Năm 1009, sau khi vua Lê Long Đĩnh Ngọa Triều qua đời, với sự ủng hộ của các thiền sư đứng đầu là Thiền sư Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn được các quan trong triều đương thời đứng đầu là quan Chi
Trang 1LÝ CÔNG UẨN VÀ CHIẾU DỜI ĐÔ
Lý Công Uẩn, sinh ngày 12 – 2 – 974 (năm Giáp Tuất), mất ngày
3 – 3 – 1028 (năm Mậu Thìn) Ông người làng Diên Uẩn, châu Cổ Pháp,
nay là làng Dương Lôi, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Thuở nhỏ, từ 3 tuổi làm con nuôi của Thiền sư Lý Khánh Vân (chùa Cổ Pháp), sau làm tiểu ở chùa Lục Tổ (còn gọi chùa Tiêu Sơn, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn) do Thiền sư Lý Vạn Hạnh trụ trì Nhờ hai
vị thiền sư nổi tiếng họ Lý trực tiếp nuôi dạy, Công Uẩn đã trở thành một thanh niên tuấn tú, văn võ song toàn, được sung vào đội quân cấm vệ triều Tiền Lê (980 – 1009) Về sau ông trở thành một trong những nhân vật trụ cột của nhà Tiền Lê, làm quan đến chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ Năm 1009, sau khi vua Lê Long Đĩnh (Ngọa Triều) qua đời, với
sự ủng hộ của các thiền sư (đứng đầu là Thiền sư Vạn Hạnh), Lý Công Uẩn được các quan trong triều đương thời (đứng đầu là quan Chi hậu Đào Cam Mộc) suy tôn làm vua vào ngày Quý Sửu, tháng Mười, lập ra nhà
Lý, lấy năm sau (1010) làm niên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất Trong
20 năm ở ngôi (1009 – 1028), ngoài những cống hiến quan trọng, có ý nghĩa cải cách đối với đất nước trên nhiều phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa…, Lý Công Uẩn đã có một đóng góp mang tầm vóc lịch sử vô cùng lớn, đó là việc ông quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La (Thăng
Long) Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô) ra đời trong hoàn cảnh ấy, trở thành
tác phẩm tiêu biểu nhất cả về nội dung và hình thức cho thể loại văn chiếu và có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học cổ dân tộc
Nước Việt Nam vào đầu thế kỷ XI đã diễn ra một sự kiện lịch sử đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự phục hưng dân tộc, đó là cuộc dời đô từ Hoa Lư về Đại La (tức Thăng Long sau này) Sự kiện đó gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), vị vua sáng nghiệp triều Lý (1009 – 1225), một trong những triều đại hùng mạnh nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Lý Công Uẩn lên ngôi, vương triều Lý thành lập, công lao đó trước hết thuộc về Thiền sư Lý Vạn Hạnh – bậc cao tăng giữ vai trò cố vấn
chính trị tối cao đối với nhà tiền Lê, một người “đa mưu túc trí” và đặc
biệt nhạy cảm với thời cuộc Ngay từ khi Công Uẩn còn nhỏ, ông đã phát
hiện ra ở cậu bé những phẩm chất đặc biệt và nhận xét: “Đứa bé này
Trang 2không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”
Có lẽ cũng từ sự phát hiện đó, Lý Vạn Hạnh đã cùng với Thiền sư
Lý Khánh Văn (em trai ông, cũng là bậc cao tăng có uy tín đương thời) dày công dạy dỗ, chuẩn bị cho Lý Công Uẩn những phẩm chất và năng lực cần thiết, rồi đưa vào triều làm một chức võ quan khi Công Uẩn mới
20 tuổi
Vốn là người có sức khỏe, thông minh, trung hậu và chí lớn, Lý Công Uẩn ngày càng được vua Lê tin dùng và có uy tín trong triều Sự kiện có ảnh hưởng quan trọng đối với sự thăng tiến của Lý Công Uẩn đó
là năm 1005, vua Lê Đại Hành qua đời, các hoàng tử lao vào cuộc tranh ngôi, đánh nhau suốt 8 tháng trời Thái từ Long Việt vừa lên làm vua được 3 ngày thì bị em là Long Đĩnh sai người vào cung giết đi để đoạt ngôi Khi Long Việt bị giết, những kẻ bề tôi thân cận đều hoảng sợ bỏ chạy, duy chỉ có một người ở lại, ôm lấy xác vua mà khóc Người đó là
Lý Công Uuẩn Cảnh tưởng ấy đã lọt mắt Lê Long Đĩnh, người chủ mưu cuộc sát hại, nhưng Long Đĩnh không giết Công Uẩn, mà còn khen là
người “trung”, tin dùng và phong cho ông chức Tứ sương quân Phó chỉ
huy sứ, sau thăng đến Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ
Bản lĩnh và phẩm chất trung hậu rõ ràng cũng đã giúp cho Lý Công Uẩn gặp thuận lợi trên hoạn lộ Và, trong khi hầu hết bá quan văn võ trong triều lẫn chúng dân đều đã chán ghét nhà Tiền Lê ; trong khi ông
vua “Ngọa Triều” Lê Long Đĩnh ngày càng sa đọa và lâm bệnh nặng, thì trong dân gian, những bài “sấm” kỳ lạ, những bài kệ có tính chất sấm
truyền xuất hiện Những bài sấm, bài kệ đó đều được Thiền sư Lý Vạn Hạnh đọc lại và cắt nghĩa cho Lý Công Uẩn nghe (mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đều là do Vạn Hạnh làm) Để khích lệ Lý Công Uẩn sẵn
sàng tinh thần nắm giữ ngôi báu, Thiền sư Vạn Hạnh nói : “Thân vệ là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại nắm binh quyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân vệ thì còn ai đương nổi nữa” Rồi
những cuộc vận động ngầm trong triều của quan Chi hậu Đào Cam Mộc – một người quyết đoán và chịu ảnh hưởng của Vạn Hạnh…Tất cả đều nhằm chuẩn bị dư luận và hậu thuẫn tích cực cho Lý Công Uẩn mọi điều kiện để có thể kế vị ngai vàng
Ngày Tân hợi tháng Mười năm Kỷ dậu (1009), Lê Long Đĩnh mất,
Lý Công Uẩn với vai trò Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ cùng với Nguyễn Đê, Hữu thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, mỗi người cầm đầu 500
Trang 3quân Tùy long vào cung canh giữ Giữa lúc tình hình trong triều diễn biến khẩn trương và đặc biệt nghiêm trọng, Đào Cam Mộc nói với Lý Công
Uẩn: “Người trong nước ai cũng nói họ Lý khởi nghiệp lớn, lời sấm hiện
ra rồi, đó là cái họa không thể che dấu được nữa Chuyển họa làm phúc, chỉ trong sớm chiều Đây là lúc trời trao người theo, Thân vệ còn nghi ngại gì nữa?” Công Uẩn nói: “Tôi đã hiểu rõ ý ông, không khác gì ý của Vạn Hạnh” Đó cũng là lý do để ngai vàng khó có thể lọt khỏi tay nhân
vật vốn đã được giới sư sãi và các quan lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo ủng hộ
Vì vậy, ngay sau khi Long Đĩnh mất, quan Chi hậu Đào Cam Mộc
đã cùng với những người chủ sự họp bàn, chuẩn bị cho Lý Công Uẩn đăng quang Ngày Quý sửu, tháng Mười năm Kỷ dậu (1009), Lý Công Uẩn chính thức lên làm vua, lập ra nhà Lý Cuộc chuyển giao quyền lực
từ họ Lê sang họ Lý nhìn chung đã diễn ra một cách êm thấm, hòa bình Một triều đại mới, mạnh mẽ và tiến bộ hơn đã thay thế cho triều Tiền Lê vốn đã suy bại từ nhiều năm trước Đất nước bước vào thời kỳ phục hưng
và phát triển
Nguồn gốc “Nhà chùa” và tư tưởng bác ái của Phật giáo chắc chắn
đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách và chính sách cai trị của Lý Thái Tổ Nhận xét về ông thời kỳ ở ngôi, các sử thần nhà Lê sau này viết:
“Vua ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người khoan thứ nhân từ, tinh tế hòa nhã, có lượng đế vương”
Công việc đầu tiên của Lý Thái Tổ ngay sau khi lên ngôi là đại xá cho thiên hạ, mở cửa nhà ngục, xóa bỏ những luật lệ hà khắc, xuống chiếu từ nay ai có việc tranh kiện cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết Tiếp đó, truy phong cho cha, mẹ, sắp đặt lại bộ máy nhà nước, phong chức tước cho những người có công với việc lập ngôi, cho những người ruột thịt trong hoàng tộc và ban y phục cho các tăng đạo
Trong quá trình xây dựng vương triều Lý ở buổi đầu, các Thiền sư Vạn Hạnh và Khánh Văn vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng Lý Khánh Văn được phong làm Quốc sư Còn về Thiền sư Lý Vạn Hạnh, cho đến
nay tại chùa Thiên Tâm (tức chùa Tiêu Sơn, Lục Tổ) vẫn còn bia đá Lý gia linh thạch, tượng đồng (Thiền sư Vạn Hạnh) và bài vị ghi rõ: “Lý triều nhập nội tể tướng Lý Vạn Hạnh, thiền sư thần vị”
Một trong những công việc quan trọng trong buổi đầu thiết lập vương triều, cũng như trong toàn bộ sự nghiệp của Lý Thái Tổ đó là việc
dời đô Nhận thấy thành Hoa Lư chật hẹp, “không đủ làm chỗ ở của bậc
Trang 4đế vương”, ngay từ khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã quyết định tìm đất để
lập đô mới
Chùa Một Cột tại Hà Nội
Trong lịch sử nước ta, kể từ nhà nước đầu tiên – Nhà nước Văn Lang cho đến nhà nước phong kiến Lý, đã diễn ra nhiều cuộc định đô và dời đô, phản ánh những yêu cầu khác nhau của từng thời kỳ lịch sử
Thời kỳ Văn Lang, các vua Hùng định đô ở đất Văn Lang (hay Phong Châu, nay là vùng Bạch Hạc, Việt Trì, Phú Thọ) đánh dấu việc hoàn thành chặng đường đầu tiên của công cuộc “xuống núi” của cha ông
ta và cắm mốc cho sự hình thành quốc gia dân tộc Trong bối cảnh lịch sử đất nước cách đây trên dưới 2500 năm, đó là một sự lựa chọn đích đáng, bởi kinh đô Văn Lang nằm ở đỉnh của tam giác châu thổ Bắc bộ, nơi hợp lưu của ba con sông (sông Lô, sông Hồng, sông Đà), kinh tế, cư dân phát triển, giao lưu với các vùng, miền trong nước thuận lợi Văn Lang không chỉ xứng đáng là đầu não chính trị của cả nước, mà còn đóng vai trò một trung tâm kinh tế, một trạm dịch – trung chuyển các sản vật từ miền thượng du xuống vùng hạ bạn và ngược lại, quyết định không nhỏ đến sự phát triển của đất nước ở buổi ban đầu
Thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán An Dương Vương dời đô xuống miền Cổ Loa (Đông Anh – Hà nội) Đây là cuộc dời đô lần thứ nhất, từ miền trung du xuống vùng trung châu đồng bằng, phản ánh xu thế phát triển đi lên của dân tộc Cổ Loa xứng đáng là kinh đô đất nước ở thời kỳ mới, khi mà cha ông ta đã đủ điều kiện để chiếm lĩnh vùng châu thổ phì nhiêu và tiến ra biển, hoàn thiện một mô hình quốc gia dân tộc dựa trên nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước
Thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN – 938), nước mất, kinh đô không còn, nhưng các đô thị trung tâm của đất nước vẫn hình thành Ở nửa đầu thiên
Trang 5niên kỷ I, các đô thị trung tâm đó chính là Luy Lâu, Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh) Đến nửa sau của thiên niên kỳ này, vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước dưới ách cai trị của các nhà Tùy, Đường lại thuộc về Tống Bình – Đại La Tuy vậy, nền cai trị của chính quyền Hán tộc chưa bao giờ bình yên và có đến 2 lần bị chia cắt bởi các cuộc khởi nghĩa giành độc lập của nhân dân ta, dẫn đến sự ra đời của kinh
đô Mê Linh (nay thuộc Vĩnh Phúc) của Hai Bà Trưng vào những năm 40 – 43 và kinh đô nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế giữa thế kỷ VI
Đáng lưu ý là việc lập đô của Lý Nam Đế (tức Lý Bí) Khi mới khởi binh chống ách đô hộ nhà Lương, khí thế rất mạnh, quân khởi của Lý Bí tiến đánh thành Long Biên, khiến Tiêu Tư (Thứ sử Giao Châu) hoảng sợ, phải chạy về Quảng Châu Thành Long Biên nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Ninh ngày nay, trong khu vực Thành phố Bắc Ninh và huyện Yên
Phong Thành Long Biên từ khi Lý Bí chiếm được (năm 542) đã trở
thành trung tâm của lực lượng khởi nghĩa
Năm 544, tháng Giêng, Lý Bí lên ngôi, tự xưng là Nam Việt Đế (sử gọi là Lý Nam Đế), đặt niên hiệu là Thiên Đức, lập triều đình trăm quan, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Ô Diên (nay thuộc xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Hà Nội), dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội Như vây, vùng đất trung tâm đồng bằng châu thổ Bắc Bộ (tức Hà Nội ngày nay) một lần nữa (từ sau cuộc định đô của An Dương Vương ở Cổ Loa) trở thành đất lập đô của các vương triều độc lập
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đánh bại quân Nam Hán, năm
939 Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa – kinh đô nước Âu Lạc xưa Khu vực Hà Nội lần thứ 3 được trở thành đất đế đô, và Cổ Loa cũng
là kinh đô đầu tiên của nước ta ở thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập Tuy nhiên, nền thống nhất quốc gia chưa thật sự bền vững và việc định
đô ở vùng đất trung tâm đồng bằng vẫn chưa ổn định Năm 944, Ngô Quyền mất, chính quyền nhà Ngô suy yếu, các phe phái phong kiến nổi
lên “tranh bá đồ vương” Nhờ có Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn, nền thống nhất
đất nước mới được tái lập
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế (sử gọi là Đinh Tiên Hoàng Đế), đặt quốc hiệu là Đại Việt, xác lập kinh đô mới ở Hoa Lư (khu vực Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình ngay nay), xây cung điện, chế triều nghi và định phẩm hàm cho bá quan văn võ
Vậy lý do gì để Đinh Tiên Hoàng lập đô ở Hoa Lư, và vai trò quốc
đô của Hoa Lư dù không dài (42 năm), nhưng cũng trải suốt hai triều đại
Trang 6Đinh (968 – 979) và Tiền Lê (980 – 1009) Sách Việt sử thông giám cương mục chép: “Nhà vua trước đóng kinh đô ở thôn Đàm nhưng vì ở đây đất chật hẹp lại không có thế hiểm, nên mới dựng kinh đô mới ở Hoa Lư…” Như vậy, một trong những lý do để Đinh Tiên Hoàng chọn vùng
đất Hoa Lư lập đô đã được sử cũ chỉ ra, đó là: không quá chật chội, và chủ yếu là có thế hiểm yếu
Cũng bởi thế, kinh đô Hoa Lưu trước hết là một quân thành, đúng hơn, là một căn cứ phòng thủ Dân tộc vừa ra khỏi đêm trường Bắc thuộc
và hiểm họa ngoại xâm vẫn còn thường trực ; các vương triều Đinh, Tiền
Lê đều vừa non trẻ, vừa mới mẻ Tất cả đều khiến ông cha ta không thể không tính đến việc phòng thủ Không những thế, ở nước ta thế kỷ X
chính là một thế kỷ từ đầu đến cuối “rền vang tiếng trống trận và ngựa hí quân reo” Tất cả các thập kỷ và tháng năm của nó đều căng thẳng, sôi
động với những kế hoạch và diễn biến bạo lực Trong bối cảnh ấy, khi mà nền thống nhất quốc gia chưa vững chắc, khi mà chính thể trung ương tập quyền chưa thật sự vững mạnh, người ta rất cần một vùng đất lập đô, có thể không rộng lắm, nhưng phải có khả năng phòng thủ Đinh Bộ Lĩnh, người sáng lập kinh đô Hoa Lư, và Lê Hoàn, người tiếp tục sử dụng Hoa
Lư làm kinh đô – đều là những nhà quân sự lớn Bởi thế, không lấy làm
lạ khi các ông đều lựa chọn Hoa Lư và khai thác vùng đất này từ lợi thế quân sự
Trên thực tế, địa thế tự nhiên của Hoa Lư đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu phòng thủ đó Những dãy núi đá vôi hiểm trở, quây gần kín, khoanh lại vào trong lòng núi những thung lũng khá bằng phẳng Chỉ cần kết nối bịt kín kẽ hở giữa các dãy núi bằng những đoạn hào lũy là có ngay được một vòng thành lợi hại, bảo vệ vững chắc cho các cung điện, kho tàng, doanh trại… được xây dựng bên trong Thành Hoa Lư rộng khoảng 300 hécta, chia làm hai khu vực; khu thành Ngoại và khu thành Nội, với tất cả
10 trường thành nhân tạo
Nặng về khía cạnh phòng thủ, nhưng Hoa Lư vẫn có những điều kiện nhất định về giao thông để liên lạc với các vùng miền trong nước, đảm bảo vai trò của một kinh đô Hoa Lư nằm giữ hai tuyến đường bộ quan trọng bậc nhất của nước ta thời ấy, đó là con đường cổ thiên lý mã ở phía Đông (nay là quốc lộ 1A) chạy dọc dài đất nước, cách kinh thành chừng 5 km chiều ngang; và con đường thượng đạo (đường Lai Kinh) cũng rất cổ, có trước cả đường thiên lý mã, chạy trên các triền núi phía Tây, nối miền Bắc với miền Trung đất nước, được sử dụng cho đến tận
Trang 7thế kỷ XVIII mới bị sạt lấp Hồi thế kỷ X, từ Hoa Lư đều có các đường ngang nối với các tuyến đường cổ nói trên Năm 967, chính Đinh Bộ Lĩnh đã kéo quân từ Hoa Lư qua Đồng Chiêm, Hang Nước (sát Hương Sơn) tới Đỗ Động (Thanh Oai) để đánh dẹp sứ quân của Đỗ Cảnh Thạc bằng con đường cổ phía Tây
Về đường thủy, một con sông cổ với nhiều tên gọi: Đại Hoàng, Thủy Tiên, sông Điềm…song phổ biến nhất là vẫn tên gọi Hoàng Long, chạy ngang qua thung lũng Hoa Lư và trở thành tuyến đường thủy quan trọng bậc nhất nối liền quốc đô với các địa phương Theo sông Hoàng Long có thể ngược lên miền núi, đên tận miền biên giới phía Bắc đất nước, hay xuôi về biển Năm 990, chính các sứ thần nhà Tống từ đất Trung Hoa đã theo theo đường biển vào sông Bạch Đằng, qua sông Luộc, nhập sông Đáy (ở Phủ Lý) rồi đến cửa sông Hoàng Long (ở cầu Gián Khẩu) và theo sông này mà tới kinh thành Hoa Lư yết kiến vua Lê Đại Hành Một nhánh sông Hoàng Long là sông Sào Khê (Khe Sào) chảy uốn
lượn vào kinh thành Tương truyền, cũng từ bến Sào Khê này, vua Thái
Tổ nhà Lý đã giong thuyền về Đại La, mở đầu cho cuộc dời đô vĩ đại vào năm 1010
Từ kinh thành Hoa Lư, bằng đường thủy có thể theo sông Chanh vào sông Trường, sông Vân mà ra biển ở các cửa Đại Hoàng, cửa Tiểu Khang, cửa Càn, cửa Thần Phù , gần hơn cả con đường theo sông Hoàng Long ra sông Đáy rồi cũng ra biển Ra tới biển thì ngược lên Bắc hay xuôi vào Nam cũng đều thuận lợi
Như vậy, kinh thành Hoa Lư nằm giữa hai trục đường bộ xuyên Việt, lại gắn với mạng lưới sông ngòi, bởi thế dù nằm sâu trong nội địa, giữa một thung lũng núi đá vôi hiểm trở nhưng vẫn dễ dàng liên lạc với mọi miền
Giao thông cũng giúp cho Hoa Lư có điều kiện nhất định để phát triển kinh tế đô thị Trong kinh thành không có khu dân cư với các phường nghề và chợ búa, song phần “thị” của Hoa Lư lại nằm bên ngoài thành, nơi bến sông Hoàng Long với kho tàng, bến bãi, thuyền bè và hoạt động buôn bán tấp nập Khảo cổ học đã tìm thấy chứng tích về khu dân
cư và các hoạt động buôn bán ở mạn sông Hoàng Long, đoạn giữa chân núi Nghẽn và chùa Bà Ngô, cách trung tâm thành Hoa Lư khoảng 2 km, dưới độ sâu độ sâu từ 1 đến 3 – 4m Đó là các đồ đất nung và gốm tráng men, tiền cổ, gạch : “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, “Giang Tây
Trang 8quân”…, gáo múc kim loại (dùng cho lò nấu đồng), dấu vết của thóc, gạo, xương voi, ngựa (động vật chuyên chở)…
Về phong thủy, thành Hoa Lư có núi Trường Yên phía trước làm tiền án, núi Đại Vân phía sau làm hậu chẩm, có hệ thống núi đá xung quanh bao bọc, địa thế vững chãi
Như thế có nghĩa là Hoa Lư cũng có đủ điều kiện để thực hiện vai
trò của một kinh đô Sử sách cũ từng miêu tả: “Hoa Lư là nơi núi non trùng điệp Núi trong sông, sông trong núi Căn cứ thủy bộ rất thuận tiện Sau lưng là rừng, trước mặt là đồng bằng, xa nữa là biển cả Nơi đây non sông tráng lệ, phong thủy hài hòa xứng đáng chọn để dựng đô được”
Đó cũng là lý do chủ yếu nhất để Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư làm kinh đô, và các vua tiền Lê về sau vẫn lấy nơi này làm quốc đô cho triều đại mình
Thế nhưng, một vấn đề đặt ra: rằng tại sao Hoa Lư đáp ứng được yêu cầu lập đô của các vị vua sáng nghiệp nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhưng lại không thỏa mãn yêu cầu của vị vua sáng nghiệp nhà Lý? Câu trả lời ở đây là: vấn đề thời đại Yêu cầu của các vua sáng nghiệp không đơn thuần chỉ là yêu cầu của cá nhân, dòng tộc, mà còn là yêu cầu của thời đại Bước sang đầu thế kỷ XI, sau 3 triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê có vai trò đặt móng xây nền cho nền độc lập, nhưng khi sự thống thống nhất quốc gia đã tương đối ổn định, đất nước cần phải bước sang thời kỳ mới, phục hưng và cất cánh Lý Thái Tổ cùng với các vị quân sư của ông (như các Thiền sư Vạn Hạnh, Khánh Văn…) đã nhìn ra yêu cầu lịch sử ấy Để thực hiện được yêu cầu mới của lịch sử, vấn đề đặt ra là phải tìm được vùng đất mới để đóng đô, khả dĩ thực hiện tốt hơn vai trò của môt trung tâm đất nước ở thời kỳ phát triển Kinh đô mới không chỉ là đầu não về chính trị, mà còn là đầu mối về kinh tế, nơi hội tụ văn hóa và khí thiêng sông núi ; không chỉ lợi về đối ngoại mà còn phù hợp với triết lý giữ nước mới trong kháng chiến chông ngoại xâm, chứ không chỉ dùng làm căn cứ thủ hiểm cho các cuộc nội chiến như ở thời kỳ trước đó
Vậy đâu là vùng đất lý tưởng cho Lý Thái Tổ dựng đô mới, xác lập
vị thế cao hơn cho triều đại của ông và cho nước Đại Việt? Đó chính là vùng đất Đại La, trung tâm của tam giác châu thổ Bắc Bộ, rất gần với châu Cổ Pháp quê hương của họ Lý – dòng họ đang nắm ngai vàng
Trang 9Như đã trình bày, vùng đất trung tâm của châu thổ Bắc Bộ (tức Hà Nội ngày nay) từ thế kỷ III TCN, thế kỷ VI, thế kỷ X đã từng là đất đóng
đô của lần lượt các triều An Dương Vương, Lý Nam Đế và Ngô Vương Các cố đô Cổ Loa (của nhà Thục, nhà Ngô), Ô Diên (nhà tiền Lý) đều nằm kề cận đất Tống Bình – Đại La Khoảng những năm 454 – 464 thời Bắc thuộc, huyện Tống Bình ra đời, cùng với trị sở của nó là thành Tống Bình Có tài liệu cho rằng Lý Nam Đế đã từng cho xây dựng một tòa thành bằng tre gỗ ở ven sông Tô Lịch, khu vực thuộc về huyện Tống Bình
Tuy nhiên, cho đến hết thời thuộc Tùy (581 – 618), đầu thời thuộc Đường (618 – 907), cơ quan quyền lực cao nhất của chính quyền Hán tộc
ở nước ta vẫn đóng ở thành Long Biên (trị sở Giao Châu) Năm 766, sau khi nhà Đường thành lập An Nam Đô hộ phủ, phủ Đô hộ mới được chuyển từ thành Long Biên về thành Tống Bình Từ đây, thành Tống Bình có điều kiện để phát triển, trở thành đô thị lớn nhất của nước ta thời bấy giờ
Năm 767, Kinh lược sứ Trương Bá Nghi cho khởi công xây dựng thành mới tại Tống Bình, gọi là La Thành, cao 2 trượng 2 thước, tức 7,70 mét Thành có cửa ở ba hướng: hướng Đông và Tây mỗi hướng có 3 cửa, mỗi cửa đều có lầu ; hướng Nam có 5 cửa Trong thành xây 20 tòa nhà Năm 808, Kinh lược sứ Trương Châu lại sửa sang La Thành, xây thêm 30 gian nhà có lầu để chứa trên 300.000 khí giới
Năm 866, tự coi như đã hoàn toàn bình định được An Nam, nhà
Đường đổi nước ta từ Đô hộ phủ (An Nam đô hộ phủ) thành Tĩnh hải quân, ngang hàng với các đơn vị hành chính cùng cấp khác của Trung
Hoa, phân biệt với các vùng đất thuộc địa, ngoại vi như An Bắc, An Đông, An Tây Cao Biền được cử sang làm Tiết độ sứ, đã cho sửa sang,
mở rộng La Thành với quy mô lớn hơn để làm thủ phủ Tĩnh Hải quân Từ
đó La Thành được gọi là Đại La Thành
Theo Lĩnh Nam chích quái, khi thành vừa đắp xong, một buổi sớm
Cao Biền dạo xem phía cửa Đông thì bỗng thấy trời nổi cơn giông gió rất mạnh, khí đất ngùn ngụt bốc lên, ánh sáng chói lòa Một dị nhân áo màu sặc sỡ, dáng điệu phi thường, cưỡi con rồng đỏ lơ lửng giữa mây khói, khí bốc một hồi lâu mới tan Biền kinh sợ, cho là ma quỷ, muốn thiết đàn
để cầu cúng Đêm ấy, Biền nằm mộng thấy có thần nhân đến nói rằng:
“Ông đừng có nghi ngờ, ta không phải là yêu khí đâu Ta là Long Đỗ Vương Chính khí thần Vì muốn xem kỹ thành nên mới hiện ra đó thôi!”.
Trang 10Biền tỉnh dậy, hôm sau họp đám dưới quyền than rằng: “Ta không khuất phục được người phương xa chăng? Đến nỗi để cho loài ngoại quỷ dòm ngó điều không hay của mình ru!” Có người khuyên Biền lập đàn và
dùng sắt nghìn cân đúc tượng theo hình dạng thần nhân để làm bùa yểm Biền y theo kế đó Vừa đọc thần chú bỗng trời đất mù mịt, mưa gió giật đùng đùng, tượng sắt nát vụn và bay tan tác lên không trung Biền sợ hãi,
từ đấy có ý muốn về phương Bắc Người đương đời lấy làm lạ, bèn lập đền thờ thần nhân ở mạn phía Đông thành Cũng từ đấy, thành Đại La còn có tên gọi khác, đó là thành Long Đỗ, tên của vị thần cai quản tòa thành
Truyền thuyết nói trên cho thấy rằng, cái vượng khí đế vương (hay cái ý chí độc lập) của nước Nam ta (tượng trưng là thần Long Đỗ) còn mạnh lắm, lấn át cả cái tà khí phương Bắc, khiến cho Cao Biền vốn là nhà phong thủy, đồng thời cũng là một phù thủy cao tay của Trung Hoa phải hoảng sợ Một khi cái vượng khí đế vương còn mạnh thì nước nhà sẽ
có cơ hội độc lập, Đại La sẽ trở thành quốc đô
Từ khi chế độ Bắc thuộc chấm dứt (năm 938), trong vòng hơn 70 năm (939 – 1010), thành Đại La chỉ còn là một “đô thành cũ” Không có
cơ quan cai trị nào đóng tại đây cho đến trước khi vua Lý Thái Tổ lấy đất này lập đô mới cho nước Đại Việt
* * *
Trở lại vấn đề lập đô của Lý Thái Tổ, để có quyết định dời đô ra Đại La, ông đã có chuyến khảo sát kỹ tòa thành này trước khi quyết định
lựa chọn làm quốc đô mới và ban Chiếu dời đô.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp
chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đến vương, muốn dời đi nơi khác, tự
tay viết chiếu truyền rằng: “Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự tiện dời đô Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu