Để thực hiện tốt chủ trương phát triển đội ngũ nhà giáo, chúng ta cần nhanh chóngkhắc phục các hạn chế của công tác quản lý đội ngũ GV như bố trí, sắp xếp và sửdụng để sớm xây dựng được
Trang 1SỞ GDĐT NINH THUẬN TRƯỜNG THCS, THPT ĐẶNG CHÍ THANH
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN
NĂM HỌC 2019 - 2020
BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỒ SƠ VIÊN CHỨC
Lĩnh vực công tác: Quản lý Lĩnh vực sáng kiến: Quản lý viên chức
Thuận Nam, tháng 5 năm 2020
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân lực, nguồn lực con người giữ vai trò quyết định cho sự tồn tại và pháttriển của một tổ chức Đất nước đang trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòihỏi nguồn nhân lực trí tuệ cao Quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xu thế toàncầu hóa đang là một thách thức với nước ta, đòi hỏi nhà nước và ngành giáo dục phải
có một chiến lược phát triển nhân tài Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng tiếp tục khẳng định vấn đề này, trong đó nhấn mạnh “phát triển đội ngũ
GV là khâu then chốt” trong chiến lược “đổi mới căn bản và toàn diện GD- ĐT”
Thực tiễn ho thấy, đội ngũ GV luôn giữ một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng,
họ là người quyết định thành công công cuộc xây dựng và đổi mới nền giáodục.“Không có thầy giáo thì không có giáo dục” Chất lượng, nhân cách, phẩm chấtđạo đức và lý tưởng của đội ngũ này như thế nào sẽ ảnh hưởng to lớn và trực tiếp đếnsản phẩm mà họ đào tạo ra - đó chính là những con người - những công dân xây dựng
xã hội Do đó, việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV không chỉ là vấn đề mang tính
lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển giáo dục của nước ta
Để thực hiện tốt chủ trương phát triển đội ngũ nhà giáo, chúng ta cần nhanh chóngkhắc phục các hạn chế của công tác quản lý đội ngũ GV như bố trí, sắp xếp và sửdụng để sớm xây dựng được đội ngũ GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và bảođảm các yêu cầu về năng lực chuyên môn phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục Do
đó, cần làm tốt công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, quản lý mục tiêu,chất lượng giáo dục, đào tạo Mặt khác, phải có chế độ chính sách, đặc biệt là chínhsách về lương, thưởng, thăng tiến, phát triển chuyên môn, đánh giá, đãi ngộ phù hợp
để tạo động lực và hiệu quả làm việc của đội ngũ GV Thời gian qua, mặc dù Đảng vàNhà nước đã cải thiện chế độ chính sách cho GV, nhưng các chính sách, chế độ hiệnhành đối với GV vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến hệ quả là nhiều GV không thể toàntâm, toàn ý cho sự nghiệp GD-ĐT, sự nghiệp trồng người
Ngược lại, để mỗi GV thực sự giữ vai trò trung tâm trong phát triển GD-ĐTcần bồi dưỡng phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo đức và kỹ năng sư phạm giỏi cho họ
Về vấn đề này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ, phải “đặc biệt coi trọng giáodục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lựcsáng tạo, kỹ năng thực hành " Vì GV không chỉ là người thầy, nhà khoa học, nhà tưtưởng, người cung cấp tri thức, mà còn phải là người hướng dẫn người học đến với trithức, khoa học bằng đường đi ngắn nhất và phải là tấm gương về phẩm chất chính trị,đạo đức lối sống, kỹ năng sư phạm giỏi cho người học noi theo
Trường THPT Nguyễn Văn Linh được xây dựng năm 2008, chính thức đưa vào
sử dụng năm 2009 thuộc thôn Quán Thẻ 2, xã Phước Minh, huyện Thuận Nam, mộthuyện phía Nam tỉnh Ninh Thuận Là cơ sở giáo dục THPT duy nhất trên địa bànhuyện nhưng điều kiện cơ sở vật chất, môi trường làm việc còn nhiều khó khăn Hiệntại trường chỉ có 01 khối phòng học gồm 20 phòng; chưa có khối phòng hành chính,
Trang 4phòng bộ môn, thí nghiệm thực hành; chưa có sân chơi Cơ sở vật chất chưa hoànthiện, đang xuống cấp; thiết bị, đồ dùng dạy học hư hỏng nhanh do ảnh hưởng của hơinước mặn thuộc khu công nghiệp muối Quán Thẻ Vị trí trường xa trung tâm huyện,không thuận lợi cho việc đi lại, công tác, học tập của GV và HS Trong những nămgần đây, đội ngũ GV của trường không ổn định vì trường chỉ là “điểm tạm dừngchân” Tập thể lãnh đạo nhà trường luôn phải đối mặt với một thách thức lớn đó làvấn đề ổn định, phát triển đội ngũ GV có lòng yêu nghề, gắn bó với sự nghiệp trồngngười, gắn bó với nhà trường
Để xây dựng được đội ngũ GV đáp ứng nhu cầu phát triển GD của nhà trường,bên cạnh công tác phát triển đội ngũ GV thì công tác quản lý đội ngũ GV cũng là mộthoạt động quan trọng để đảm bảo chất lượng giáo dục Để khắc phục vấn đề này, đòihỏi phải có sự nổ lực của chính bản thân người GV và sự đổi mới trong công tác quản
lý GV Xuất phát từ yêu cầu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý đội ngũ
giáo viên ở trường THPT Nguyễn Văn Linh, tỉnh Ninh Thuận”.
2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục đích
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ GV ởtrường THPT Nguyễn Văn Linh, tỉnh Ninh Thuận
2.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc quản lý đội ngũ GV ở trường THPT
- Phân tích thực trạng quản lý đội ngũ GV ở trường THPT Nguyễn Văn Linh,
từ đó tìm ra những vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý,phát riển đội ngũ
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ GV phùhợp với điều kiện thực tiễn đơn vị
3 Đối tượng và phạm vi của đề tài
3.1 Đối tượng
Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý nguồn nhân lực (đội ngũGV) và biện pháp quản lý đội ngũ ở trường THPT Nguyễn Văn Linh
3.2 Phạm vi của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung trong quản lý đội ngũ GV ở
trường THPT Nguyễn Văn Linh trong năm học 2018-2019 như: Công tác quy hoạch,tuyển dụng GV, công tác sử dụng GV, công tác đào tạo, bồi dưỡng GV, các cơ chếchính sách đối với GV
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Trang 5- Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận phục vụ cho vấn đề nghiên cứu đề tàinhư lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý đội ngũ GV.
- Phân loại hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên quan đến công tác quản lýđội ngũ GV, đặc biệt là trong các trường THPT
4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Quan sát, tổng kết kinh nghiệm, tìm hiểu thực trạng bố trí sử dụng đội ngũ,thực trạng quản lý GV của HT nhà trường
Trang 6NỘI DUNG
I Một số khái niệm cơ bản
1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học
1.1 Quản lý
Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu donhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại Lao độngquản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người,nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện Ngàynay quản lý đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một nghề phức tạp nhất trong
xã hội hiện đại
Tác giả Nguyễn Đức Trí cho rằng: "Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ định), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng
ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định" [47,14]
Tác giả Nguyễn Phúc Châu lại cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý (những người bị quản lý) bằng việc sử dụng các phương tiện quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý” [17, 20].
Có thể sơ đồ hóa mô hình quản lý bằng sơ đồ dưới đây:
1.2.
Quản lý giáo dục
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội, nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội”
Tác giả Trần Kiểm lại quan niệm: " Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của công tác quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi GV và HS với
sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường".
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục nhưng đều thốngnhất cách hiểu đó là quá trình tác động có định hướng của người quản lý giáo dục
Trang 7trong việc vận dụng những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lývào lĩnh vực giáo dục, nhằm đạt mục tiêu mà giáo dục đã đề ra.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý trường học là quản lý tập thể GV
và HS, để chính họ lại quản lý (đối với GV) và tự quản lý (đối với HS) quá trình dạy học - giáo dục, nhằm đào tạo ra sản phẩm là nhân cách người lao động mới".
Như vậy quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạmcủa người thầy, hoạt động học tập-tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trìnhdạy học, từ đó có thể hiểu rằng thực chất quản lý trường học là quản lý quá trình dạyhọc
2 Khái niệm GV, khái niệm đội ngũ GV
2.1 Giáo viên
Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 2014 thì
“Giáo viên là người giảng dạy ở các trường phổ thông hoặc tương đương” [19,179].
Theo Điều 70 của Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 và Khoản 23, Điều 1 của
Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Giáo dục năm 2005 thì “Nhà giáo là
người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác Nhàgiáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệptrình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên Nhàgiáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên”
Như vậy, có thể hiểu giáo viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở các cơ sở giáo dục đào tạo, từ mầm non cho đến đại học và sau đại học.
2.2 Khái niệm đội ngũ GV
Đội ngũ GV của một trường THPT là tập hợp tất cả các GV của trường đó theomột cấu trúc nhất định về mặt tổ chức, có một số lượng GV nhất định (đủ hay chưa đủtheo quy định), có một chất lượng nhất định (về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức
và chuyên môn, nghiệp vụ) tạo thành một tập thể sư phạm được đánh giá là vữngmạnh hay yếu kém nói chung, hoặc vững mạnh hay yếu kém về từng mặt nói riêng
Như vậy, có thể hiểu: Đội ngũ GV THPT là tập hợp những người tham gia côngtác giảng dạy, GD trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáodục quốc dân, được tổ chức thành một lực lượng, có cùng nhiệm vụ là giảng dạy, giáodục và nghiên cứu khoa học là lực lượng chủ yếu giữ vai trò quan trọng trong việcthực hiện mục tiêu và kế hoạch GD của nhà trường Lao động của đội ngũ GV là lao
Trang 8động trí óc, lao động khoa học, lao động đặc thù nhằm tạo ra sản phẩm đặc biệt là conngười đã đã được giáo dục và đào tạo Chất lượng GD trong trường THPT là sự đónggóp chung của tập thể sư phạm trong đó đội ngũ GV đóng vai trò quyết định.
3 Lý luận về quản lý đội ngũ GV THPT
3.1 Khái niệm quản lý đội ngũ GV
Quản lý đội ngũ GV là việc xây dựng, phát triển đội ngũ GV vững mạnh cả về
số lượng và chất lượng, có đầy đủ phẩm chất trí tuệ, năng lực và trình độ chuyên môn
để hoàn thành tốt các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục và nghiên cứu khoa học QL độingũ là một mặt cấu thành của hoạt động QL đề cập đến con người trong tổ chức Nóimột cách ngắn gọn hơn: QL đội ngũ là QL con người
Trong một trường THPT, HT (và PHT phụ trách chuyên môn giảng dạy) QLđội ngũ GV thông qua các TTCM QL đội ngũ GV THPT là quá trình HT tác độngđến đội ngũ GV để tổ chức và phối hợp các hoạt động của họ trong quá trình giáo dục
HS theo mục tiêu GD
Xuất phát từ vai trò chủ đạo của đội ngũ GV trong trường THPT mà ta có thểnói rằng: QL trường THPT chủ yếu là tác động đến đội ngũ GV, tổ chức hoạt độngcủa họ trong quá trình giảng dạy, giáo dục HS
Quan hệ trực tiếp hàng ngày giữa HT và đội ngũ GV là quan hệ giữa người vớingười Trong nhóm nghề này năng suất lao động phụ thuộc một phần vào mối quan hệgiữa người với người Hiệu quả lao động của đội ngũ GV phụ thuộc vào mối quan hệgiữa HT và GV cũng như hiệu quả học tập của HS phụ thuộc một phần vào mối quan
hệ Thầy - Trò Trong đội ngũ GV mỗi người đều có nhu cầu được tự khẳng định mình,muốn được tạo điều kiện để làm việc tốt và ai cũng có tâm lý muốn được tôn trọng Vìvậy người HT phải có thái độ cư xử có văn hóa, khôn ngoan và tế nhị trong việc vậndụng nguyên tắc QL vào QL từng GV và cả đội ngũ GV
3.2 Mục tiêu quản lý đội ngũ GV ở trường THPT
Mục tiêu của công tác QL đội ngũ GV THPT là xây dựng đội ngũ GV THPT đủ
về số lượng; đạt chuẩn về đào tạo; đồng bộ về cơ cấu; đoàn kết nhất trí trên cơ sởđường lối GD của Đảng Cộng sản Việt Nam; ngày càng vững mạnh về chính trị,chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức thực hiện có chất lượng kế hoạch và mục tiêu GD
Trong mỗi trường THPT, mục tiêu của công tác QL đội ngũ GV là xây dựngđội ngũ GV thành một tập thể đoàn kết để tạo nên sức mạnh tập thể trong sự hợp tác,giúp đỡ và thi đua với nhau giữa các thành viên, kể cả sự động viên, cổ vũ, chia sẻcho nhau về mặt tinh thần và đấu tranh chống tiêu cực trong nội bộ đội ngũ GV Độingũ GV phải phát huy được tài năng sư phạm, tính sáng tạo của mỗi GV; làm cho mỗi
GV đều hài lòng, gắn bó với nhà trường, thấy được sự phát triển của cá nhân gắn liềnvới sự phát triển của nhà trường Chất lượng và thành quả lao động của đội ngũ GVTHPT phụ thuộc chủ yếu vào sự thành thạo trong nghề nghiệp, sự sáng tạo của họ Cóđược điều này họ phải trải qua một quá trình tích lũy, bổ sung thường xuyên nhữngkiến thức, kỹ năng để đáp ứng tốt nhất yêu cầu của quá trình sư phạm và sự vận độngkhông ngừng của xã hội Chất lượng của từng GV sẽ làm nên sự vững mạnh về chất
Trang 9lượng của cả đội ngũ Mỗi GV vừa chịu trách nhiệm trong một công đoạn cụ thể trongviệc giáo dục HS, vừa chịu trách nhiệm GD toàn diện cho nên nhất thiết phải có sựphối hợp đồng bộ, nhịp nhàng trong lao động của đội ngũ GV.
3.3 Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của đội ngũ GV THPT trong giai đoạn hiện
nay
3.3.1 Yêu cầu về phẩm chất
Phải có lý tưởng, tình cảm và đạo đức nghề nghiệp cao thượng, trong sáng; Yêuthương, quý trọng các thế hệ học trò Mỗi GV phải đích thực là những tấm gươngsáng để các thế hệ HS noi theo Điều đó đòi hỏi GV phải không ngừng tự rèn luyện, tựcải tạo
3.3.2 Yêu cầu về năng lực sư phạm
Năng lực sư phạm là bộ phận không thể thiếu được trong cấu trúc nhân cáchcủa nhà sư phạm, được biểu hiện ở năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực
tự hoàn thiện Năng lực sư phạm là tổng hợp những đặc điểm tâm lý của cá nhân, đápứng các yêu cầu của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công trong việc nắm
vững các hoạt động ấy Năng lực sư phạm của nhà giáo trước hết là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục đạt kết quả với chất lượng cao; là tổ hợp hệ
thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thể hiện năng lực sư phạm; khả năng lĩnh hội và vậndụng sáng tạo tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó trong những trường hợp cụ thể, kể cảnhững xu hướng nghề nghiệp sư phạm tích cực, bao gồm: khả năng khơi dậy ở HS say
mê học tập, khát khao hướng thiện; khả năng định hướng, hướng dẫn, tổ chức, điềukhiển, điều chỉnh, vận động, cổ vũ cho người học và quá trình học tập, rèn luyện củangười học; khả năng truyền đạt, sử dụng ngôn ngữ, quan sát, phán đoán, đánh giá ;khả năng giao tiếp, sự khéo léo trong ứng xử sư phạm; có lòng yêu nghề, có hứng thúgiảng dạy và giáo dục cho HS; tích cực cải tiến, đổi mới hoạt động dạy học, làm cho
HS hứng thú trong việc tìm tòi, khám phá cái mới, cái đẹp, phát huy được tài năng vàkhả năng sáng tạo của con người
Về trình độ chuyên môn, GV phải đạt chuẩn về trình độ theo quy định Có kiếnthức vững vàng, sâu rộng về chuyên môn trong đó kết hợp nhuần nhuyễn giữa lýthuyết thực tế và kinh nghiệm, giữa nhận thức và thực hành Hoàn thành tốt nhiệm vụcủa mình trên cơ sở hệ thống tri thức mà người GV được trang bị Đồng thời, GV cần
có kiến thức rộng rãi về xã hội và về các ngành khoa học khác làm phong phú và sâusắc hơn cho nội dung giảng dạy
Về trình độ nghiệp vụ, GV phải có kiến thức cơ bản về khoa học giáo dụcTHPT; Các kiến thức cơ bản về tâm lý học dạy học, đặc điểm tâm lý người học, lýluận và phương pháp, kỹ năng dạy học; Các phương pháp cơ bản về kiểm tra, đánhgiá kết quả học tập của HS
3.3.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của GV
* Nhiệm vụ của GV
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và
có chất lượng chương trình giáo dục
Trang 10- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều
lệ nhà trường
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách củangười học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng củangười học
- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độchính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt chongười học
- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
- Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự
- Được nghỉ hè, nghỉ Tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng BộGD-ĐT và các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ luật lao động
* GV không được có các hành vi sau:
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể của người học
- Gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố ý đánh giá sai kết quả học tập, rèn luyệncủa người học
- Xuyên tạc nội dung giáo dục
- Ép buộc HS học thêm để thu tiền
3.4 Chức năng của công tác quản lý đội ngũ GV
Theo tác giả Hồ Văn Liên (2008): “Trong quá trình điều hành, người quản lý tiến hành nhiều hoạt động khác nhau Nghiên cứu những hoạt động này người ta đã
cố gắng tách riêng từng hoạt động ra, dựa trên tính tương đối độc lập của mỗi hoạt động Mỗi hoạt động tương đối độc lập được tách ra trong hoạt động quản lý được gọi là chức năng quản lý”
Tất cả các nhà quản lý đều thực hiện 4 chức năng: Hoạch định, tổ chức, chỉ
đạo, kiểm tra Bốn chức năng đó thực chất là một chuỗi công việc kế tiếp nhau theo
một cấu trúc vòng khép kín mà người ta gọi là chu trình quản lý Trong quá trình quản
lý, chu trình này luôn được lặp lại
3.4.1 Chức năng hoạch định
Hoạch định là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý Nó có vai trò quantrọng là xác định phương hướng hoạt động và phát triển của tổ chức, xác định các kếtquả cần đạt được trong tương lai Hoạch định là một quá trình gồm các bước: Dự báo,xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu
Trang 11a) Dự báo
Dự báo là công việc bắt đầu của chức năng hoạch định Nó có nhiệm vụ tìm rahướng hoạt động và phát triển của nhà trường trên cơ sở nắm vững đường lối pháttriển kinh tế - xã hội - giáo dục của Đảng và Nhà nước, của địa phương, hiểu biết thịtrường (hàng hóa, lao động ), nhu cầu đào tạo Trong dự báo công tác quản lý độingũ GV, cần chú ý về số lượng, cơ cấu GV theo từng loại chức danh chuyên môn; yêucầu về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo từng loại chức danh chuyênmôn Dự báo có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai Vì vậy, đểcho dự báo được chính xác hơn, cần loại trừ tính chủ quan của người dự báo
Dự báo quản lý đội ngũ GV là một trong những cơ sở cần thiết, quan trọng và
có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng kế hoạch tổng thể, dài hạn của nhà trường, giúpnhà quản lý thoát khỏi tư duy kinh nghiệm, trực giác và là một trong những căn cứquan trọng để xây dựng chiến lược phát triển giáo dục của nhà trường
b) Xác định mục tiêu
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “mục tiêu là đích đặt ra cần đạt phải đạt tới đối với một công tác, nhiệm vụ ” Mục tiêu quản lý trường học là trạng thái được xác định trong tương lai của nhà trường hoặc một số yếu tố cấu thành nó
Mục tiêu quản lý đội ngũ GV là “xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, GV của trường có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, tiêu chuẩn hóa về trình độ, bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế
hệ GV của nhà trường”.
Mục tiêu có các vai trò làm nền tảng cho hoạch định, nhằm xây dựng hệ thốngquản lý và quyết định toàn bộ diễn biến của tiến trình quản lý Vì vậy, khi xác địnhmục tiêu quản lý đội ngũ GV, người HT cần đáp ứng các yêu cầu: đảm bảo tính liêntục và kế thừa; phải rõ ràng bằng các chỉ tiêu định lượng là chủ yếu; nên có sự kỳvọng và tiên tiến để thể hiện được sự phấn đấu của các thành viên; cần xác định mụctiêu trọng tâm để tập trung các nguồn lực; xác định rõ thời gian thực hiện và có cáckết quả cụ thể
c) Xây dựng kế hoạch
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, các phương tiện quản lý, đặc biệt là các nguồnthông tin khác từ công tác điều tra và nghiên cứu; HT xây dựng kế hoạch cụ thể chocông tác quản lý đội ngũ GV, trong đó thể hiện được các nội dung về quy hoạch,tuyển dụng, sử dụng, sự quan tâm đãi ngộ, sự sàng lọc, đào tạo bồi dưỡng, công tácphối hợp quản lý đội ngũ GV, và các điều kiện về nguồn lực khác, để đảm bảo chocông tác quản lý đội ngũ GV đạt đến mục tiêu về số lượng, chất lượng, cơ cấu Nộidung của kế hoạch quản lý đội ngũ GV phải xác định và đảm bảo chắc chắn về cácnguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực), lựa chọn các phương án và biện pháp tối ưu đểthực hiện tốt kế hoạch đề ra Kế hoạch phải thể hiện cụ thể, rõ ràng, phản ánh đượchoạt động chung của nhà trường ở từng thời điểm nhất định (từng năm, từng học kỳ,từng tháng ), đồng thời cho thấy được trách nhiệm của từng thành viên trong nhàtrường
Trang 12Sản phẩm quan trọng của chức năng hoạch định là kế hoạch Có ba loại kếhoạch: kế hoạch chiến lược (giải quyết mục tiêu chiến lược); kế hoạch chiến thuật(giải quyết mục tiêu chiến thuật); kế hoạch tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tácnghiệp) Vì vậy, kế hoạch được xây dựng chặt chẽ, khoa học sẽ mang tính khả thi cao.Đây cũng đòi hỏi sự đầu tư thỏa đáng về trí tuệ, thời gian của nhà quản lý nhằm đápứng yêu cầu phát triển đội ngũ GV cho nhà trường theo mục tiêu đề ra.
3.4.2 Chức năng tổ chức
Tổ chức là một khâu trong chu trình quản lý, là một chuỗi hoạt động diễn ratrong một giai đoạn của quá trình quản lý Hoạt động tổ chức trước hết và chủ yếu làxây dựng cơ cấu tổ chức: xác định các bộ phận cần có, thiết lập mối quan hệ ngang vàdọc của các bộ phận, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận: xâydựng qui chế hoạt động Một cơ cấu tổ chức được coi là hợp lý khi nó tuân thủnguyên tắc thống nhất trong mục tiêu Mỗi cá nhân đều góp phần công sức vào cácmục tiêu chung của tổ chức, đạt mục tiêu đó với mức chi phí tối thiểu cho bộ máy vàcho mọi hoạt động
Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý ĐNGV, trước hết người HT phải xácđịnh và phân loại các hoạt động cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu về đảm bảo
số lượng, chất lượng và cơ cấu ĐNGV (như đã nêu trong kế hoạch); hình thành cơ cấu
tổ chức, như việc thành lập các khoa, phòng, các bộ phận chuyên môn khác, như thếnào cho phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu phát triển của nhà trường; phânnhiệm và phân quyền rành mạch cho các bộ phận, tránh chồng chéo để họ chủ động
và phát huy tốt vai trò trách nhiệm của mình trong quản lý con người, quản lý hoạtđộng chuyên môn; ràng buộc các bộ phận theo chiều dọc và chiều ngang trong cácmối quan hệ về trách nhiệm, quyền hạn và thông tin
Nội dung của chức năng tổ chức quản lý ĐNGV bao gồm việc xây dựng cơ cấu
tổ chức bộ máy nhà trường (đảm bảo các nguyên tắc tầm quản lý được, tính đẳng cấu,rành mạch, tiết kiệm và chuyên môn hóa); xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo đủ
về số lượng, đảm bảo chất lượng và đồng bộ về cơ cấu; xây dựng các mối quan hệtrong tổ chức; phân công và tổ chức lao động cho ĐNGV một cách khoa học, tối ưu
3.4.3 Chức năng chỉ đạo
Sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu đã được hình thành, nhân sự đã đượctuyển dụng, sắp xếp thì phải có người lãnh đạo dẫn dắt, điều khiển Đó là quá trình tậphợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát hoạt động của bộ máy, điều khiển,hướng dẫn, điều chỉnh công việc hợp lý, nhịp nhàng; động viên, khuyến khích cácthành viên hoàn thành nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Nó kết nối,thẩm thấu và đan xen vào hai chức năng trên
Chỉ đạo là thể hiện tính tích cực của người chỉ huy trong hoạt động của mình.Chỉ đạo thực hiện kế hoạch là có sự theo dõi và giám sát công việc để chỉ huy, ra lệnhcho các bộ phận và các hoạt động đội ngũ giảng viên diễn ra đúng hướng, đúng kếhoạch, tập hợp được các lực lượng giáo dục trong một tổ chức và phối hợp tối ưu vớinhau
Trang 13Trong khi thực hiện kế hoạch có thể có một số vấn đề chưa phù hợp với thựctiễn cần phải điều chỉnh cho hợp lý hơn Người quản lý bám sát hiện trường, phân tíchnhanh chóng các vấn đề thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa, bù đắp, chỉnh lý kếhoạch để hoạt động giáo dục đạt hiệu quả tối ưu.
3.4.4 Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của QL Lãnh đạo mà khôngkiểm tra thi coi như không lãnh đạo Theo lý thuyết hệ thống kiểm tra chính là thiếtlập mối quan hệ ngược trong QL
Kiểm tra trong QL là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng :phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích Nhờ có kiểm tra mà người cán bộ QL có đượcthông tin để đánh giá được thành tựu công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạt động mộtcách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu
Trong QL đội ngũ GV, để thực hiện các yêu cầu về kiểm tra, đánh giá nêu trên,người HT cần phải chú trọng việc rà soát số lượng GV đã đủ theo yêu cầu của quy môđào tạo chưa để có giải pháp khắc phục Lãnh đạo nhà trường phải tăng cường côngtác kiểm tra nội bộ trường học (qua dự giờ thăm lớp) để tác động vào ý thức tự bồidưỡng của GV và khơi dậy sự giúp đỡ lẫn nhau của tập thể sư phạm; phát hiện những
cá nhân có năng lực, phẩm chất, tạo điều kiện để họ phấn đấu và cống hiến tài năng vàtrí lực của mình cho sự phát triển của nhà trường; đồng thời nhắc nhở, uốn nắn những
cá nhân chưa hoàn thành nhiệm vụ để họ khắc phục những hạn chế, vươn lên trongcông tác Mặt khác, nhà QL cần đánh giá được sự mất cân đối trong cơ cấu GV củatrường, để đề xuất các giải pháp tháo gỡ kịp thời
4 Nội dung của công tác quản lý đội ngũ GV
4.1 Quy hoạch, tuyển dụng đội ngũ GV
Quy hoạch GV là sự chuẩn bị thận trọng, công phu, có tầm nhìn xa, có quanđiểm rõ ràng trong sự đánh giá, lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp đội ngũ,đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu tổ chức nhằm phục vụ tốt nhấtcho quá trình xây dựng và phát triển của nhà trường trong từng giai đoạn
Công tác quy hoạch, rà soát, bố trí, sắp xếp tổ chức và ĐNGV có ý nghĩa rấtquan trọng trong sự phát triển của nhà trường Công tác quy hoạch ĐNGV mang tính
kế hoạch rất cao, đó là kế hoạch về sự tuyển chọn, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng conngười bằng công việc, qua công việc Thông qua quy hoạch nhằm điều chỉnh, bổ sung
về số lượng, chất lượng ĐNGV giúp có được ĐNGV đủ về số lượng, đồng bộ về cơcấu và đạt chuẩn về trình độ
Việc bố trí, sử dụng ĐNGV luôn gắn liền với xây dựng, củng cố tổ chức bộmáy Quy hoạch, rà soát, bố trí, sắp xếp tổ chức bộ máy và ĐNGV một cách khoa học,phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của nhà trường sẽ luôn mang lại chất lượng mớicho đội ngũ GV và đảm bảo sự đoàn kết nhất trí trong tập thể lãnh đạo và trong toàntrường
Tuyển dụng là công việc xét chọn người thích hợp và nhận vào làm việc Việctuyển dụng GV phải đảm bảo nhiều yếu tố quan trọng như đảm bảo tính phân cấp,
Trang 14tính công khai, minh bạch trong quy trình tuyển dụng, tiêu chí tuyển dụng hợp lý, đảmbảo tính hợp lý giữa các bộ môn, đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấuđội ngũ GV, để thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường.
4.2 Sử dụng đội ngũ GV
Sử dụng GV là phân công nhiệm vụ cho họ, cắt cử họ vào những vị trí công tácthích hợp, tạo những điều kiện thuận lợi để họ nâng cao chất lượng giảng dạy, GDđồng thời phát huy được khả năng lao động sáng tạo Người xưa nói: “dụng nhân nhưdụng mộc”, dụng nhân không chỉ là một khoa học mà còn là cả một nghệ thuật Nóđòi hỏi nhà tổ chức phải có nhãn quan nhạy bén, có bộ óc sáng suốt và phải có “lòngtrong, tâm sáng” để nhìn nhận, đánh giá đúng giá trị của một con người Từ đó đặt họvào đúng vị trí mà xã hội đang cần để có thể phát huy triệt để năng lực của họ
Trong công tác sử dụng GV, trước hết người HT phải tạo ra sự ổn định cần thiếtđối với tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn Tiếp theo là hình thành các tổ chức theoquan hệ phối hợp để chỉ đạo các hoạt động chuyên môn được toàn diện như banhướng nghiệp, ban GD ngoài giờ lên lớp, ban lao động Cuối cùng là lựa chọn vàphân công hợp lý GV dạy ở các lớp và tham gia các hoạt động chuyên môn trên cơ sởnăng lực, sở trường và nguyện vọng cá nhân
Một vấn đề cũng cần được quan tâm trong việc sử dụng GV là HT cần tìmđược sự thống nhất chung từ nguyện vọng của GV, sự đề nghị, tham mưu của tổchuyên môn, sự bàn bạc dân chủ với đại diện Ban Chấp hành Công đoàn và ĐoànThanh niên từ đó mới đưa ra quyết định QL của mình HT cần phân công cho các phó
HT, các TTCM, nhóm trưởng chuyên môn giúp HT quản lý thông qua các biện phápchỉ đạo sâu sát, chặt chẽ hoạt động của các tổ chuyên môn
QL công tác phân công GV là khâu quan trọng trong công tác QL đội ngũ GV,
vì có sắp xếp sử dụng hợp lý đúng người đúng việc mới tạo điều kiện cho từng GVphát huy được khả năng của họ Để làm tốt công tác này đòi hỏi người HT phải thật
sự công bằng và khách quan nhằm đảm bảo hài hòa quyền lợi của đội ngũ GV và lợiích HS, đồng thời hướng đến nâng cao chất lượng giáo dục
4.3 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV
Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức hình thành và phát triển
hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cánhân, tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất, hiệu quả.Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc lạc hậutrong một cấp học, bậc học và trường học được xác nhận bằng một chứng chỉ
Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV thực chất là xây dựng
và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục Đào tạo và bồi dưỡng là hai mặt của mộtthể thống nhất, trong đó bồi dưỡng GV với ý nghĩa đào tạo tiếp tục là yêu cầu cấpthiết để nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và đổi mới cơ cấu tri thức
Vì vậy người lãnh đạo phải nhận thức đúng đắn mối quan hệ bản chất giữa “dùngngười” và “bồi dưỡng người”, “bồi dưỡng người” là để “dùng người” tốt hơn nữa,người quản lý phải có tầm nhìn chiến lược, phải coi trọng việc đầu tư trí tuệ cho độingũ GV, CBQL
Trang 154.4 Triển khai cơ chế chính sách đối với GV
Chính sách đối với GV có ý nghĩa rất quan trọng, nó chi phối mạnh mẽ việchình thành tiềm năng và phát huy tiềm năng, sự nhiệt tình, gắn bó của GV với côngviệc Chính sách đối với GV còn ảnh hưởng tới chất lượng công tác của GV Đặc biệt,trong cơ chế thị trường hiện nay, chế độ chính sách đối với GV mới chỉ đáp ứngnhững đòi hỏi trước mắt mà chưa tính đến mục tiêu lâu dài và trên cơ sở tầm nhìn,triết lý quản lý nguồn nhân lực Vì vậy, trong điều kiện cơ chế thị trường, chính sáchđối với GV có nhiều điểm cần nghiên cứu giải quyết kịp thời
HT cần thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ chính sách, đảm bảo quyền lợi vậtchất và tinh thần cho đội ngũ GV như nâng lương, phụ cấp, trợ cấp khó khăn, tiềnthưởng, phúc lợi, tiền tăng giờ, chế độ nghỉ hè Phải tạo điều kiện về thời gian vàphương tiện cho đội ngũ GV hoàn thành nhiệm vụ được phân công như trang bị đồdùng dạy học, GV có sách tham khảo, có phòng làm việc, phòng nghỉ, cung cấp vănphòng phẩm, trang bị phòng máy vi tính nối mạng cho GV truy cập thông tin
HT cùng Ban Chấp hành Công đoàn cần chú ý tổ chức đời sống tinh thần chocán bộ, GV như tham quan du lịch, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thểthao
5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ĐNGV
5.1 Yếu tố chủ quan
5.1.1 Năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý
“Quản lý ngày nay là một nghề” Cán bộ QLGD ngày nay phải là những conngười toàn năng, vừa có tầm nhìn chiến lược, vừa thành thạo kỹ năng nghiệp vụ QLnhà trường, nghiệp vụ tổ chức sư phạm, vừa thực hiện tốt sự liên nhân cách, biết xử lýcác tình huống gay cấn của cấp QL Trong đó, kỹ năng công tác kế hoạch, tổ chức,kiểm tra, xử lý thông tin theo kịp thời sự phát triển của nhà trường trước bối cảnh hộinhập quốc tế Đồng thời, có một số kiến thức, kỹ năng về tin học, ngoại ngữ để theokịp đà phát triển chung của xã hội
Một người HT giỏi không phải là người có tham vọng tìm cách giỏi hơn mọi
GV mà là người biết dùng GV giỏi Do đó, quản lý đội ngũ GV là cả một nghệ thuật,
người HT phải làm sao để xây dựng đội ngũ GV thành một tổ chức biết học hỏi Đội
ngũ GV THPT ngày nay có trình độ chuyên môn tương đối cao và rất nhạy bén trongviệc nắm bắt thông tin Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa họ là một yêu cầubắt buộc, từ đó mới có thể đáp ứng với yêu cầu đổi mới sự nghiệp GD&ĐT Bên cạnh
đó, bản thân đội ngũ cán bộ QLGD các trường THPT cũng phải luôn luôn “biết họchỏi” ở mọi lúc, mọi nơi để có thể làm tốt nhiệm vụ quản lý của mình Đặc điểm củalao động quản lý là loại lao động trí óc sáng tạo, có tính cộng đồng; mang tính giántiếp trong quá trình lao động; Là một dạng hoạt động thực tiễn Bản chất của nókhông phải là “biết” mà là “làm” Việc chứng minh sự đúng đắn của quản lý khôngphải là bằng nghiên cứu logic mà là kết quả thực tế của công việc Đối tượng của quátrình quản lý là một hệ thống bao gồm nhiều người, nhiều sự vật và sự việc với nhiềuquy mô, cấp độ khác nhau và luôn biến động Lao động quản lý đòi hỏi người quản lýphải có kiến thức tổng hợp và vận dụng tổng hợp hiểu biết về nhiều lĩnh vực: tự
Trang 16nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật, chính trị, pháp lý, tâm lý, giáo dục, ngoại giao, vănhoá
Chính vì vậy hiệu quả quản lý đội ngũ GV, trước tiên phụ thuộc vào nhận thức,trình độ tổ chức và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ quản lý ở các cấp.Bên cạnh trình độ chuyên môn, người cán bộ quản lý còn là người có trình độ tổ chức,khả năng xử lý linh hoạt các tình huống thực tế, là người thức thời, nhạy bén với thờicuộc, khả năng nắm bắt tâm lý con người, điều đó đòi hỏi cái tâm, cái tầm của nhàquản lý phải cao Nói cách khác nghệ thuật quản lý của nhà quản lý tác động rất lớnđến hiệu quả quản lý đội ngũ GV
5.1.2 Năng lực, phẩm chất của GV
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ Con người – nhân tốhàng đầu của sự phát triển kinh tế xã hội đang được chính phủ các nước dành sự quantâm đặc biệt Trong bối cảnh đó vai trò của nhà trường càng trở nên quan trọng Nhân
tố đầu tiên tạo nên bộ mặt nhà trường lại chính là ĐNGV, những người được xã hộigiao phó trọng trách đào tạo thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của xã hội Từ đó,đòi hỏi đội ngũ GV phải đáp ứng các yêu cầu về trình độ, năng lực và phẩm chất tốt
Hiệu quả của công tác quản lý đội ngũ GV chịu ảnh hưởng trực tiếp từ trình độ,năng lực, phẩm chất của đội ngũ GV Do vậy, quản lý đội ngũ GV phải có những biệnpháp kích thích, tạo động lực cho đội ngũ này luôn phát triển Bản thân người GVphải có ý chí, hoài bão vươn lên; không ngừng phấn đấu, học tập, tu dưỡng và rènluyện nhân cách, thực sự là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo
5.2 Yếu tố khách quan
5.2.1 Quan điểm, chủ trương về quản lý GV
Với quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đảng, Nhà nước ta đã có rấtnhiều chủ trương chính sách quan tâm, ưu đãi đối với sự nghiệp GD-ĐT của nướcnhà Điều đó thể hiện qua các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, về phát triển nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục Đây là căn cứ để các cấp quản lý giáo dục quán triệt và cụthể hóa bằng các văn bản hướng dẫn thực hiện Đây cũng là cơ sở để các nhà quản lýgiáo dục hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch về phát triển đội ngũ GV cho phùhợp với yêu cầu phát triển của nhà trường trong từng thời kỳ
5.2.2 Các điều kiện phục vụ công tác quản lý đội ngũ GV
Để công tác quản lý đội ngũ GV mang lại hiệu quả cao thì phải gắn liền với cácđiều kiện đảm bảo về nội dung chương trình và phương pháp đào tạo; về cơ sở vậtchất, trang thiết bị, hệ thống thông tin phục vụ cho việc triển khai kế hoạch; về cácnguồn lực được huy động để thực hiện các giải pháp quản lý đội ngũ GV, Đâykhông phải là những yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả quản lý ĐNGV nhưng
nó những điều kiện hỗ trợ, luôn tác động qua lại bổ sung cho nhau góp phần nâng caohiệu quả quản lý Nhà quản lý cần nhận thức đầy đủ về vai trò của từng yếu tố, phốikết hợp linh hoạt giữa các yếu tố chủ quan và khách quan nhằm đạt kết quả tối đa nhấttrong quá trình quản lý
Trang 176 Phương pháp và công cụ quản lý đội ngũ GV
6.1 Phương pháp quản lý đội ngũ GV
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới đối tươngquản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý
6.1.1 Phương pháp hành chính- tổ chức:
Là tổng thể các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý đến đối
tượng bị quản lý dựa trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực nhà nước
Các mối các hệ tổ chức và quyền uy xuất hiện ở tất cả các tổ chức giáo dục,cáccấp bậc QLGD và các cơ sở GD Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là sự cưỡngbức đơn phương của chủ thể quản lý Quan hệ ở đây là quan hệ giữa quyền uy và phụctùng, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa cá nhân và tổ chức Cấp trên ra lệnh, cấp dướibuộc phải chấp hành
Có nhiều hình thức thực hiện phương pháp này, đó là luật (như Luật giáo dục)điều lệ (như điều lệ trường THPT), quy chế (như quy chế tổ chức và hoạt động củacác trường dân lập), nghị quyết, quyết định, chỉ thị, các văn bản hành chính, mệnhlệnh
6.1.2 Phương pháp kinh tế:
Là tổng thể các tác động đến con người thông qua lợi ích vật chất, lợi ích tinh
thần, nhằm phát huy ở họ tiềm năng, trí tuệ, tình cảm, ý chí, trách nhiệm và quyết tâmhành động vì lợi ích chung của tổ chức
Những kích thích vật chất có thể kể như: các thang, bậc lượng, tiền thưởng,điều kiện sinh hoạt, lao động, có ý nghĩa tích cực đối với GV, khiến họ lao độngnhiều hơn, tốt hơn, có năng suất hơn để có những cống hiến xứng đáng cho tập thể
Những kích thích về tinh thần có thể kể như: phong danh hiệu thi đua, danhhiệu GV giỏi các cấp, nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân, ngoài ra, các kích thích vềchính trị (như kết nạp Đảng), về khoa học (như tạo điều kiện cho GV đi học sau đạihọc ) cũng thuộc loại kích thích tinh thần
Điều cần lưu ý là cần kết hợp các kích thích vật chất- tinh thần trong quá trìnhquản lý đội ngũ GV Quá coi trong kích thích vật chất sẽ tầm thường hóa GV, vả lạicũng không phù hợp với môi trường GD Ngược lại, quá coi trọng kích thích tinh thần
sẽ rơi vào chủ nghĩa duy ý chí
6.1.3 Phương pháp tâm lý- xã hội:
Là tổng thể các tác động lên trí tuệ, tình cảm, ý thức và nhân cách của con
người Mục đích của phương pháp này là thông qua những mối quan hệ liên nhâncách tác động lên con người nhằm cung cấp, trang bị thêm hiểu biết, hình thànhnhững quan điểm đúng đắn nâng cao khả năng, trình độ thực hiện nhiệm vụ của họ,đồng thời chuẩn bị tư tưởng, tình cảm, ý thức trách nhiệm, ý thức tự giác, tự chủ, lòngkiên trì, tinh thần tự chịu trách nhiệm, không khí lành mạnh trong tổ chức khi thựchiện nhiệm vụ
Trang 18Trong quản lý đội ngũ GV, phương pháp này được sử dụng nhiều, một phần dođặc điểm của môi trường hoạt động GD, phần khác do tính hiệu quả cao của nó.Đặctrưng của phương pháp này là tình thuyết phục, làm cho GV hiểu rõ đúng - sai, phải -trái, tốt-xấu, lợi- hại, thiện- ác, để từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bóvới tổ chức Cơ sở khách quan của phương pháp này là các quy luật nhận thức - tưduy, các quan hệ và quy luật tâm lý- GD - xã hội; trong khi đó hoạt động quản lý độingũ GV lại diễn ra trong môi trường GD, môi trường đụng chạm nhiều đến học thuật,chính vì thế mà phương pháp tâm lý- xã hội được sử dụng nhiều trong quản lý đội ngũGV.
6.2 Công cụ quản lý đội ngũ GV
Công cụ quản lý đội ngũ GV là những phương tiện, những giải pháp của chủthể quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hòa, phối hợp và đánh giá kếtquả hoạt động của các thành viên trong tổ chức giáo dục hướng vào việc thực hiệnmục tiêu giáo dục đã đề ra
Các loại công cụ quản lý đội ngũ GV gồm:
Công cụ có tính pháp lý như: luật pháp, pháp lệnh, nghị quyết, các chính sách,các văn bản, của các cơ quan có chức năng và thẩm quyền nhà nước ban hành nhưNghị quyết của Đảng về Giáo dục và các vấn đề liên quan: luật giáo dục, nghị quyếtcủa Quốc hội, nghị định của chính phủ
Công cụ theo lĩnh vực quản lý như: công cụ quản lý ngành, công cụ quản lý củacác ngành liên quan đến giáo dục, công cụ quản lý liên ngành do các cơ quan chứcnăng ban hành như chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD&Đt về nhiệm vụ năm học, chế độkhen thưởng đối với GV
Công cụ kinh tế, kỹ thuật như: công cụ hạch toán, chi tiêu trong giáo dục, công
cụ thống kê, xác suất như hướng dẫn chỉ tiêu trong giáo dục, hương dẫn phân bổngân sách trong giáo dục
Công cụ quản lý theo nội dung và quá trình quản lý như: công cụ quản lýchuyên môn, công cụ kiểm tra, đánh giá, công cụ điều chỉnh hoạt động như: chỉ thịcủa Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về thi tốt nghiệp các cấp, hướng dẫn tuyển chọn bồi dưỡng
HS giỏi, chỉ thị về tổ chức và quản lý dạy thêm học thêm, quy chế, quy định của HT
nhà trường, kế hoạch năm học
Trang 19II Thực trạng quản lý GV ở trường THPT Nguyễn Văn Linh
1 Khái quát tình hình đội ngũ
1.2.1 Theo chuẩn đào tạo
Trình độ đạt chuẩn: 27/ 31, tỷ lệ 87,1%; trên chuẩn: 4/ 31, tỷ lệ 12,9%
1.2.2 Theo độ tuổi – Dân tộc – Giới tính
- Độ tuổi phổ biến của GV: 40 tuổi trở xuống 27/31, tỷ lệ 87,1%; trên 40 tuổi:
1.2 Về cơ cấu giáo viên
a) Theo chuẩn đào tạo
Trình độ đạt chuẩn: 31/ 34, tỷ lệ 91,1%; trên chuẩn: 3/ 34, tỷ lệ 8,8%
b) Theo độ tuổi – Dân tộc - Giới tính
Trang 20- Độ tuổi phổ biến của giáo viên: 40 tuổi trở xuống 30/34, tỷ lệ 88,2%; trên 40tuổi: 4/34, tỷ lệ 11,8%.
- Giáo viên là người dân tộc thiểu số: 10/34, tỷ lệ 29,4%
- Giáo viên nữ: 13/34, tỷ lệ 38,2%; nữ dân tộc 3/10, tỷ lệ 30,0%
c) Theo môn học
* Qua các bảng số liệu về cơ cấu GV có thể thấy:
- Tỷ lệ GV là người dân tộc thiểu số 29,4% chủ yếu là dân tộc Chăm
- Cơ cấu về giới tính có sự chênh lệnh tương đối về số lượng GV nữ và GVnam (với tỷ lệ hơn 38,0% GV nữ)
- Về độ tuổi: Đội ngũ GV ở nhóm tuổi từ 30 tuổi trở xuống chỉ chiếm 14,7%.Nhóm tuổi trẻ giúp họ nhanh nhạy hơn trong việc tiếp thu cái mới, đáp ứng sự thayđổi Mặc dù được đào tạo đạt chuẩn theo quy định nhưng kinh nghiệm và chuyên môncòn thiếu là điều trở ngại lớn nhất khiến họ khó có thể tận tâm, tâm huyết với nghềmình đã chọn Nhóm tuổi từ 31 đến 45 tuổi chiếm tỷ lệ cao 85,3%; là độ tuổi đã ổnđịnh về “tay nghề” và có được những kinh nghiệm sống cần thiết để có thể công táctốt trong điều kiện khó khăn Đây là lực lượng quan trọng nhất, được coi là nòng cốttrong việc thực hiện chương trình giáo dục
- Đến nay, số lượng GV cơ bản đủ về số lượng, tỷ lệ chuẩn đào tạo ngày càngtăng nhưng trình độ năng lực của một bộ phận chưa đáp ứng được yêu cầu Trình độchuyên môn và trình độ năng lực chưa tương xứng và còn có một khoảng cách nhấtđịnh
Trang 212 Thực trạng đội ngũ GV ở trường THPT Nguyễn Văn Linh
2.1 Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
GV tin tưởng và nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng vàchính sách pháp luật của Nhà nước Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo;yêu nghề, tâm huyết với nghề dạy học Có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần tráchnhiệm Tuy nhiên ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm của một số ít ĐNGVcòn chưa tốt, một số GV chưa tận tâm, tận lực với nghề, chưa tuân thủ tốt một số nộiquy, quy định của đơn vị, còn đi trễ, về sớm, hồ sơ sổ sách không đầy đủ hoặc trên lớpdạy qua loa, chiếu lệ Về tinh thần đoàn kết, khiêm tốn học hỏi, biết lắng nghe ý kiến,góp ý thẳng thắn với đồng nghiệp để xây dựng tập thể sư phạm tốt Thực tế công tác,nhận thấy vẫn còn một số GV chưa thật sự khiêm tốn học hỏi, không lắng nghe ý kiếnđóng góp của đồng nghiệp, bảo thủ, ngại đổi mới chưa thể áp dụng được công nghệthông tin trong giảng dạy, chưa biết kết hợp giữa các phương pháp dạy học hiện đạivới các phương pháp truyền thống Một số ít GV tâm huyết mới làm tốt, còn lại đa
số GV chưa chủ động, còn trông chờ, ỉ lại Nguyên nhân là do nhà trường chưa có cơchế phối hợp tốt
Đa số GV không quan tâm, không chú ý lắng nghe khi được triển khai cácnghị quyết của Đảng, các công văn của ngành, mà chỉ nói chuyện, làm việc riêng, nênhoạt động này không đạt hiệu quả Nhưng khi có việc liên quan cần giải quyết thì mớitìm kiếm, hỏi han lại người triển khai công văn Do đó, trong thời gian tới nhà trườngcần có những giải pháp thiết thực hơn nữa nhằm nâng cao nhận thức cho ĐNGV trong
4 hoạt động trên
2.2 Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục
Về khả năng học tập và tình hình đạo đức của HS trong các lớp được phâncông giảng dạy Đa số ĐNGV thực hiện tốt tiêu chí này, đây là nền tảng, là cơ sở choquá trình dạy học - giáo dục HS của GV, để từ đó có thế có những tác động, điềuchỉnh kịp thời trong quá trình giáo dục nhằm đem lại hiệu quả như mong muốn
Về khả năng thu thập và xử lý thông tin về điều kiện giáo dục trong nhà trường,tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương để xây dựng kế hoạch GD
cá nhân Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình HS để xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục.Nhằm thực hiện quá trình giáo dục HS một cách có hiệu quả thì bản thân mỗi GV phảixây dựng riêng cho mình kế hoạch giáo dục cá nhân theo từng năm Nhưng để có một
kế hoạch chi tiết, rõ ràng, phù hợp và khả thi thì nhất thiết phải phụ thuộc chủ yếu vàoviệc thu thập, xử lý thông tin về điều kiện GD trong nhà trường, tình hình chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương và hoàn cảnh gia đình HS Tuy nhiên, trênthực tế, kế hoạch cá nhân này chưa được xây dựng một cách có hệ thống, chưa thuthập thông tin về điều kiện GD trong nhà trường cũng như tình hình chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội của địa phương để xây dựng các kế hoạch cá nhân, giáo viên còn xâydựng kế hoạch này theo hình thức