1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LÝ CÔNG UẨN VÀ ÂM VANG "CHIẾU DỜI ĐÔ"

27 185 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 182,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mộttrong những công lao nổi bật mang ý nghĩa lịch sử của Lý Công Uẩn là việc ông chodời đô từ Hoa Lư Ninh Bình ra thành Đại La, đổi tên Đại La thành Thăng Long và đổi tên nước thành Đại

Trang 1

LÝ CÔNG UẨN VÀ ÂM VANG CHIẾU DỜI ĐÔ

Lý Công Uẩn (974 - 1028), tức Lý Thái Tổ, người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang(nay là Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) là một người thông minh, nhân ái, có chílớn và là một trong những vị minh quân có nhiều đóng góp cho sự phát triển củadân tộc Dưới thời Tiền Lê, ông làm đến chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ.Năm 1009, khi Lê Long Đĩnh (Ngọa Triều) băng hà, Lý Công Uẩn được triều thầntôn lên làm vua, lập ra nhà Lý, lấy niên hiệu là Thuận Thiên Trong 20 năm làmvua, ông đã có những công lao to lớn đối với đất nước trên nhiều phương diện nhưxây dựng kinh tế, văn hóa, quốc phòng, củng cố nền độc lập, tự chủ dân tộc Mộttrong những công lao nổi bật mang ý nghĩa lịch sử của Lý Công Uẩn là việc ông chodời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, đổi tên Đại La thành Thăng Long

và đổi tên nước thành Đại Việt, xây dựng Kinh đô Thăng Long trở thành mộttrung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, xây dựng vương triều Lý thànhmột triều đại thịnh trị, khẳng định bản lĩnh và truyền thống lịch sử lâu đời, củng cốkhối đoàn kết thống nhất, đem lại cho dân tộc và đất nước một vị thế mới trênbước đường phát triển, mở ra một thời kỳ lớn mạnh hùng cường của dân

tộc Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô) được Lý Công Uẩn ban bố vào thời điểm lịch

sử này - năm 1010, với ý nghĩa và sự tác động đặc biệt, đã trở thành một vănkiện chính trị, lịch sử, văn hóa quan trọng nổi tiếng trong một nghìn năm qua Vềmặt văn học, đây là một trong những tác phẩm đầu tiên khai sáng cho truyềnthống yêu nước và nhân văn của văn học dân tộc, thể hiện lòng yêu nước và ýchí tự cường, đánh dấu một dấu mốc quan trọng trên bước đường xây dựng

quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ Chiếu dời đô cũng mở đầu cho thể văn

chính luận luôn gắn bó với vận mệnh đất nước, rồi đây sẽ trở nên hết sức quenthuộc trong đời sống văn hóa của dân tộc

Chiếu là một thể văn cổ, mang chức năng hành chính, do vua dùng đểban bố mệnh lệnh cho thần dân biết về những vấn đề liên quan tới vận mệnh đấtnước và vương triều Chiếu có thể được viết bằng văn vần, văn biền ngẫu hoặcvăn xuôi, câu văn nhiều tầng bậc nhưng chỉnh tề trong phép đối Ngôn ngữ được

sử dụng trong Chiếu luôn trang trọng và mang tính khẳng định

Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn là một bài Chiếu có kết cấu chặt chẽ, gồm

214 chữ (trong nguyên bản chữ Hán), ý tứ sâu xa, ngôn từ phong phú và thuyếtphục, Lý Công Uẩn đã bày tỏ với bề tôi và thần dân của mình hai vấn đề quantrọng: Lý do phải dời đô và việc lựa chọn, xây dựng Kinh đô mới

Phần đầu của bài Chiếu làm nhiệm vụ đặt vấn đề và có dung lượng câu chữlớn hơn phần sau Điều đó là hợp lý bởi nó có nhiệm vụ thuyết phục hàng triệu thầndân, đặc biệt là với những người mà quyền lợi đã gắn bó với Hoa Lư từ bao đời nay,sức ỳ ở họ là rất lớn Đó là chưa nói tới những lực lượng chống đối, những kẻquyền quý vừa bị tước đoạt ngôi bá chủ thiên hạ đang lẩn quất trong núi rừng

Trang 2

Hoa Lư hiểm trở, họ cũng đang chờ đợi thời cơ để lật ngược thế cờ từ tay vị vuatrẻ Việc dời đô vì vậy ngoài những lý do cao cả mang ý nghĩa dân tộc, thời đại,còn là một việc nên nhanh chóng tiến hành để giúp Lý Công Uẩn thoát khỏi áplực của các thế lực cũ, củng cố và khẳng định địa vị độc lập, tự chủ của mình ởmột miền đất mới.

Mở đầu bài Chiếu, Lý Công Uẩn đưa ra những dẫn chứng hùng hồn từ

sử sách Trung Hoa cho thấy việc dời đô xưa nay không hiếm nhưng thiên đô làmột việc lớn không thể chỉ tuân theo lợi ích vị kỷ của mỗi cá nhân Việc làm củacác vua Bàn Canh nhà Thương, Thành Vương nhà Chu không phải là việc làm

tự tiện theo riêng mình mà với mục đích chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm,mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dướitheo ý dân, nếu thấy thuận lợi thì thay đổi Đó là lý do khiến cho vận nước lâudài, phong tục phồn thịnh Đây chính là mục đích của việc dời đô và cũng làphương châm hành động của Lý Công Uẩn Vị Hoàng đế vốn là một danh tướngdũng mãnh đã mở đầu bài Chiếu bằng những kinh nghiệm xương máu rút ra từlịch sử để thuyết phục lòng người bằng lý lẽ hùng hồn chứ không phải bằngquyền uy của một người đứng đầu thiên hạ Ông khẳng định việc làm của mình

là vì lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển dài lâu của dân tộc, chọnnơi trung tâm đất nước, trước hết là để tính kế lâu dài, đem lại ấm no cho concháu Việc làm ấy là hoàn toàn thuận theo ý trời, hợp với lòng dân - nhữngngười đã chán ghét cựu triều và đặt niềm tin vào triều đại mới sẽ đem lại sự ổnđịnh cho đất nước Từ việc xác định rõ lý do và việc cấp bách phải dời đô, Lý

Công Uẩn đã nói đến chuyện trong nước: Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi Nạn cát cứ đã thành tai họa của dân tộc một thời Một đất nước sẽ chưa thật sự trưởng thành một khi các vịhoàng đế thắng trận, để củng cố địa vị và lực lượng cứ phải đóng đô cát cứ trên quê hương mình, cố thủ giữ mình với một tầm nhìn thiển cận Cố đô Hoa Lư với địa thế núi rừng, sông nước hiểm trở, đã có một vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc thống nhất đất nước của người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh và là hậu phương vững chắc cho chiến công oanh liệt của Lê Hoàn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, nhưng nay nó không còn phù hợp với công cuộc xây dựng và phát triển một quốc gia hùng mạnh thời bình nữa Địa thế Hoa Lư với núi rừng bao bọc chỉ phù hợp với những trận chiến ở quy mô nhỏ, không có tầm bao quát toàn cục đất nước, hợp với thế phòng thủ hơn tấn công, lại không phải ở nơi trung tâm đất nước, giao thông chủ yếu chỉ bằng đường thủy Cuối triều Tiền Lê, sau khi Lê Hoàn mất, các hoàng tử chém giết lẫn nhau tranh giành ngai vàng gây nên bao cảnh nồi da xáo thịt Lê Long Đĩnh, vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê lại

là một bạo chúa, lấy việc chém giết, dâm dục làm vui Đất nước rơi vào cảnh suy thoái, trầm luân, lòng người ly tán Trong một bối cảnh như vậy, việc thiên đô là

hợp lẽ tự nhiên, thuận theo lòng người Nếu là một ông vua tầm thường, vị kỷ,

có lẽ Lý Công Uẩn đã cho dời đô về quê mình, cũng là quê hương của vị quân

Trang 3

sư đại tài Vạn Hạnh Đó là châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang - vốn cũng là một nơi đôhội, dân cư đông đúc, mùa màng tươi tốt, đất đai phì nhiêu, bằng phẳng Nhưngkhông, con người vì dân, vì nước ấy đã chọn Đại La Việc làm đó đã thể hiệntầm nhìn xa trông rộng, tầm nhìn chiến lược lâu dài của một bậc minh quân , đặttrách nhiệm với non sông, đất nước lên trên mọi lợi ích cá nhân vị kỷ Việc dời đô

và lựa chọn Kinh đô mới đã chứng tỏ bản lĩnh và sự lớn mạnh, trưởng thành củadân tộc Việt trên bước đường phát triển của mình Cả dân tộc đã giống như mộtdòng sông lớn, dòng sông ấy đã băng mình ra biển cả đại dương, kiên quyếtvượt qua những thác ghềnh hiểm trở, nó không còn chịu uốn mình lẩn khuấttrong những mương mạch chật hẹp nữa Việc dời đô khỏi Hoa Lư để xây dựngKinh đô mới, nơi trung tâm hội tụ khí thiêng của sông núi sẽ đưa dân tộc thoát rakhỏi sự cát cứ vùng miền và cũng là thoát khỏi những nghĩ suy chật hẹp đểvươn mình lên những tầm tư tưởng lớn lao, tạo nên vị thế mới cho đất nước, sẽ

là tiền đề làm xuất hiện một thế hệ những người anh hùng mới, kết tinh tư tưởngdân tộc và thời đại, tài giỏi thông tuệ về nhiều phương diện, mang dáng vóc và

uy danh của dân tộc Đại Việt Lý Công Uẩn chính là đại diện cho thế hệ đầu tiêncủa những con người khổng lồ về trí tuệ và thể chất đó Tiếp nối ông sẽ là những

vị vua như Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, những danh tướng như Lý ThườngKiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Phạm Ngũ Lão Tiền đồtốt đẹp đáng tự hào ấy được bắt đầu từ ngày chiến thuyền của Lý Công Uẩn dờirừng núi Hoa Lư để tiến về phía Bắc

Lời lẽ mở đầu của bài Chiếu vừa hào hùng, có sự kết hợp giữa lẽ vàtình, với sự suy luận mạch lạc, đem lại cho người nghe, người đọc một nhậnthức sâu sắc về lẽ phải và sự hợp lý của việc phải dời đô Sức thuyết phục củabài Chiếu không ở chỗ dài lời, dàn trải Thông qua phép đối, dưới hình thức vănbiền ngẫu, Lý Công Uẩn đã đưa ra những lập luận, lý lẽ và chứng cứ hết sứcthuyết phục Đó không phải là những lời lẽ cứng nhắc, thuần túy mệnh lệnh củabậc đế vương (vốn là văn phong quan phương của thể Chiếu) mà đó chính là lý

lẽ của sự thông tuệ, thấu hiểu, của niềm cảm thông, của nghệ thuật hùng biệnxuất phát từ lợi ích chung của dân tộc, là lời tâm tình bộc trực của một vị minhquân Sự kết hợp giữa lý và tình có sức thuyết phục cao, giàu cảm xúc, cùng vớilối xưng hô thân mật và nỗi niềm đau xót cho dân chúng và giang sơn đất nước

(Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời) sẽ là giọng điệu chung

xuyên suốt bài Chiếu

Đoạn mở đầu của bài Chiếu đã tạo được niềm tin tưởng trong lòng người

về mục đích cao cả của việc cần thiết phải dời đô Nhưng đoạn tiếp theo khôngkém quan trọng là phải thuyết phục được muôn dân chọn thành cổ Đại La để xâydựng Kinh đô mới Cả hai phần đều hết sức thiết yếu, hỗ trợ lẫn nhau, sự thànhcông của nhiệm vụ thứ nhất sẽ là tiền đề cho thắng lợi của nhiệm vụ tiếp theo

Chỉ một thời gian ngắn, sau khi được quần thần đưa lên ngai vàng, LýCông Uẩn đã có ý định dời đô Ý định đó nảy sinh vào tháng Giêng thì đến thángBảy mùa thu năm Canh tuất (1010) công cuộc vĩ đại đó đã được tiến hành Rõ ràng

Trang 4

bên cạnh sự anh minh, Lý Công Uẩn còn là một ông vua có tính cách quyết đoán

và táo bạo Đại La dưới con mắt của nhà chiến lược thiên tài Lý Công Uẩn cómột vị trí thuận lợi đủ đường Nơi đây đã từng là kinh đô một thuở dưới thời caitrị của Cao Biền, một người nổi danh về tài xem phong thủy Nơi ấy cũng đãtừng chứng kiến những chiến công oanh liệt của các thế hệ con dân đất Việtđánh đuổi quân đô hộ để giải phóng giang sơn đất nước Và cũng không phải làngẫu nhiên khi Ngô Vương sau khi đánh đuổi quân Nam Hán, giành lại độc lậpcho dân tộc đã chọn mảnh đất Cổ Loa cao ráo xưa kia của Thục đế An DươngVương - một địa danh rất gần thành Đại La để định đô Nhưng điều quan trọng

còn là bởi: Đại La ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi.

Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi Địa thế rộng

mà bằng, đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời Mục đích cuối cùng của việc lựa chọn kinh đô mới cũng nhất quán với mục đích của việc

dời đô khỏi Hoa Lư, đó là vì lợi ích của dân và tương lai lâu bền của xã tắc Có

những người phê phán cái nhìn có tính chất phong thủy của Lý Công Uẩn khichọn mảnh đất Đại La để xây dựng Kinh đô mới, nhưng cần phải nói rằng chínhcái nhìn có tính chất linh nghiệm đó (ngày nay khoa học đã chứng minh vậndụng phong thủy trong việc chọn thế đất trong xây dựng và thiết kế là một cáchlựa chọn cần thiết, có tính khoa học, tránh được những tổn thất không đáng có

do không hiểu biết về địa hình và thổ địa) đã góp phần quan trọng vào việc tìm racho dân tộc một vùng đất xứng danh để xây dựng Kinh đô cho muôn đời MộtKinh đô vừa ở tư thế tấn công, lại vừa ở vị trí phòng thủ thuận lợi trong thế đốiđầu với các thế lực xâm lược phương Bắc Đó là nơi trung tâm của bốn phươngđất nước, giao thông thuận tiện, xung quanh Kinh đô là những vùng đất cổ trù phúlâu đời của tộc Việt với những truyền thống tốt

đẹp đã tồn tại hàng trăm năm Đó chính là chốn địa linh, địa lợi của đất Việt, nơitrung tâm hội tụ tinh hoa của giống nòi Sau một nghìn năm dựng nước và giữnước, lịch sử đã chứng minh rằng cái nhìn của Lý Công Uẩn là cái nhìn xuyên thấulịch sử, cái nhìn của bậc hào kiệt biết mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời Truyền thuyết kể lại: Khi đoàn thuyền của nhà vua vừa đến chân thànhĐại La thì rồng vàng hiện ra và bay lên trời Dân tộc Việt từ ngàn xưa đã coi rồng

là con vật linh thiêng, là tổ tiên của mình (con Rồng cháu Tiên) Hình ảnh rồng làbiểu hiện mạnh mẽ và tập trung nhất cho sức mạnh tiềm tàng và truyền thốngcủa cả dân tộc Trước điềm lành, biểu hiện của thiên thời, địa lợi, nhân hòa đó, Lý

Công Uẩn đã xúc động đặt tên cho Kinh đô mới là Thăng Long (có nghĩa là rồng bay lên) Tại sao lại là thăng longchứ không phải là hạ long? Bởi cái tên Thăng

Long mang nhiều ý nghĩa trọng đại Rồng vàng bay lên là biểu hiện của sự chàođón bậc đế vương đến vùng đất linh thiêng Nó biểu tượng cho cái mới nhưngcũng chính là sợi dây nối liền hiện tại, tương lai với truyền thống Đó cũng là biểu

Trang 5

hiện của sự phát triển, lớn mạnh, biểu tượng của sự khởi đầu đi lên, bay lên Từnay cái tên Đại La sẽ đi vào dĩ vãng, cái cũ sẽ mất đi và cái mới với một sứcmạnh thần kỳ sẽ bắt đầu Lịch sử Đại Việt sẽ mở sang một trang mới và ThăngLong - thành phố Rồng bay sẽ trở thành Kinh đô ngàn đời của đất nước.

Kết thúc bài Chiếu vị vua anh minh viết: Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở Các khanh nghĩ thế nào? Câu nói ấy thể hiện tinh thần

dân chủ vốn là truyền thống của cộng đồng Việt trong những giờ phút quyết địnhcủa lịch sử

Chiếu dời đô là sự thể hiện ý chí của toàn dân tộc, là kết tinh cho tinh thần

và văn hóa của thời đại Đó là tác phẩm đầu tiên mở đầu cho sự hình thành một hệ

tư tưởng mới của Đại Việt: Tinh thần hòa đồng mang màu sắc dân chủ kết hợpcác tri thức đỉnh cao của dân tộc và khu vực, giữa truyền thống yêu nước, tựhào dân tộc, tinh thần dân chủ nhân ái vốn chứa đựng trong cộng đồng Việt từbao đời với các hệ tư tưởng và tôn giáo Trước hết là với Phật giáo từ bi bác ái ,vốn đóng vai trò như quốc giáo, với Đạo giáo (thuyết phong thủy trong việc lựachọn và xây dựng Kinh đô), và đặc biệt là với Nho giáo, biểu hiện qua tư tưởngxây dựng một nhà nước tập quyền trên vâng mệnh trời, dưới thuận ý dân, tạo cơ

sở cho sự thống nhất đất nước Rồi đây tư tưởng hòa đồng, kết tinh tinh hoathời đại ấy sẽ là chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển và tồn vong của đất nước,tạo nên một thời đại Lý - Trần oanh liệt trong lịch sử dân tộc

Chiếu dời đô là áng văn chương có vẻ đẹp toàn diện: Đó là vẻ đẹp hài

hòa của sự thông tuệ, của tấm lòng yêu nước thương dân, của sự hy sinh vàlòng quả cảm, của lòng tự tin, tự hào dân tộc, của sự suy ngẫm cho hiện tại vàtương lai, của sự tiếp nối truyền thống, của khát vọng cháy bỏng về một đất nướcđộc lập, thống nhất, thịnh vượng và hùng mạnh Bài Chiếu vừa là áng văn chínhluận súc tích, có kết cấu chặt chẽ, lập luận lôgic, vừa thể hiện lòng nhân ái bao lavới thứ ngôn từ hùng biện, thuyết phục và độ lượng, nhân ái mà lại mang tinhthần đối thoại dân chủ

LÝ CÔNG UẨN VÀ CHIẾU DỜI ĐÔ

Lý Công Uẩn sinh ngày 12 tháng Hai năm Giáp tuất(974), mất ngày 3 tháng Ba năm Mậu thìn (1028) Ông

người làng Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, nay là làng Dương

Lôi, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Thuở nhỏ,

từ 3 tuổi làm con nuôi của Thiền sư Lý Khánh Vân (chùa

Cổ Pháp), sau làm tiểu ở chùa Lục Tổ (còn gọi chùa Tiêu

Sơn, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn) do Thiền

sư Lý Vạn Hạnh trụ trì Nhờ hai vị thiền sư nổi tiếng họ Lý

trực tiếp nuôi dạy, Công Uẩn đã trở thành một thanh niên

tuấn tú, văn võ song toàn, được sung vào đội quân cấm vệ

triều Tiền Lê (980-1009) Về sau ông trở thành một trong

Trang 6

những nhân vật trụ cột của nhà Tiền Lê, làm quan đến chức

Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ Năm 1009, sau khi vua LêLong Đĩnh (Ngọa Triều) qua đời, với sự ủng hộ của cácthiền sư (đứng đầu là Thiền sư Vạn Hạnh), Lý Công Uẩnđược các quan trong triều đương thời (đứng đầu là quanChi hậu Đào Cam Mộc) suy tôn làm vua vào ngày QuýSửu, tháng Mười, lập ra nhà Lý, lấy năm sau (1010) làmniên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất Trong 20 năm ở ngôi(1009-1028), ngoài những cống hiến quan trọng, có ý nghĩacải cách đối với đất nước trên nhiều phương diện: chính trị,kinh tế, văn hóa…, Lý Công Uẩn đã có một đóng góp mangtầm vóc lịch sử vô cùng lớn, đó là việc ông quyết định dời

đô từ Hoa Lư ra Đại La (Thăng Long) Thiên đô chiếu(Chiếu dời đô) ra đời trong hoàn cảnh ấy, trở thành tác

phẩm tiêu biểu nhất cả về nội dung và hình thức cho thểloại văn chiếu và có một vị trí quan trọng trong lịch sử vănhọc cổ dân tộc

Nước Việt Nam vào đầu thế kỷ XI đã diễn ra một sựkiện lịch sử đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự phục hưngdân tộc, đó là cuộc dời đô từ Hoa Lư về Đại La (tức ThăngLong sau này) Sự kiện đó gắn liền với tên tuổi và sựnghiệp của Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), vị vua sáng nghiệptriều Lý (1009 -1225), một trong những triều đại hùngmạnh nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam

Lý Công Uẩn lên ngôi, vương triều Lý thành lập,công lao đó trước hết thuộc về Thiền sư Lý Vạn Hạnh - bậccao tăng giữ vai trò cố vấn chính trị tối cao đối với nhà tiền

Lê, một người “đa mưu túc trí” và đặc biệt nhạy cảm vớithời cuộc Ngay từ khi Công Uẩn còn nhỏ, ông đã phát hiện

ra ở cậu bé những phẩm chất đặc biệt và nhận xét: “Đứa bénày không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giảinguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ” [1]

Có lẽ cũng từ sự phát hiện đó, Lý Vạn Hạnh đã cùngvới Thiền sư Lý Khánh Văn (em trai ông, cũng là bậc caotăng có uy tín đương thời) dày công dạy dỗ, chuẩn bị cho

Lý Công Uẩn những phẩm chất và năng lực cần thiết, rồiđưa vào triều làm một chức võ quan khi Công Uẩn mới 20tuổi

Vốn là người có sức khỏe, thông minh, trung hậu vàchí lớn, Lý Công Uẩn ngày càng được vua Lê tin dùng và

có uy tín trong triều Sự kiện có ảnh hưởng quan trọng đối

Trang 7

với sự thăng tiến của Lý Công Uẩn đó là năm 1005, vua LêĐại Hành qua đời, các hoàng tử lao vào cuộc tranh ngôi,đánh nhau suốt 8 tháng trời Thái từ Long Việt vừa lên làmvua được 3 ngày thì bị em là Long Đĩnh sai người vào cunggiết đi để đoạt ngôi Khi Long Việt bị giết, những kẻ bề tôithân cận đều hoảng sợ bỏ chạy, duy chỉ có một người ở lại,

ôm lấy xác vua mà khóc Người đó là Lý Công Uuẩn Cảnhtưởng ấy đã lọt mắt Lê Long Đĩnh, người chủ mưu cuộc sáthại, nhưng Long Đĩnh không giết Công Uẩn, mà còn khen

là người “trung”, tin dùng và phong cho ông chức Tứsương quân Phó chỉ huy sứ, sau thăng đến Tả thân vệ Điệntiền chỉ huy sứ.[2]

Bản lĩnh và phẩm chất trung hậu rõ ràng cũng đãgiúp cho Lý Công Uẩn gặp thuận lợi trên hoạn lộ Và, trongkhi hầu hết bá quan văn võ trong triều lẫn chúng dân đều đãchán ghét nhà Tiền Lê; trong khi ông vua “Ngọa Triều” LêLong Đĩnh ngày càng sa đọa và lâm bệnh nặng, thì trongdân gian, những bài “sấm” kỳ lạ, những bài kệ có tính chấtsấm truyền xuất hiện Những bài sấm, bài kệ đó đều đượcThiền sư Lý Vạn Hạnh đọc lại và cắt nghĩa cho Lý CôngUẩn nghe (mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đều là doVạn Hạnh làm) Để khích lệ Lý Công Uẩn sẵn sàng tinhthần nắm giữ ngôi báu, Thiền sư Vạn Hạnh nói: “Thân vệ

là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại nắm binhquyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân vệthì còn ai đương nổi nữa”.2 Rồi những cuộc vận động ngầmtrong triều của quan Chi hậu Đào Cam Mộc - một ngườiquyết đoán và chịu ảnh hưởng của Vạn Hạnh…Tất cả đềunhằm chuẩn bị dư luận và hậu thuẫn tích cực cho Lý CôngUẩn mọi điều kiện để có thể kế vị ngai vàng

Ngày Tân hợi tháng Mười năm Kỷ dậu (1009), LêLong Đĩnh mất, Lý Công Uẩn với vai trò Tả thân vệ Điệntiền chỉ huy sứ cùng với Nguyễn Đê, Hữu thân vệ Điện tiềnchỉ huy sứ, mỗi người cầm đầu 500 quân Tùy long vàocung canh giữ Giữa lúc tình hình trong triều diễn biếnkhẩn trương và đặc biệt nghiêm trọng, Đào Cam Mộc nóivới Lý Công Uẩn: “Người trong nước ai cũng nói họ Lýkhởi nghiệp lớn, lời sấm hiện ra rồi, đó là cái họa không thểche dấu được nữa Chuyển họa làm phúc, chỉ trong sớmchiều Đây là lúc trời trao người theo, Thân vệ còn nghingại gì nữa?” Công Uẩn nói: “Tôi đã hiểu rõ ý ông, khôngkhác gì ý của Vạn Hạnh.”[3] Đó cũng là lý do để ngai

Trang 8

vàng khó có thể lọt khỏi tay nhân vật vốn đã được giới sưsãi và các quan lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo ủng hộ.

Vì vậy, ngay sau khi Long Đĩnh mất, quan Chi hậuĐào Cam Mộc đã cùng với những người chủ sự họp bàn,chuẩn bị cho Lý Công Uẩn đăng quang Ngày Quý sửu,tháng Mười năm Kỷ dậu (1009), Lý Công Uẩn chính thứclên làm vua, lập ra nhà Lý Cuộc chuyển giao quyền lực từ

họ Lê sang họ Lý nhìn chung đã diễn ra một cách êm thấm,hòa bình Một triều đại mới, mạnh mẽ và tiến bộ hơn đãthay thế cho triều Tiền Lê vốn đã suy bại từ nhiều nămtrước Đất nước bước vào thời kỳ phục hưng và phát triển

Nguồn gốc “Nhà chùa” và tư tưởng bác ái của Phậtgiáo chắc chắn đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách

và chính sách cai trị của Lý Thái Tổ Nhận xét về ông thời

kỳ ở ngôi, các sử thần nhà Lê sau này viết: “Vua ứng mệnhtrời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người khoanthứ nhân từ, tinh tế hòa nhã, có lượng đế vương ” 2

Công việc đầu tiên của Lý Thái Tổ ngay sau khi lênngôi là đại xá cho thiên hạ, mở cửa nhà ngục, xóa bỏ nhữngluật lệ hà khắc, xuống chiếu từ nay ai có việc tranh kiệncho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết Tiếp đó, truyphong cho cha, mẹ, sắp đặt lại bộ máy nhà nước, phongchức tước cho những người có công với việc lập ngôi, chonhững người ruột thịt trong hoàng tộc và ban y phục chocác tăng đạo

Trong quá trình xây dựng vương triều Lý ở buổiđầu, các Thiền sư Vạn Hạnh và Khánh Văn vẫn tiếp tục giữvai trò quan trọng Lý Khánh Văn được phong làm Quốc

sư Còn về Thiền sư Lý Vạn Hạnh, cho đến nay tại chùa

Thiên Tâm (tức chùa Tiêu Sơn, Lục Tổ) vẫn còn bia đá Lý gia linh thạch, tượng đồng (Thiền sư Vạn Hạnh) và bài vị

ghi rõ: “Lý triều nhập nội tể tướng Lý Vạn Hạnh, thiền sưthần vị”.3

Một trong những công việc quan trọng trong buổiđầu thiết lập vương triều, cũng như trong toàn bộ sự nghiệpcủa Lý Thái Tổ đó là việc dời đô Nhận thấy thành Hoa Lư

chật hẹp, “không đủ làm chỗ ở của bậc đế vương“, ngay từ

khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã quyết định tìm đất để lập

đô mới

Trang 9

Trong lịch sử nước ta, kể từ nhà nước đầu tiên - Nhànước Văn Lang cho đến nhà nước phong kiến Lý, đã diễn

ra nhiều cuộc định đô và dời đô, phản ánh những yêu cầukhác nhau của từng thời kỳ lịch sử

Thời kỳ Văn Lang, các vua Hùng định đô ở đất VănLang (hay Phong Châu, nay là vùng Bạch Hạc, Việt Trì,Phú Thọ) đánh dấu việc hoàn thành chặng đường đầu tiêncủa công cuộc “xuống núi” của cha ông ta và cắm mốc cho

sự hình thành quốc gia dân tộc Trong bối cảnh lịch sử đấtnước cách đây trên dưới 2500 năm, đó là một sự lựa chọnđích đáng, bởi kinh đô Văn Lang nằm ở đỉnh của tam giácchâu thổ Bắc bộ, nơi hợp lưu của ba con sông (sông Lô,sông Hồng, sông Đà), kinh tế, cư dân phát triển, giao lưuvới các vùng, miền trong nước thuận lợi Văn Lang khôngchỉ xứng đáng là đầu não chính trị của cả nước, mà cònđóng vai trò một trung tâm kinh tế, một trạm dịch - trungchuyển các sản vật từ miền thượng du xuống vùng hạ bạn

và ngược lại, quyết định không nhỏ đến sự phát triển củađất nước ở buổi ban đầu

Thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán AnDương Vương dời đô xuống miền Cổ Loa (Đông Anh-Hànội) Đây là cuộc dời đô lần thứ nhất, từ miền trung duxuống vùng trung châu đồng bằng, phản ánh xu thế pháttriển đi lên của dân tộc Cổ Loa xứng đáng là kinh đô đấtnước ở thời kỳ mới, khi mà cha ông ta đã đủ điều kiện đểchiếm lĩnh vùng châu thổ phì nhiêu và tiến ra biển, hoànthiện một mô hình quốc gia dân tộc dựa trên nền tảng vănminh nông nghiệp lúa nước

Thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN-938 ), nước mất, kinh

đô không còn, nhưng các đô thị trung tâm của đất nước vẫnhình thành Ở nửa đầu thiên niên kỷ I, các đô thị trung tâm

đó chính là Luy Lâu, Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh) Đếnnửa sau của thiên niên kỳ này, vai trò trung tâm chính trị,kinh tế, văn hóa của đất nước dưới ách cai trị của các nhàTùy, Đường lại thuộc về Tống Bình - Đại La Tuy vậy, nềncai trị của chính quyền Hán tộc chưa bao giờ bình yên và

có đến 2 lần bị chia cắt bởi các cuộc khởi nghĩa giành độclập của nhân dân ta, dẫn đến sự ra đời của kinh đô Mê Linh(nay thuộc Vĩnh Phúc) của Hai Bà Trưng vào những năm40-43 và kinh đô nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế giữa thế

kỷ VI

Trang 10

Đáng lưu ý là việc lập đô của Lý Nam Đế (tức LýBí) Khi mới khởi binh chống ách đô hộ nhà Lương, khí thếrất mạnh, quân khởi của Lý Bí tiến đánh thành Long Biên,khiến Tiêu Tư (Thứ sử Giao Châu) hoảng sợ, phải chạy vềQuảng Châu Thành Long Biên nằm ở phía Tây Bắc tỉnhBắc Ninh ngày nay, trong khu vực Thành phố Bắc Ninh vàhuyện Yên Phong Thành Long Biên từ khi Lý Bí chiếmđược (năm 542) đã trở thành trung tâm của lực lượng khởinghĩa Năm 544, tháng Giêng, Lý Bí lên ngôi, tự xưng làNam Việt Đế (sử gọi là Lý Nam Đế), đặt niên hiệu là ThiênĐức, lập triều đình trăm quan, đặt tên nước là Vạn Xuân,đóng đô ở Ô Diên (nay thuộc xã Hạ Mỗ, huyện ĐanPhượng, Hà Nội), dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội.Như vây, vùng đất trung tâm đồng bằng châu thổ Bắc Bộ(tức Hà Nội ngày nay) một lần nữa (từ sau cuộc định đôcủa An Dương Vương ở Cổ Loa) trở thành đất lập đô củacác vương triều độc lập

Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đánh bại quânNam Hán, năm 939 Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở CổLoa-kinh đô nước Âu Lạc xưa Khu vực Hà Nội lần thứ 3được trở thành đất đế đô, và Cổ Loa cũng là kinh đô đầutiên của nước ta ở thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập Tuynhiên, nền thống nhất quốc gia chưa thật sự bền vững vàviệc định đô ở vùng đất trung tâm đồng bằng vẫn chưa ổnđịnh Năm 944, Ngô Quyền mất, chính quyền nhà Ngô suyyếu, các phe phái phong kiến nổi lên “tranh bá đồ vương”.Nhờ có Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn, nền thống nhất đất nướcmới được tái lập

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế (sử gọi

là Đinh Tiên Hoàng Đế), đặt quốc hiệu là Đại Việt [4], xáclập kinh đô mới ở Hoa Lư (khu vực Trường Yên, Hoa Lư,Ninh Bình ngay nay), xây cung điện, chế triều nghi và địnhphẩm hàm cho bá quan văn võ

Vậy lý do gì để Đinh Tiên Hoàng lập đô ở Hoa Lư,

và vai trò quốc đô của Hoa Lư dù không dài (42 năm),nhưng cũng trải suốt hai triều đại Đinh (968-979) và Tiền

Lê (980-1009) Sách Việt sử thông giám cương mục chép: “Nhà vua trước đóng kinh đô ở thôn Đàm nhưng vì ở

đây đất chật hẹp lại không có thế hiểm, nên mới dựng kinh

đô mới ở Hoa Lư …”2 Như vậy, một trong những lý do đểĐinh Tiên Hoàng chọn vùng đất Hoa Lư lập đô đã được sử

Trang 11

cũ chỉ ra, đó là: không quá chật chội, và chủ yếu là có thếhiểm yếu.

Cũng bởi thế, kinh đô Hoa Lưu trước hết là mộtquân thành, đúng hơn, là một căn cứ phòng thủ Dân tộcvừa ra khỏi đêm trường Bắc thuộc và hiểm họa ngoại xâmvẫn còn thường trực; các vương triều Đinh, Tiền Lê đềuvừa non trẻ, vừa mới mẻ Tất cả đều khiến ông cha takhông thể không tính đến việc phòng thủ Không nhữngthế, ở nước ta thế kỷ X chính là một thế kỷ từ đầu đến cuối

“rền vang tiếng trống trận và ngựa hí quân reo” Tất cả cácthập kỷ và tháng năm của nó đều căng thẳng, sôi động vớinhững kế hoạch và diễn biến bạo lực Trong bối cảnh ấy,khi mà nền thống nhất quốc gia chưa vững chắc, khi màchính thể trung ương tập quyền chưa thật sự vững mạnh,người ta rất cần một vùng đất lập đô, có thể không rộnglắm, nhưng phải có khả năng phòng thủ Đinh BộLĩnh, người sáng lập kinh đô Hoa Lư, và Lê Hoàn, ngườitiếp tục sử dụng Hoa Lư làm kinh đô - đều là những nhàquân sự lớn Bởi thế, không lấy làm lạ khi các ông đều lựachọn Hoa Lư và khai thác vùng đất này từ lợi thế quân sự

Trên thực tế, địa thế tự nhiên của Hoa Lư đáp ứngđầy đủ cho nhu cầu phòng thủ đó Những dãy núi đá vôihiểm trở, quây gần kín, khoanh lại vào trong lòng núinhững thung lũng khá bằng phẳng Chỉ cần kết nối bịt kín

kẽ hở giữa các dãy núi bằng những đoạn hào lũy là có ngayđược một vòng thành lợi hại, bảo vệ vững chắc cho cáccung điện, kho tàng, doanh trại… được xây dựng bên trong.Thành Hoa Lư rộng khoảng 300 hécta, chia làm hai khuvực; khu thành Ngoại và khu thành Nội, với tất cả 10trường thành nhân tạo

Nặng về khía cạnh phòng thủ, nhưng Hoa Lư vẫn cónhững điều kiện nhất định về giao thông để liên lạc với cácvùng miền trong nước, đảm bảo vai trò của một kinh đô.Hoa Lư nằm giữ hai tuyến đường bộ quan trọng bậc nhấtcủa nước ta thời ấy, đó là con đường cổ thiên lý mã ở phíaĐông (nay là quốc lộ 1A) chạy dọc dài đất nước, cách kinhthành chừng 5 km chiều ngang; và con đường thượng đạo(đường Lai Kinh) cũng rất cổ, có trước cả đường thiên lý

mã, chạy trên các triền núi phía Tây, nối miền Bắc với miềnTrung đất nước, được sử dụng cho đến tận thế kỷ XVIIImới bị sạt lấp Hồi thế kỷ X, từ Hoa Lư đều có các đường

Trang 12

ngang nối với các tuyến đường cổ nói trên Năm 967, chínhĐinh Bộ Lĩnh đã kéo quân từ Hoa Lư qua Đồng Chiêm,Hang Nước (sát Hương Sơn) tới Đỗ Động (Thanh Oai) đểđánh dẹp sứ quân của Đỗ Cảnh Thạc bằng con đường cổphía Tây.

Về đường thủy, một con sông cổ với nhiều tên gọi:Đại Hoàng, Thủy Tiên, sông Điềm…song phổ biến nhất làvẫn tên gọi Hoàng Long, chạy ngang qua thung lũng Hoa

Lư và trở thành tuyến đường thủy quan trọng bậc nhất nốiliền quốc đô với các địa phương Theo sông Hoàng Long

có thể ngược lên miền núi, đên tận miền biên giới phía Bắcđất nước, hay xuôi về biển Năm 990, chính các sứ thần nhàTống từ đất Trung Hoa đã theo theo đường biển vào sôngBạch Đằng, qua sông Luộc, nhập sông Đáy (ở Phủ Lý) rồiđến cửa sông Hoàng Long (ở cầu Gián Khẩu) và theo sôngnày mà tới kinh thành Hoa Lư yết kiến vua Lê Đại Hành.Một nhánh sông Hoàng Long là sông Sào Khê (Khe Sào)

chảy uốn lượn vào kinh thành Tương truyền, cũng từ bến Sào Khê này, vua Thái Tổ nhà Lý đã giong thuyền về Đại

La, mở đầu cho cuộc dời đô vĩ đại vào năm 1010.

Từ kinh thành Hoa Lư, bằng đường thủy có thể theosông Chanh vào sông Trường, sông Vân mà ra biển ở cáccửa Đại Hoàng, cửa Tiểu Khang, cửa Càn, cửa Thần Phù ,gần hơn cả con đường theo sông Hoàng Long ra sông Đáyrồi cũng ra biển Ra tới biển thì ngược lên Bắc hay xuôi vàoNam cũng đều thuận lợi

Như vậy, kinh thành Hoa Lư nằm giữa hai trụcđường bộ xuyên Việt, lại gắn với mạng lưới sông ngòi, bởithế dù nằm sâu trong nội địa, giữa một thung lũng núi đávôi hiểm trở nhưng vẫn dễ dàng liên lạc với mọi miền

Giao thông cũng giúp cho Hoa Lư có điều kiện nhấtđịnh để phát triển kinh tế đô thị Trong kinh thành không cókhu dân cư với các phường nghề và chợ búa, song phần

“thị” của Hoa Lư lại nằm bên ngoài thành, nơi bến sôngHoàng Long với kho tàng, bến bãi, thuyền bè và hoạt độngbuôn bán tấp nập Khảo cổ học đã tìm thấy chứng tích vềkhu dân cư và các hoạt động buôn bán ở mạn sông HoàngLong, đoạn giữa chân núi Nghẽn và chùa Bà Ngô, cáchtrung tâm thành Hoa Lư khoảng 2 km, dưới độ sâu độ sâu

từ 1 đến 3-4m Đó là các đồ đất nung và gốm tráng men,tiền cổ, gạch: “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, “Giang

Trang 13

Tây quân”…, gáo múc kim loại (dùng cho lò nấu đồng),dấu vết của thóc, gạo, xương voi, ngựa (động vật chuyênchở)…

Về phong thủy, thành Hoa Lư có núi Trường Yênphía trước làm tiền án, núi Đại Vân phía sau làm hậu chẩm,

có hệ thống núi đá xung quanh bao bọc, địa thế vững chãi

Như thế có nghĩa là Hoa Lư cũng có đủ điều kiện đểthực hiện vai trò của một kinh đô Sử sách cũ từng miêu

tả: "Hoa Lư là nơi núi non trùng điệp Núi trong sông, sông trong núi Căn cứ thủy bộ rất thuận tiện Sau lưng là rừng, trước mặt là đồng bằng, xa nữa là biển cả Nơi đây non sông tráng lệ, phong thủy hài hòa xứng đáng chọn để dựng

đô được”.

Đó cũng là lý do chủ yếu nhất để Đinh Tiên Hoàngchọn Hoa Lư làm kinh đô, và các vua tiền Lê về sau vẫnlấy nơi này làm quốc đô cho triều đại mình

Thế nhưng, một vấn đề đặt ra: rằng tại sao Hoa Lưđáp ứng được yêu cầu lập đô của các vị vua sáng nghiệpnhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhưng lại không thỏa mãn yêu cầucủa vị vua sáng nghiệp nhà Lý? Câu trả lời ở đây là: vấn đềthời đại Yêu cầu của các vua sáng nghiệp không đơn thuầnchỉ là yêu cầu của cá nhân, dòng tộc, mà còn là yêu cầu củathời đại Bước sang đầu thế kỷ XI, sau 3 triều đại: Ngô,Đinh, Tiền Lê có vai trò đặt móng xây nền cho nền độc lập,nhưng khi sự thống thống nhất quốc gia đã tương đối ổnđịnh, đất nước cần phải bước sang thời kỳ mới, phục hưng

và cất cánh Lý Thái Tổ cùng với các vị quân sư của ông(như các Thiền sư Vạn Hạnh, Khánh Văn…) đã nhìn ra yêucầu lịch sử ấy Để thực hiện được yêu cầu mới của lịch sử,vấn đề đặt ra là phải tìm được vùng đất mới để đóng đô,khả dĩ thực hiện tốt hơn vai trò của môt trung tâm đất nước

ở thời kỳ phát triển Kinh đô mới không chỉ là đầu não vềchính trị, mà còn là đầu mối về kinh tế, nơi hội tụ văn hóa

và khí thiêng sông núi; không chỉ lợi về đối ngoại mà cònphù hợp với triết lý giữ nước mới trong kháng chiến chôngngoại xâm, chứ không chỉ dùng làm căn cứ thủ hiểm chocác cuộc nội chiến như ở thời kỳ trước đó

Vậy đâu là vùng đất lý tưởng cho Lý Thái Tổ dựng

đô mới, xác lập vị thế cao hơn cho triều đại của ông và chonước Đại Việt? Đó chính là vùng đất Đại La, trung tâm của

Ngày đăng: 01/06/2018, 16:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w