LỜI NÓI ĐẦUĐồng Dao là một bộ phận quan trọng trong kho tàng thơ ca dân gian gồm những lời hát thường gắn liền với hoạt động vui chơi và trò chơi của trẻ em, giúp cho các em tiếp xúc môi
Trang 1HỘI VĂN NGHỆ DÂN GIAN VIỆT NAM
NGUYỄN NGHĨA DÂN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Đồng Dao là một bộ phận quan trọng trong kho tàng thơ ca dân gian gồm những lời hát thường gắn liền với hoạt động vui chơi và trò chơi của trẻ em, giúp cho các
em tiếp xúc môi trường thiên nhiên, xã hội, đời sống gần gũi quanh các em, đem lại cho các em những cảm xúc tốt đẹp, những hiểu biết phù hợp với tâm lý trẻ lúc ấu thơ và suốt thời gian dài của tuổi vị thành niên, góp phần giáo dục các em thành những người lao động, người công dân
có ích cho đất nước.
Ở nước ta, từ thế kỷ trước, một số nhà nghiên cứu văn hoá dân gian đã chú ý sưu tầm đồng dao và đã có những thành tựu nhất định Tuy nhiên, so với việc sưu tầm nghiên cứu các thể loại khác của văn học dân gian thì những sưu tầm nghiên cứu đồng dao chưa nhiều.
Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, dưới ánh sáng của Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền của trẻ em (20-11-1989), của Luật trẻ em (20-11-1989), của Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em (12-8-1991), Nhà nước ta quan tâm nhiều
Trang 4hơn đến hoạt động vui chơi của trẻ em Điều 31 của
Công ước Liên Hiệp quốc ghi: “Trẻ em có quyền được
nghỉ ngơi và tiêu khiển, được tham gia vui chơi vào những hoạt động giải trí phù hợp với lứa tuổi, được tự do tham gia các sinh hoạt văn hoá và nghệ thuật”; điều 11
của Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em ghi: “Trẻ em
có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, văn nghệ thể dục thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi” Việc nghiên cứu trển khai các hoạt động vui chơi, các trò chơi cho trẻ em, trong đó có hát đồng dao, trò chơi dân gian, đã được nơi này nơi khác quan tâm hơn trước Một số sách báo cũng đã sưu tầm nghiên cứu
về đồng dao Đáng chú ý là năm 1996, Viện Văn hoá Dân
gian đã sưu tầm, nghiên cứu và xuất bản cuốn “Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt” 1 một công trình tập thể với nhiều tư liệu và thư mục về đồng dao từ trước đến năm 1995 Gần đây, Viện Văn học cũng đã cho xuất bản
tập I, quyển I của Tổng tập Văn học các Dân tộc thiểu
số Việt Nam trong đó đã tuyển chọn được khá nhiều
đồng dao của một số các dân tộc anh em 2
Nhằm góp phần nhỏ bé của mình đồng thời thực hiện
1 Nguyễn Thuý Loan - Đặng Diệu Trang - Nguyễn Huy Hồng - Trần Hoàng
- Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt - NXB Văn hoá Thông tin - 1997.
2 Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) - Lê Trung Vũ - Nguyễn Thị Huế - Đỗ Hồng
Kỳ - Trần Thị An - Tăng Kim Ngân - Tổng tập văn học các dân tộc thiểu
số Việt Nam - Tập I, quyển I - NXB Đà Nẵng - 2002.
Trang 5ý tưởng đã có từ lâu, với một số tư liệu sưu tầm được trong quá trình nghiên cứu văn học dân gian của bản thân; kế thừa, nghiên cứu những vấn đề về đồng dao của các bậc đi trước; chúng tôi viết tập sách này nhằm giúp ích cho các bậc cha mẹ, các cơ sở giáo dục từ mầm non đến trung học cơ sở, các tổ chức xã hội của thiếu niên, nhi đồng có thêm những tài liệu cần thiết để hướng dẫn hoạt động vui chơi của các em; đồng tời góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Cuốn sách có hai phần lớn:
Phần thứ nhất gồm: Đồng dao và hệ thống đồng dao
- Tính chất, chức năng và tác dụng của đồng dao - Nội dung của đồng dao - Đặc điểm thi pháp của đồng dao.
Phần thứ hai gồm: Sưu tầm - Tuyển chọn - Chú thích
với 5 mục Đồng dao: Trẻ em hát Đồng dao: Trẻ em hát Trẻ em chơi - Đồng dao: Hát ru, Trẻ em đố vui, Ca dao cho trẻ em - Phụ lục: Đồng dao của một số dân tộc thiểu số Trong quá trình nghiên cứu thực hiện các nội dung trên, chúng tôi đã tiếp thu, kế thừa những ý kiến đúng đắn của các nhà nghiên cứu sưu tầm đồng dao đã được xuất bản thành công trình hoặc đăng trên báo chí Nhân dịp này, chúng tôi xin có lời cảm ơn chung kính gửi đến các nhà nghiên cứu, sưu tầm đồng dao; lời cảm ơn riêng đối với GS.TS Nguyễn Xuân Kính, Phó Tổng thư ký Hội Văn
Trang 6-nghệ dân gian Việt Nam, Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hoá và nhà giáo Trần Gia Linh, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp chúng tôi những ý kiến và tài liệu quý báu.
Do nội dung phong phú của hệ thống đồng dao, cuốn sách này không tránh khỏi những khiếm khuyết, nhất là các vấn đề ít nhiều mang tính lý luận và thực tiễn của đồng dao, rất mong bạn đọc và các nhà nghiên cứu văn hoá văn nghệ dân gian cho thêm những ý kiến quý báu.
Hà Nội, Tết Trung thu Đinh Hợi (2007)
NGUYỄN NGHĨA DÂN
Trang 9Vũ Ngọc Khánh cho rằng đồng dao là lời ca dân giantrẻ em bao gồm cả những lời trong các trò chơi"6.Nguyễn Hữu Thu cho rằng Đồng dao là sự nối tiếpchức năng của tiếng hát mẹ ru con , diễn xướng đồng
1 Chúng tôi dùng "lời” theo quan niệm của Nguyễn Xuân Kính trong cuốn
Thi pháp ca dao (xem tr.54).
2 Dương Quảng Hàm - Việt Nam văn học sử yếu.
3 Doãn Quốc Sĩ - Ca dao nhi đồng - NXB Sáng Tạo Sài Gòn 1969 Nguyễn Tấn Long, Phan Canh - Đồng dao - Thi ca bình dân tập 4 - Sài Gòn 1969.
4 Nguyễn Văn Vĩnh - Trẻ con hát - Trẻ con chơi - Tứ dân văn uyển - Hà
Nội 1935.
5 Trần Gia Linh - Đồng dao Việt Nam - NXB Giáo Dục 1997.
6 Vũ Ngọc Khánh - Mấy điều ghi nhận về đồng dao việt Nam - Tạp chí Văn
Học, số 4-1974.
Trang 10dao là sự chuyển tiếp và phát huy vai trò tiếng hát rucủa mẹ "1 Tô Ngọc Thanh cho rằng “hát đồng dao làmột thể kết hợp văn hóa, văn nghệ dân gian gồm tròchơi, lời ca và âm nhạc"2 Như vậy, về yếu tố cấuthành thì đồng dao có lời hát, trò chơi; còn về thể loại,đồng dao có quan hệ với ca dao, hát ru, như NguyễnHữu Thu (tài liệu đã dẫn) cho rằng hát ru em có thểxếp vào hệ thống đồng dao" Theo một số nhà nghiêncứu đồng dao như Doãn Quốc Sĩ3 những câu đố vuinhằm phát huy óc quan sát, trí thông minh của trẻ emcũng là một loại đồng dao.
Từ những ý kiến nêu trên có thể định nghĩa:
Đồng dao là những lời mộc mạc, hồn nhiên, có vần, được trẻ em truyền miệng cho nhau hoặc hát đồng thanh theo nhịp điệu đơn giản trong lúc vui chơi hoặc tiến hành các trò chơi dân gian của lứa tuổi thiêu nhi.
2 Hệ thống đồng dao:
Đồng dao thường được các em hát dựa theo vần,nhịp của thể thơ dân tộc, diễn biến từ 2 âm tiết trở lên,nhất là vè 4 âm tiết và lục bát Xét về nội dung đồngdao phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi và về nghệ thuật
diễn xướng (hát, hoạt động vui chơi, trò chơi) đồng
1 Nguyễn Hữu Thu - Hát ru và hệ thống diễn xướng đồng dao - NXB Phụ
Trang 11dao là một hệ thống gồm những lời hát vui, những lời hát đồng dao gắn với trò choi trẻ em, những lời hát
ru, những câu đố vui của trẻ em và cuối cùng là những lời ca dao cho trẻ em.
Đây cũng là sự phân loại về hệ thống đồng dao
mà phần hai cuốn sách này chúng tôi tuyển chọn vàchú thích Có thể xác định hệ thống đồng dao ViệtNam gồm 5 bộ phận:
Các hộ phận nói trên của đồng dao có mối quan
hệ mật thiết với nhau về nội dung và thi pháp, do đó
ranh giới giữa đồng dao trẻ em hát với hát ru và ca
dao cho trẻ em chỉ là tương đối nhất là đối với các
đồng dao theo thể thơ lục bát Điều có thể phân biệt dễ
dàng giữa đồng dao trẻ em hát với đồng dao trẻ em
hát - trẻ em chơi là bộ phận đồng dao này phải có trò
chơi dân gian đi kèm Cũng dễ phân biệt đồng dao trẻ
em đố vui với các bộ phận khác của đồng dao ở đặc
thù câu đố cho trẻ em Cũng có thể các em vừa hát vừa
đố vui theo nguyên văn lời câu đố Câu đố cũng có thipháp riêng cho nên tương đối độc lập với các bộ phận
khác của hệ thống đồng dao Ca dao cho trẻ em cũng
là một loại đồng dao có thể được các em cảm nhận từ
Trang 12tuổi nhi đồng và theo các em cho đến hết đời người.
Đó là những lời ca dao dễ hiểu, đậm đà bản sắc vănhóa dân tộc gắn liền với truyền thống tốt đẹp của dântộc, với hoạt động yêu nước, thương nòi, đạo đứctrong sáng của nhân dân hoặc những lời ca dao vềcảnh trí thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, phong tục,
lễ hội, sinh hoạt kinh tế, xã hội tồn tại gần các em.Những ca dao đó góp phần quan trọng trong việc hìnhthành, phát triển nhân cách người Việt Nam ở các em.Xét đến cùng, điều phân biệt giữa ca dao cho trẻ emvới ca dao cho người lớn ở chỗ ca dao cho người lớn
có bộ phận quan trọng nhất, chiếm tỉ lệ cao nhất trongkho tàng ca dao Việt Nam là ca dao về tình yêu nam
nữ và ca dao về hôn nhân và gia đình
II TÍNH CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ TÁC DỤNG CỦA ĐỒNG DAO
1 Tính chất của đồng dao:
Đồng dao là một bộ phận của văn học dân gian,
gần gũi với ca dao nên có đầy đủ các tính chất truyền
miệng, nhiều dị bản và tập thể Vì đồng dao là của trẻ
em nên đồng dao còn có tính chất vui chơi phù hợp
với tâm sinh lý trẻ em Đó là những tính chất cơ bản
của đồng dao Phần lớn đồng dao do trẻ em sáng tạotrong lúc vui chơi, cùng hát đồng thanh, truyền miệngcho nhau từ xóm thôn này, vùng này qua xóm thônkhác, vùng khác Người lớn có khi cũng tham gia vàoquá trình hình thành lời hát đồng dao và cũng có khi
Trang 13sáng tạo đồng dao cho trẻ em hát để thực hiện mộtmục đích nào đó của người lớn Tất nhiên do truyềnmiệng và nhất là do trẻ em truyền đi nên tính nhiều dịbản của đồng dao rất rõ Ví dụ những đồng dao vềchim, về cá, về hoa, về trái, lời hát “nu na nu nống",
“chi chi chành chành" có ít nhất từ năm đến bảy dịbản, có dị bản khác nhau về số dòng, có dị bản khácnhau về lời hát, lại có dị bản khác nhau về tiếng từngđịa phương Tính tập thể của đồng dao thể hiện quan
hệ giữa trẻ em với trẻ em trong vui chơi, quan hệ giữatrẻ em và người lớn (trẻ em đặt lời, người lớn bổ sunghoặc người lớn đặt ra cho trẻ em hát) Ngoài ra, đồng
dao còn có tính chất gắn liền với trò chơi Tính chất này là đặc trưng của đồng dao trẻ em hát - trẻ em
chơi Lời hát của các đồng dao này có quan hệ mật
thiết với trò chơi (như trò chơi chuyền thẻ, lộn cầuvòng, dệt vải ) nhưng cũng có đồng dao với lời hátkhông liên quan gì đến trò chơi, nói đúng hơn, chỉmấy lời cuối vang lên như một mệnh lệnh (như “chichi chành chành", mệnh lệnh đối với các em đang chơi
là “ù à ù ập”, như “chồng lộng chồng cà", mệnh lệnh
là “Ai có chân, có tay thì rụt" )
2 Chức năng và tác dụng của đồng dao:
Đồng dao có ba chức năng: nhận thức, thẩm mỹ
và giáo dục ở mức độ phù hợp với tâm sinh lý của trẻ
em Nhận thức của trẻ qua đồng dao thường là nhậnthức cảm tính, quan sát tiếp cận môi trường tự nhiên
Trang 14xã hội gần mình, có thể thấy được, nghe được nhưngchưa phân tích, chưa suy luận được Cũng do đó màtrong một số đồng dao ta thường gặp kết cấu rất tự do,không có liên kết lôgic (như đồng dao “Mèo già ăn
trộm / Mèo ốm phải đòn / Mèo con phải vạ / Con quạ đứt đuôi / Con ruồi đứt cánh / Đòn gánh có mấu / con
sấu có tai / con nai có sừng” (C.31)1, hay ca dao “Con
mèo con chó có lông / Cây tre có mắt nồi đồng có
quai" Tuy nhiên cũng có một số ít lời ca dao kết hợpnhận thức cảm tính với lý tính, đương nhiên ở mức độcác em có thể hiểu được Trong trường hợp này, có lẽđồng dao do người lớn sáng tạo hoặc giúp trẻ sáng tạohơn là trẻ tự đặt ra (như “Thằng Bờm có cái quạt mo"(A.259) hoặc nhiều lời hát ru trong đó các mẹ, các chịhát về con cò, con bống để ẩn dụ tâm tình (như “Ru
em, em hãy nín di / Kẻo mà mẹ đánh em thì em đau /
Em đau, chị cũng buồn rầu / Bé mồm bé miệng kêu đâu bây giờ" hoặc “Cá bống đi tu / Cá thu thì khóc /
Cá lóc thì sầu / Ngoài biển có cầu / Giải sầu ru con" hoặc “Con cò mà đi ăn đêm ” (C.l7) Trong thẩm mỹ
học, về lý luận, có cái bi, cái hài, cái cao thượng được
cụ thể hóa trong cái đẹp Trong đồng dao, có rất nhiềucái đẹp bởi lẽ đồng dao thể hiện tâm hồn vô tư trongsáng, hồn nhiên của trẻ em chưa có gì vấn vương vớinhững dục vọng như người lớn Dục vọng thường sinh
1
Xem phần thứ hai, mục C , lời 31 Vì có những lời đồng dao dài, không trích cả lời, theo kí hiệu kiểu này, bạn đọc có thể xem đẩy đủ lời dẫn ở phần thứ hai Dưới đ ây, các dẫn chứng sẽ theo cách này.
Trang 15ra cái bi với những mâu thuẫn tình cảm, mâu thuẫn xãhội phức tạp Trong đồng dao cũng có cái bi bộc lộhoàn cảnh của trẻ mồ côi của gia đình nghèo khó hoặc
éo le (như “Trời mưa bong bóng phập phồng / Mẹ đi
lấy chồng con ở với ai " hoặc “Hai tay cầm bốn tua
nôi / Em nín thì ngồi em khóc thì đưa / Hai tay kim chỉ thêu thùa / Vì em lặn lội mấy mùa nắng mưa” ).
Nói chung, ta thường gặp cái bi trong những lời hát ru,còn trong những đồng dao hát vui, đồng dao vừa hátvừa chơi điểm nổi bật là cái hài Những đồng dao nóingược, nói khoác, những đồng dao kèm theo trò chơiđều biểu hiện cái hài rõ nét, không chỉ cho các emcười mà người lớn cũng cười theo Cho nên trongđồng dao cái hài thường gắn với cái đẹp Trong đồngdao, cái cao thượng chỉ biểu hiện qua những lời hát rulời ca dao ca ngợi những chiến thắng lịch sử, nhữnganh hùng dân tộc, thường được áp đặt" cho trẻ từ thuở
ấu thơ mà mãi cho đến hết tuổi thiếu niên, qua nhàtrường, các em mới nhận thức hết ý nghĩa Cái đẹp củathiên nhiên như phong cảnh đất nước, cái thiện nhưđạo đức dân tộc, thuần phong mỹ tục, quan hệ đối xửtrong gia đình, trong cộng đồng, qua đồng dao, đếnvới các em sớm hơn, có thể ở độ tuổi nhi đồng (như
“Ăn một bát cơm / Nhớ người cày ruộng / Ăn một đĩa muống / Nhớ người đào ao / Ăn một quả đào / Nhớ
người vun gốc" ) (A.2) hoặc trong nhiều ca dao chotrẻ em Đó cũng là một trong những lý do mà chúngtôi xếp ca dao cho trẻ em vào hệ thống đồng dao Ở
Trang 16đây ta có thể gặp những câu hát về cảnh đẹp thiênnhiên của non sông đất nước, về truyền thống giữnước dựng nước, về gơng chiến đấu của các anh hùngdân tộc, về lòng yêu nước, lòng nhân ái, nghĩa đồng
bào, về tình cảm gia đình Như vậy, bằng phương
thức “chơi mà học, học mà chơi” đồng dao có chức năng giáo dục trẻ em một cách nhẹ nhàng sinh động qua hát vui, qua trò chơi kèm theo lời hát Nói chức
năng giáo dục của đồng dao tức nói đến tác dụngchung của đồng dao trong việc hình thành và pháttriển nhân cách của trẻ em Xét tác dụng cụ thể, nhữnglời hát đồng dao giáo dục cảm xúc cho các em trongquan hệ với thiên nhiên, xã hội, với sinh hoạt cộngđồng trước hết là môi trường hoạt động vui chơi củatrẻ, qua đó rèn luyện óc quan sát, rèn luyện ngôn ngữqua giai đoạn tiền ngôn ngữ rồi ngôn ngữ, từ bập bẹđến nói thành tiếng, hát thành lời, đồng thời tiếp xúcvới nhiều từ ngữ mới
Nếu các lời hát ru có tác dụng giáo dục tình cảmcho trẻ em không phải bằng lời mà chủ yếu bằng âm
nhạc qua điệu hát thì đồng dao trẻ em hát-trẻ em chơi,
những câu đố vui lại có tác dụng rèn luyện trí tưởngtượng, trí thông minh, kỹ năng suy đoán, liên tưởng;rèn luyện sức khỏe, nhanh tay, nhanh mắt Ngoài ra,các em còn được giáo dục về lòng kiên trì, tính trungthực, lòng dũng cảm Trong đồng dao, riêng yếu tốtưởng tượng có vai trò và tác dụng rất lớn, tưởng
Trang 17tượng đã nảy sinh và phát triển từ lúc trẻ biết tiếp xúcvới thế giới quanh mình; tưởng tượng trong lúc chơi,với một đồ vật cụ thể, các em có thể hình dung thànhnhiều hình ảnh, hình tượng mới lạ trong trí óc củamình Khi các em biết nói, tiếp đó khi các em biếtsáng tạo đồng dao, trí tưởng tượng tiếp tục phát triểnmạnh mẽ Chúng ta sẽ có dịp trở lại vấn đề này trongphần nghiên cứu về đặc điểm thi pháp của đồng dao.Tùy theo lứa tuổi, theo phương châm “chơi màhọc, học mà chơi", theo thang bậc từ thấp đến cao, từgần đến xa, từ dễ đến khó, tác dụng giáo dục của hệthống đồng dao đối với trẻ em có khác nhau Ở tuổithơ tiền học đường, tác dụng rõ rệt của đồng dao vớicác em là hát ru, những lời hát đồng dao mộc mạc,
trong sáng Ở tuổi mẫu giáo lớn, tiểu học, những đồng
dao trẻ em hát - trẻ em chơi, những đồng dao đố vui
tác động rất mạnh đến nhân cách các em Sống trongnguồn nước trong lành của hát ru, của đồng dao vừahát vừa chơi, tình cảm và lý trí phát triển; trong tuổithiếu niên, các em có thể hiểu được ý nghĩa của đồngdao, sống lại thời kỳ thơ ấu với bao kỷ niệm tốt đẹp.Tuổi thiếu niên rất cần tiếp xúc với văn học dân gianđặc biệt với ca dao cho trẻ em, đó là một kênh thôngtin không thể thiếu góp phần hình thành nhân cáchchuẩn bị cho các em bước vào tuổi thanh niên
Trang 18III NỘI DUNG CỦA ĐỒNG DAO
Nhìn tổng quát, hệ thống đồng dao Việt Namdựng lên một cuốn phim hiện thực của thiên nhiên và
xã hội Việt Nam với nền kinh tế nông nghiệp lâu đời
mà tác giả và đạo diễn, người ca hát và diễn xuất làtập thể trẻ em, với cảm nghĩ vô tư, hồn nhiên, tư duyngộ nghĩnh nhưng giàu tưởng tượng, thông minh vàsáng tạo Biết bao màu sắc tươi sáng của đất trời, cây
cỏ hoa lá, đồng ruộng, sông hồ, biết bao âm thanh vuitai của chim muông hòa lẫn với lời ru êm dịu của mẹhiền, biết bao hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhữngthuần phong mỹ tục, những lễ hội tưng bừng quacảm nhận ấu thơ, đã đi vào lời hát, trò chơi của các emnhư những dòng suối trong lành bắt nguồn từ truyềnthống lao động, truyền thống nhân đạo lâu đời của dântộc góp phần hình thành và phát triển nhân cách conngười Việt Nam từ tấm bé đến tuổi thanh niên Hệthống đồng dao Việt Nam tuy có nhiều bộ phận cấuthành nhưng rất thống nhất về nội dung, biểu hiện trênmột số chủ đề lớn:
A Một thiên nhiên tươi đẹp sinh động dưới đôi
mắt trẻ thơ.
Từ ngàn xưa và có lẽ đến hôm nay, trẻ em nước
ta, nhất là trẻ em nông thôn rất gần gũi thiên nhiên.Điều kiện khí hậu nhiệt đới đã làm cho thiên nhiênnước ta tươi đẹp, sinh vật phong phú Khi biết cảm
Trang 19nhận môi trường tự nhiên quanh mình thì hàng chục,hàng trăm câu hỏi đến với các em: cây gì đây, quả gìđây, rau gì đây, nó cao nó thấp, nó thơm nó ngọt nhưthế nào Nó có như các em không, nó có như ngườilớn không, nó có chơi đùa không, nó có tính tốt, tínhxấu không Thế rồi với sự quan sát, với trí tưởngtượng, cây cối hoa lá bỗng nhiên thành anh em, bè bạnvới các em, cùng hát với các em, cùng vui với các em.
Đó là cách nhìn thiên nhiên của các em trong nhữnglời hát đồng dao Về hoa ? Có hàng chục loài mà loàinào cũng có màu sắc riêng, dáng vẻ riêng: Hay bay
hay liệng / Là hoa chim chim / Xuống nước mà chìm /
Là hoa bông đá / Làm bạn với cá / Là hoa san hô / Cạo đầu đi tu / Là hoa dâm bụt / Đi ăn đám cưới / Là các hoa dâu / Muốn tắm ao sâu / Là hoa muống biển /
Đi học bỏ về / Là hoa bông trốn / Ăn vụng bị đánh /
Là hoa nhọ nồi / Thiên hạ tới cầu / Là hoa bông lúa
/ Hay làm hay múa / Là hoa vòng tay Đụng chút đã
hờn / Là hoa xấu hổ" Cứ như vậy, nếu thử đếm trong
một lời đồng dao về hoa thì có đến 37 thứ hoa(A.275) Lời đồng dao không phải chỉ kể tên mà cónhiều mối liên hệ hoặc máy móc hoặc hữu cơ, có khi
từ tên của hoa mà nghĩ đến những chuyện lạ như hoadâm bụt “đi tu”, hoa nhọ nồi “ăn vụng bị đánh" hoa
xấu hổ “hay hờn" hoặc "Vui chơi thong thả / Là cái hoa chè / Ăn nói lè nhè / Là hoa chùm rượu" Về trái
ư? Làm sao kể xiết, nào là đu đủ, dứa, ngô, nào là
bư-ởi, chanh, cam, ổi, quít là những hoa trái thường
Trang 20thấy nhưng cũng có quả, trái hiếm thấy: trái cách, cóckèn, đậu rựa Cách tìm hiểu quả, trái cũng khá độc
đáo "Đông con nhiều cháu / Vốn thiệt trái sung / Nhỏ
mà cay hung / Là trái ớt hiểm Khoanh tay lo nghèo /
Là trái bần ổi / Sông sâu chẳng lội / Là trái mãng
cầu" Nhưng cũng có nhiều quả, trái được tả thực
"Hình tựa gà xước / Vốn thật trái thơm (dứa) / Cái đầu chờm bơm / Là trái bắp nấu / Hình thù xấu xấu / Là
trái cà dê " Trẻ em dân tộc Thái Tây Bắc có lời đồngdao kết hợp tìm hiểu các loại trái, vừa kết hợp với tròchơi, vừa kết hợp với đố vui trái từng chùm / Trái gì? /
- Trái cà / Trái tím mọng / Trái gì / - Bồ quân / Trái đeo dây/ Trái gì? / - Trái nhót " (Phụ lục mục B.I l5) Về rau ư? Đây là mùi vị "ăn hơi tanh tanh / Là rau diếp cá Ăn cay như ớt / Vốn thiệt rau răm " Đây là
những tên rau liên hệ với thói xấu của con người “Thú
ở hỗn hào / Là rau ngành ngạnh / Trong lòng bất chính
/ Vốn thiệt tầm lang" Xưa kia, Láng ở ngoại thành
Hà Nội là một làng rau nổi tiếng “Đi đâu mà chẳng
biết ta / Ta ở Kẻ Láng vốn nhà trồng rau / Rau thơm,
rau húng, rau mùi / Thìa là, cải cúc, đủ mùi hành hoa /
Mồng tơi, mướp đắng, ớt cà / Bí đao đậu ván, vốn nhà
trồng nên" (Đ.98) là một lời ca dao mà đến nay trẻ
em và người lớn vùng này thân thuộc, tiếc rằng diệntích rau làng Láng xưa đang ngày bị thu hẹp (!?)
Cùng với cây cỏ hoa trái là sinh vật trên rừngdưới biển Trẻ em vùng này gần gũi với chim chóc
Trang 21muông thú, trẻ em vùng kia biết các sinh vật của ao,
hồ, sông, biển, dẫn dắt chúng vào đồng dao vui hát vớichúng, truyền miệng cho nhau qua không gian và thờigian để ngày nay đâu đâu trên đất nước ta, dù miềnngược hay miền xuôi, các em đều có thể có cả “bộ sưutập" sinh động về chim trời, cá biển với nhiều tên quennhưng cũng nhiều tên lạ mà chưa dễ các nhà nghiêncứu về sinh vật có thể đã gặp, đã biết! Đồng dao hiện
ra dưới mắt các em như một vườn bách thú với voi,
hổ, hươu, nai, với rùa, rắn, ba ba, phượng hoàng, bồnông, sáo, sếu, chèo bẻo, ác là Thích nhất là “làngchim" với âm thanh véo von “Hay la hay hát / Là con
bồ chao / Hay bay bổ nhào / Là con bói cá / Hay đi thong thả / Là bác cò ngàng / Hay đi rồng ràng / Là ông cụ diệc / Hay ăn thịt chết / Là thằng quạ đen / Tinh mắt hay ghen / Là con chim gáy / Vừa đi vừa nhảy / Là con sáo xinh! " Chim chóc cũng hoạt bát
như các em, cũng ca hát, lại cũng có bao tính tình tốtxấu như con người Các em vui chơi và chim chóccũng vui chơi, các em tập đánh trận thì cũng hìnhdung chim hội lại với quân ngũ chỉnh tề để xung trận
“Tùng, tùng, tùng! / Đánh ba tiếng trống / Sắp quân cho chỉnh / Phượng hoàng thống lĩnh / Bạch hạc hiệp đồng / “rồi giang cao đi tiên phong, bồ nông đi tiếp
hậu, quạ làm thông tin, vịt nước le le sắm sửa thuyềnchiến và ở hậu phương đã có cò, có cốc, có vạc, cóngỗng tuần tra để trận đánh thắng lợi “Giặc thấy đổ
nhiều / Chạy như cun cút” (A.284) Phải chăng đây là
Trang 22cách nhìn về truyền thống đánh giặc giữ nước mà các
em đã nghe kể từ Thánh Gióng phá giặc Ân, từ tròchơi tập trận của Đinh Bộ Lĩnh hay từ lòng căm thùbóp nát quả cam của Trần Quốc Toản?
Nước ta với mưa nhiều, ao hồ, sông ngòi nhiều,biển rộng bao la với bao loài thủy sản từ tôm, cua, ốc,ếch đến cá sông, cá biển Vè về cá là một bản thống kê
đủ loại với số lượng lên đến 188 tên Có những tên cá
ai ai cũng biết như con rô, con giếc, con chép, con
tràu như cá thu, cá chim, cá hố nhưng biết bao tên
lạ của loài cá sông, cá biển: cá nác, cá đao, cá sà, cáchéc, cá éc, cá chồn (A.194) chắc chắn phải là vần
vè của bao ngư dân giàu kinh nghiệm truyền lại chocác em như một “bách khoa thư" về các tên cá Chimtrời, cá biển kể sao cho hết, các em hát cho vui, còngần gũi nhất với các em vẫn là gia súc từ con gà, conlợn, con chó con mèo; đặc biệt là con bò, con trâu, connghé gắn liền với công việc mà trẻ em nông thônkhông em nào không trải nghiệm từ thuở năm, sáutuổi Con mèo con chó quấn quít các em trong nhiềuđồng dao dí dỏm, mèo “hỏi thăm chú chuột đi dâuvắng nhà", chó khóc thì dỗ nó bằng “đồng riềng", con
gà đã có “lá chanh”
Trong mục A, phần II (sách này), đồng dao “gọinghé" “gọi bê" có đến 19 lời với nhiều dị bản và nhiềucách hát, cách gọi khác nhau Các em có tình thươngbao la, sâu sắc với nghé, với bê cũng như cha mẹ quý
Trang 23trâu, quý bò bởi lẽ “con trâu là đầu cơ nghiệp" củangười nông dân, lao động có nhau “chồng cày, vợ cấycon trâu đi bừa", no đói có nhau “Bao giờ cây lúa còn
bông / Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn” Còn với
các em thì con nghé xinh đẹp, dễ thương “Nghé như ổi
chín / Như mây chín chùm / Như chum đựng nước / Như lược chải đầu / Lông trơn như dầu / Chân trước chân sau / Đủng đa đủng đỉnh / Má đầy núng nính /
Nghé đẹp nghé yêu” Các em chăm sóc nghé1, cho
“Nghé ăn rơm tươi / Nghé ăn cỏ tốt", “chớ ăn lá lốt mà
cay, chớ ăn lá chay mà đắng”; các em khuyên bảonghé như hôm nào mẹ mình khuyên mình “Mẹ gọi
tiếng trước / Cất cổ lên trông / Mẹ gọi tiếng sau / Cất lồng lên chạy / Lồng ba lồng bảy / Lồng về với mẹ "
Quý nghé, các em lo nghé bị bắt trộm, khuyên nghé
theo mẹ “Nghé đi theo mẹ / Được ăn được bú Nghé
đi theo ai / Tiêu hành nước mắm!” hoặc “Nghé chớ đi càn / Kẻ gian nó bắt / Nó cắt mất tai / Nó nhai mất đầu/ Còn đâu theo mẹ " Các em mong cho nghé
mau lớn để tập cày giúp mẹ “Việc nặng phần mẹ /
Việc nhỏ phần con / Kéo nỉ kéo non / Kéo đến quanh tròn / Mẹ con ta nghỉ Cắt cỏ ăn no / Theo cày đỡ
mẹ" Các em yêu con bê không kém con nghé nhưngcác em lo cho con bê nhiều hơn, không chỉ sợ kẻ gian
mà còn sợ ác thú “Bê đi với mẹ / Bê đừng chạy xuống
1 Do phần thứ hai gồm đồng dao được tuyển chọn nên số liệu thống kê có ghi trong phần thứ nhất chỉ để minh họa, tham khảo (không phải số liệu tính theo toàn bộ đồng dao trong kho tàng đồng dao Việt Nam)
Trang 24bể / Bê đừng chạy lên ngàn / Mà cọp mang / Mà sấu
nuốt " Còn biết bao sinh vật cùng các em sống vớiđồng dao, sống như các em, vui chơi như các em;cùng các em sống trong ngụ ngôn, trong ẩn dụ lý thú.Với các em, thiên nhiên còn có trời cao, có mặttrời nóng gắt có sấm sét đùng dùng, có mây, có gió khinhẹ nhàng, khi hung tợn Nắng nhiều, hạn hán lắm, emcùng cha mẹ "Lạy trời mưa xuống " và khi mưanhiều, trời đất âm u, em lại gọi “Nắng lên đi hỡi nắngvàng " Các em cũng thuộc lòng lời hát theo kinhnghiệm của người lớn về thời tiết "Chuồn chuồn bay
thấp thì mưa / Bay cao thì nắng bay vừa thì râm"
Với các em đẹp nhất là ông trăng với cây đa, chú Cuộiquen biết và như các em, có nhiều lần thả trâu ăn lúa
bị la mắng, thậm chí bị làng bắt vạ và ngay ông trăngcũng vậy "Ông lười đi trâu / Mẹ ông đánh đau / Ôngngồi ông khóc", rồi bỗng nhiên “Ông phóc xuống đây/ông nắm lấy dây / Dung dăng dung dẻ " cùng em trongtrò chơi đêm rằm Nhiều nhà thơ nước ta có thơ hay
về trăng, ngày xưa có Nguyễn Trãi với "Mây kháchkhứa nguyệt anh tam"1, ngày nay có Hồ Chí Minh với
“Trăng vào cửa sổ đòi thơ"2 hay, “Trăng nhìn qua cửangắm nhà thơ"3 nhưng chưa thắm thiết như các em
Ông giằng ông giăng / Xuống chơi với tôi / Có bầu có
bạn / Có ván cơm xôi / Có nồi cơm nếp / Có nẹp bánh
1Thuật hứng 17 (Quốc âm thi tập).
2 Tin thắng trận (Báo tiệp).
3 Ngắm trăng (Vọng nguyệt)
Trang 25chưng / Có lưng hũ rượu " Có lẽ trẻ em yêu thiênnhiên, chan hòa với đất trời, trăng sao tha thiết vô tư,giàu cảm xúc hơn bất cứ một nhà thơ nào hết!
B Một xã hội nông nghiệp gần gũi thân
thương với trẻ em:
Có thể nói môi trường nông nghiệp, địa bàn nôngthôn là nơi sản sinh, nơi ca hát vui chơi diễn xướngđồng dao Trẻ em nông thôn từ miền xuôi đến miềnngược cứ sáu bảy tuổi trở lên là đã tham gia lao độngvới cha mẹ: chăn trâu, mò cua, bắt cá, bế em, hái rau,chăn gà vịt; lớn hơn thì giã gạo, xay lúa Bức tranhdân gian trẻ ngồi trên mình trâu thổi cây sáo trúc dướirặng tre làng, trên bãi cỏ xanh tươi thật là thi vị, nhưngcũng rất hiện thực Trần Gia Linh có một nhận xét
“Chùm đồng dao “gọi nghé" phản ánh hiện thực vất vảcủa những người lao động nhỏ tuổi sớm biết lo toanchăn trâu cắt cỏ nhưng vẫn vui tươi lạc quan yêuđời”1 Cảnh chăn trâu và những lời đồng dao “gọinghé" gây bao ấn tượng, cảm xúc khiến người lớnhôm nay băn khoăn về công việc lao động trước tuổicủa trẻ em Còn đây là cảnh quẩy mạ của các em
“Tung ta tung tẩy / Quẩy mạ ra đồng/ Gặp phải khúc sông / Xắn quần mà lội / Gặp khi trời tối / Thì chạy về nhà / Gặp khi mưa sa / Mang tơi khỏi ướt" Chịu khó
lao động nhưng khi được con tôm, con cá, các em nghĩ
đến cha mẹ, đến em út “Được con cá nậy (lớn) / Thì
1 Đồng dao Việt Nam - NXB Giáo Dục 1997
Trang 26để phần cha / Được con rô ba / Thì để phần mẹ / Được con cá bẹ / Thì để phần em " Vừa lao dộng trực tiếp,
các em vừa vui chơi, trong chơi có quan sát “Chiều ni
em đi câu cá / Về cho má nấu canh chua / Ô kìa con cua / Có hai cái càng / Có tám cái ngoe / Nó nâng cái bụng / Nó đi xàng xê / Em bắt nó về" làm quen với
hoạt động nông nghiệp, các em cùng hát ca dao vớicha mẹ Đó là "công việc nhà nông quanh năm", là cầutrời cho thuận hòa mưa nắng, lúa tốt được mùa “Ơn
trời mưa nắng phải thì / Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu / Công lênh chẳng quản lâu lâu / Ngày nay nước bạc
ngày sau cơm vàng " Nông, lâm, ngư nghiệp là bahoạt động cơ bản của kinh tế nước ta, cho đến hômnay vẫn là sản xuất của cha mẹ các em, thông qua đó,các em tiếp nhận nhẹ nhàng nhưng sâu sắc bằng đồngdao, ca dao “Cha chài, mẹ lưới, con câu / Thằng rể đi
úp, con dâu đi mò" hay “Tay cầm con dao / Làm sao
cho sắc / Để mà dễ cắt / Để mà dễ chặt / Chặt cúi chặt
cành / Và cùng với đồng dao, ca dao, còn biết baodân ca, hò kéo lưới, hò chèo thuyền, hò kéo gỗ trênmọi miền sông biển, núi rừng nữa Đồng dao đi liềnvới trò chơi đã mô phỏng các hoạt động sản xuất nôngnghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp gián tiếp tập cho các
em thành người lao động Nếu trò chơi nói chung làsản phẩm văn hóa xã hội, được sản sinh từ tâm lý xãhội, từ hoạt động kinh tế xã hội, tư duy khoa học, hoạtđộng văn hóa thể thao du lịch, giáo dục, nghệ thuật thìtrò chơi dân gian kèrn theo đồng dao nói riêng gắn khá
Trang 27chặt với hoạt động nông nghiệp, thủ công nghiệp nhưchơi “Trồng đậu trồng cà", “Câu ếch", “Bắt nông nống",
“Kéo cưa lừa xẻ”, “Dệt vải", “Đúc cây dừa" Lời đồngdao của trò chơi “dệt vải” kể lại vừa nhịp nhàng, vuitai, vừa miêu tả đầy đủ động tác dệt vải, may áo “Díchdắc, dích dắc / Khung cửi mắc vo / Xâu go từng sợi /Chân mẹ đạp vội " (B.19) Khác với một số trò chơikhác, lời đồng dao trò chơi “Kéo cưa lừa xẻ" môphỏng động tác kéo cưa co duỗi nhịp nhàng Trò chơi
“Xỉa cá mè" tập dượt mô phỏng đi bán men rượu “Ai
mua men / Men gì? / Men vàng / Mang sang ngõ khác / Ai mua men không? / Men gì? / Men bạc "
(B.83) Cũng như các trò chơi khác như trò chơi vậnđộng, trò chơi tập nhanh nhẹn khéo léo, trò chơi hoạtđộng trí tuệ, trò chơi mô phỏng hoạt động sản xuất vẫn
có chức năng cơ bản của nó là thỏa mãn và phát triểnnhu cầu chơi và năng lực sáng tạo của trẻ em Với trẻ
em, trò chơi mô phỏng hoạt động nông nghiệp, nhưPi-a-giê (nhà Tâm lý học Thụy Sĩ) khẳng định, đó làtrò chơi tượng trưng"1, trẻ chỉ làm giả vờ mà thôi, tuynhiên nhờ tượng trưng mà trẻ em trải nghiệm tình cảm
để tập dượt những sinh hoạt trong tương lai Tronghiện thực, đồng dao, ca dao có liên quan đến đời sốngnông nghiệp đã tạo tâm lý an phận đôi khi thỏa mãntuy có ích về mặt truyền thống lao động nhưng trongtình hình hiện nay của nước ta thì cũng không nên quá
ca ngợi Mức độ ca ngợi như trong lời đồng dao sau
1
Xem thêm: J Pi-a-giê - Tâm lý học trí khôn - NXBGD 1997 tr 11/ - 123
Trang 28đây có phần ngoa ngôn “Nhà ta giàu sang / Có ngô
làm vàng / Có sắn làm bạc / Có một đàn hạc / Là đám
gà ri/ Nhà chạm long li / Đầu đội mũ đỏ / Lọng che ta
có / Là cả vòm trời / Sượng nhất trên đời / Là anh cày
cuốc!” Cho nên một mặt cần giữ gìn và phát huyđồng dao gắn với trò chơi mang tính nông nghiệp, mặtkhác cần hướng dẫn cho các em nông thôn hiểu biết
về đời sống công nghiệp trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa hiện nay của nước ta Tốt nhất làkích thích hướng dẫn các em sáng tạo đồng dao tròchơi dân gian mới, đồng thời người lớn thâm nhập đờisống các em nông thôn cũng như đô thị để sáng táccho các em Có thể nêu ra đây một vài ví dụ mà tađược đọc trong sáng tác của các nhà thơ cho trẻ em
“Hay chăng dây điện / Là con nhện con / Không thèm
cỏ non / Là con trâu sắt / Rồng phun nước bạc / Là
chiếc máy bơm / / Người em yêu thương / Là chú
bộ đội / …”(Trần Đăng Khoa)1 hay “Riêng có một ông/ Tên là cần trục / Lêu nghêu cao vút / Giống tướng cò
nhang / Ông đứng ông ngắm / Đưa tay ông nắm / Cả
khối bê tông / Nhắc lên nhẹ bong / Đặt lên tầng gác /
Thật là kinh ngạc / Thật là diệu kỳ / Khỏe vậy đâu bì / Thạch Sanh ông Gióng / Mọi việc nhanh chóng / Như
vạc gắp tôm / Như cò lom khom/ Trên mương gắp cá"(Võ Quảng)2 Vấn đề đặt ra không phải không nên
sáng tác đồng dao, đặt thêm nhiều trò chơi kèm theo
1 Kể cho bé nghe - Thơ của Trần Đăng Khoa làm lúc 11 tuổi
2
Cái Cần trục - Thơ của Võ Quảng
Trang 29lời đồng dao cho thiếu nhi hôm nay mà điều cần lưu ý
là phải hợp tâm sinh lý trẻ em, lời đồng dao phải trongsáng, mộc mạc, hồn nhiên Người lớn viết đồng dao,như các nhà nghiên cứu thường quan tâm, phải theothi pháp của đồng dao Có dịp, chúng ta sẽ trở lại vấn
dề này ở mục thi pháp
C Đồng dao - Môi trường văn hóa văn nghệ
"chơi mà học, học mà chơi" của trẻ em:
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhândân ta đã quen dần với phương châm “chơi mà học,học mà chơi" trong lý luận giáo dục trẻ em Nhưngthực tiễn trẻ em hát, trẻ em chơi đã tồn tại lâu đờitrong truyền thống văn hóa của dân tộc ta cùng hệthống đồng dao với nhiều hình thức, nhiều thể loại nh-
ư đã nói trên, đã được trẻ em sáng tạo, truyền miệng
kế thừa và phát triển phong phú từ thế hệ này sang thế
hệ khác với sự hướng dẫn của người lớn theo tinh thầnchơi mà học, học trong chơi nhằm phát triển tình cảm,
tư duy từ thấp đến cao một cách tự nhiên phù hợp tâmsinh lý trẻ em Chơi đối với trẻ mang nặng tính chất tựnhiên Trẻ em không chơi thì không thể phát triểnđược Các nhà tâm lí học cho rằng chơi là cuộc sốngthực của trẻ Trẻ có thể chơi với mọi đồ vật trong nhà
và cũng có thể chơi với nhiều trò chơi phong phú theolứa tuổi của các em Khi chơi, trẻ em hoạt động sôi nổihết mình và thường các em rất chủ động Khi chơi, trẻ
em cũng suy nghĩ, tưởng tượng, ước mơ, có thể làm
Trang 30được mọi mong muốn theo tưởng tượng, ước mơ củamình Trẻ cần chơi cũng như trẻ cần ăn để nuôi dưỡngtâm hồn và hình thành, phát triển nhân cách Còn cácnhà nghiên cứu văn hóa dân gian thì khẳng định tròchơi dân gian nói chung cũng như trò chơi dân giancho trẻ em nói riêng là một trong những hình thức sinhhoạt văn hóa, phản ánh khá phong phú và sinh độngmối quan hệ giữa người với thiên nhiên, với xã hội.Đối với trẻ em, trò chơi dân gian kích thích trẻ vừachơi vừa rèn luyện toàn diện từ cơ thể đến trí thôngminh, sáng tạo, phát triển trí tuệ Nhìn dưới góc độ củađồng dao, của hoạt động chơi và trò chơi, trẻ em ta cóthể phân biệt lời đồng dao hát chơi và đồng dao háttrong các trò chơi Đồng dao hát chơi có nội dung rất
đa dạng, phong phú, có đến hàng nghìn lời Khi chơi,các em vui đâu hát đó, nhớ đâu hát đó: có thể là nhữngđồng dao về thiên nhiên, về loài vật, cây cỏ, hoa trái,
có thể là bầu trời với ông trăng, ông sao; có thể là sinhhoạt xã hội, sản xuất, chăn trâu bắt cá, cũng có thể làbài vè nói ngược, nói láo; những đồng dao “vòng tròn"hát mãi không chán hoặc các câu hát đố vui và tìm ởđây những mối liên hệ, liên tưởng máy móc nghĩ mãikhông ra nhưng khi được giải đáp thì cảm giác đầutiên là rất vui Cũng trong liên hệ với đồng dao, tròchơi dân gian của trẻ em có loại trò chơi không hát vàloại trò chơi có kèm lời hát đồng dao Những trò chơicủa trẻ em như: “Nhảy dây", “Nhảy vào nhảy ra",
“Chim bay", “Chọi cỏ gà”, “Chìm nổi", “Bịt mắt bắt
Trang 31dê", “Nhảy ô đầm", “Lò cò ô thỏ”, "Ném thia thia",
“Cướp cờ ", “Nhảy cừu”, “Chạy chong chóng” là
những trò chơi dân gian trẻ em không có hát đồng daokèm theo1 Trò chơi không hát hoặc có hát đồng daođại bộ phận do các em sáng tạo, giao lưu, lan truyềncho nhau từ vùng này sang vùng khác; trẻ em nơi nàothấy hay thì tiếp thu phát triển, cải tiến cách chơi chothích hợp Do đó trò chơi dân gian trẻ em cũng có tínhtập thể rất rõ Tô Ngọc Thanh cho rằng đó là quá trình
“cá thể hóa" văn hóa cộng đồng Tác giả cho biết cũngtrò "Bịt mắt bắt dê " của dân tộc Kinh thì đó là trò
“Lợn ăn mía vườn tôi” của dân tộc Thái (Yên Bái), trò
“Cáo đuổi gà" của dân tộc H'mông, trò “Rắn đuổi nháibén" của dân tộc Lô Lô2… Trò chơi “Nhắc lò cò" ởmiền Bắc nước ta, trẻ em chơi có hát đồng dao; cũngtrò chơi đó, ở miền Trung gọi là trò chơi “Đánh nhựt"
và không hát Có thể đồng ý rằng đồng dao và tròchơi đồng dao có lời đồng dao hay không có lời đồngdao kèm theo là sáng tạo của trẻ em nhưng cũngkhông nên tuyệt đối hóa như có người cho rằng ngườilớn không can thiệp vào việc đặt lời đồng dao hoặc cảitiến cách chơi của các trò chơi của trẻ em Như đã nóitrên, người lớn, trong những trường hợp nhất định có
1 Có thể Xem cách chơi trong các sách: Đồng dao và trò chơi trẻ em người
Việt - Trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam - trò chơi dân gian - (xem mục
Tài liệu tham khảo cuối sách)
2 “Quyền được vui chơi và giải trí của trẻ em" (Quyền trẻ em Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và vui chơi giải trí - Vụ Văn hóa quần chúng và thư viện - 1992).
Trang 32thể tham gia sáng tạo hoặc ít nhất tham gia điều chỉnhlời hát hoặc cách chơi trong trò chơi trẻ em Tuynhiên, người lớn sẽ thất bại nếu không chú ý đến tâm
lý trẻ em khi đặt lời đồng dao hoặc điều chỉnh cáchchơi trong các trò chơi của trẻ Cũng có trường hợp trẻ
cứ chơi, cứ hát, không cần biết lời đồng dao nói gì như
“Chi chi chành chành" (xem phụ lục "Về nội dung sấm
vĩ của đồng dao" ở cuối phần thứ nhất) Những trò chơidân gian trẻ em có lợi đồng dao kèm theo chiếm một tỷ
lệ khá lớn Theo Phan Đăng Nhật thì trong số 82 tròchơi mà tác giả đã sưu tầm có đến 51 trò có lời đồngdao (chiếm 62,2% tổng số)1 Sau khi nghiên cứu tínhchất của lời đồng dao trong các trò chơi, đó là “Lời nói
có vần", “Tính nhạc rất ít" giúp trẻ “Rèn luyện bồidưỡng tiếng nói", “ngữ nghĩa không phải là yếu tốđược các em quan tâm duy nhất mà các em chú ý nhiềuđến ngữ âm, nhịp và vần", “thao tác trò chơi phải đềuđặn và đồng loạt”…, tác giả kết luận “Lời đồng dao cónhững đóng góp quan trọng để thực hiện chức nănggiáo dục và chức năng vui chơi với những nhiệm vụ rất
đa dạng: luyện phát âm, cung cấp từ ngữ, giáo dụcnhận thức, bồi dưỡng tình cảm, giữ nhịp cho thao tácchơi, thay cho hiệu lệnh kết thúc và hiệu lệnh xuấtphát, chọn người đóng vai chính ”2 Trong đồng daocác dân tộc thiểu số, trò chơi có lời đồng dao cũng có
tỉ lệ khá cao như đồng dao của dân tộc Thái (Tây Bắc)
Lời đồng dao trong trò chơi cổ truyền của trẻ em - Tạp chí Giáo dục
mầm non - số 3-1992
Trang 33dân tộc Tày, dân tộc Nùng1 Bên cạnh những lời đồngdao khớp nội dung với trò chơi có những lời đồng daokhông quan hệ hoặc quan hệ rất ít đến trò chơi Ngoàilời “Chi chi chành chành" khá đặc biệt còn có thể nóiđến lời đồng dao trong các trò chơi “Này cò này cấu"vận từ một lời đồng dao về cuộc khởi nghĩa của BàTriệu2 hay “Vuốt hạt nổ" được sử dụng nhịp điệu háthơn là nội dung lời đồng dao trong khi chơi, hoặc “Nu
na nu nống" với các dị bản về lời đồng dao, có lời nói
về thi chân sạch “Nu na nu nống / Đánh trống phất
cờ / Mở hội thi đua / Chân ai sạch sẽ / Gót đỏ hồng hào / Không bẩn tí nào / Thì vào đánh trống” còn các
lời khác chỉ có câu cuối “Tè he chân rụt" là có liênquan đến cách chơi của trò chơi này Cho nên có một
số trò chơi có kèm đồng dao chỉ mượn trò chơi để vừachơi trò chơi này nhưng lại vừa học nội dung khác.Chúng ta đều biết, trong hiện thực, bản chất sự vật liên
hệ với nhau Điều này biểu hiện khá rõ trong nội dung
hệ thống đồng dao Việt Nam Trò chơi “Chuyền thẻ"
là một cách học đếm, học cộng, trừ, nhân, chia; họctính nhẩm rất độc đáo, linh hoạt, nhẹ nhàng nhưngtính khoa học rất cao Nói về học toán, dẫu ngày nay,
có bao nhiêu máy vi tính cầm tay và các em sử dụngkhá thành thạo, có nhiều bộ nhớ, nhưng làm sao có thể
1 Ở phần 2, phụ lục B, sơ bộ thống kê trò chơi có lời đồng dao: Dân tộc Thái (Tây Bắc) 12/19 (63%), Tày 25/29 (86%), Nùng 15/19 (78)%
2 Theo Hoằng Tuấn Phổ - Cuộc khỏi nghĩa Bà Triệu - Ty Văn hóa Thanh
Hóa 1972
Trang 34rèn luyện được tính nhẩm cho các em một cách lý thúnhư chơi chuyền thẻ! Trò chơi "Chuyền thẻ” còn làmột trò vừa chơi vừa học về từ ngữ Đó là động vật:con trai, con hến, con nhện, con cò, cái tép, con vịt,con quạ, con tôm; đó là thực vật: quả mơ, quả mận,quả mít, bèo, lim, lá đa, lá đề, lá tre, quả na, quả trám,quả ổi, chuối xanh, củ khoai, củ ấu, hành, tỏi; đó là đồvật: cái cột, cái bị, cái thoi, cái cầu, đò ngang, dao,thớt, đó là đồ ăn: xôi, thịt; đó là người: ông sư, bà vãi.Đây là các động tác: chăng tơ, ngả xuống đất, cất lênluống, bắc cầu, sang sông, đi đò, mây leo, gãy cây, bèochìm, lim nổi, vào làng xin xôi, ra làng xin xôi, đi bênsông, trồng cây cải, bơi đò ngang Chơi nhiều lần, lặp
đi lặp lại, mình hát, bạn hát và các em thuộc lòng làmgiàu thêm kho từ vựng có quan hệ gần gũi với các em
về môi trường thiên nhiên, xã hội nông nghiệp Kho từvựng đó, trong chơi “Chuyền thẻ " được đặt trongquan hệ với đếm số, với thêm bớt, nhân, chia Cột lại
là mười con số trong tương quan ngẫu nhiên mà lôgictoán học liên kết bởi các động tác cơ bản qua mườibốn chặng theo các bước: rải thẻ, chuyền thẻ, chốngthẻ, quét thẻ, đập thẻ, chải thẻ, vuốt thẻ, xuể (xoáy)thẻ, giã thẻ, tỉa thẻ, (tỉa một, đặt một; tỉa một, đặt đôi),lên xuống, chuyền Lời đồng dao vần vè liên kết các
từ ngữ, các động tác, ngẫu nhiên, phi lý trong luật chơi
hợp lý chặt chẽ: đôi tôi, đôi chị, đôi cái bị tư ông
sư, tư bà vãi Hết rải đến chuyền, hết chuyền đến đập,hết đập đến vuốt Điều đó dễ hiểu nhưng sao lại
Trang 35“Chuyền khoai, chuyền cà, chuyền từ, chuyền tằm,chống cột, chống khoai, chống cà, chống từ, chốngtằm, quét cột, quét khoai, quét cà, quét từ, quét tằm? ".
Ta chỉ có thể hiểu các em hát theo vần để thực hiệnđúng luật, đủ các chặng của trò chơi Trò chơi “Chuyềnthẻ" còn rèn luyện trí nhớ, rèn luyện bàn tay khéo léo,tính trung thực trong khi chơi nữa Đúng là một tròchơi lý thú bổ ích, đầy thông minh, sáng tạo, hợp lứatuổi các em thiếu niên, đặc biệt là các em gái Cùng vớitrò chơi “Chuyền thẻ" còn có các trò chơi rèn luyện trítuệ của trẻ như "Đếm sao", trò chơi nhanh tay, khéo taynhư “Đánh chắt", “Trải gianh", “Cắp cua" Chiếmnhiều nhất trong trò chơi trẻ em có kèm lời hát là cáctrò chơi vận động cơ thể Tùy theo lứa tuổi, có thể cótrò vận động nhẹ như “Giã chày một", “Dung dăngdung dẻ", "Ô nô ốc nốc", "Nu na nu nống" nhưngcũng có trò chơi vận động mạnh hơn như "Mèo đuổichuột", “Rồng rắn lên mây"
Trong hệ thống đồng dao còn có chơi đố vui Câu
đố có lời vần vè ám chỉ vật đố, người giải đố phảiđoán để trả lời Vật đố bao giờ cũng được ám chỉ nửakín, nửa hở, vật bị giấu tên nhưng phải để lộ ra mộtchi tiết nào đó có liên quan đến vật đố Câu đố cũng làmột loại đồng dao giúp trẻ chơi mà học, học mà chơimang tính rèn luyện suy nghĩ của trẻ em Để giải mộtcâu đố vui (khác với câu đố của người lớn ở tính chấtvui của câu đố), trẻ phải vận dụng trí thông minh đặc
Trang 36biệt óc liên tưởng, liên hệ, so sánh, vận dụng cả tư duyhình tượng lẫn tư duy suy lý để đoán Ví dụ đố về "Cáibánh chưng" có nhiều ẩn dụ “Một thửa đất vuông /
Bốn phía xây thành / Xung quanh trồng chuối / Giữa tỉa đậu xanh / Ngoài thành trồng giang" Từ thế kỷ thứ
IV trước CN, A-rix-tốt có nhận xét "Câu đố là một ẩn
dụ được cấu tạo tốt”1 Với trẻ em, theo lứa tuổi, câu đốvui thường dùng ẩn dụ ức đoán, ví dụ câu đố quả ớt
“Anh lớn anh mặc áo đỏ, / Em nhỏ em mặc áo xanh /Bao giờ em lớn bằng anh, em mặc áo đỏ", hay câu đố
mặt trăng “Bằng cái đĩa / Sỉa xuống ao / Đào thì thấy /
Lấy chẳng được" Câu đố trên về "Cái bánh chưng"phức tạp hơn nhiều Câu đố về “Rang ngô" cũng ẩn dụphức tạp “Ba ông lỏng khỏng / Cõng bà đế vương /
Súng bắn tứ phương / Cờ bay rào rạt" Đố vui của trẻ
em thường ám chỉ đồ vật, cây cối, súc vật, dụng cụsinh hoạt, đồ dùng lao động nông nghiệp, quà bánh, đồchơi, hiện tượng thiên nhiên, bộ phận thân thể ngườita Cũng có lúc gây bất ngờ cho trẻ, câu đố về ngônngữ nghe rất phức tạp mà giải rất đơn giản, từ đó cái
vui đột ngột đến "Khi đi cưa ngọn / Khi về cũng cưa
ngọn” (Con ngựa), hoặc “Một con bò thui / Chín tai /
Chín mắt / Chín đuôi / Chín đầu” (Con bò thui) “Câu
đố vui cho trẻ em là một phương tiện giáo dục Tuy
1Dẫn theo Đỗ Bình Trị - Những đặc điểm thi pháp các thể loại văn học dân
gian - NXBGD 1999.
Trang 37nhiên nó chỉ rèn luyện thao tác tư duy phù hợp vớitâm lý trẻ em, không truyền dạy tri thức trực tiếp màchỉ đem đến cho trẻ một cách nhìn mới lạ đối vớinhững sự vật, hiện tượng quen thuộc"1
Có thể kết luận hoạt động chơi, đồng dao trẻ em
hát-trẻ em chơi là nội dung quan trọng nhất của hệ
thống đồng dao, là môi trường văn hóa, văn nghệ trẻ
em vừa hát, vừa chơi, vừa chơi vừa học trong tuổithiếu nhi
D Nơi khởi nguồn của tình mẫu tử, lòng
thương người, môi trường hình thành, bồi dưỡng nhân cách đạo đức cho trẻ em:
Trong hệ thống đồng dao, ngoài những đồng daotrực tiếp do trẻ sáng tạo còn có những lời hát ru emvới nội dung rất phong phú : hoặc cảnh vật phù hợpvới sự hiểu biết của trẻ em, những ý nghĩ thơ ngây về
tự nhiên, xã hội, hoặc những tình cảm thắm thiết, thầmkín hay những ước mơ của mẹ, của chị hoặc những lời
ca dao quen thuộc phê phán những thói hư, tật xấu củangười đời hay đả kích tầng lớp thống trị phong kiến.Như trên đã nói trong kho tàng ca dao, có rất nhiều lời
có thể có chung chủ đề và đề tài (ngoài tình yêu traigái, quan hệ hôn nhân, quan hệ giữa những người lớn
trong gia đình hoặc xã hội) gọi chung là ca dao cho
trẻ em Cùng với nội dung hát ru, những lời ca dao
1
Đỗ Bình Trị - Sđd.
Trang 38này có tác dụng rất tốt trong việc hình thành và bồidưỡng nhân cách đạo đức cho thiếu nhi Trong lịch sửhiện đại của dân tộc ta, những lời ca dao sau Cáchmạng tháng Tám 1945, đặc biệt những ca dao khángchiến chống Pháp và chống Mỹ, những ca dao về lòngyêu thương kính mến Bác Hồ, về tình quân dân, vềchú bộ đội, về lòng biết ơn anh hùng liệt sĩ, về chúthương binh, bà mẹ chiến sĩ, bà mẹ Việt Nam anhhùng rất bổ ích đối với các em.
Nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian đều chorằng ranh giới giữa hát ru và ca dao về mặt nội dung
thật khó phân biệt, đó cũng là căn cứ để có thể xếp ca
dao cho trẻ em vào hệ thống đồng dao Có thể nói
thêm rằng hát vui chơi của trẻ em gần với hát ru và
hát ru lại rất gần với ca dao cho trẻ em Mối liên hệ
này còn do vần điệu của câu thơ lục bát đem đến cho
người nghe Trước khi tìm hiểu nội dung hát ru và ca
dao cho trẻ em, điều cần nói là vai trò của âm nhạc
trong đồng dao Nội dung của đồng dao trẻ em hát, hát
ru, ca dao cho trẻ em có thể không quan trọng bằngnhịp điệu ngân nga, êm dịu Trẻ không quan tâm đếnlời, và lời tưởng như “đầu Ngô mình Sở" được tưởngtượng và hòa trong âm nhạc Nhạc sĩ Phạm Tuyên cómột nhận xét: “Trong công việc nghiên cứu sáng táccủa mình, tôi nghiệm thấy sự hồn nhiên của nhữngnghệ sĩ lớn trên thế giới với sức tưởng tượng hết sứcphong phú lại rất gần với sự hồn nhiên và sự tưởng
Trang 39tượng của trẻ thơ"1 Cùng với nhạc điệu của hát ru là
đôi cánh tay, bàn tay nhẹ nhàng của mẹ, của chị hoặcnhịp đưa đi đưa lại của chiếc nôi, của cánh võng -những phương tiện đơn giản nhưng kỳ diệu - đem trẻvào giấc ngủ ngon lành Tiếng ru thường bắt đầu bằng
“Ru hời, ru hỡi, ru hời" hoặc "Ru hời, ru hỡi, là ru",
“Ru ra ru riếng” hoặc "Bồng bồng mà bỏ vô nôi",
“Bống bống, bồng bông"2 kèm theo những tiếng đệm
“à ơi " êm dịu, nâng niu, giàu cảm xúc, trìu mến, dỗdành con thơ chuyển tiếp cho nhiều nội dung phong
phú của lời ru Hát ru - như nhiều nhà văn hóa dân
gian khẳng định đó là "văn hóa mẹ " truyền tình mẫu
tử cho con rồi bằng lời ca truyền vào tiềm thức của trẻvăn hóa truyền thống của dân tộc về tình thương, vềnhân ái, về đạo đức trong sáng cứ như thế thấm dầnvào tâm hồn trẻ thơ mà nếu thiếu nó, tâm hồn trẻ phảichịu nhiều thiệt thòi không gì bù đắp nổi khi khôn lớn
Có thể nói hát ru có sức mạnh của âm nhạc và thi ca
đối với tâm hồn trẻ thơ Là người Việt Nam, ai màkhông thuộc lời ru “Công cha như núi Thái Sơn /
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra " hoặc câu
hát mà ai cũng tưởng rằng mẹ hát, chị hát cho riêngmình "Cái ngủ mày ngủ cho lâu / Mẹ mày đi cấy
ruộng sâu chưa về / Bắt được con giếc con trê / Cầm
1 “Hãy để cho các em là chính các em” (Quyền trẻ em Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật vui chơi giải trí - Sđd).
2 Trong hát ru của các dân tộc thiểu số cũng như vậy "Lêu lêu làng Lộc",
“Dạ ơi, hỡi dạ ờ, dạ ơi hỡi dạ rua" (Mường); “Âu âu” (Pu Péo); “À ơi, à
ơi ơi” (Lô Lô); “Hỡi ru à ru” (Thái)…
Trang 40cổ lôi về cho cái ngủ ăn / " Lời hát ru kể chuyện
bâng quơ nhưng vui tai “Chiều chiều con quạ lợp nhà /
Con cu chẻ lạt con gà đưa tranh / Chèo bẻo nấu cơm nấu canh / Chìa vôi đi chợ mua hành về nêm" hay
"Chim xanh ăn trái xoài xanh / ăn no tắm mát đậu
cành nghỉ ngơi" Có lời hát ru rất dễ hiểu và gần với trẻ “Bà còng đi chợ trời mưa / Cái tôm cái tép đi đưa
bà còng / " truyền cảm cho các em và đi theo các em
từ thuở ấu thơ cho đến khi khôn lớn
Hát ru là tình thương là mong ước của mẹ, của
chị, của bà về các em và hát ru cũng là “hồi ức” vềthời thơ ấu hoặc những hoàn cảnh nhiều buồn hơn vui;
là “hồi âm", là khúc tâm tình của mẹ, của bà từ thuở
nào Khác với đồng dao trẻ em hát - trẻ em chơi, trẻ
đố vui, với màu sắc miêu tả, kể việc; hát ru, ca dao
cho trẻ em giàu màu sắc trữ tình mà nhân vật trữ tình
lại là mẹ, là chị, là bà Tuy nhiên, đây là những khúc
ca trữ tình của những nhân vật trữ tình nói chung.Hoàn cảnh của mẹ, của chị, của bà toát lên từ các lờihát ru, những lời ca dao ấy có thể là thân phận chungcủa người phụ nữ trong gia đình, trong xã hội xưa củanước ta Với hình tượng “con cò”, “cái bống", có thểthấy những nét miêu tả "điển hình" của tâm tư tìnhcảm về một “hồi ức”, một “hồi âm" gửi gắm vào hát
ru, vào ca dao “Cái cò đi đón cơn mưa / Tối tăm mù
mịt ai đưa cò về " hoặc "Cái cò lặn lội bờ sông /Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non " hoặc “Cái
cò là cái cò con / Mẹ đi xúc tép để con ở nhà " hoặc