêu nghiên cứu Ví dụ “nhận dạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa” có mục tiêu là nhận dạng năng lực cạnh tranh
Thứ hai, ngoài mục tiêu nghiên cứu trong tên đề tài còn có thể chỉ rõ phương tiện thực hiện mục tiêu Ví dụ “Thực hành chính sách đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghiệp” có mục tiêu là: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghiệp; phương tiện là: thực hành chính sách đổi mới công nghệ
Thứ ba, ngoài mục tiêu, phương tiện, trong tên đề tài còn có thể chỉ rõ môi trường chứa đượng mục tiêu và phương tiện thực hiện
Trang 7Một số điểm cần tránh khi đặt tên đề tài
Thứ nhất, tên đề tài không nên đặt bằng những cụm từ có độ bất định cao về
thông tin Ví dụ:
- Về …., Thứ bàn về… , Góp cùng bàn về…
- Suy nghĩ về …., Vài suy nghĩ về….Một suy nghĩ về…
- Một số biện pháp nhằm…Tìm hiểu về …Thử tìm hiểu về…
- Nghiên cứu về…., Bước đầu nghiên cứu về…,
Thứ hai, hạn chế lạm dụng những cụm từ chỉ mục đích để đặt tên cho đề tài
Cụm từ chỉ mục đích là những cụm từ chỉ mở đầu bởi những từ để, nhằm, góp phần vv Nói lạm dụng nghĩa là sử dụng một cách thiếu cân nhắc, sử dụng tùy tiện trong những trường hợp không chỉ rõ được nội dung thực tế cần làm, mà chỉ đưa ra những cụm từ chỉ mục đích để che lấp những nội dung mà bản thân tác giả cũng chưa có được sự hình dung rõ rệt
(…) nhằm nâng cao chất lượng…
(…) để phát triển năng lực cạnh tranh …,
(…) góp phần vào …,
Sẽ là không đạt yêu cầu khi đặt tên đề tài bao gồm hang loạt cụm từ vừa nêu trên
Ví dụ “thử bàn về một số biện pháp bước đầu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần tạo ra năng lực cạnh tranh trên thị trường” v v
Thứ ba, tên đề tài có thể xem không đạt với những cụm từ “ Cơ sở lý luận và
thực tiễn…” hoặc cơ sở khoa học và thực tiễn…”, chẳng hạn, “Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc sắp xếp lại và xu thế phát triển hệ thống Ngân hàng Thương mại
cổ phần ở Việt Nam” Bởi vì, đương nhiên là nghiên cứu nào cũng phải dựa trên những “Cơ sở khoa học và thực tiễn ” hoặc “Cơ sở lý luận và thực tiên…”
Thứ tư, cũng là không đạt yêu cầu khi chúng ta đặt tên đề tài có dạng như “mại dâm –thực trạng nguyên nhân, giải pháp” hoặc lạm phát – thực trạng, nguyên nhân, giải pháp”
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sự vật, hiện tượng cần được làm rõ bản chất trong quá trình nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài cũng là sự vật mà đề tài cần làm rõ bản chất trong quá trình nghiên cứu
Trang 8- Đối tượng nghiên cứu của một đề tài cũng là cái sự vật mà đề tài cần làm
rõ bản chất
Ví dụ:
- Đề tài “Nhận diện việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội” có đối tượng nghiên cứu là “Thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội”
- Đề tài: “Phân tích đóng góp của vốn xã hội vào sự đổi mới doanh nghiệp trường hợp nghiên cứu ngành Dệt may trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” có đối tượng nghiên cứu là “Sự đổi mới doanh nghiệp”
- Đề tài: “Ứng dụng logic mờ, mạng rron và mạng PLC trong điều khiển giám sát đèn giao thông” có đối tượng nghiên cứu là “Đèn giao thông”
6 Xác định mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là bản chất sự vật cần làm được rõ (đối với nghiên cứu
mô tả hoặc nghiên cứu giải thích) Mục tiêu nghiên cứu cũng có thể là tìm kiếm nguyên lý của một giải pháp cần sáng tạo, chẳng hạn, một nguyên lý công nghệ, một nguyên lý cho một giải pháp kinh tế hoặc xã hội
Mục tiêu trả lời câu hỏi “Nghiên cứu cái gì?”, chẳng hạn nghiên cứu một tình trạng nào đó của sự vật, hoặc nghiên cứu nguyên nhân của hiện tượng đó, hoặc nghiên cứu để sáng tạo ra một nguyên lý công nghệ, v v
Trong một đề tài nghiên cứu bao giờ cũng có một mục tiêu xuyên suốt, mang tính chủ đạo, gọi là “mục tiêu chung” còn các mục tiêu khác là những “Mục tiêu cụ thể” Chẳng hạn mục tiêu chung của nghiên cứu là nhận dạng các giải pháp
“Nâng cao năng suất cây trồng”có thể phân tích thành các mục tiêu cụ thể như “Cải tạo giống và nảo vệ thực vật” đến các biện pháp “Cải tạo giống” lại có thể phân tích thành các mục tiêu cụ thể hơn, như “Cải tạo giống bằng phương pháp hữu tính”, và “Cải tạo giống bằng phương pháp vô tính”, V v
Trong nhiều văn bản hướng dẫn luận văn và hướng dẫn đề cương nghiên cứu, mục tiêu cụ thể cũng được gọi là nhiệm vụ nghiên cứu, tức là khái niệm
“nhiệm vụ nghiên cứu” được hiểu theo nghĩa thứ hai
Tập hợp các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể luôn được tổ chức thành một
“cây mục tiêu”
Mục tiêu cấp 1: Nghiên cứu về “Nâng cao năng suất cây trồng”
Mục tiêu cấp II: Chi tiết hóa những nội dung nghiên cứu về “Nâng cao năng suất cây trồng”, bao gồm “Biện pháp cải tạo giống”, “Biện pháp bảo vệ thực vật”
và “Cải tạo đất” Mục tiêu cấp III: Chi tiết hóa những nội dung được đặt ra trong mục tiêu cấp II Chẳng hạn, mục tiêu cấp III của “Biện pháp cải tạo giống” bao gồm “Phương pháp hữu tính” và “Phương pháp vô tính”
Mục tiêu cấp IV: Chi tiết hóa những nội dung được đặt ra trong mục tiêu cấp III Chẳng hạn, mục tiêu cấp IV của “phương pháp vô tính” gồm “Giâm cành”,
“Cấy mô” Chiết cành”, v v
Trang 9Sự phân chia cây mục tiêu chi tiết đến đâu tùy thuộc vào ý đồ của người nghiên cứu và đối tác đặt hang Mặt khác, sự phân chia này cũng tùy thuộc vào nhân lực và các nguồn lực nghiên cứu
Vễ được cây mục tiêu sẽ giúp người nghiên cứu hình dung một cách bao quát toàn bộ nội dung nghiên cứu và các bước thực hiện Hơn nữa căn cứ vào cây mục tiêu đã lập chúng ta có cơ sở để lập dự toán kinh phí cần thiết cho nghiên cứu
Toàn bộ tập hợp mục tiêu nghiên cứu với cấu trúc hình cây cấu thành đối tượng nghiên cứu của đề tài, chính là toàn bộ bản chất sự vật/hiện tượng cần làm
rõ
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu luôn được đặt ra đối với mọi đề tài nghiên cứu Bởi vì,
mục tiêu nghiên cứu là vô hạn: nghiên cứu Trái đất chưa xong đã bắt tay nghiên cứu Thái dương hệ; nghiên cứu Thái dương hệ chưa kết thúc đã khởi sự nghiên cứu Ngân hà; trong khi nghiên cứu Ngân hà, thì đã vươn tới những nghiên cứu xa hơn về toàn bộ Vũ trụ, trong khi nguồn lực của ta thì vô cùng hữu hạn: thiếu cộng
sự, thiếu thông tin, thiếu kinh phí, thiếu quỹ thời gian
Phạm vi nghiên cứu được xác định trong một giới hạn nhất định Có nhiều
loại phạm vi được đặt ra để xem xét Nhìn chung, có 3 loại phạm vi cần quan tâm:
- Phạm vi giới hạn trong tập hợp mục tiêu nghiên cứu
- Phạm vi giới hạn về không gian nghiên cứu, cụ thể chính là việc lựa chọn
quy mô của mẫu khảo sát
- Phạm vi về thời gian của tiến trình của sự vật
Khi người nghiên cứu xác định được một giới hạn hợp lý phạm vi nghiên cứu thì sẽ tiết kiệm được các nguồn lực phải đầu tư cho nghiên cứu, tiết kiệm thời gian dành cho nghiên cứu Đương nhiên, khi xác định giới hạn phạm vi nghiên cứu, người nghiên cứu phải đảm bảo rằng, kết quả nghiên cứu vẫn trong khuôn khổ độ tin cậy cần thiết theo đúng yêu cầu của NCKH
Dưới đây chúng ta lần lượt bàn về những phạm vi đó
- Thứ nhất, giới hạn phạm vi mục tiêu nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu có thể
rất rộng, nhưng do hạn chế về quỹ thời gian và về các nguồn lực, người nghiên cứu
có thể giới hạn một phần mục tiêu để nghiên cứu Phần còn lại sẽ làm tiếp khi bản thân có điều kiện, hoặc có các đồng nghiệp chia sẻ những mối quan tâm về mục tiêu nghiên cứu đó
Giới hạn mục tiêu nghiên cứu được xem xét trên cơ sở cây mục tiêu Cây mục tiêu cho phép hình dung toàn diện mục tiêu nghiên cứu Lựa chọn những mục tiêu nào trong cây mục tiêu là thuộc quyền của người nghiên cứu phụ thuộc vào các nguồn lực và quỹ thời gian thực hiện đề tài
- Thứ hai, giới hạn phạm vi quãng thời gian quan sát diễn biến của sự kiện
Chẳng hạn, có thể xem xét các ví dụ sau
Trang 10trường thì quãng thời gian quan sát có thể được chọn trong ba tình huống sau: + Có thể lấy từ năm 1986, là mốc đánh dấu bởi văn kiện chính thức quyết định về đường lối cải cách kinh tế Đó là Nghị quyết của Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ VI
+ Có thể lấy mốc từ một thời điểm tùy chọn nào đó sau năm 1986, chẳng hạn, năm 1990, khi những quyết định về đường lối bắt đầu có hiệu lực trong đời sống
xã hội
+ Nhưng cũng có thể lấy mốc từ cuối những năm 1970, khi bắt đầu những tín hiệu khủng hoảng của nền kinh tế, buộc người dân phải “phá rào” các thiết chế cũ, tìm đường để tự giải phóng mình, manh nha dẫn đến các quyết định của các nhà lãnh đạo
Lựa chọn phạm vi thời gian nào theo các tình huống vừa phân tích ở trên phụ thuộc vào nhu cầu và năng lực quan sát quy luật diễn biến của sự kiện mà người nghiên cứu quan tâm Ngoài ví dụ về nghiên cứu quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường vừa nêu ở trên, có thể xem xét vài ví dụ khác
Ví dụ 2: Trong đề tài về nghiên cứu tạo giống lúa chống chịu sâu bệnh, trước
đây người nghiên cứu phải kéo dài thời gian thực nghiệm tới 8 vụ lúa để khẳng định độ tin cậy của loại giống mới được tạo ra Rất có thể do sự tiến bộ về phương pháp thực nghiệm, người ta có thể rút ngắn số vụ thực nghiệm, nhưng không thể rút ngắn tới mức chỉ qua một vụ đã kết luận về độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
Ví dụ 3: Trong nghiên cứu công nghệ tuy không phụ thuộc chu kỳ sinh học
như trong đề tài nghiên cứu về giống lúa Nhưng cũng phải lặp lại các thực nghiệm với số lần đủ đảm bảo kết luận về độ tin cậy của kết quả Chẳng hạn, nghiên cứu Giàn làm mát thiết bị điện của Trường Đại học Bách khoa từ khi đạt các tiêu chuẩn
kỹ thuật như mong đợi, đến khi thành công đưa vào áp dụng trong sản xuất, kéo dài trên một năm, lặp lại hơn mười thí nghiệm, trong đó có những thí nghiệm thất bại
8 Mẫu khảo sát
- Bất cứ nghiên cứu nào người nghiên cứu cũng phải dựa trên một số mẫu khảo sát:
Ví dụ 1: Trong đề tài “Nghiên cứu phức điệu trong các bản giao hưởng của
Beethoven”, thì tác giả chọn mẫu khảo sát chính là các bàn giao hưởng của Beethoven
Ví dụ 2: Trong đề tài “Nhận diện cơ cấu cây trồng, vật nuôi vùng đồng bằng
sông Hồng”, thì mẫu khảo sát là các tập đoàn cây trồng và vật nuôi ở vùng đồng bằng sông Hồng
Ví dụ 3: Trong đề tài “Đánh giá năng lực thông gió của mỏ Thống Nhất
(Công ty than Cẩm Phả)”, thì mẫu khảo sát là toàn bộ hệ thống hầm lò và hệ thống thiết bị thông gió đang vận hành tại mỏ Thống Nhất
Ví dụ 4: Trong đề tài “Đánh giá năng lực tự học của sinh viên Trường Đại học
Trang 11X”, thì mẫu khảo sát được chọn trong sinh viên của Trường Đại học X
- Mẫu khảo sát rất đa dạng:
+ Mẫu khảo sát có thể là một không gian tự nhiên Chẳng hạn, với đề tài
nghiên cứu về “Cơ cấu cây trồng vùng đồng bằng Bắc Bộ” thì mẫu khảo sát nằm trong một vùng địa lý tự nhiên, trải rộng suốt đồng bằng Bắc Bộ
+ Mẫu có thể là một khu vực hành chính Chẳng hạn, với đề tài nghiên cửu
về “Tệ nạn xã hội trên địa bàn Hà Nội” thì mẫu khảo sát chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực hành chính là thành phố Hà Nội
+ Mẫu có thể là một quá trình Chẳng hạn, với đề tài nghiên cứu về đổi mới
công nghệ, thì mẫu là một quy trình công nghệ, thể hiện trên vật mang quy trình
công nghệ đó là hệ thống thiết bị; với đề tài về nâng cao chất lượng bán hàng thì mẫu khảo sát được giới hạn ở quá trình bán hàng, cụ thể hơn là “vật mang” quy
trình bán hàng đó, là các nhân viên
+ Mẫu có thể là một hoạt động Chẳng hạn, với đề tài nghiên cứu về các hoạt
động trong quỹ thời gian nhàn rỗi (ngoài giờ lên lớp) của sinh viên thì mẫu khảo sát được chọn trong khuôn khổ các hoạt động của sinh viên trong thời gian nhàn rỗi
+ Cuối cùng, mẫu khảo sát có thể chọn trong một cộng đồng, khi khách thể
nghiên cứu là một cộng đồng Chẳng hạn, với đề tài nghiên cứu về hiện tượng sống thử của thanh niên hiện nay thì mẫu khảo sát được chọn trong cộng đồng những người trẻ tuổi
- Có nhiều hướng tiếp cận để chọn mẫu khảo sát:
+ Mẫu khảo sát có thể được chọn trong đối tượng nghiên cứu Ví dụ:
* Với đề tài về đổi mới quy trình công nghệ, thì đối tượng khảo sát được chọn trong chính đối tượng nghiên cứu, tức quy trình công nghệ
* Với đề tài về đánh giá năng lực tự học của sinh viên, thì đối tượng khảo sát cũng trùng với đối tượng nghiên cứu, chính là quá trình tự học của sinh viên
+ Mẫu khảo sát có thể được chọn trên mô hình Đây là trường hợp không thể
chọn mẫu trực tiếp trên đối tượng nghiên cứu vì những lý do bất khả kháng Ví dụ:
* Thí nghiệm một thứ thuốc mới trên cơ thể con người, không thể thí nghiệm trực tiếp thuốc trên cơ thể con người, mà phải thí nghiệm trên con vật, tức mô hình sinh học của con người
* Thí nghiệm một nguyên lý công nghệ mới, người nghiên cứu cũng phải tạo
ra một mô hình quy mô nhỏ
+ Một số ngành chọn mẫu khảo sát trên cơ sở một phạm trù trung gian, gọi là khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu có thể được định nghĩa là vật mang đối tượng nghiên cứu Ví dụ, với đề tài nghiên cứu nâng cấp công nghệ, thì khách thể nghiên cứu chính là toàn bộ dây chuyền công nghệ sản xuất kéo dài từ đầu vào (nguyên liệu)
Trang 12cho đến đầu ra (sản phẩm)
- Mẫu khảo sát chính là một phần giới hạn đối tượng nghiên cứu cộng với một
phần giới hạn của khách thể Chẳng hạn:
+ Trong đề tài nghiên cứu nâng cấp công nghệ nêu trên đây, thì mẫu khảo sát
gồm: đối tượng nghiên cứu (cách nâng cấp công nghệ) + một phần của khách thể
nghiên cứu (khâu công nghệ cần nâng cấp + các khâu công nghệ có liên quan +
nguyên liệu đầu vào + sản phẩm đầu ra)
+ Trong đề tài về cải cách hành chính, thì khách thể nghiên cứu là tất cả các
cơ quan hành chính Mẫu khảo sát gồm đối tượng nghiên cứu (khâu hành chính cần
cải cách) + một phần khách thể nghiên cứu (một số cơ quan hành chính nào đó đủ
mang tính đại diện)
II: XÂY DỰNG LUẬN ĐIỂM CỦA ĐỀ TÀI
1 Tại sao lại cần luận điểm của đề tài?
Chúng ta đều thừa nhận, mỗi đề tài đều cần có một “cái mới” Cái mới đó
trước hết là một luận điểm mới
Luận điểm là một phần quan trọng (thậm chí là quan trọng nhất) của kết quả nghiên cứu Luận điểm là một đặc trưng quan trọng trong hoạt động của người nghiên cứu Chúng ta không biết được các nhà nghiên cứu tiền bối viết bao nhiêu trang, nhưng khi nói đến họ, chúng ta đều nhớ đến luận điểm của họ Ví dụ, nói đến Mendeleev, thì chúng ta nhớ ngay đến “định luật tuần hoàn” các nguyên tố; nói đến Newton, chúng ta nhớ đến “định luật vạn vật hấp dẫn”; nói đến Darwin, chúng ta nhớ đến “lý thuyết tiến hóa”, nói đến Einstein, chúng ta nhớ đến “lý thuyết tương đối”; nói đến Durkheim, chúng ta nhớ đến “sự kiện xã hội”, v.v Mỗi đề tài đều cần chứng minh một luận điểm nào đó do chính người nghiên cứu đưa ra Khi gấp bản báo cáo khoa học của đề tài lại, chúng ta phải nói được, bằng một câu không quá 20 từ, luận điểm của đề tài là gì? Ví dụ, “Đề tài của tôi sẽ
đi đến giải pháp sử dụng công nghệ nano để chống ô nhiễm môi trường là giải pháp biến toàn bộ rác thải thành nguyên liệu công nghiệp”, hoặc “Đề tài của tôi đã chứng minh được rằng sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong dạy học có thể dẫn đến một hiệu ứng âm tính, là làm giảm năng lực nghị luận của học sinh”, v.v Quá trình hình thành luận điểm gồm các bước sau:
1 Xác nhận lại chủ đề nghiên cứu (research topic) và đặt tên đề tài
2 Nhận dạng đối tượng (research object) nghiên cứu
3 Xác định mục tiêu (research objective) nghiên cứu
4 Đặt câu hỏi (research question) nghiên cứu
5 Nêu luận điểm cần chứng minh, tức đặt giả thuyết (research hypothesis)
nghiên cứu
Trong chuỗi lôgic các bước trên đây, các khái niệm được hiểu như sau:
Chủ đề nghiên cứu, là một sự kiện “có vấn đề” để đưa ra nghiên cứu, là sự
Trang 13kiện có chứa mâu thuẫn giữa lý thuyết đang (hoặc chưa) tồn tại với thực tế mới phát sinh; cũng có thể đó là một sự kiện mới xuất hiện, nhưng chưa có lý thuyết khoa học nào lý giải
Đối tượng nghiên cứu là sự vật hoặc hiện tượng được đưa ra đề xem xét bản
chất trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu Ví dụ, cấu tạo địa chất là đối tượng nghiên cứu của địa chất học
Mục tiêu nghiên cứu, là công việc phải làm cụ thể trong khi thực hiện một đề
tài nghiên cứu để góp phần làm rõ một phần bản chất đối tượng nghiên cứu vừa nêu ở trên
Câu hỏi nghiên cứu, là vấn đề cần giải quyết trong khi thực hiện mục tiêu
nghiên cứu đã đặt ra ở trên
Giả thuyết nghiên cứu, là nhận định sơ bộ, là kết luận giả định về bản chất sự
vật, là luận điểm cần chứng minh về bản chất sự vật Về mặt thao tác, giả thuyết là câu trả lời sơ bộ vào câu hỏi nghiên cứu
Một ví dụ đơn giản có thể lấy để xem xét, chẳng hạn, một đề tài nghiên cứu
“cấu tạo các loại ghế văn phòng” trong lĩnh vực mỹ thuật công nghiệp:
Chủ đề nghiên cứu: Nguyên lý chung của ghế văn phòng Chủ đề nghiên cứu thường được sử dụng để đặt tên đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Các loại ghế văn phòng
Mục tiêu nghiên cứu: Đặc điểm chung về nguyên lý về kiểu dáng và cấu tạo
các loại ghế văn phòng
Câu hỏi nghiên cứu: Các loại ghế văn phòng (cho người quản lý, cho thư ký,
cho các nhân viên tác nghiệp) có đặc điểm chung nào về nguyên lý cấu tạo?
Giả thuyết nghiên cứu (tức Luận điểm sẽ được chứng minh): Đặc điểm
chung về cấu tạo của ghế văn phòng là phải có thể di chuyển linh hoạt trong phạm
vi bàn làm việc
Ví dụ khác có thể xem xét, chẳng hạn, nghiên cứu về giáo dục học:
- Tên đề tài, tức chủ đề nghiên cứu: Nhận dạng nguyên nhân của hiện tượng
quay cóp trong xu thế tiến bộ xã hội
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện tượng quay cóp của học sinh, sinh viên
- Mục tiêu nghiên cứu: Nguyên nhân dẫn đến phát triển hiện tượng quay cóp
xét từ góc độ sự lạc hậu của hệ thống giáo dục so với xu thế tiến bộ xã hội
- Câu hỏi nghiên cứu: Phải chăng, hiện tượng quay cóp không phải bắt
nguồn từ sự suy thoái đạo đức của người học, mà là do sự lạc hậu của hệ thống giáo dục?
- Giả thuyết nghiên cứu: Hoàn toàn có thể nhận định rằng, quay cóp không
phải là do sự suy thoái đạo đức của người học, mà là cách phản ứng của người học trước sự lạc hậu của hệ thống giáo dục so với xu thế tiến bộ xã hội
Trang 142 Bản chất của việc xây dựng luận điểm
Xét theo lôgic học, thì luận điểm khoa học là một phán đoán đã (hoặc sẽ) được chứng minh về bản chất sự vật
Bản chất cốt lõi của quá trình xây dựng luận điểm khoa học bao gồm hai
bước: Đặt câu hỏi nghiên cứu và đặt giả thuyết nghiên cứu Giá thuyết chính là
luận điểm cân chứng minh
Câu hỏi nghiên cứu:
“Câu hỏi nghiên cứu” (Research Question) cho người nghiên cứu hình dung cần giải quyết vấn đề gì trong nghiên cứu này Câu hỏi nghiên cứu có tầm quan trọng đặc biệt trong công việc nghiên cứu Nó gợi ý cho người nghiên cứu biết, phải giải quyết vấn đề gì trong đề tài nghiên cứu
Ví dụ:
- Con giun đóng vai trò gì trong bệnh viêm phù tụy cấp? (Tôn Thất Tùng)
- Vì sao khi cho bầy cừu nhiễm virus gây bệnh dịch, thì hầu hết những con cừu khỏe lại chết hết, trong khi những con cừu vốn bị nhiễm virus nhẹ thì lại sống nhởn nhơ? (Pasteur)
Giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết nghiên cứu (tiếng Anh là hypothesis), là một kết luận giả định về
bản chất sự vật, do người nghiên cứu đưa ra để chứng minh hoặc bác bỏ
Khái niệm giả thuyết xuất hiện đầu tiên trong các khoa học tự nhiên thực nghiệm Ngày nay, giả thuyết đã trở thành công cụ phương pháp luận quan trọng trong cả khoa học xã hội và nhân văn Claude Bernard, nhà sinh lý học nổi tiếng
người Pháp cho rằng: “Giả thuyết là khởi điểm của mọi NCKH” Ông nhấn mạnh:
“Không có nghiên cứu khoa học nào mà lại không có giả thuyết”
Một giả thuyết có thể được đặt ra đúng với bản chất sự vật, song giả thuyết
cũng có thể sai và bị bác bỏ, nhưng như Mendeleev đã viết: “Có một giả thuyết sai
còn hơn không có một giả thuyết nào cả”
Lịch sử khoa học cho thấy, một giả thuyết bị bác bỏ cũng có nghĩa là một điều khẳng định rằng trong khoa học không có bản chất như giả thuyết đã nêu ra, và khoa học đã tiến thêm một bước trên con đường đi gần đến chân lý
Xét trong quan hệ giữa giả thuyết với vấn đề nghiên cứu, thì nếu như vấn đề nghiên cứu là “câu hỏi” thì giả thuyết chính là “câu trả lời sơ bộ” cho “câu hỏi” thuộc vấn đề nghiên cứu đã đặt ra
Theo chức năng của NCKH giả thuyết được phân chia thành giả thuyết mô tả, giả thuyết giải thích, giá thuyết dự báo, giả thuyết giải pháp
Về mặt lôgic học, giả thuyết là một phán đoán, cho nên viết giả thuyết là viết một phán đoán Phán đoán là tìm mối liên hệ giữa các khái niệm Lôgic học đưa ra công thức chung của các phán đoán là (S - P), trong đó, s được gọi là “Chủ ngữ” (Subject) của phán đoán; còn p được gọi là “Vị ngữ” (Predicate) của phán đoán
Trang 15Một số loại phán đoán thông dụng trong NCKH có thể sử dụng để viết già thuyết được liệt kê trong bảng
Phán đoán được sử dụng trong trường hợp cần nhận định về bản chất một sự vật; trình bày giả thuyết khoa học, trình bày luận cứ khoa học, v.v đều là đưa ra những phán đoán Người nghiên cứu có thể lựa chọn một bất cứ phán đoán để viết giả thuyết Ví dụ, sử dụng phán đoán khẳng định (S là P) khi trong ý tưởng đã sơ
bộ khẳng định bản chất sự vật; sử dụng phán đoán xác suất (S có lẽ là P) khi chưa hoàn toàn khẳng định bản chất sự vật, sử dụng phán đoán điều kiện (tức phán đoán kéo theo), khi luận điểm được nghiệm đúng trong một điều kiện nhất định nào đó, v.v
Một điều cần hết sức lưu ý, là giả thuyết phải có tư tưởng khoa học Chẳng hạn, giả thuyết của Pasteur: “Nếu chúng ta cho nhiễm khuẩn yếu, hoàn toàn có khả năng con vật sẽ có sức đề kháng với loại khuẩn gây bệnh đó”
Không thể viết ra một giả thuyết không có tư tưởng khoa học, chẳng hạn:
“Nếu xây dựng và áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và đồng bộ các biện pháp quản lý được hệ thống hóa, có tính khả thi và hiệu quả sẽ nâng cao được chất lượng dạy học ở các nhà trường trung học phổ thông” Giả thuyết này không có tư tưởng khoa học, vì ai cũng nói được, không cần suy nghĩ, nó luôn luôn đúng
Có trường hợp nào không đặt giả thuyết?
Có một số loại nghiên cứu rất khó đưa ra giả thuyết, chẳng hạn, một số nghiên cứu mô tả, nghiên cứu giải thích, như nghiên cứu khí tượng, nghiên cứu sử học, v.v Trong trường hợp này, người ta cho phép chỉ đưa câu hỏi nghiên cứu là đủ, sau đó trình bày các kết quả dự kiến (expected outputs hoặc expected findings) Với những nghiên cứu tương tự nghiên cứu khí tượng, người nghiên cứu sẽ thu thập được một tập số liệu rất lớn nhờ quan trắc, sau đó nhờ xử lý thống kê mà nhận được một quan hệ hàm xác định Đó chính là kết quả thu được sau nghiên cứu Tiếng Anh gọi đó là các Findings
Trong những nghiên cứu tương tự nghiên cứu sử học, hoặc nghiên cứu xã hội học, người ta không thu được những số liệu quan trắc như trong nghiên cứu khí tượng, mà thu được các sự kiện có liên hệ lôgic với nhau Người nghiên cứu sử dụng các suy luận lôgic để nhận ra các kết luận về quy luật lịch sử, quy luật xã hội Trong tiếng Anh cùng gọi đó là các Findings
Trong cả hai trường hợp, đưa giá thuyết hoặc chỉ nêu các kết quả dự kiến, thì
câu hỏi nghiên cứu, tức vấn đề nghiên cứu, luôn là một yêu cầu bắt buộc về mặt
phương pháp luận
III: CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC
1 Sau khi đưa luận điểm còn phải làm gì?
Đương nhiên, sau khi đưa luận điểm ở Bước II, người nghiên cứu còn phải chứng minh luận điểm của mình là đúng
Muốn chứng minh một luận điểm của mình là đúng, người nghiên cứu phải
Trang 16đưa ra một số luận cứ
Về mặt lôgic học, luận cứ là phán đoán đã được chứng minh trước khi được
sử dụng làm bằng chứng đê chứng minh giả thuyết
2 Người nghiên cứu cần đưa ra mấy loại luận cứ?
Trong khoa học người nghiên cứu cần đưa ra hai loại luận cứ: luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tế
Luận cứ lý thuyết, là luận cứ mà người nghiên cứu lấy từ các lý thuyết vốn tồn
tại để chứng minh luận điểm của mình Ví dụ đơn giản mà chúng ta quen biết khi còn học ở bậc trung học là, phương pháp giải bài toán hình học, chẳng hạn, muốn chứng minh hai đường thẳng là song song (giả thuyết), học sinh phải dựa vào định
lý Thalès (luận cứ lý thuyết)
Luận cứ lý thuyết được khai thác từ các tài liệu, công trình khoa học của các đông nghiệp đi trước Việc sử dụng luận cứ lý thuyết sẽ giúp người nghiên cứu tiết kiệm thời gian, không tốn kém thời gian để tìm các sự kiện thực tế, chứng minh lại những gì mà các đồng nghiệp đi trước đã chứng minh
Luận cứ thực tế được thu thập từ các sự kiện thực tế bằng cách quan sát trực
tiếp tại hiện trường, tiến hành thực nghiệm, phỏng vấn, điều tra hoặc khai thác thông tin từ những báo cáo về các công trình nghiên cứu của các đồng nghiệp Luận cứ thực tế là các sự kiện thu thập được từ quan sát hoặc thực nghiệm khoa học
Toàn bộ quá trình NCKH, sau khi hình thành luận điểm, là quá trình tìm kiếm
và chứng minh luận cứ
Một giả thuyết được chứng minh hay bị bác bỏ đều có nghĩa là “một chân lý
đã được chứng minh” Điều đó có nghĩa rằng, trong khoa học tồn tại hoặc không tồn tại bản chất như đã nêu trong giả thuyết
3 Người nghiên cứu cần đưa ra bao nhiêu luận cứ?
Không có câu trả lời cho câu hỏi này Newton chỉ cần một luận cứ là “Quả táo rụng xuống đất” để khái quát hóa thành Định luật hấp dẫn vũ trụ; Archimède chỉ cần một luận cứ là “Thân mình nổi trong bồn tắm” để khái quát hóa thành Định luật sức đẩy của nước
Trong nghiên cứu công nghệ, người nghiên cứu thường khi phải lặp lại hàng chục, thậm chí hàng trăm thí nghiệm, không chỉ thí nghiệm trong labô, mà còn hàng loạt thí nghiệm ngoài hiện trường
Với kết quả xem xét luận cứ, về mặt lôgic, người nghiên cứu có thể tư duy theo lôgic sau:
Trường hợp thứ nhất, luận điểm đúng (Lu = 1) khi mọi luận cứ đều phải đúng (Li = 1) Đây là trường hợp các luận cứ phụ thuộc nhau Ví dụ, thí nghiệm trên một dây chuyền công nghệ, gồm nhiều khâu, mỗi khâu tạo ra các bán thành phạm
L1, L2, Ln Kết quả thí nghiệm phải là bán thành phẩm trong từng khâu phải đạt yêu cầu chất lượng Chỉ cần một khâu nào đó trong toàn bộ dây chuyền xuất hiện
Trang 17một bán thành phẩm kém chất lượng, thì phải xem là toàn bộ dây chuyền chưa đạt yêu cầu
Trường hợp thứ hai, luận điểm đúng (Lu = 1) khi một trong các luận cứ là đúng (Li = 1) Đây là trường hợp các luận cứ không phụ thuộc lẫn nhau
4 Người nghiên cứu cần làm gì để có luận cứ?
Người nghiến cứu phải đưa ra được các luận cứ và làm cho luận cứ có sức thuyết phục
Muốn vậy, người nghiên cứu phải sử dụng những phương pháp nhất định
nhằm vào 3 công việc sau:
- Phương pháp tìm kiếm luận cứ
- Phương pháp chứng minh luận cứ là đúng
- Phương pháp sắp xếp các luận cứ để chứng minh luận điểm
5 Làm cách nào để đưa ra được nhiều luận cứ?
Để có luận cứ chứng minh luận điểm về tình trạng giao thông trên đường phố, người nghiên cứu phải ra mặt đường quan sát
Muốn có luận cứ đê chứng minh luận điểm về cấu tạo địa chất của một vùng nào đó là đúng, người nghiên cứu phải dựa vào kết quả quan sát nhờ các lỗ khoan với cách bố trí lỗ khoan trải trên bề mặt của vùng đó
Muốn có luận cứ chứng minh luận điểm về một nguyên lý công nghệ là đúng, người nghiên cứu phải làm thực nghiệm Thực nghiệm không chỉ tiến hành trong phòng, mà còn phải chứng minh trong môi trường thực tế
Để có cơ sơ đưa ra luận điểm phán xét một triều đại lịch sử, người nghiên cứu phải tìm luận cứ từ trong sử liệu
Các hướng tìm kiếm luận cứ nêu ở các ví dụ trên đây được gọi là các hướng tiếp cận
Căn cứ vào các ví dụ trên, chúng ta thấy người nghiên cứu có rất nhiều hướng tiếp cận: quan sát, thực nghiệm, kết hợp cả quan sát và thực nghiệm và nghiên cứu tài liệu Sau khi đã lựa chọn các hướng tiếp cận đó, người nghiên cứu còn phải lựa chọn phương pháp để thu thập thông tin Những loại thông tin trên đây có thể được thu thập qua các tác phẩm khoa học, sách giáo khoa, tạp chí chuyên ngành, báo chí
và các phương tiện truyền thông, hiện vật, phỏng vấn chuyên gia trong và ngoài ngành
6 Quan hệ giữa phương pháp tiếp cận và luận cứ?
Phần trên chúng ta đã đề cập khái niệm “tiếp cận” Phần này làm rõ thêm cách thức ứng dụng tiếp cận trong nghiên cứu
Khái niệm “tiếp cận” (tiếng Anh là Approach, tiếng Pháp là Approche, tiếng
Nga là noaxoa) là một công cụ phương pháp luận Chúng ta có thể hiểu tiếp cận là
chọn cho đứng để quan sát, là bước khởi đầu rất quan trọng của NCKH Suy rộng
Trang 18ra, tiếp cận là bước khởi đầu của quá trình thu thập thông tin
Có 2 hướng tiếp cận lớn: Tiếp cận lý thuyết và tiếp cận thực tế
Tiếp cận lý thuyết là hướng tiếp cận dựa vào các lý thuyết khoa học để
chứng minh luận điểm Có bao nhiêu bộ môn khoa học thì có bấy nhiêu hướng tiếp cận: tiếp cận toán học, tiếp cận cơ học, tiếp cận hóa học, tiếp cận xã hội học, tiếp cận tâm lý học, v.v
Tiếp cận thực tế cũng là một hướng tiếp cận rất phong phú Chúng ta có thể
nêu một số hướng thông dụng:
a Tiếp cận nội quan và ngoại quan
Tiếp cận nội quan là nghĩ theo ý mình Nội quan rất cần cho NCKH Còn tiếp cận ngoại quan là tham khảo ý kiến người khác
Người nghiên cứu đừng sợ nói thẳng “nghĩ theo ý mình” Bởi vì, mọi ý nghĩ,
dù nghĩ theo ý mình hay theo ý người khác, cuối cùng vẫn phải kiểm chứng, để đảm bảo rằng ý nghĩ đó đúng theo quy luật khách quan
b Tiếp cận quan sát hoặc thực nghiệm
Có thể quan sát hoặc tiến hành thực nghiệm để thu thập thông tin cho việc hình thành luận cứ
Tiếp cận quan sát được sử dụng đối với nhiều loại hình nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, nghiên cứu giải thích và nghiên cứu giải pháp
Đối với nghiên cứu giải pháp, và thậm chí một số nghiên cứu giải thích, bắt buộc phải sử dụng tiếp cận thực nghiệm Tiếp cận thực nghiệm được sử dụng cả trong NCKH tự nhiên, khoa học xã hội và nghiên cứu công nghệ,
c Tiếp cận cá biệt và so sánh
Tiếp cận cá biệt cho phép quan sát sự vật một cách cô lập với các sự vật khác Tiếp cận so sánh cho phép quan sát sự vật trong tương quan Bất kể trong nghiên cứu tự nhiên hay xã hội, người nghiên cứu luôn có xu hướng chọn các sự vật đối chứng Cặp phương pháp tiếp cận cá biệt và so sánh cuối cùng phải dẫn đến kết quả về sự nhận thức cái cá biệt
d Tiếp cận lịch sử và lôgic
Tiếp cận lịch sử là xem xét sự vật qua những sự kiện trong quá khứ Mỗi sự kiện riêng biệt trong quá khứ là ngẫu nhiên, nhưng chuỗi sự kiện trong quá khứ luôn bị chi phối bởi một quy luật tất yếu Với phương pháp khách quan thu thập thông tin về các chuỗi sự kiện trong quá khứ, người nghiên cứu sẽ nhận biết được lôgic tất yếu của quá trinh phát triển
Tiếp cận lịch sử đòi hỏi thu thập thông tin về các sự kiện, sắp xếp các sự kiện theo một trật tự nhất định, chẳng hạn, diễn biến của từng sự kiện; quan hệ nhân - quả giữa các sự kiện, v.v , nhờ đó làm bộc lộ lôgic tất yếu trong tiến trình phát triển của sự vật
Trang 19e Tiếp cận phân tích và tổng hợp
Phân tích một sự vật là sự phân chia sự vật thành những bộ phận có bản chất khác biệt nhau Còn tổng hợp là xác lập những liên hệ tất yếu giữa các bộ phận đã được phân tích
Người nghiên cứu có thể thu thập thông tin từ tiếp cận phân tích trước, song cũng có thể thu thập thông tin từ tiếp cận tổng hợp trước Tuy nhiên, cuối cùng vẫn phải đưa ra một đánh giá tổng hợp đối với sự vật được xem xét
f Tiếp cận định tính và định lượng
Thông tin thu thập luôn phải tồn tại dưới dạng định tính hoặc định lượng Đối tượng khảo sát luôn được xem xét ở cả khía cạnh định tính và định lượng Hoàn toàn có khả năng là không thể tìm được các thông tin định lượng vì một lý do nào
đó Trong trường hợp đó, phải chấp nhận thông tin định tính là duy nhất Tiếp cận định tính và định lượng, dù bắt đầu từ đâu trước, cuối cùng cũng phải đi đến mục tiêu cuối cùng là nhận thức bản chất định tính của sự vật
Có thể bỏ qua các hướng tiếp cận lý thuyết không?
Đương nhiên là không thế bỏ qua Chẳng hạn:
- Nghiên cứu giải pháp chống ăn mòn kim loại, người nghiên cưu có thể sử dụng tiếp cận vật lý học, cũng có thể sử dụng tiếp cận hóa học, hoặc tiếp cận sinh học, song cũng có thể sử dụng tiếp cận hóa - lý
- Nghiên cứu chống khí nổ trong hầm mỏ, có thể sử dụng tiếp cận cơ học (thông gió), cũng có thể sử dụng tiếp cận hóa học (tạo phản ứng hóa học để vô hiệu hóa khí nanô) hoặc tiếp cận vi sinh học (thả một loại vi khuẩn vào hầm mỏ để ăn hết khí nổ)
- Nghiên cứu nguyên nhân di dân, có thể sử dụng tiếp cận nhân học (tập quán), tiếp cận kinh tế học (nhu cầu kiếm sống), hoặc tiếp cận môi trường học (kiến tạo xã hội của môi trường)
7 Đặt giả thiết nghiên cứu
Giá thiết (tiếng Anh là assumption) là điều kiện giả định của nghiên cứu Nói điều kiện “giả định” là những điều kiện không có thực trong đối tượng khảo sát,
mà chỉ là những tình huống giả định do người nghiên cứu đặt ra để lý tưởng hóa điều kiện thực nghiệm Với một giả thiết đặt ra, người nghiên cứu đã gạt bỏ bớt các yếu tố ảnh hưởng tới những diễn biến và kết quả nghiên cứu Giả thiết không phải chứng minh
Ví dụ 1: Trong một thí nghiệm tạo giống lúa mới, muốn chứng minh giả
thuyết “Giống lúa A tốt hơn giống lúa B” về một chỉ tiêu nào đó, người nghiên cứu
làm trên 2 thửa ruộng, một thửa trồng lúa thực nghiệm; một thửa trồng loại lúa thông dụng để so sánh và gọi đó là “thửa ruộng đối chứng” Để so sánh được,
người nghiên cứu phải đặt giả thiết rằng: 2 thửa ruộng có những đặc điểm giống
hệt nhau về thổ nhưỡng và được chăm bón theo cùng một điều kiện, v.v Trên thực tế không bao giờ có được điều kiện đó
Trang 20với giả thiết là các hệ này cô lập với nhau, nghĩa là không có ngoại thương
Quan hệ giữa giả thuyết và giả thiết trong nghiên cứu:
Giả thuyết là nhận định sơ bộ, là kết luận giả định của nghiên cứu, là luận
điểm khoa học mà người nghiên cứu đặt ra Giả thuyết cần được chứng minh hoặc bác bỏ
Còn giả thiết là điều kiện giả định của nghiên cứu Giả thiết được đặt ra để lý
tưởng hóa điều kiện thực nghiệm Giả thiết không cần phải chứng minh, nhưng có thể bị bác bỏ nếu điều kiện giả định này quá lý tưởng, lý tưởng đến mức làm cho kết quả nghiên cứu trở nên không thể nghiệm đúng được
Phương pháp đặt giả thiết nghiên cứu:
Đặt giả thiết nghiên cứu chính là đưa ra những điều kiện giả định nhằm lý tưởng hóa các điều kiện để chứng minh giả thuyết
Giả thiết, tức điều kiện giả định được hình thành bằng cách lược bỏ một số
điều kiện (tức một số biến) không có hoặc có ít mối liên hệ trực tiếp với những
luận cứ để chứng minh giả thuyết nghiên cứu
Lựa chọn điều kiện nào hoặc biến nào để đặt giả thiết, tức là để lý tưởng hóa,
là do yêu cầu nghiên cứu quyết định
Đặt giả thiết ở những khâu nào của nghiên cứu?
Có rất nhiều cách đặt giả thiết nghiên cứu:
- Có thể đặt giả thiết về đối tượng nghiên cứu: Ví dụ, kết quả thí nghiệm
nước sôi ở 1000C, với giả thiết đó là nước nguyên chất, và được đốt nóng trong môi trường với áp suất 1 atm
- Có thể đặt giả thiết về phương pháp: Ví dụ, kết quả thí nghiệm cho thấy
giống lúa A cho năng suất cao hơn giống lúa B, với giả thiết, phương pháp thí nghiệm hoàn như nhau trên thửa ruộng thực nghiệm và thửa ruộng đối chứng
- Có thể đặt giả thiết về cách thức tác động: Ví dụ, một bộ phận nhân lực di
chuyển với giả thiết thuần túy do tác động của yếu tố kinh tế, mà không có bất cứ sức ép nào về tâm lý
Trang 21- Có thể đặt giả thiết về tính cô lập của hệ thống: Marx đặt giả thuyết là trong
quá trình tái sản xuất mở rộng ở một quốc gia, khu vực I đóng vai trò quyết định tới khu vực II, với giả thiết là không có ngoại thương giữa các quốc gia
- Có thể đặt giả thiết về môi trường tác động: Ví dụ, quan sát năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp với giả thiết, doanh nghiệp được đặt trong môi trường kinh
tế thị trường thuần khiết, không có bất cứ yếu tố can thiệp mang tính hành chính nào
- V.v
Qua các ví dụ trên, có thể nêu nguyên tắc chung về cách đặt giả thiết là: Giữ
cố định hoặc không đổi một số yếu tố nào đó để quan sát biến động của một số yếu
tố nào đó
8 Biện luận kết quả nghiên cứu
Sau khi thu được kết quả nghiên cứu đúng như giả thuyết đã nêu, hoặc thu được kết quả hoàn toàn ngược lại giả thuyết đã nêu, người nghiên cứu phải thực hiện một công việc gọi là “Biện luận kết quả nghiên cứu”, ngành Y gọi đó là “Bàn luận kết quả”
Vì sao phải biện luận kết quả?
Chính vì trong bất cứ quan sát hoặc thực nghiệm nào, người nghiên cứu cũng phải chấp nhận những giá thiết, nhằm lý tưởng hóa điều kiện quan sát hoặc thực nghiệm, mà trong thực tế thì không bao giờ có những điều kiện lý tưởng như đã nêu trong giả thiết
IV THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1 Thông tin dùng làm gì trong nghiên cứu khoa học
NCKH là quá trình thu thập thông tin và chế biến (xử lý) thông tin
Không một nghiên cứu nào là không cần thông tin Không một khâu nào trong, toàn bộ quá trình nghiên cứu là không cần thông tin Thông tin cần thiết trong tất cả các trường hợp sau:
- Làm rõ lý do nghiên cứu; Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu; Phát hiện vấn đề nghiên cứu; Xác định mục tiêu nghiên cứu; Đặt câu hởi nghiên cứu; Đặt giả thuyết nghiên cứu; Tìm kiếm luận cứ để chứng minh giả thuyết
2 Thu thập thong tin trong nghiên cứu khoa học
a Có sự khác biệt giữa các khoa học
Nếu nói đến sự khác biệt giữa các khoa học về phương pháp, thì cách thu thập thập tin chính là sự khác biệt quan trọng nhất giữa các khoa học Bảng sau, là một vài sự khác biệt đó
Bảng 1: Sự khác biệt giữa các khoa học
Các khoa học Phương pháp thu thập thông tin để có luận cứ
Trang 22Sử học Sử liệu
Văn học Các tác phẩm văn học
Nghệ thuật Các tác phẩm nghệ thuật
Toán học Các lý thuyết toán học
Vật lý học Quan sát và/hoặc Thực nghiệm
Hóa học Quan sát và/hoặc Thí nghiệm
Y học Quan sát và/hoặc Thí nghiệm trên mô hình sinh học
Thiên văn học Số liệu quan trắc
Tâm lý học Tiến hành các trắc nghiệm tâm lý
Xã hội học Điều tra dư luận xã hội
Lâm học Quan sát hiện trường, phân tích các kết quả quan sát ảnh
vệ tinh, phân tích mẫu đất lấy từ rừng
Địa chất học Quan sát hiện trường, quan sát địa vật lý, ảnh vệ tinh,
phân tích mẫu đá lấy từ các lỗ khoan Công nghệ học Dứt khoát phải thực nghiệm đẻ kiểm chứng nguyên lý
công nghệ trên các mô hình vật lý
Vân vân
b Có bao nhiêu nhóm phương pháp thu thập thông tin?
Có 4 nhóm các phương pháp thu thập thông tin:
- Nhóm I, nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu Đây là việc nghiên cứu tài
liệu của các đồng nghiệp đi trước đế kế thừa những thành tựu mà các đồng nghiệp
đi trước đã đạt được trong nghiên cứu
- Nhóm II, nhóm các phương pháp phi thực nghiệm Nói “phi thực nghiệm” là
vì người nghiên cứu không có bất cứ sự can thiệp nào vào đối tượng nghiên cứu,
mà chỉ quan sát trên đối tượng ngay tại nơi diễn ra những quá trình mà người
nghiên cứu có thể sử dụng làm luận cứ
Tuy nhiên, trong nhóm các phương pháp phi thực nghiệm cũng bao gồm cả
các phương pháp làm việc với chuyên gia, gọi chung là phương pháp chuyên gia
Đó là vì, trong nhiều trường hợp, người nghiên cứu không thể trực tiếp thu thập thông tin trên đối tượng khảo sát, ví dụ: núi lửa đã tắt, trận động đất đã ngưng, một
sự kiện lịch sử đã lùi vào quá khứ, v.v Khi đó, người nghiên cứu phải thu thập thông tin gián tiếp qua những người trung gian
Trang 23Phương pháp chuyên gia bao gồm:
+ Phỏng vấn những người có am hiểu hoặc có liên quan đến những thông tin
về sự kiện khoa học
+ Gửi phiếu điều tra (bảng hỏi) để thu thập thông tin liên quan tới sự kiện
khoa học
+ Thảo luận dưới các hình thức hội nghị khoa học
- Nhóm III, tiến hành các hoạt động thực nghiệm trực tiếp trên đối tượng khảo
sát hoặc trên mô hình tương tự các quá trình diễn ra trên đối tượng nghiên cứu
- Nhóm IV, thực hiện các trắc nghiệm (trong kỹ thuật gọi là thử nghiệm) trên
đối tượng khảo sát để thu thập thông tin phản ứng từ phía đối tượng khảo sát
Các nhóm được phân biệt theo hai chỉ báo: (1) Phương pháp đó có gây biến đổi trạng thái của đối tượng nghiên cứu hay không? Chẳng hạn, tiến hành thí nghiệm các phản ứng hoá học có gây biến đổi các chất sau mỗi phản ứng; (2) Có gây biến đối môi trường trong quá trình thực hiện phương pháp đó hay không? Chẳng hạn, gây biến đổi nhiệt độ, áp suất sau mỗi thí nghiệm không thành công
Sự phân biệt đặc điểm giữa 4 nhóm trên được chỉ trên bảng sau:
Bảng 2: Các nhóm phương pháp
TT Nhóm phương pháp
Gây biến đổi Các tham số trạng thái của đối tượng
Môi trường quanh đối tượng
III Trắc nghiệm/Thử nghiệm Không Có
- Chọn địa điểm khảo sát trong hành trình điều tra tài nguyên;
- Chọn các nhóm xã hội để điều tra dư luận xã hội;
- Chọn mẫu vật liệu để khảo nghiệm tính chất cơ, lý, hóa trong nghiên cứu vật liệu;
- Chọn một số mẫu bài toán để nghiên cứu phương pháp giải;
Trang 24Việc chọn mẫu có ảnh hưởng quyết định tới độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
và chi phí các nguồn lực cho công cuộc khảo sát Việc chọn mẫu phải đảm bảo tính ngẫu nhiên, nhưng phải mang tính đại diện, tránh chọn mẫu theo định hướng chủ quan của người nghiên cứu
Có hai loại mẫu được xem xét trong quá trình chọn mẫu:
Mẫu phi xác suất:
Mẫu phi xác suất là loại mẫu được chọn trong một khách thể (quần thể) có thành phần được xem là đồng nhất Chẳng hạn, điều tra về điều kiện sinh hoạt của một khu chung cư dành cho công nhân một khu công nghiệp, người nghiên cứu có thể chọn phỏng vấn bất kỳ hộ dân nào trong đó Điều này dẫn đến điều mà các nhà thống kê học nói, là cơ hội được chọn của các đối tượng được phỏng vấn trong chung cư này (khách thể) là không tương đương
Có 3 cách chọn mẫu trong trường hợp mẫu phi xác suất:
Chọn mẫu tùy ý người nghiên cứu có thể vào bất kỳ hộ dân nào đế phỏng vấn Chọn mẫu phán đoán người nghiên cứu cố ý lựa chọn một vài hộ dân nào đó
trong khu dân cư, ví dụ: tìm một hộ dân nghèo nhất và một hộ dân khá giả nhất trong khu dân cư để xem mức độ phàn nàn của họ có khác nhau nhiều không
Chọn mẫu định ngạch người nghiên cứu sơ bộ phân hạng mẫu trước khi chọn
mẫu bằng một trong hai phương pháp trên Chẳng hạn, trong khu lao động nghèo, chia sơ bộ một nhóm hộ có điều kiện sống tốt hơn một chút, một nhóm hộ có điều kiện sống kém hơn, rồi sau đó lấy mẫu bằng một trong hai phương pháp trên
Đối với loại mẫu phi xác suất, người ta không quan tâm đến cơ cấu xã hội của
mẫu và tỷ lệ % mẫu so với khách thể nghiên cứu
Mẫu xác suất:
Chọn mẫu xác suất là chọn ngẫu nhiên, nhưng theo một tiêu chí nào đó về mẫu để đảm bảo mẫu có tính đại diện Chẳng hạn, cần điều tra về xung đột môi trường trong một khu công nghiệp mỏ Mẫu này gồm 3 thành phần rất khác biệt nhau: (1) Nhân viên của xí nghiệp mỏ là bên gây ô nhiễm cho dân chúng; (2) Dân
cư là nhóm bị ô nhiễm; (3) Cơ quan quản lý môi trường, là người sẽ phán xét trách nhiệm về xung đột môi trường
Đối với mẫu xác suất, người nghiên cứu có một số cách chọn thông dụng sau:
- Lấy mẫu ngẫu nhiên: là cách chọn mẫu sao cho mỗi đơn vị lấy mẫu có cơ
hội hiện diện trong mẫu bằng nhau Ví dụ, trong cuộc điều tra về xung đột môi trường nói trên, người nghiên cứu phỏng vấn ngẫu nhiên cả 3 thành phần trên
- Lấy mẫu hệ thống một đối tượng gồm nhiều đơn vị được đánh số thứ tự
Chọn một đơn vị ngẫu nhiên có số thứ tự bất kỳ Lấy một số bất kỳ làm khoảng cách mẫu, cộng vào số thứ tự của mẫu đầu tiên Ví dụ, trong cuộc điều tra về xung đột môi trường trong khu dân cư nói trên, nhóm điều tra yêu cầu lỗi điều tra viên phụ trách một khối phố, chỉ định cho mỗi điều tra viên một điểm xuất phát, sau đó yêu cầu cách 3 nhà phát một phiếu điều tra (số 3 là khoảng cách mẫu) Tiếp đó quy
Trang 25định, khi đi đến ngã ba, ngã tư, thì rẽ phải; đến ngã ba, ngã tư tiếp theo thì rẽ trái, cho đến khi phát hết phiếu thì dừng
- Lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng trong trường hợp này, đối tượng được chia
thành nhiều lớp, mỗi lớp có những đặc trưng đồng nhất Như vậy, từ mỗi lớp, người nghiên cứu có thể thực hiện theo kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên
Cách lấy mẫu này cho phép phân tích số liệu khá toàn diện, nhưng có nhược điểm là phải biết trước những thông tin để phân tầng, phải tổ chức cấu trúc riêng biệt trong mỗi lớp
- Lấy mẫu hệ thống phân tầng đối tượng điều tra gồm nhiều tập hợp không
đồng nhất liên quan đến những thuộc tính cần nghiên cứu Lấy mẫu được thực hiện trên cơ sở phân chia đối tượng thành nhiều lớp, mỗi lớp có những đặc trưng đồng
nhất Đối với mỗi lớp, người nghiên cứu thực hiện theo kỹ thuật lấy mẫu hệ thống
- Lấy mẫu từng cụm đối tượng điều tra được chia thành nhiều cụm tương tự
như chia lớp trong kỹ thuật lấy mẫu phân tầng, chỉ có điều khác là mỗi cụm không chứa đựng những đơn vị đồng nhất, mà dị biệt
V THỰC HIỆN MỘT DỰ ÁN TRONG CUỘC THI KHOA HỌC KỸ THUẬT
1 Các bước thực hiện một dự án khoa học kĩ thuật
a Đối với một dự án khoa học
Xác định câu hỏi nghiên cứu
- Lựa chọn một chủ đề Thu hẹp chủ đề bằng cách xem xét những trường hợp đặc biệt
- Tiến hành nghiên cứu tổng quan và viết dự thảo đề cương nghiên cứu
- Nêu một giả thuyết khoa học hoặc nêu mục đích nghiên cứu
Kế hoạch và phương pháp nghiên cứu
-Xây dựng kế hoạch nghiên cứu/thiết kế thí nghiệm
- Yêu cầu phê duyệt dự án (điền các mẫu phiếu và xin chữ ký phê duyệt)
- Viết báo cáo nghiên cứu tổng quan
Thực hiện kế hoạch nghiên cứu
- Thu thập tài liệu và thiết bị thí nghiệm; xây dựng thời gian biểu trong phòng thí nghiệm
- Tiến hành thí nghiệm Ghi lại các dữ liệu định lượng và định tính
- Phân tích dữ liệu, áp dụng các phương pháp thống kê thích hợp
- Lặp lại thí nghiệm, khi cần thiết, nhằm triệt để khám phá những vấn đề
- Đưa ra một kết luận
- Viết báo cáo thí nghiệm
Trang 26- Viết tóm tắt báo cáo
Trình bày kết quả nghiên cứu
- Ghi lại các hình ảnh để giới thiệu dự án
- Làm bài thuyết trình về dự án trước giáo viên và/hoặc các bạn cùng lớp
- Thiết kế poster để giới thiệu dự án tại cuộc thi khoa học kĩ thuật
b Đối với một dự án kĩ thuật hoặc máy tính
Xác định vấn đề nghiên cứu
- Xác định nhu cầu hoặc tiếp nhận yêu cầu
1 Thiết kế và phương pháp
- Phát triển các tiêu chuẩn thiết kế
- Thực hiện việc tìm kiếm tài liệu và nghiên cứu tổng quan
- Chuẩn bị thiết kế sơ bộ hoặc thuật toán dưới dạng sơ đồ khối
2 Thực hiện: Xây dựng và kiểm tra
- Sản xuất mẫu hoặc viết chương trình máy tính
- Kiểm tra các mẫu/chương trình máy tính
- Thiết kế lại, khi cần thiết
3 Trình bày kết quả nghiên cứu
- Ghi lại các hình ảnh để giới thiệu dự án
- Làm bài thuyết trình về dự án trước giáo viên và/hoặc các bạn cùng lớp
- Thiết kế poster để giới thiệu dự án tại cuộc thi khoa học kĩ thuật
Trang 27- Dự án có thể được hoàn thành trong khoảng thời gian cho phép? Nếu dự
án cần tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu thì có đủ thời gian cần thiết để kiểm tra
và thực hiện lại các thí nghiệm trong thời gian cho phép hay không?
- Việc thực hiện dự án có phụ thuộc vào điều kiện về môi trường, thời gian, thời điểm hay không? (Ví dụ: cần những thời điểm thích hợp trong năm để quan sát hay thu thập các mẫu dữ liệu)
- Phòng thí nghiệm hay các tài nguyên khác để thực hiện thực hiện dự án có đầy đủ, đáp ứng yêu cầu không?
- Chi phí hoàn thành dự án: Liệu có đủ chi phí để thực hiện? Có cần những thiết bị đặc biệt mà hiện tại mình chưa có? Liệu có thể có được thiết bị đó nếu thực hiện dự án?
- Dự án có phù hợp với các quy định liên quan đến nghiên cứu khoa học?
b Hoàn thành các tài liệu cần thiết cho dự án
Hoàn thành các mẫu phiếu theo quy đinh và xin ý kiến phê duyệt trước và sau khi tiến hành dự án, bao gồm:
- Phiếu học sinh (Phiếu 1A);
- Phiếu phê duyệt dự án (Phiếu 1B);
- Phiếu người hướng dẫn/bảo trợ (Phiếu 1);
- Kế hoạch nghiên cứu (theo mẫu hướng dẫn kèm theo Phiếu 1A);
- Báo cáo kết quả nghiên cứu;
- Phiếu xác nhận của cơ quan nghiên cứu (nếu có);
- Phiếu xác nhận của nhà khoa học chuyên ngành (nếu có);
- Phiếu đánh giá rủi ro (nếu có);
- Phiếu dự án tiếp tục (nếu có);
- Phiếu tham gia của con người (nếu có);
- Phiếu cho phép thông tin (nếu có);
- Phiếu nghiên cứu động vật có xương sống (nếu có);
- Phiếu đánh giá rủi ro chất nguy hiểm (nếu có);
- Phiếu sử dụng mô người và động vật (nếu có)
Nếu dự án liên quan đến các vật liệu hoặc động vật được liệt kê dưới đây, chúng ta cần phải có được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền trước khi bắt đầu thực hiện
- Vi sinh vật, DNA, mô, máu, dịch cơ thể, động vật có xương sống
- Đối tượng con người
- Hóa chất, các hoạt động hoặc các thiết bị độc hại, các chất cấm
Trang 28Đây là một thủ tục cần thiết để bảo vệ sự an toàn cho bản thân và cộng đồng, bảo vệ môi trường, và đảm bảo đã tôn trọng các quy định của pháp luật
Lập sổ tay khoa học
Một trong những điều quan trọng nhất khi thực hiện một dự án khoa học là tài liệu hướng dẫn Các mục trong ghi chú về các bước thí nghiệm cần đầy đủ để giúp cho một người khác có thể làm lại thí nghiệm đó
Điều đầu tiên cần làm khi bắt đầu một dự án là lập một cuốn sổ tay khoa học Cuốn sổ sẽ ghi lại tuần tự suy nghĩ, việc làm và sự phát triển của vấn đề trong suốt quá trình thực hiện dự án Sổ tay khoa học là một minh chứng đảm bảo rằng chúng ta là những người thực làm (không giả mạo) Cuốn sổ ghi lại nhật kí làm việc một cách khoa học trong đó các trang giấy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Vì vậy, cần bảo quản thật tốt và tránh làm các trang tài liệu này bị thất lạc
Khi chuẩn bị sổ tay khoa học, ta cần:
- Viết tên của mình lên trang bìa
- Mỗi trang trong cuốn sổ phải được đánh số
- Chia cuốn sổ thành các phần khác nhau và đặt mục lục ở trang đầu tiên Thông thường, người ta chia cuốn sổ tay khoa học thành ít nhất bốn phần:
Phần 1: Bắt đầu cuộc tìm kiếm cho những ý tưởng bằng cách liệt kê các chủ
đề hoặc vấn đề mà ta có thể điều tra, suy nghĩ về từng thể loại
Phần 2: Nhật kí nghiên cứu tổng quan về chủ đề Đối với mỗi lần thực hiện nghiên cứu tổng quan, viết tên của thư viện, ngày giờ ở đầu một trang mới; danh sách các nguồn tư liệu đã kiểm tra; ghi chú tất cả các thông tin cần thiết để thực hiện một trích dẫn mà ta sẽ cần khi viết bài báo cáo toàn văn
Phần 3: Ghi chép về thí nghiệm hoặc thiết kế kỹ thuật, các kế hoạch nghiên cứu, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu
Phần 4: Ghi chép các hoạt động hàng ngày, ghi nhận lại những kết quả thu được liên quan đến dự án nghiên cứu Sau khi ghi lại kết quả, cần viết thêm "thảo luận" hoặc "giải thích" trước khi viết kết luận riêng của mình
- Cuốn sổ tay phải ghi lại tất cả các bước nghiên cứu một cách khoa học, từ khi khởi đầu đến khi hoàn thành dự án Cuốn sổ tay khoa học bao gồm nghiên cứu tổng quan và thực nghiệm; sự phát triển của ý tưởng hoặc sản phẩm và các đánh giá riêng của mình cũng như tất cả các tính toán trong suốt quá trình làm việc Cần dành một mục trong cuốn sổ tay khoa học để ghi lại các công việc được thực hiện bởi những người khác trong nhóm Chú ý ghi ngày tháng và lấy chữ kí của tất cả các thành viên trong nhóm đã thực hiện công việc đó
- Khi tạo thêm một mục mới trong cuốn sổ tay khoa học, nên bắt đầu vào một trang mới và làm theo hướng dẫn sau:
+ Viết thêm một mục mới ngay sau khi công việc đã được thực hiện
+ Nên thống nhất cách ghi tên mục trên mỗi trang của cuốn sổ tay khoa học
Trang 29để đảm bảo tính thống nhất
+ Ký và ghi rõ ngày tháng ở tất cả các mục trong cuốn sổ
+ Đánh dấu và đặt tiêu đề từng phần một cách rõ ràng
+ Viết rõ ràng và sạch sẽ, ngôn ngữ dễ hiểu
+ Minh họa bằng hình ảnh khi cần thiết (Một hình ảnh có thể giá trị hơn một ngàn chữ)
+ Ghi lại tất cả mọi thứ một cách chi tiết nhất có thể
+ Gán tiêu đề, nhãn và ngày tháng vào tất cả các biểu đồ và bảng
+ Buộc, kẹp các hình ảnh in ra từ máy tính, hình chụp vào nhật ký
+ Ghi tên bất cứ người nào đã chứng kiến công việc nghiên cứu
+ Không bao giờ loại bỏ hoặc xé bỏ một mục nào từ cuốn sổ tay khoa học (Những gì chúng ta nghĩ là "ngu ngốc" ở thời điểm hiện tại thì có thể sẽ là một tài sản lớn sau này)
c Nghiên cứu tổng quan
Nơi tốt nhất để bắt đầu thực hiện nghiên cứu một chủ đề là thư viện Thư viện sẽ có tạp chí, báo, sách về chủ đề này, tài liệu tham khảo khoa học và tài liệu điện tử, Mỗi thông tin sẽ cung cấp một số khía cạnh về chủ đề
Có nhiều khả năng tìm thấy những gì mà chúng ta cần trong thư viện công cộng và thư viện của các trường đại học Tạp chí khoa học có thể được tìm thấy tại các thư viện Bài viết trong tạp chí khoa học có một số thông tin cập nhật nhất về nhiều chủ đề thời sự trong nghiên cứu khoa học Có các tạp chí khoa học cụ thể cho mỗi lĩnh vực khoa học
Ngày nay, hầu hết các thư viện đều có cơ sở dữ liệu trên máy tính Điều đó làm cho việc tìm kiếm các cuốn sách và tạp chí khoa học trở nên dễ dàng hơn
Internet là một công cụ có giá trị cho học sinh làm nghiên cứu khoa học Khi tiến hành tìm kiếm trên Internet, cần đảm bảo chắc chắn rằng nguồn thông tin đang
sử dụng là đáng tin cậy
Thông tin mà chúng ta sử dụng trên mạng sẽ cần những trích dẫn giống như trích dẫn một cuốn sách hoặc một tạp chí: tác giả, tiêu đề, nhà xuất bản và bản quyền Tốt nhất là tải về các bản sao của tất cả mọi thứ ta đã sử dụng, bao gồm cả địa chỉ trang mạng
Cần lưu ý rằng nghiên cứu tổng quan và tài liệu tham khảo cung cấp một nền tảng vững chắc cho giả thuyết khoa học và thí nghiệm
d Đưa ra giả thuyết khoa học hoặc đặt mục tiêu
Giả thuyết khoa học
Có thể nói một giả thuyết khoa học là một giải pháp cần được kiểm chứng cho vấn đề nghiên cứu Các dữ liệu thu được thông qua thí nghiệm có thể được sử dụng để khẳng định hoặc bác bỏ giả thuyết Đôi khi dữ liệu thu được cũng có thể
Trang 30không giúp cho việc khẳng định cũng như bác bỏ giả thuyết đã đưa ra
Đặt mục tiêu
Một điều rất quan trọng là tóm tắt các công việc cần giải quyết của dự án như tuyên bố về mục tiêu Đây là việc làm thường thấy đối với các dự án máy tính hoặc kỹ thuật Không phải là sự kiểm nghiệm một giả thuyết, các dự án này thường liên quan đến sự phát triển của thiết bị mới, vật liệu, chương trình máy tính hoặc các mô hình
e Thiết kế thí nghiệm hoặc lập kế hoạch nghiên cứu
Rà soát lại tất cả các ý tưởng thiết kế trong cuốn sổ tay khoa học và trình bày lại ý tưởng bằng các sơ đồ Đây là những điều hết sức cần thiết trong một dự án kỹ thuật và máy tính
Khi phát triển thiết kế các thí nghiệm cần xem xét các câu hỏi sau đây:
- Thiết kế sẽ kiểm nghiệm một giả thuyết hoặc đạt được mục tiêu đề ra?
- Những yếu tố ảnh hưởng đến thí nghiệm? Sự phụ thuộc và/hoặc độc lập của các yếu tố đó như thế nào?
f Tiến hành thí nghiệm nghiên cứu
Sau khi đã hoàn thành thiết kế thí nghiệm, tiến hành lập kế hoạch và tổ chức thực hiện thí nghiệm Việc thực hiện các thí nghiệm phải đặt trong các điều kiện kiểm soát được Trong quá trình tiến hành thí nghiệm cần phải thường xuyên ghi chú và lưu trữ mọi diễn biến và kết quả trong quá trình thí nghiệm trong sổ tay khoa học
Tài liệu hóa tất cả mọi thứ đã thực hiện, kể cả việc nói chuyện với một người bất kì về dự án
Thường xuyên vào một thư viện để nghiên cứu, hoặc đến phòng thí nghiệm
để thực hành
Trước khi bắt đầu thí nghiệm
- Tổ chức tất cả các tài liệu và trang thiết bị để sẵn sàng cho sử dụng khi cần Phác thảo các thủ tục và tạo ra một thời gian biểu hợp lí
- Xây dựng một bản đề cương ước lượng thời gian để hoàn thành mỗi phần việc của thí nghiệm:
+ Toàn bộ thí nghiệm có thể được hoàn thành cùng một lúc?
+ Cần phải thực hiện nhiều buổi khác nhau để hoàn thành thí nghiệm?
+ Những kế hoạch cần phải được thực hiện giữa các buổi thí nghiệm?
+ Cần những thiết bị gì để đo lường kết quả? Cách sử dụng chúng? Liệu các công cụ đó cho phép đo lường được kết quả chính xác?
+ Có cần người khác cùng làm với mình trong phòng thí nghiệm? Đã trao đổi với những người cùng tham gia về lịch họp nhóm để cho tất cả mọi người tham gia đóng góp và thực hiện thí nghiệm?
Trang 31- Bố trí cuốn sổ tay khoa học và giấy nháp sao cho tiện dụng Thiết kế các bảng và biểu đồ ta muốn sử dụng trước khi bắt đầu thí nghiệm
- Bố trí một máy quay trên vị trí làm việc Chiếc máy quay này là một công
cụ hữu ích cho các tài liệu dự án Mọi người có thể xem lại hình ảnh khi thực hiện thí nghiệm, và sử dụng máy quay để ghi lại tiến trình và kết quả thí nghiệm
- Hoàn thành tất cả các mẫu xin cấp giấy chứng nhận và các mẫu đơn phù hợp Cần đảm bảo chắc chắn rằng chúng ta đã hoàn thành kế hoạch nghiên cứu và tất cả các biểu mẫu cần thiết theo quy định trước khi bắt đầu thí nghiệm
Bắt đầu thí nghiệm
- Thực hiện các phép đo định kỳ và ghi kết quả vào cuốn sổ tay khoa học
- Lặp lại thí nghiệm, nếu cần thiết để kiểm tra tính chính xác của kết quả
- Dựa vào kết quả đo, có thể cần phải làm rõ hoặc thậm chí làm thay đổi giả thuyết, thiết kế lại các thí nghiệm, và thực hiện lại quy trình từ đầu
- Lưu ý:
+ Không nên loại bỏ bất kỳ dữ liệu nào trong cuốn sổ tay khoa học
+ Thảo luận với giáo viên hướng dẫn về những cải tiến thí nghiệm và, nếu
cần thiết, bắt đầu lại quá trình thực nghiệm một lần nữa
g Phân tích dữ liệu thí nghiệm
Tổ chức lại dữ liệu thu được từ thí nghiệm để tìm kiếm bất kỳ quy luật hoặc
xu hướng nào đó từ các bảng dữ liệu Có thể sử dụng các chương trình phần mềm máy tính như Microsoft Excel và Vernier Graphical Analysis cho việc phân tích
dữ liệu thực nghiệm vì chúng có thể trợ giúp vẽ đồ thị dữ liệu từ các bảng tính
Xác định các mối liên hệ
Từ những dữ liệu thực nghiệm, chúng ta có thể tính toán để tìm quy luật (xu hướng) bằng các công cụ thống kê toán học Hầu hết các máy tính đều trang bị các phần mềm khoa học cho phép tính toán các số liệu thống kê đặc trưng, chẳng hạn như tính giá trị trung bình:
Vẽ đồ thị: Đồ thị luôn là một ý tưởng tốt để biểu diễn sự phụ thuộc giữa các đại lượng biến thiên và là một công cụ trợ giúp chúng ta phát hiện ra quy luật của các bảng dữ liệu thực nghiệm Vẽ đồ thị có thể thực hiện trên giấy trắng hoặc sử dụng phần mềm máy tính như Microsoft Excel, Vernier Graphical Analysis, KaleidaGraph, Mathcad Tùy vào bảng dữ liệu, chúng ta có thể sử dụng các kiểu
đồ thị khác nhau Sau đây là những ví dụ của các loại biểu đồ phổ biến:
+ Đồ thị đường nét liền, nét đứt
+ Đồ thị thanh đoạn
+ Đồ thị hình tròn
+ Đồ thị cột
Trang 32+ Biểu đồ
Độ chính xác
Sai số phần trăm: Nếu đã biết một giá trị chấp nhận được (từ một nghiên cứu khác tương tự, giá trị chính xác, ), chúng ta có thể so sánh kết quả thực nghiệm thu được bằng cách tính sai số phần trăm
Để phân tích mức độ sai số của kết quả thu được, cần trả lời những câu hỏi sau đây:
- Đâu là những hạn chế của thí nghiệm?
- Làm thế nào để giảm thiểu các biến không liên quan?
- Nguyên nhân gây ra sai số?
- Đã có gì sai sót trong quá trình thí nghiệm?
- Làm thế nào để có thể cải thiện thiết kế thí nghiệm trong các nghiên cứu tiếp theo?
h Tìm ra quy luật và đưa ra kết luận
Sau khi đã phân tích dữ liệu thí nghiệm là thời điểm xem xét và phân tích các kết quả thu được Quá trình xem xét, phân tích để tìm ra quy luật và đưa ra các kết luận cần trả lời được các câu hỏi sau:
- Dữ liệu đã được thu thập đầy đủ chưa?
- Có cần phải thu thập thêm dữ liệu không?
- Đã xác định được các biến và kiểm soát chúng đúng cách chưa? Những biến nào là quan trọng nhất?
- Cần làm thế nào để kết quả nghiên cứu của dự án này có thể so sánh với kết quả trong các nghiên cứu khác?
- Liệu các kết quả thu được có hợp lý?
- Có quy luật nào trong bảng dữ liệu thu được về cả hai mặt định tính và định lượng?
- Giải thích những quy luật này như thế nào?
- Làm thế nào để kết quả này đến với xã hội và đến với các nhà khoa học khác làm việc trong cùng lĩnh vực?
- Có cần làm thực nghiệm nhiều hơn nữa hay không?
- Liệu kết quả này có cho phép khẳng định giả thuyết khoa học? Nếu không thì tại sao không? Chúng ta đã kiểm nghiệm được giả thuyết chưa?
Cần phải tự đặt ra và trả lời nhiều nhất có thể các câu hỏi về dự án Điều này
sẽ giúp cho việc định hướng suy nghĩ và quyết định có cần phải sửa đổi, hoặc làm lại, hoặc kết thúc dự án
Lưu ý: hãy giữ một tâm trí cởi mở về những phát hiện Không bao giờ tự thay đổi kết quả thực nghiệm để trùng với những gì chúng ta cho là chính xác hoặc
Trang 33trùng với một lý thuyết đã biết Đôi khi các phát hiện lớn lại được thông qua những cái mà trước đây ta cho là sai lầm
i Viết báo cáo
Báo cáo sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện về chủ đề cho độc giả quan tâm Báo cáo nên chứa đựng mọi thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu cũng như mô tả đầy đủ về quá trình thực nghiệm, dữ liệu thu được và kết luận
Có hai loại báo cáo nghiên cứu khoa học:
- Loại thứ nhất là bình luận tổng quan về chủ đề Trong đó, chúng ta tổng hợp và xử lí với số lượng lớn các nghiên cứu khoa học đã công bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu Chúng ta không đưa những kết luận riêng vào các nghiên cứu tổng quan Bình luận tổng quan cần phong phú, trích dẫn nhiều nguồn tư liệu nhất
có thể để xác định vị trí về chủ đề này
- Loại thứ hai là báo cáo nghiên cứu mô tả dự án thực nghiệm cụ thể mà ta
đã hoàn thành Nó cần có phần tóm tắt, giả thuyết khoa học, thiết kế thí nghiệm, kết quả thực nghiệm Dữ liệu tóm tắt cần ngắn gọn, những thảo luận và phân tích các kết quả và tài liệu tham khảo cần rõ ràng mạch lạc và đầy đủ
Ta có thể viết hai báo cáo riêng biệt, hoặc đặt chúng lại với nhau trong một báo cáo toàn văn Cần tìm kiếm kỹ lưỡng các tài liệu khoa học được xuất bản về chủ đề được đề cập trong dự án Việc này giúp chúng ta thành một "chuyên gia" trong lĩnh vực cụ thể của nghiên cứu, và điều đó cũng trang bị cho chúng ta sự tự tin
về chủ đề, lĩnh vực nghiên cứu khi thảo luận với những người khác
Cần chú sử dụng thuật ngữ khoa học trong báo cáo Nó sẽ giúp chúng ta cảm thấy thoải mái hơn với chủ đề bởi công việc của chúng ta là chuyển tải các sự kiện
và thông tin mà chúng ta đã thu thập được một cách có tổ chức, rành mạch và súc tích
Khi viết báo cáo cho các dự án kĩ thuật và máy tính, chúng ta cần cân nhắc:
- Đặt tiêu đề báo cáo;
- Viết tóm tắt;
- Giới thiệu: Bối cảnh, tổng quan, cách thực hiện, lịch sử vấn đề ;
- Mục tiêu: Thiết bị gì, chương trình hoặc hệ thống được thiết kế để làm gì?
- Vật liệu và phương pháp thực nghiệm;
- Mô tả cấu trúc và các bộ phận Làm thế nào để các thiết bị, hệ thống hoặc chương trình làm việc?
- Trình bày một sơ đồ chi tiết hoặc thuật toán;
- Cung cấp các đặc tính đo lường của thiết bị hoặc hệ thống (ví dụ: kích thước, trọng lượng, cấp điện, điện áp được tạo ra, phần mềm và phần cứng )
- Dữ liệu hoặc kết quả: Làm thế nào để chứng minh thiết bị hoặc hệ thống
là công trình của chúng ta?
Trang 34- Thảo luận và phân tích;
- Hệ thống đã được thử nghiệm trên một loạt các điều kiện nào? Đồ thị hóa kết quả thử nghiệm
- Những hạn chế cản trở các thiết bị hoặc hệ thống trở nên hoàn hảo?
- Đề xuất các gợi ý để cải thiện
- Kết luận: Các thiết bị hoặc hệ thống đã làm được thiết kế để làm gì?
- Lời cảm ơn
- Tài liệu tham khảo
Sau khi tập hợp tất cả các thông tin, có thể tham khảo các bước sau:
(1) Viết một đề cương báo cáo, qua đó cung cấp một cấu trúc xương sống cho toàn bộ báo cáo Một phác thảo tốt sẽ cung cấp cho hướng đi đúng, tạo sự gắn kết, và hình thành trật tự của báo cáo và là cơ sở để truyền đạt thông tin trong một định dạng súc tích
(2) Nếu chúng ta thường ghi lại các lưu ý thì tổ chức những bằng cách sắp xếp lại các ghi chú đó theo một thứ tự mong muốn
(3) Viết một đoạn giới thiệu để người đọc làm quen với dự án Làm nổi bật những điểm chính của bài báo với một đoạn văn khoảng 50 - 75 từ
(4) Lựa chọn các chất liệu từ các ghi chú và diễn giải lại bằng văn bản và đặt nó vào bài báo
(5) Chú thích hoặc trích dẫn các nguồn tư liệu đúng cách
(6) Tích hợp các tài liệu hỗ trợ Các hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu, đồ thị và các trục được ghi chú đúng cách
(7) Viết một đoạn tóm tắt như một kết luận, ghi rõ là khẳng định hay bác bỏ giả thuyết
(8) Viết lời cảm ơn tất cả các tài liệu tham khảo, dù được diễn giải trực tiếp vào báo cáo hay được trích dẫn
(9) Cung cấp các thông tin về nhà tài trợ một cách thích hợp
(10) Kiểm tra chính tả, ngữ pháp và dấu chấm câu
(11) Đọc to báo cáo và kiểm tra cho rõ ràng, dễ đọc
(12) Nhờ người khác giúp đọc soát lỗi báo cáo
(13) Sửa lỗi
Sử dụng kích thước tiêu chuẩn giấy trắng Sử dụng căn chỉnh lề tiêu chuẩn Soạn thảo bài trên một mặt giấy Mang theo bài báo như là một phần của trình diễn khi trình bày dự án của mình
Lưu ý: Khi sử dụng công việc của các nhà khoa học khác, phải ghi những đóng góp của họ bằng cách trích dẫn nguồn thông tin
Trang 35j Viết tóm tắt báo cáo
Bản tóm tắt là phần cuối cùng của báo cáo dự án Nó được viết sau khi dự án hoàn thành Nó là một bản tóm tắt ngắn gọn của dự án để thông báo cho người đọc những gì dự án đã thực hiện được
Thông thường, tóm tắt là trừu tượng vì nó bị hạn chế bởi không gian và số từ ngữ được sử dụng Hãy lựa chọn từ ngữ một cách thận trọng trong quá trình viết một bản tóm tắt khoa học
Một bản tóm tắt bao gồm:
(1) Một tuyên bố về mục tiêu hay nêu giả thuyết
(2) Thiết kế thí nghiệm, phác thảo mô tả các phương pháp
(3) Một bản tóm tắt kết quả
(4) Kết luận
Nếu có không gian, viết thêm ý tưởng cho các nghiên cứu trong tương lai
Kết luận nên bao gồm một bản tóm tắt phân tích các kết quả và trả lời câu hỏi của người đọc Nó cần nêu rõ sự liên quan hoặc ý nghĩa của các kết quả và ứng dụng thực tế của nghiên cứu trong cuộc sống hằng ngày
k Chuẩn bị Poster và các hình ảnh giới thiệu dự án
Các hình ảnh hiển thị trên poster có nghĩa quan trọng thu hút sự chú ý và cung cấp thông tin cho người xem Hình ảnh hiển thị nên kích thích người xem muốn biết thêm về dự án Poster cần phối hợp đồng thời hình ảnh, đồ họa, và bảng biểu, cùng với các dòng văn bản súc tích Tiêu đề thú vị cũng có thể thu hút sự chú
đề, giả thuyết, thiết kế thực nghiệm, kết quả, phân tích, kết luận, và các ứng dụng tương lai Đây là điểu hết sức quan trọng để chuyển đến người nghe
Dưới đây là một số điểm chính để một bài thuyết trình tốt:
- Tích cực và tự tin vào công việc của mình
- Luyện tập trước một tấm gương, trình bày trước các thành viên gia đình, bạn bè, lớp học, hoặc những người khác Có thể ghi hình bài luyện tập thuyết trình Khi xem lại đoạn video, chúng ta có thể nhận thấy thói quen hay cách trình bày
mà ta muốn thay đổi
- Cố gắng để không đọc từ một kịch bản
Trang 36khác quan tâm muốn biết những gì bạn đã làm và những gì bạn đã học được
- Mặc quần áo thích hợp và gọn gàng Mang giày thoải mái Hãy nhớ rằng, ta đang đại diện cho chính mình, gia đình của chúng ta, và trường học của mình
- Giữ liên lạc bằng mắt với người nghe trong thời gian trình bày
- Sử dụng bảng/áp phích như một chỗ dựa và công cụ để giúp bạn thể hiện
- Trình bày công việc của mình một cách nhiệt tình
- Tìm hiểu tên của giám khảo Học hỏi từ ban giám khảo bằng cách hỏi họ những câu hỏi, hoặc yêu cầu nếu họ có thêm thông tin hoặc gợi ý mà ta có thể tham khảo Hãy ghi lại bất cứ đề nghị nào của ban giám khảo
- Trả lời tất cả những câu hỏi có thể Nếu bạn không chắc chắn về một câu trả lời, bạn có thể nói: "Tôi không chắc chắn, nhưng tôi nghĩ rằng nó có thể là " Nếu bạn không biết câu trả lời, bạn có thể cung cấp cho mọi người một ý tưởng về cách mà bạn sẽ tìm thấy một câu trả lời cho câu hỏi này Nó cũng thích hợp để nói điều gì đó giống như: "Đó không phải là một phần của nghiên cứu hoặc thí nghiệm của tôi"
- Kết hợp các thông tin mới từ gợi ý về bài trình bày Thực hành một lần nữa trước khi chuyển sang một mức độ cao hơn
Chúng ta có thể thấy rằng khởi đầu luôn là một quá trình khó khăn, nhưng từng bước công việc ngày càng trở nên dễ dàng hơn Và từng học sinh sẽ dần
trưởng thành thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học dành cho học sinh trung học, về cả kiến thức và kĩ năng./
VI MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG CUỘC THI KHKT NĂM 2017
1 Những điểm mới cần nhấn mạnh đối với Cuộc thi cấp tỉnh, quốc gia
Trong dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, nghiên cứu khoa học kỹ thuật được đưa thành một hoạt động tự chọn dành cho học sinh từ lớp 8 đến lớp 12 nhằm khuyến khích học sinh trung học nghiên cứu, sáng tạo khoa học, công nghệ, kỹ thuật và vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống; góp phần hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất trung thực,
tự trọng, tự tin, có tinh thần vượt khó, chấp hành kỷ luật và pháp luật, ; các năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, sáng tạo, tự học, giao tiếp, hợp tác, tính toán, công nghệ thông tin – truyền thông,
Từ việc phân tích, đánh giá những kết quả đạt được, những điểm còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế; yêu cầu và định hướng về các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng Cuộc thi khoa học kĩ thuật dành cho học sinh trung học trong thời gian tới, Bộ GDĐT thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học và Cuộc thi khoa học kĩ thuật dành cho học sinh trung học như sau:
1 Tăng cường tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và toàn xã hội về mục đích, ý nghĩa của hoạt động
Trang 37nghiên cứu khoa học kĩ thuật của học sinh, nhằm tạo động cơ đúng đắn cho học sinh nghiên cứu khoa học và tham gia Cuộc thi khoa học kĩ thuật cấp quốc gia, tránh sự đầu tư quá mức của người lớn trong quá trình thực hiện các dự án dự thi của học sinh, làm hạn chế sự sáng tạo của học sinh, đồng thời có ảnh hưởng tiêu cực đến sự hình thành và phát triển phẩm chất của học sinh
2 Hạn chế các dự án tập thể có biểu hiện “dựa dẫm”, “ăn theo” bằng cách quy định có sự phân biệt mức độ đóng góp khác nhau vào kết quả nghiên cứu của người thứ nhất (nhóm trưởng) và người thứ hai
3 Kiểm soát quá trình thực hiện dự án của học sinh bằng cách quy định rõ trách nhiệm phê duyệt, xác nhận của người bảo trợ, người hướng dẫn, cơ quan hỗ trợ học sinh nghiên cứu dự án, Hội đồng thẩm định khoa học cấp tỉnh trong hồ sơ
dự thi của học sinh:
- Mỗi dự án dự thi có 01 giáo viên trung học bảo trợ, có thể đồng thời là người hướng dẫn, do thủ trưởng cơ sở giáo dục trung học có học sinh dự thi ra quyết định cử Người bảo trợ phải kí phê duyệt Kế hoạch nghiên cứu trước khi học sinh tiến hành nghiên cứu (Phiếu phê duyệt dự án)
- Ngoài người bảo trợ do thủ trưởng cơ sở giáo dục trung học cử, dự án dự thi có thể có thêm người hướng dẫn khoa học là các nhà khoa học chuyên ngành thuộc các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ sở khoa học công nghệ Trường hợp
dự án có nhà khoa học chuyên ngành tham gia hướng dẫn thì phải có xác nhận của nhà khoa học chuyên ngành đó (Phiếu xác nhận của nhà khoa học chuyên ngành)
- Trường hợp dự án có nội dung nghiên cứu được thực hiện tại cơ quan nghiên cứu như trường đại học, viện nghiên cứu, cơ sở khoa học công nghệ phải có xác nhận của cơ quan nghiên cứu đó (Phiếu xác nhận của cơ quan nghiên cứu)
4 Quy định chặt chẽ quy trình chấm thi để đánh giá một cách chính xác năng lực thực sự của học sinh Cụ thể là trong quá trình chấm thi, các tiêu chí chấm
dự án được xem xét, đánh giá dựa trên kết quả nghiên cứu và chỉ cho điểm sau khi
đã xem xét, đối chiếu với các minh chứng khoa học về quá trình nghiên cứu được thể hiện trong các phiếu quy định trong hồ sơ dự thi và sổ tay nghiên cứu khoa học của học sinh
5 Quy định chỉ những thí sinh đoạt giải Nhất tại vòng thi lĩnh vực có khả năng trình bày bằng tiếng Anh mới được tham gia vòng thi toàn cuộc Tại vòng thi toàn cuộc, thí sinh trình bày dự án và trả lời câu hỏi của giám khảo bằng tiếng Anh
6 Quy định chặt chẽ về trách nhiệm và tiêu chí lựa chọn giám khảo của Cuộc thi cấp quốc gia, đảm bảo chọn được giám khảo có phẩm chất và năng lực tốt, đáp ứng yêu cầu của Cuộc thi; giám khảo chấm thi vòng toàn cuộc phải đáp ứng về năng lực tiếng Anh chuyên ngành để phỏng vấn thí sinh bằng tiếng Anh
7 Hoàn thiện thêm trang mạng "Trường học kết nối" để tổ chức và quản
lí quá trình triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường trung học; tổ chức Cuộc thi cấp tỉnh; đăng kí, nộp hồ sơ dự thi cấp quốc gia; thẩm định hồ sơ dự thi
Trang 38của học sinh, với sự tham gia giám sát, quản lí được phân cấp theo đơn vị trường, phòng GDĐT, sở GDĐT và quyền theo dõi, giám sát cao nhất là Bộ GDĐT để đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả trong công tác tổ chức Cuộc thi, đồng thời đảm bảo sự công khai, minh bạch của Cuộc thi
2 Những vấn đề đặt ra cho việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học kỹ thuật và cuộc thi khoa học kỹ thuật học sinh trung học
1 Cần phân tích, đánh giá về các dự án khoa học kĩ thuật của học sinh trong những năm vừa qua để làm rõ những mặt đã đạt được, những điểm còn hạn chế, từ đó xác định những định hướng nhằm nâng cao chất lượng khoa học, đáp ứng được yêu cầu của trình độ phát triển khoa học trên thế giới
2 Nhằm định hướng cụ thể hơn cho học sinh trong việc lựa chọn hướng nghiên cứu và xác định được vấn đề nghiên cứu, các nhà trường, giáo viên, các nhà khoa học cần quan tâm, giúp đỡ học sinh tìm hiểu về những vấn đề khoa học, kĩ thuật đang được đặt ra, đang được thế giới quan tâm, tìm hiểu sâu về các hướng nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học và mức độ yêu cầu của kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
3 Các nhà trường, giáo viên và học sinh cần chủ động liên hệ với các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức khoa học công nghệ để tìm hiểu về những hướng nghiên cứu đang triển khai trong các trường đại học, việc nghiên cứu; tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức khoa học công nghệ ở về: cán bộ hướng dẫn khoa học, tham gia các đề tài khoa học kĩ thuật, cơ sở vật chất, thiết bị, phòng thí nghiệm ;
4 Các giáo viên và các nhà khoa học tham gia hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học cần phải xác định quy trình hợp lí và sử dụng đúng các phương pháp hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học kĩ thuật, nhằm phát huy cao nhất tự tự lực, sáng tạo của học sinh
5 Đổi mới quy trình đánh giá dự án khoa học kĩ thuật của học sinh theo hướng tăng cường trách nhiệm giải trình của cá nhân từng giám khảo Kết hợp đánh giá qua hồ sơ và nhật kí khoa học với phỏng vấn trực tiếp, nhằm đánh giá chính xác năng lực của từng học sinh
6 Xác định và thực thi những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học kĩ thuật của học sinh trong trường phổ thông cũng như chất lượng của Cuộc thi khoa học kĩ thuật dành cho học sinh trung học:
- Đưa hoạt động trải nghiệm sáng tạo khoa học kĩ thuật của học sinh trở thành một thành phần chính thức trong chương trình giáo dục phổ thông, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp nghiên cứu khoa học;
- Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giáo viên, đồng thời qua đó nâng cao năng lực cho giáo viên về phương pháp hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học Trong các trường đại học sư phạm, phải thực hiện nguyên tắc gắn nghiên cứu khoa học với đào tạo, qua đó tạo được một đội ngũ giáo viên phổ thông mới có năng lực nghiên cứu khoa học và hướng
Trang 39dẫn học sinh nghiên cứu khoa học;
- Tiếp tục động viên các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu hỗ trợ học sinh về chuyên môn, người hướng dẫn khoa học, cơ sở vật chất, thiết bị, phòng thí nghiệm cho học sinh nghiên cứu khoa học;
- Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức khoa học, công nghệ lựa chọn các sản phẩm nghiên cứu của học sinh để đầu tư, phát triển thành các sản phẩm có thể sản xuất đại trà và đưa vào sử dụng trong thực tiễn;
- Xây dựng mạng lưới cựu học sinh Intel ISEF trong nước và giới thiệu với các tổ chức quốc tế để các em có môi trường giao lưu, chia sẻ, hỗ trợ nhau trong nghiên cứu khoa học Đồng thời có giải pháp theo dõi quá trình học tập, nghiên cứu của các học sinh sau khi đạt giải tại Cuộ thi KHKT cấp quốc gia
3 Tổ chức Cuộc thi năm 2016- 2017
- Thời gian và địa điểm tổ chức
+ Khu vực phía Bắc (dành cho các tỉnh, thành phố từ Thừa Thiên - Huế trở ra): Tổ chức tại Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, dự kiến từ ngày 06/3/2017 đến ngày 09/3/2017;
+ Khu vực phía Nam (dành cho các tỉnh, thành phố từ Đà Nẵng trở vào): Tổ chức tại Thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, dự kiến từ ngày 13/3/2017 đến ngày 16/3/2016
- Đối tượng dự thi: Học sinh đang học lớp 8, 9 THCS và đang học THPT
- Lĩnh vực dự thi: Các dự án dự thi ở 22 lĩnh vực trong bảng dưới đây:
Vật liệu Y Sinh; Cơ chế Sinh học; Thiết bị Y sinh; Kỹ thuật
tế bào và mô; Sinh học tổng hợp;…
Trang 40vô cơ; Hóa vật liệu; Hóa hữu cơ; Hóa Lý;…
14 Kĩ thuật môi
trường
Xử lí môi trường bằng phương pháp sinh học; Khai thác đất; Kiểm soát ô nhiễm; Quản lí chất thải và tái sử dụng; Quản lí nguồn nước;…
15 Khoa học vật
liệu
Vật liệu sinh học; Gốm và Thủy tinh; Vật liệu composite; Lí thuyết và tính toán; Vật liệu điện tử, quang và từ; Vật liệu nano;Pô-li-me;…
16 Toán học Đại số; Phân tích; Rời rạc; Lý thuyết Game và Graph; Hình
học và Tô pô; Lý thuyết số; Xác suất và thống kê;…
17 Vi Sinh Vi trùng và kháng sinh; Vi sinh ứng dụng;Vi khuẩn; Vi sinh
môi trường; Kháng sinh tổng hợp; Vi-rút;…
18 Vật lí và
Thiên văn
Thiên văn học và Vũ trụ học; Vật lí nguyên tử, phân tử và quang học;Lý - Sinh; Vật lí trên máy tính; Vật lí thiên văn; Vật liệu đo; Từ, Điện từ và Plasma; Cơ học;Vật lí hạt cơ bản và hạt nhân; Quang học; La-de; Thu phát sóng điện từ; Lượng tử máy tính; Vật lí lí thuyết;…
19 Khoa học
Thực vật
Nông nghiệp;Mối liên hệ và tương tác với môi trường tự nhiên; Gen và sinh sản; Tăng trưởng và phát triển; Bệnh lí thực vật; Sinh lí thực vật; Hệ thống và tiến hóa;…