Có những chỉ tiêu không chỉ liên quan đến cường độ vận động, mà còn phản ánh trang thái chức năng của cơ thể VĐV, có liên quan đến khối lượng vận động.. − Quá trình phân tí
Trang 1Trường Đại Học Sư Phạm Thể Dục Thể Thao TP.HCM
Nguyễn Văn Thái
Lớp Cao Học 6
Bài Kiểm Tra
Sinh Lý Thể Dục Thể Thao Câu 2 Phối hợp một số chỉ tiêu sinh hóa đánh giá LVĐ.
− Đánh giá LVĐ mốt cách khoa học và chính xác là việc rất khó khăn Nếu chỉ dùng một chỉ tiêu sinh hóa nào đó để đánh giá lượng vận động thường có tính hạn chế, dễ dẫn đến sai lầm Có những chỉ tiêu không chỉ liên quan đến cường độ vận động, mà còn phản ánh trang thái chức năng của cơ thể VĐV, có liên quan đến khối lượng vận động Một số chỉ tiêu đơn lẻ như Al, protein niệu, CK để đánh giá cường độ, hùng Hb,
− Quá trình phân tích cho thấy AL có thể phản ánh được cường độ vận động nhưng không thể cho biết mức độ, khối lượng vận động, urê huyết chỉ có thể đánh giá LVĐ không đánh giá được cường độ vận động và trạng thái chức năng cơ thể sau tập luyện Vì vậy, đánh giá LVĐ bằng phương pháp có tính tổng hợp, đa nhân tố, sử dụng nhiều chỉ tiêu, nhiều cấp độ để phân tích một cách toàn diện
− Tuy nhiên, nếu xét về đặc điểm sinh hóa của từng chỉ tiêu trong số tất cả các chỉ tiêu nêu trên, chúng có mối quan hệ với cường dộ lẫn khối LVĐ Ví dụ như Protein niệu tăng lượng đào thảy trong nước tiểu khi nâng cường độ vận động, nhưng sẽ tăng cao hơn khi tăng khối lượng vận động Nếu sử dụng đơn độc chỉ tiêu này rất khó xác định sự gia tăng đào thải là do cường độ hay do khối lượng
− Nếu đồng thời sử dụng 3 chỉ tiêu AL, urê huyết, protein niệu thì: AL đặc trung cho CĐVĐ, urê huyết phản ánh LVĐ và trạng thái chức năng cơ thể, protein niệu vừa nhạy cảm với CĐVĐ vừa liên qua đến LVĐ và trang thái chức năng cơ thể sau vận động Phối hợp 3 chỉ tiêu này đánh giá LVĐ có tính khoa học cao
− Một số chỉ tiêu chịu sự tác dụng của nhiều yếu tố như protein niệu có thể biến đổi do tác động của các yếu tố tình cảm, tâm lý,
− Lựa chọn tổ hơp chỉ tiêu có liên quan đến mục đích, nhiệm vụ, kiểm tra, đặc điểm của từng chỉ tiêu và mối quan hệ của chúng với LVĐ, vào điều kiện trang thiết bị của phòng thí nghiệm và năng lực của cán bộ khoa học
Trang 2− Ứng dụng phương pháp tính hồi quy trong đánh giá kết quả kiểm tra Cách làm: lấy một số mẫu huyết thanh hoặc nước tiểu, mỗi mẫu chia thành 2 phần bằng nhau, đổ vào 1 trong 2 phần đó dung dịch đã biết chính xác nồng độ của chất định xét nghiệm, sau đó đem xét nghiệm cả 2 phần của 1 mẫu để lấy kết quả Cuối cùng tính “hồi quy xuất” để phán đoán, công thức tính “hồi quy xuất” như sau:
Hồi quy xuất=(KQXN phần 2 – KQXN phần1)/nồng độ dung dịch hòa vào phần 2.
Phương pháp sử dụng các chỉ số sinh hóa máu và nước tiểu.
Do đặc điểm về cấu trúc và chức năng cơ thể của các VĐV có sự khác biệt rất lớn và một vài chỉ số có liên quan nhiều đến đặc điểm di truyền và cá thể Không thể xác định một mức chuẩn chung cho mọi người, mà chỉ có thể dùng chỉ số này so sánh trước và sau LVĐ với chính bản thân vận động viên đó, không nên
so sánh giữa các chỉ số VĐV này với VĐV khác
Xét nghiệm sinh hóa không thể chỉ thực hiện 1 2 lần mà phải kiểm tra thương xuyên hoặc định kỳ một cách có hệ thống và lâu dài và suốt quá trình đào tạo, vì LVĐ không nguengf nâng cao và trạng thái chwucs năng của cơ thể VĐV cũng biến đổi liên tục, cần được theo dõi, điều chỉnh và có giải pháp hồi phục thỏa đáng trong suốt quá trình huấn luyện
Sau đây là 2 bảng chỉ tiêu đặc trưng chủ yếu để đánh giá LVĐ buổi tập
Giá trị bình thường và ngưỡng mệt mỏi của một số chỉ tiêu sinh hóa khi LVĐ tác động lên cơ thể VĐV
Chỉ tiêu Phạm vi bình thường Giá trị ngưỡng mệt mỏi
Trang 3Huyết sắc tố (Hb) Nam: 12 -16 mg %
Nữ: 11 – 15 mg%
Mức tối ưu là 16mg%
Mệt mỏi giảm 10mg%, LVĐ lớn còn 9mg%
Thiếu máu:
Nam<12mg% Nữ< 11mg%
Urê Máu 5-6 mmol/L 8.33% mmol/L
AL máu 2mmoml/L (18mg%) AT: 4mmol/L; IAT: 2.5 – 7.5
mmol/L Yếm khí: >12 mmol/L
Testosterone trong máu Nam: 12.5 – 34.7 nmol/L
Nữ: 0.728-3.47nmol/L
Thấp hơn nhiều so với phạm
vi bình thường
Testosterone/Cortisol
Phụ thuộc vào đặc điểm cá
thể
Sau luyện tập hoặc thời kỳ hồi phục giảm quá 30% so với mức yên tĩnh ban đầu là dấu hiệu tập luyện quá sức
Mối quan hệ giữ Urê máu và Hemoglobin với lượng vận động
Urê máu (mmol/LB)
BT: 5 -6 mmol/L
Hemoglobin (mg%) BT: 12-16mg%
Đánh giá
Tăng lên 1 mmol/L Không giảm hoặc tăng
Giảm nhiều
LVĐ nhỏ Chức năng cơ thể giảm sút Tăng lên 2 mmol/L Giảm
Không đổi
LVĐ lớn Lượng vận động trung bình Tăng lên 3 mmol/L Giảm
Không đổi
LVĐ quá lớn, không thích nghi Lượng vận động lớn, thích nghi
Câu 3: So sánh sự khác nhau cơ bản giữa các chỉ tiêu sinh lý của VĐV cấp cao so với VĐV cấp thấp khi thực hiện lượng vận động tối đa.
− Phản ứng thích nghi của cơ thể đối với hoạt động tối đa là thông tin cao nhất của trình độ tập luyện
Trang 4− Hoạt động tối đa được thực hiện đến mức mệt mỏi hoàn toàn, chỉ có trong điều kiện như vậy mới có thể xác định được mức dự trữ chức năng và khả năng sử dụng chung của cơ thể
− Thực hiện các hoạt động tối đa cho phép chúng ta xác định được các yếu tố quyết định thành tích thể thao cao Các yếu tố đó có ý nghĩa khác nhau trong các môn thể thao khác nhau
− Trong hoạt động tối đa các chức năng sinh lý biến đổi rất rõ rệt, công suất vận động càng lớn thì biến đổi càng mạnh Vận động viên có trình độ càng cao có khả năng hoạt động tối đa cao hơn so với vận động viên cấp thấp
Hệ máu
- Nhiều sản phẩm trao đổi chất: Ví dụ: Axit lắctic trong máu cao hơn ở vận động viên trình độ cao, Axít lắctíc có thể tăng 300mg trong 100ml máu trong khi người bình thường 150mg/100ml máu
- Người có trình độ tập luyện cao có khả năng chịu đựng độ pH từ 7,36–7
- Đường huyết giảm Vận động viên có thể tiếp tục hoạt động ngay cả khi đường huyết giảm đến 50mg/100ml máu (bình thường 80 – 120 mg/100ml máu) Những người không tập luyện không thể hoạt động trong điều kiện như thế
Hệ tim mạch
− Tần số nhịp tim không khác những người bình thường (190 – 220 lần/ phút)
− Lưu lượng tâm thu cao hơn những người bình thường do lượng máu dự trữ trong tim được huy động vào tuần hoàn
− Lưu lượng phút tăng gấp 10 lần so với lúc yên tĩnh
− Huyết áp tối đa tăng nhanh và giữ 180 – 220 trong khi người bình thường tăng chậm và không duy trì ở mức được lâu
− Huyết áp tối thiểu biến đổi ít và giảm trong hoạt động căng thẳng Trong hoạt động kéo dài nó có thể giảm xuống
Hệ hô hấp trong hoạt động tối đa
+ Thông khí phổi tăng có thể đạt mức tối đa của mỗi người
+ Hệ số sử dụng ôxy trong khi hít vào tăng lên nên khả năng ưa khí của cơ thể nâng lên nhất là các môn sức bền
− Hoạt động của hệ tim mạch và hô hấp tăng lên như vậy làm cho khả năng ưa khí của họ cũng tăng lên, nhất là vận động viên các môn thể thao sức bền
Trang 5− Một số các chỉ số quan trọng của trình độ tập luyện là chỉ số oxy – mạch, chỉ số oxy – mạch được tính bằng hấp thụ oxy trên tần số mạch trong 1 phút
− Chỉ số oxy mạch tối đa bằng VO2max/ tần số mạch trong điều kiện hấp thụ oxy tối
đa Chỉ số oxy – mạch tối đa của vận động viên lớn hơn của người bình thường và có thể đạt 30ml
− Quá trình hồi phục sau hoạt động tối đa của các vận động viên xảy ra chậm hơn so với người bình thường
− Một số chỉ tiêu cơ bản có sự khác biệt giữa VĐV cấp cao so với vận động viên cấp thấp như sau: AL trong máu ở VĐV cấp cao cao hơn VĐV cấp thấp; độ pH thấp hơn; đường huyết giảm thấp hơn VĐV cấp thấp; lưu lượng tâm thu cao hơn; huyết áp tăng nhanh và giữ 180-220mHg; thông khí phổi tăng tối đa; chỉ số oxy mạch tối
đa lớn Nhìn chung trong hoạt động với cường độ tối đa, các chỉ tiêu sinh lý cơ bản của vận động viên cấp cao có sự biến đổi rõ rệt hơn vận động viên cấp thấp theo chiều hướng tích cực nhằm đảm bảo cho cơ thể VĐV cấp cao thích nghi với cường
độ vận động nhằm đạt thành tích thể thao tốt nhất
Câu 5: Kể tên các hệ, miền năng lượng.
Gồm có 3 hệ và 5 miền năng lượng
* 3 hệ năng lượng
+ Hệ năng lượng Phosphagene:
− Bao gồm 2 hợp chất năng lượng là ATP và CP, thuộc hệ thống năng lượng yếm khí phi lactat (không sản sinh AL khi phân giải) Hệ Phosphagene có dự trữ thấp nhất nhưng lại có tốc độ và công suất phân giải cao nhất Thời gian để đạt đến công suất
Trang 6tối đa chưa đến 1 giây và thời gian tối đa có thể cung cấp năng lượng cho hoạt động với cường độ cực hạn của cả ATP và CP chỉ trong khoảng 6-8 giây là cạn kiệt
− Hệ phosphagene lại là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu và có hiệu quả cao cho những động tác mà kỹ chiến thuật đòi hỏi tốc độ cự hạn, sức mạnh tốc độ tối đa (sức bột phát) kéo dài không quá 6-8 giây, thường gặp trong các môn thể thao như cử tạ, ném đĩa, tạ xích, ném lao, đẩy tan, nhảy cao, nhảy xa, nhảy sào…
+ Hệ năng lượng Glycolyzis:
− Là hệ cung cấp năng lượng yếm khí do quá trình phân giải của đường glucoze và glycogen cho cơ thể hoạt động Đặc điểm chủ yếu của quá trình đường phân yếm khí là tạo ra AL, vì vậy hệ glycolyzis cũng còn gọi là hệ yếm khi lactat
− Tổng dự trữ năng lượng glycogen trong toàn bộ cơ bắp tương đương 1030mmol ATP, công suất yếm khí tối đa so với công suất ATP thì chỉ bằng ½ và phải sau 5 giây mới đạt công sất tối đa, thời gian tối đa mà hệ glycolyzis có thể cung cấp năng lượng với công suất cực đại là 2-3 phút Điều này có nghĩa là khi ATP và CP trong
cơ bắp đã cạn kiệt, cần huy động năng lượng đường phân yếm khí thì tốc độ vận động sẽ giảm đi so với tốc độ cực đại của hệ phosphagene
− Tuy nhiên trong thực tiễn hoạt động thể thao gần như không có cự ly hoặc môn nào huy động đơn độc một hệ năng lượng mà thường là năng lượng hỗn hợp của 2 hay 3 hệ cùng cung cấp Năng lượng hỗn hợp phosphagene-glycolyzis có thể tạo ra công suất dần bàn ATP và CP và đủ để cung cấp năng lượng cho những hoạt động kéo dài
từ 15-30 giây thược vùng cường độ cực hạn và từ 3-5 phút thuộc vùng cừng độ dưới cực hạn Vì vậy, hệ năng lượng hỗn hợp phosphagene –glycolyzis đã thực sự là cơ
sở vật chất quyết định năng lực vận động và thành tích của vận động viên nhiều môn thể thao chu kỳ và phi chu kỳ
+ Hệ năng lượng ưa khí có oxy
− Năng lượng oxy hóa glucose và glycogen:
− Như trên đã nêu, tổng lượng dự trữ glycogen trong cơ bấp là 365mmol/kg cơ bắp khô, khi oxy hóa có thể sản sinh ra năng lượng đủ tái tổng hợp 13000mmol ATP/kg
cơ bắp Tốc độ oxy hóa và công suất ưu khí của glucose và glycogen gần gấp 2 lần công suất của phosphagene, sau 3 phút mới đạt công suất tối đa, tương ứng với thời gian cần thiết để hệ tuần hoàn và hô hấp đạt được mức độ hoạt động ổn định Thời gian có thể cung cấp năng lượng cho những hoạt động thể lực với tốc độ ưu khí tối
đa trong khoảng 1-2 giờ và tốc độ 70% VO2max trong nhiều giờ
Trang 7− Năng lượng oxy hóa của mõ và acid béo:
− Mỡ và acid béo trong cơ bắp của vận động viên có lượng dự trữ lớn nhất, có khả năng cung cấp cho quá trình tái tổng hợp ATP với số lượng không hạn chế trong những hoạt động kéo dài nhiều giờ đến nhiều ngày Tuy vậy, tốc độ oxy hóa và công suất ưu khí của mỡ rất thấp, chỉ bằng ½ công suất oxy hòa glucose và 1/8 tốc độ phân giải của ATP, sau 30 phút mới đạt công suất tối đa Nó chỉ sặp cạn kiệt trong những cư ly thi đấu kéo dài nhiều giờ, với cường độ trung bình (marathon) đến nhiều ngày với cường độ thấp như xe đạp đường dài, bơi vượt eo biển…
* 5 miền năng lượng
+
Miền năng lượng phosphagene
Bao gồm các môn thể thao có đặc điểm kỹ chiến thuật và tố chất thể lực đòi hỏi vận động viên phải có tốc độ tối đa, sức mạnh tốc độ lớn (lực bột phát), tần số động tác hoặc tốc độ một động tác nhanh
+ Miền năng lượng hỗn hợp phosphagen và glycolyzis
Đặc điểm sinh hóa nỗi bật của những môn thể thao này là năng lực dự trữ
phosphagen lớn, khai thác tời mức tối đa năng lượng creeatime phosphat, CP cạn kiệt sau vận động, lượng AL trong máu thấp
+ Miền năng lượng Glycolyzis
Thuộc nhóm này có các môn chạy 400, bơi 100m, xe đạp 1000m Hàm lượng AL tương đối cao trong máu
+
Miền năng lượng hỗn hợp glycolyzis và oxy hóa glucose
Những môn thể thao thuộc 2 miền năng lượng glycolyzis và hỗn hợp glycolyzis và oxy hóa có cùng một đặc điểm nỗi bật là lượng AL trong máu cao và rất cao, có thể trung bình từ 1-15 mmol và có thể đạt tới giá trị tối đa 22-25 mmol/lit Khả năng chịu đựng của vận động viên đối với nồng độ AL cao trong máu là yếu tố có ý nghĩa quyết định đạt được thành tích cao trong các môn thể thao thuộc 2 miền năng lượng này
+
Miền năng lượng oxy hóa
Trang 8Hiệu quả đặc hiệu
Tăng cường dự trữ chức năng
Tăng VO2 max, sức bền, KNLĐ
Nâng cao trạng thái thể lực
Tập luyện thể thao
(rèn sức bền)
Hiệu quả chung
Tiêu hao năng lượng
Tăng cường miễn dịch
Giảm bệnh tật
Ảnh hưởng lên các yếu tố nguy cơ
Giảm cholesterol, trọng lượng cơ thể, huyết áp, tăng HDL
Kìm hãm và chữa vữa xơ động mạch
Dành cho những môn hoạt động tập luyện và thi đấu với thời gian
Câu 7: Hiệu quả của rèn luyện sức khỏe thân thể.
Nguyễn Văn Thái Lớp Cao Học 6 Trường ĐH SP TDTT TP.Hồ Chí Minh
Trang 9Câu 9 Kể tên các loại hình TDTT rèn luyện sức khỏe ?
Thể dục vệ sinh buổi sáng
− Thể dục buổi sáng có một ý nghĩa hết sức to lớn Trong giấc ngủ tất cả các chức năng của cơ thể hoạt động chậm lại, đặc biệt là các chức năng vận động, các trung tâm thần kinh bị ức chế, các mạch máu ngoại biên bị thu hẹp chỉ còn một nữa Thể sục buổi sáng khởi động cho cơ thể từ trạng thái nghỉ ngơi sang trạng thái hoạt động tích chực và duy trì mức độ cao của kahr nanwng lao động trong một ngày làm việc Hoàn thiện sự hoạt động nhịp nhàng cảu bộ máy thần kinh cơ, hệ thống tim mạch, hệ thống hô hấp, tăng cường hoạt động của các cơ quan cảm thụ bản thể và da, tăng hưng phấn thần kinh trung uongw, và tất cả điều đó dẫn đến tăng cường chức năng bộ máy vận động và cơ quan thực vật
− Mỗi buổi sáng cần bỏ ra ít nhất 10 phút để tập các bài thể dục Cần phải nhớ rằng thể dục buổi sáng không phải tập luyện mà chỉ là thủ tục vệ sinh, giúp cở thể
Trang 10chuyển từ trạng thái nghỉ ngơi sang trạng thái hoạt động Còn tập luyện có tác dụng rèn luyện, duy trì và phát triển các tố chất thể lực nhất định như: sức bền; mạnh; nhanh
Đi bộ sức khỏe
− Trong số các loại hình TDTT củng cố và nâng cao sức khỏe thì đi bộ nhanh có vị trí quang trọng và có tính đại chúng cao, đặc biệt là ở những người cao tuổi đi bộ sức khỏe là một loại hình tập luyện có tính an toàn cao, không đòi hỏi chi phí, đơn giản và dễ tập, đi bộ sức khỏe có ảnh hưởng to lớn đến toàn bộ cơ thể, đặc biệt là với hệ thống tim mạch, hô hấp, ngoài ra nó còn là một phương pháp hữu hiệu giúp giảm cân, chữa bệnh béo phì và xơ giữa động mạch
− Đi bộ nhanh để củng cố và nâng cao sức khỏe có thể áp dụng cho những đối tượng có chống chỉ định với chạy, những đối tượng ở nhugnwx độ tuổi khác nhau mới bắt đầu tham gia tập luyện mà còn trình trạng thể lực kém Dần dần, cùng với sự gia tăng trình độ rèn luyện, các bài tập đi bộ cần phải xen kẽ với tập chạy
Chạy sức khỏe
− Tăng cường số lượng và kích thích của các mạch máu trong tim và trong các cơ, và kết quả tăng cường hiệu quả của sự tuần hoàn máu
− Nâng cao tính đàn hồi cảu thành mạch máu, làm giảm nguy cơ bị vỡ khi tăng huyết áp
− Nâng cao hiệu quả làm việc của cơ, làm cho khả năng sử dụng oxy của chúng tốt hơn
− Nâng cao hiệu quả làm việc của tim, tăng cường khả năng vận chuyển máu
− Nâng cao tính bền vững của cơ thể đối với các yếu tố căng thẳng thần kinh-tâm lí và thể lực
Bơi
− Môi trường lạnh của nước có tác dụng làm nâng cao khả năng chống đỡ của cơ thể đối với các yếu tố bất lợi của môi trường và cơ thể được rèn luyện
− Trong môi trường nước, trọng lực giảm, khi bơi hầu như các khớp và cột sống không chịu tác động của gánh nặng với tính chất này tập bơi là một loại hình vận động được giới thiệu cho các đối tượng mắc các chứng bệnh về khớp như đau các khớp chân, đau cột sống