Tuy nhiên việc biên soạn và sử dụng các bài kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng để KTĐG kết quả học tập của học sinh chỉ mới được đưa vào thí điểm ở... Việc biên soạn và sử dụng c
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Những đóng góp của đề tài 6
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI 7
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Cơ sở lí luận 10
1.2.1 Giới thiệu chung về chuẩn 10
1.2.2 Kiểm tra, đánh giá bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng 11
1.2.3 Định hướng chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá 16
1.3 Cơ sở thực tiễn 18
1.3.1 Mục tiêu điều tra 18
1.3.2 Phương pháp điều tra 19
1.3.3 Kết quả điều tra 19
CHƯƠNG II: BIÊN SOẠN BÀI KIỂM TRA SINH HỌC 10 BÁM SÁT CHUẨN KIẾN THỨC – KĨ NĂNG 24
2.1 Xác định các nội dung kiến thức - kĩ năng cần kiểm tra trong chương trình Sinh học 10 (CTC) 24
2.1.1 Mục tiêu chương trình Sinh học 10 (CTC) 24
2.1.2 Nội dung Chương trình Sinh học 10 (CTC) 25
Trang 22.2 Giới thiệu quy trình biên soạn bài kiểm tra bám sát Chuẩn kiến
thức - kĩ năng 28
2.2.1 Nguyên tắc chung khi biên soạn các bài kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng 28
2.2.2 Quy trình biên soạn bài kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng 29
CHƯƠNG III : THAM VẤN Ý KIẾN CỦA CHUYÊN GIA 60
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 60
3.2 Phương pháp thực nghiệm 60
3.3 Nội dung thực nghiệm 60
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 60
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
1 Kết luận 61
2 Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 64
Trang 3PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì
mà cần đặt ra câu hỏi là dạy như thế nào? Đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH) là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nói chung Đổi mới PPDH đòi hỏi phải tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ, và đồng thời trên tất cả các yếu tố cấu thành của hoạt động giáo dục từ nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến phương thức kiểm tra đánh giá (KTĐG) KTĐG có vai trò rất to lớn, kết quả của KTĐG là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục Nếu KTĐG sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực Vì vậy đổi mới KTĐG trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay KTĐG đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao hứng thú và năng lực sáng tạo trong học tập
Ngày 5/5/2006 Bộ trưởng Bộ GD - ĐT đã kí quyết định số BGDĐT về việc ban hành Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) Trong Chương trình GDPTT, Chuẩn kiến thức - kĩ năng được thể hiện, cụ thể hóa ở các chủ đề của chương trình môn học, lớp học và cấp học Việc đưa Chuẩn kiến thức - kĩ năng vào thành phần của Chương trình GDPT, đảm bảo việc chỉ đạo dạy học, KTĐG Chuẩn kiến thức - kĩ năng là căn cứ quan trọng để thực
16/2006/QĐ-hiện việc KTĐG Điểm nhấn trong đổi mới KTĐG lần này chính là việc thiết
kế các bài kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng (ma trận đề)
Nhìn chung, ở các trường phổ thông hiện nay, bước đầu đã vận dụng được Chuẩn kiến thức - kĩ năng trong giảng dạy, học tập và KTĐG Tuy nhiên việc biên soạn và sử dụng các bài kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng để KTĐG kết quả học tập của học sinh chỉ mới được đưa vào thí điểm ở
Trang 4một số môn học Hướng tới trong tương lai hình thức này sẽ được sử dụng một cách rộng rãi và đồng bộ hơn Việc biên soạn và sử dụng các đề kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng (ma trận đề) giúp KTĐG được một cách hệ thống và toàn diện kiến thức - kỹ năng của học sinh, đưa lại kết quả một cách chính xác và khách quan
Tài liệu về KTĐG theo Chuẩn kiến thức - kĩ năng đã được sử dụng để tập huấn cho toàn thể giáo viên, cán bộ quản lí, chỉ đạo nắm vững nội dung và hình thức kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng, song về tổng thể vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục
Xuất phát từ những vấn đề trên cùng với mong muốn góp phần nhỏ để nâng cao chất lượng giáo dục, cung cấp thêm tài liệu về việc biên soạn đề thi,
đề kiểm tra kết quả học tập của học sinh bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng để các thầy cô giáo bộ môn Sinh học ở trường THPT và các bạn sinh viên khoa Sinh trường ĐHSP Hà Nội II tham khảo chúng tôi đã nghiên cứu và thực hiện
đề tài “ Biên soạn bài kiểm tra Sinh học 10 bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ
năng”
2 Mục đích nghiên cứu
- Biên soạn một số bài kiểm tra môn Sinh học10 (CTC) bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Nghiên cứu nội dung; Mục tiêu chương trình sách giáo khoa Sinh học
Trang 54 Giả thuyết khoa học
Nếu biên soạn được các đề kiểm tra Sinh học 10 (CTC) bám sát Chuẩn
KT - KN để đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy họcSinh học 10
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung chương trình Sinh học 10 (CTC)
- Các bài kiểm tra Sinh học 10
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Biên soạn bài kiểm tra Sinh học 10 (CTC) bám sát Chuẩn kiến thức – kĩ năng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về LLDH Sinh học; Nội dung chương trình Sinh học lớp 10 (CTC); SGK, sách giáo viên Sinh học 10
- Nghiên cứu các tài liệu, các văn bản của bộ giáo dục về việc đổi mới
KTĐG bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng
- Nghiên cứu, xác định Chuẩn kiến thức - kĩ năng trong từng đơn vị kiến thức (bài, chương, phần…) ở môn Sinh học 10 (CTC)
6.2 Phương pháp điều tra sư phạm
- Sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên bộ môn Sinh học giàu kinh nghiệm và các em học sinh ở trường THPT để tìm hiểu:
+ Thực trạng, biên soạn và sử dụng bài kiểm tra Sinh học 10 bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng ở trường THPT
+ Nội dung kiểm tra và hình thức kiểm tra môn Sinh học 10 ở trường THPT
Trang 66.3 Phương pháp chuyên gia
Sử dụng phiếu tham vấn ý kiến của các thầy cô giáo dạy môn Sinh học trường THPT Khoái Châu - TT Khoái châu – Hưng Yên về chất lượng của các bài kiểm tra biên soạn bám sát chuẩn kiến thức – kĩ năng
Trang 7PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Ở các nước có nền giáo dục (GD) tiên tiến, HS xem việc học là niềm vui
được khám phá tri thức hay xem việc học là hoạt động bổ ích Câu hỏi đặt ra
là: Tại sao họ lại làm được như vậy ? Các nước này có rất nhiều nghiên cứu
về vấn đề này, mà cụ thể là các nghiên cứu về mục đích của kiểm tra, đánh giá và tâm lý người học; Các hình thức kiểm tra, đánh giá và tiêu chí để biên soạn các bài kiểm tra
Một số quan niệm về kiểm tra đánh giá của các nhà GD học nổi tiếng trên thế giới như:
Theo Jean Marie De Ketele phát biểu (1989): “Đánh giá có nghĩa là: Thu thập một tập hợp thông tin đủ, thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy; Và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin nhằm ra một quyết định” và Theo Black & Wiliam (1998b): “Kiểm tra là các hoạt động bao gồm quá trình quan sát của giáo viên, trao đổi, thảo luận trong và ngoài giờ lên lớp giữa thày và trò, phân tích bài tập, bài kiểm tra nhằm đánh giá mức độ tiếp thu bài học và dự báo kết quả học tập của học sinh.” Mặt khác, theo James Madison University (2003); James
O.Nichols (2002): “Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công về kiến
thức, kĩ năng, năng lực và thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục” Do
đó kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS là một khâu quan trọng trong
QTDH nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học
Các bài kiểm tra, được xem như phương tiện KTĐG kiến thức - kỹ năng trong dạy học Vì vậy, việc soạn thảo nội dung cụ thể của các bài kiểm tra
Trang 8cũng như xác định các hình thức kiểm tra có tầm quan trọng đặc biệt trong đánh giá kiến thức - kỹ năng và năng lực của người học Trên thế giới, việc
biên soạn các bài kiểm tra chủ yếu dựa vào các mục tiêu đã đề ra và các mục
tiêu đó cũng chính là Chuẩn kiến thức - kĩ năng và thái độ của HS
1.1.2 Ở Việt Nam
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, có định nghĩa: “Kiểm tra là xem xét tình
hình thực tế để đánh giá, nhận xét; Đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị.” Còn theo GS.Trần Bá Hoành: “Kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá”
Đặc biệt, theo Dương Thiệu Tống: “Đánh giá trong GD là quá trình thu thập và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và giáo dục Căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp theo”
Như vậy, các nhà GD học ở Việt Nam đều cho rằng kiểm tra với nghĩa là
nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá và nhận xét Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh
giá thông qua kết quả của kiểm tra Vậy thì, Kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS ở nước ta có giống với các nước trên thế giới hay không ?
Nước ta đã học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm của thế giới về việc kiểm tra, đánh giá dựa vào Chuẩn kiến thức - kĩ năng Ngày 5/5/2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký quyết định số 16/2006 QĐ/BGDĐT về việc ban hành chương trình GDPT là một kế hoạch sư phạm gồm: Mục tiêu GD, phạm vi và cấu trúc nội dung GD, phương pháp và hình thức tổ chức GD, Chuẩn kiến thức và kĩ
năng của từng môn học, cấp học, đánh giá kết quả GD Điểm mới của chương
trình GDPT lần này là đưa Chuẩn kiến thức - kỹ năng vào thành phần của chương trình GDPT, đảm bảo việc chỉ đạo dạy học, KTĐG theo Chuẩn kiến thức - kỹ năng, tạo nên sự thống nhất trong cả nước, góp phần khắc phục tình trạng quá tải trong giảng dạy, học tập Chuẩn kiến thức - kỹ năng được áp
Trang 9dụng rộng rãi ở tất cả các cấp học và môn học Chuẩn kiến thức - kĩ năng của
Chương trình GDPT vừa là căn cứ, vừa là mục tiêu của giảng dạy, học tập và
KTĐG
KTĐG là khâu cuối cùng của quá trình dạy học nhưng đồng thời “ khởi đầu cho một chu trình khép kín tiếp theo với một chất lượng cao hơn của QTGD” Kết quả của KTĐG còn là công cụ hỗ trợ cho các tổ chức, ban ngành giáo dục trong công tác quản lý, chỉ đạo chuyên môn
Thực hiện Chỉ thị số 3399/CT-BGDĐT, ngày 16/8/2010 của Bộ trưởng
Bộ GD & ĐT về Nhiệm vụ trọng tâm GDPT năm học 2010-2011; Công văn
số 4718/BGDĐT-GDTrH ngày 11/8/2010 của Bộ GD&ĐT về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục trung học năm học 2010-2011; Nhằm tiếp tục đổi mới công tác thi, kiểm tra đánh giá, thúc đẩy đổi mới PPDH, thực hiện thống nhất trong tất cả các trường trung học phổ thông (THPT), các trung tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX) về quy trình và kĩ thuật biên soạn đề thi,
đề kiểm tra kết quả học tập của học sinh theo ma trận đề, Bộ GD & ĐT tiếp tục chỉ đạo thực hiện việc biên soạn đề kiểm tra theo công văn số 8773/BGDĐT-GDtrH ngày 30/12/2010
Việc biên soạn và ứng dụng các bài kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức -
kỹ năng đã được đưa vào tập huấn ở trường PT là một trong những chủ trương đổi mới KTĐG của Bộ GD & ĐT Tuy nhiên, việc biên soạn và ứng dụng các bài kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng ở các trường PT còn nhiều bỡ ngỡ, số lượng và chất lượng các bài kiểm tra như vậy chưa được cao
Trang 10Yêu cầu là sự cụ thể hoá, chi tiết, tường minh những nội dung, những
căn cứ để đánh giá chất lượng Yêu cầu được xem như những "chốt kiểm soát" để đánh giá chất lượng đầu vào, đầu ra cũng như quá trình thực hiện
1.2.1.2 Những yêu cầu cơ bản của chuẩn:
- Một là Chuẩn phải có tính khách quan, nhìn chung không lệ thuộc vào
quan điểm hay thái độ chủ quan của người sử dụng Chuẩn
- Hai là Chuẩn phải có hiệu lực ổn định cả về phạm vi lẫn thời gian áp
dụng
- Ba là đảm bảo tính khả thi, có nghĩa là chuẩn đó có thể đạt được
- Bốn là đảm bảo tính cụ thể, tường minh và có chức năng định lượng
- Năm là đảm bảo không mâu thuẫn với các Chuẩn khác trong cùng lĩnh
vực hoặc những lĩnh vực có liên quan
1.2.1.3 Những đặc điểm của chuẩn kiến thức - kỹ năng
- Chuẩn KT - KN được chi tiết, tường minh bằng các yêu cầu cụ thể, rõ ràng về KT - KN
- Chuẩn KT - KN có tính tối thiểu, nhằm đảm bảo tất cả các em HS cần phải và có thể đạt được những yêu cầu cụ thể này
- Chuẩn KT - KN là thành phần của chương trình GDPT Trong chương trình GDPT Chuẩn KT - KN và yêu cầu về thái độ đối với người học được thể hiện, cụ thể hóa ở các chủ đề của chương trình môn học theo từng lớp và ở các lĩnh vực học tập đồng thời, Chuẩn KT - KN và yêu cầu về thái độ cũng được thể hiện ở phần cuối chương trình mỗi cấp học
Trang 111.2.1.4 Các mức độ về kiến thức - kĩ năng
Các mức độ về kiến thức - kĩ năng được thể hiện cụ thể trong Chuẩn kiến thức - kĩ năng của chương trình GDPT
Về kiến thức: Yêu cầu HS phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các kiến thức cơ
bản trong chương trình, sách giáo khoa, đó là nền tảng vững vàng để phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn
Về kĩ năng: Yêu cầu HS phải biết vận dụng các kiến thức đã học để trả
lời các câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành…
1.2.2 Kiểm tra, đánh giá bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng
1.2.2.1 Quan niệm về kiểm tra, đánh giá, đề kiểm tra, ma trận đề kiểm tra
KTĐG kết quả học tập của HS nhằm theo dõi quá trình học tập của HS, đưa ra các giải pháp kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy của thầy, phương pháp học của trò, giúp HS tiến bộ và đạt được mục tiêu GD Kiểm tra là khâu đầu tiên của quá trình đánh giá, nó được xem là phương tiện và hình thức của đánh giá Hoạt động kiểm tra cung cấp những thông tin, những dữ liệu làm cơ
sở cho việc đánh giá Đánh giá là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp với mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra một quyết định theo một mục đích nào đó
Theo Jean- Marie De Ketele phát biểu (1989): “Đánh giá có nghĩa là: Thu thập một tập hợp thông tin đủ, thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy; Và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin nhằm ra một quyết định” Còn theo Từ điển Tiếng Việt (1997),
“Đánh giá được hiểu là: Nhận định giá trị Các kết quả kiểm tra thành tích học tập, rèn luyện của HS được thể hiện trong việc đánh giá những thành tích học tập, rèn luyện đó”
Trong giáo dục học: “Đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông
Trang 12tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng
và hiệu quả công tác giáo dục”
Vậy, đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV, nhà trường và cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn Do đó, KTĐG là một khâu hết sức quan trọng trong QTDH Nếu biết lựa chọn và phối hợp các phương pháp KTĐG một cách thích hợp thì sẽ có tác dụng tích cực đến ý thức và thái độ học tập của HS
Như vậy có thể hiểu: Đề kiểm tra là một công cụ và cũng là phương tiện
để đánh giá kết quả học tập của HS sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kì…
Xây dựng bộ công cụ KTĐG hiệu quả có tác dụng lớn đến việc đổi mới
dạy và học trong nhà trường phổ thông Trong đó, ma trận đề kiểm tra chi phối trực tiếp đến việc xây dựng đề kiểm tra Vậy ma trận đề là gì ?
Ma trận đề là một bảng hai chiều mô tả các tiêu chí của đề kiểm tra, một
chiều là nội dung kiến thức cần đánh giá, một chiều là cấp độ nhận thức của
HS Có thể ví ma trận đề là “bản đồ” cho các đề kiểm tra Các câu hỏi ở đề sẽ
có tọa độ tương ứng tức là mức độ khó tương đương
1.2.2.2 Chức năng cơ bản của kiểm tra, đánh giá
- Chức năng kiểm tra : Là chức năng cơ bản và đặc trưng, nhằm phát
hiện thực trạng nhận biết kiến thức đã học, mức độ hiểu và áp dụng kiến thức
đó, vận dụng linh hoạt vào tình huống mới của HS cũng như thái độ của các
em đối với kiến thức đó, xem xét trình độ đạt được và khả năng tiếp tục học tập vươn lên của HS Đồng thời nó còn kiểm tra hiệu quả hoạt động của công tác GD (xác định trình độ đạt tới những chỉ tiêu của mục đích dạy học, xác định xem khi kết thúc một giai đoạn (một bài, một chương, một học kỳ, một
Trang 13năm ) của QTDH đã hoàn thiện đến một mức độ về kiến thức và kỹ năng và thái độ hay chưa?)
- Chức năng dạy học của kiểm tra, đánh giá thể hiện ở tác dụng có ích
cho người học cũng như người dạy trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy Đây là một trong những khâu quan trọng của QTGD Thông qua KTĐG giúp cho GV và HS thấy được những ưu nhược điểm của mình trong hoạt động dạy và học Từ đó có biện pháp khắc phục những mặt yếu, kém, phát huy hơn nữa những mặt mạnh của mình, tạo cho HS tinh thần hăng say hứng thú học tập, ý thức vươn lên trong học tập và cuộc sống
- Chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học Việc
KTĐG trình độ KT - KN đòi hỏi phải soạn thảo nội dung các bài kiểm tra và các tiêu chí đánh giá, căn cứ mục tiêu dạy học cụ thể đã xác định cho từng KT
- KN Thông qua những nguồn thông tin thu được về QTGD chúng ta có biện pháp hữu hiệu để điều chỉnh quá trình dạy và học sao cho thích hợp nhất, phù hợp với tình hình thực tiễn cũng như xu hướng chung của khu vực và thế giới Qua kiểm tra GV điều chỉnh kế hoạch dạy học (cả về ND và PPDH sao cho thích hợp để loại trừ những lệch lạc, tháo gỡ những khó khăn trở ngại, thúc đẩy quá trình học tập của HS)
Ba chức năng trên luôn luôn quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, tuỳ vào đối tượng hình thức, phương pháp đánh giá mà một chức năng nào đó có thể sẽ trội hơn Hiểu sâu sắc ba chức năng này và vận dụng vào QTDH góp phần giúp cho quá trình dạy và học ngày càng hiệu quả hơn
1.2.2.3 Yêu cầu kiểm tra, đánh giá
Lý luận và thực tiễn dạy học ngày nay chứng tỏ rằng, vấn đề KTĐG tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉ có tác dụng khi thực hiện những yêu cầu trong việc KTĐG tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS
Để KTĐG có hiệu quả cao cần phải đảm bảo 5 yêu cầu cơ bản sau đây:
- Một là: Đảm bảo tính khách quan, chính xác: Hoạt động KTĐG kết
Trang 14quả học tập của HS phải được thực hiện một cách khách quan và chính xác tới mức tối đa có thể được, tạo điều kiện để mỗi HS bộc lộ thực chất khả năng và trình độ của mình, ngăn chặn mọi biểu hiện thiếu trung thực trong KTĐG + Tính khách quan trong KTĐG rất quan trọng, nó là một yêu cầu đòi hỏi của xã hội đối với chất lượng GD, tạo ra tâm lý tích cực cho đối tượng được đánh giá, động viên đối tượng được đánh giá vươn lên trong học tập
+ Để đánh giá được khách quan trước hết đòi hỏi người GV phải có nhận thức đúng về tầm quan trọng của tính khách quan trong KTĐG, đồng thời
phải có thái độ khách quan, trung thực, chí công vô tư, không có thái độ tuỳ
tiện, thành kiến đối với HS
- Hai là: Đảm bảo tính toàn diện: Phản ánh đầy đủ các khía cạnh, các
mặt cần đánh giá theo mục tiêu đã đề ra, không chỉ về mặt số lượng mà cả về chất lượng, không chỉ về mặt tri thức mà cả về mặt kỹ năng và thái độ Có thể
sử dụng kết hợp các hình thức công cụ đánh giá khác nhau để có thể thu thập được thông tin một cách chính xác, đa dạng và toàn diện giúp GV có cách nhìn chính xác, đầy đủ và khách quan thực trạng giảng dạy, học tập và thái độ của HS từ đó có cách nhìn toàn diện hơn về GD
- Ba là: Đảm bảo tính hệ thống: KTĐG phải được tiến hành một cách
thường xuyên, liên tục, có hệ thống và theo kế hoạch Do đó KTĐG có thể được tiến hành sau một bài hay một vấn đề nào đó vừa lên lớp Đánh giá một cách thường xuyên và có hệ thống sẽ giúp cho GV cũng như các cấp quản lý
có được những thông tin đầy đủ, rõ ràng và chính xác, tạo cơ sở để KTĐG một cách toàn diện và có những điều chỉnh kịp thời
- Bốn là: Đảm bảo tính công khai và tính phát triển: Đánh giá phải được
tiến hành công khai, kết quả đánh giá phải được công bố kịp thời để mỗi HS
có thể tự đánh giá, xếp hạng trong tập thể, để tập thể HS hiểu biết lẫn nhau, học tập giúp đỡ lẫn nhau và tạo ra động lực để thúc đẩy các em có mong muốn vươn lên, có tác dụng phát huy các mặt tốt, hạn chế mặt xấu
Trang 15- Năm là: Đảm bảo tính công bằng nghĩa là KTĐG phải đảm bảo rằng
những HS thực hiện các hoạt động học tập với cùng một mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực sẽ nhận được kết quả đánh giá như nhau hay nói cách khác thành tích học tập của HS phải được đánh giá đúng, công bằng, phù hợp với những tri thức mà HS chiếm lĩnh được
1.2.2.4 Các hình thức kiểm tra, đánh giá
Trong dạy học có các hình thức kiểm tra như sau :
- Kiểm tra thường xuyên: Được thực hiện qua quan sát một cách có hệ
thống hoạt động của lớp học nói chung, của mỗi HS nói riêng qua khâu ôn tập, củng cố bài cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn,
nó còn giúp cho thầy tự điều chỉnh cách dạy, trò tự điều chỉnh cách học…Là hình thức KTĐG có thể được tiến hành liên tục, đều đặn sau một bài hay một vấn đề nào đó vừa lên lớp
Ví dụ: Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra sau khi HS đa học xong bài 9-SH 10
Em hãy trình bày đặc điểm cấu tạo của lục lạp phù hợp với chức năng quang hợp ?
- Kiểm tra định kỳ: Được thực hiện sau khi học xong một chương lớn,
một phần của chương trình hay của một học kỳ, giúp giáo viên (GV) và HS nhìn lại kết quả quả dạy và học sau những kỳ hạn nhất dịnh
- Kiểm tra tổng kết: Được thực hiện ở cuối năm học nhằm đánh giá kết
quả chung, củng cố, mở rộng chương trình toàn năm học của môn học, chuẩn
bị điều kiện để tiếp tục học chương trình năm sau
Như vậy, kiểm tra có vai trò rất quan trọng trong QTDH Nó không chỉ giúp GV biết được tình hình tiếp thu tri thức của HS mà còn phục vụ đắc lực cho việc tiếp thu bài mới của HS vì kiểm tra thì có sự tái hiện, hệ thống hóa kiến thức
Các hình thức kiểm tra nêu trên được thực hiện bằng các phương pháp kiểm tra như:
Trang 16- Kiểm tra miệng (vấn đáp): Là hình thức KT mà GV đưa ra câu hỏi và tùy theo yêu cầu của GV mà một hoặc hai HS lần lượt trực tiếp trả lời câu hỏi
đó Trong hình thức này GV hết sức lưu ý kĩ thuật sư phạm từ khâu chuẩn bị câu hỏi, công bố câu hỏi và đánh giá câu hỏi trả lời của HS
+ Ưu điểm: Tập cho HS cách diễn đạt, cách phát biểu vấn đề và có thể đi sâu vào khía cạnh
+ Nhược điểm: Số HS được KT ít, mất thời gian không chủ động được kế hoạch dự kiến nêú HS không trả lời được hoặc trả lời không theo ý hỏi
- Kiểm tra viết: Là hình thức KT mà GV đưa ra câu hỏi hay một hệ thống câu hỏi gọi là đề KT để một tập thể HS làm ra giấy trong một thời gian nhất định và được GV thu lại chấm điểm và đánh giá KT viết thường được tiến hành sau một số bài hoặc cuối mỗi chương
Trong KT viết có hai loại chính: Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) và tự luận (TL)
+ Loại tự luận (TL): Là loại câu hỏi mà HS viết câu trả lời theo cách diễn đạt riêng gồm nhiều dòng
+ Loại TNKQ: Là loại câu hỏi chứa đựng sẵn các phương án trả lời Gồm bốn loại chính: Câu hỏi nhiều lựa chọn, câu đúng sai, câu điền khuyết, ghép đôi
- Kiểm tra thực hành: Là việc kiểm tra các thao tác làm thực hành, làm thí nghiệm, cũng như các kĩ năng giải bài tập của HS
1.2.3 Định hướng chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá
Cùng với việc đổi mới nội dung chương trình; PPDH; KTĐG cũng sẽ có những thay đổi theo các yêu cầu sau:
- Phải đánh giá chính xác và toàn diện năng lực của HS
- Tạo cho HS nhiều cơ hội để bộc lộ khả năng cũng như niềm say mê Sinh học của mình
Trang 17- Quan tâm hơn đến từng cá nhân, dùng đánh giá để so sánh khả năng của mỗi HS với các tiêu chí đặt ra chứ không phải là so sánh các HS với nhau
- Quá trình đánh giá phải công khai, liên tục và quay vòng, đánh giá cần dựa trên nhiều nguồn chứng cứ khác nhau
KTĐG phải được đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ trên tất cả các mặt sau:
Đổi mới mục đích đánh giá + Xác định kết quả học tập của môn học ở từng kỳ, từng giai đoạn của quá trình học tập theo từng lĩnh vực nội dung môn học qui định để xác định mức
độ cần đạt được của HS so với mục tiêu đã đề ra
+ Cung cấp những thông tin quan trọng và chính xác về quá trình học tập
và giảng dạy cho GV, HS cùng các ban ngành GD để có những điều chỉnh đúng đắn và kịp thời tác động đến việc dạy và học môn học nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học
Đổi mới nội dung đánh giá + Nội dung đánh giá phải bao quát đầy đủ những nội dung học tập của môn học, phải dựa trên những mục tiêu cụ thể của chương trình để đánh giá đầy đủ kiến thức, các kỹ năng kỹ xảo cần thiết
+ Đề kiểm tra và đề thi phải thể hiện đúng mức độ, bảo đảm sự phân hoá trình độ của HS qua các kiến thức - kỹ năng, thái độ học tập mà trình độ chuẩn quy định và phải tương thích với thời lượng, thời điểm đánh giá
+ Đề kiểm tra phải đánh giá được các mức độ thông hiểu, vận dụng, đặc biệt là các kĩ năng về thực hành Sinh học
Đổi mới cách đánh giá + GV phải lên kế hoạch đánh giá kết quả bài học ngay từ khi soạn bài nhằm giúp HS và bản thân GV kịp thời nắm được những thông tin cần thiết
để điều chỉnh hoạt động dạy và học có hiệu quả
Trang 18+ Không chỉ đánh giá bằng điểm số mà phải chú trọng việc đánh giá bằng lời nhận xét cụ thể, hướng dẫn HS phát triển kỹ năng tự đánh giá để giúp HS nhận ra những ưu khuyết điểm của mình nhằm kịp thời điều chỉnh
+ Đối tượng còn được đánh giá bởi cá nhân, tập thể, thầy giáo và bạn bè thông qua các hình thức đối thoại, trò chuyện giữa thầy và trò, giữa trò và trò, không chỉ ở giờ lên lớp mà còn trong các buổi ngoại khoá, các hội thi dạ hội Sinh học hay các buổi thực hành ngoài trời
Đổi mới công cụ đánh giá + Công cụ đánh giá được sử dụng chủ yếu ở các trường PT là các đề kiểm tra trắc nghiệm hay trắc nghiệm kết hợp với tự luận, vở viết, các bài thực hành (báo cáo, bài thu hoạch) thường xuyên hoặc định kỳ
+ Khi soạn và sử dụng các câu hỏi, bài tập để KTĐG cần phải phù hợp với chương trình và Chuẩn kiến thức - kỹ năng quy định, sát với trình độ của HS, phải được phát biểu chính xác rõ ràng Tuy nhiên cũng cần phải có cả câu hỏi, bài tập đòi hỏi HS phải tư duy sáng tạo
Phải đưa nội dung chỉ đạo đổi mới KT-ĐG vào trọng tâm cuộc vận
động “Nói không với bệnh thành tích trong học tập và thi cử”
Theo Dương Thiệu Tống (2003:312) “Thi cử phục vụ cho việc giảng dạy
và học tập chứ không phải giảng dạy học tập phục vụ cho thi cử”
1.3 Cơ sở thực tiễn
Chúng tôi tiến hành điều tra việc thực hiện biên soạn, sử dụng các bài
kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức - kỹ năng (ma trận đề) ở một số trường PT như: THPT Tiên Lữ - Hưng Yên, THPT Khoái Châu – TT Khoái Châu - Hưng Yên, THPT Hưng Yên - Thành phố Hưng Yên
1.3.1 Mục tiêu điều tra
- Điều tra thực trạng biên soạn, sử dụng, các bài kiểm tra ở trường THPT bám sát Chuẩn kiến thức - kỹ năng của các GV
Trang 19- Kiểm chứng hiệu quả của các kiểm tra đó đối với GV và HS
1.3.2 Phương pháp điều tra
- Phỏng vấn lấy ý kiến GV về việc thực hiện KT - ĐG bám sát Chuẩn KT
1.3.3 Kết quả điều tra
Qua điều tra chúng tôi tổng kết hoạt động KTĐG ở trường PT hiện nay theo bảng sau:
Bảng 1: Kết quả điều tra đối với GV
1.Vai trò của khâu KTĐG - 1/5 GV cho là rất quan trọng
- 4/5 GV cho là khá quan trọng
- 0 GV nhận định là không quan trọng
20% 80% 0%
2.Chuẩn KT - KN là căn
cứ để thực hiện việc KTĐG
3.Chuẩn KT – KN được áp - 3/5 GV áp dụng chủ yếu ở khâu 60%
Trang 20dụng trong khâu nào của QTDH
5/5 GV đã được tham gia tập huấn 100%
5 Hình thức kiểm tra áp dụng phổ biến nhất
- 2/5 GV chọn hình thức kết hợp giữa TL và TNKQ
- 2/5 GV chọn hình thức TNKQ
- 1/5 GV chọn hình thức TL
40% 40% 20%
6 Trong quy trình biên soạn bài kiểm tra, bước nào là khó nhất
- 4/5 GV chọn 3
- 1/5 GV chọn bước 1
80% 20%
7 Những khó khăn mà thầy cô thường gặp trong khi biên soạn bài kiểm tra đánh giá KT - KN của HS theo chương trình GDPT
- 3/5 GV chọn chưa được tập huấn
và trang bị một các bài bản về quy trình và kĩ thuật biên soạn đề kiểm tra theo chuẩn KT - KN
- 2/5 GV chọn ý kiến khác (ví dụ:
Tại sao cứ phải xác định % điểm số cho mỗi nội dung trong tổng số 100% rồi mới qui ra điểm mà không làm ngược lại?)
80 %
20%
2.Các thầy cô đánh giá học - 5/5 GV đồng ý 100%
Trang 21lực của HS dựa vào điểm
số thu được từ các bài kiểm tra
Từ các số liệu thu được ở bảng trên ta có nhận xét như sau:
- Đa số GV dựa vào điểm số để đánh giá, phân loại HS 100% các thầy cô giáo đồng ý học lực của các em HS chính là điểm phẩy thu được từ kết quả của các bài kiểm tra hay dựa vào điểm kiểm tra để xếp loại HS
- Đa số GV không nhận xét những ưu, nhược điểm của HS để HS nhận ra
và sửa chữa khắc phục: Chỉ có 20% các thầy cô có nhận xét, nhưng nhận xét còn rất sơ sài còn lại 80 % các thầy cô không nhận xét ưu nhược điểm của HS vào bài kiểm tra
- Tài liều tập huấn về việc biên soạn bài kiểm tra, xây dựng câu hỏi và bài tập đã được ban hành 100% GV đã được tham gia tập huấn Tuy nhiên, việc
áp dụng, biên soạn các đề kiểm tra, xây dựng câu hỏi còn gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là ở bước 3 (80% thầy cô chọn bước 3: Thiết lập ma trận là khó nhất)
Bảng 2 : Kết quả điều tra đối với HS
1 HS ưa thích hình thức kiểm tra nào?
- 5/10 em thích TNKQ
- 2/10 em thích tự luận
- 3/5 em thích tự luận kết hợp với TNKQ
50 %
20 %
30 %
2 Em thấy cách đánh giá cho điểm của các thầy cô đã chính xác, công bằng, minh bạch hay chưa?
- 2/10 HS chọn là chưa, đặc biệt là dạng tự luận
- 8/10 HS chọn là đã chính xác ở các bài kiểm tra TNKQ
20 %
80 %
Trang 223 Các bài kiểm tra mà em làm có thang điểm kèm theo không?
- 6/10 HS chọn là có
- 4/10 HS chọn là không
60 %
40 %
4 Các câu hỏi TNKQ trong
đề kiểm tra của các Thầy (cô) chủ yếu là dạng câu hỏi:
- 2/10 HS chọn rất dễ, chỉ cần nhớ lại kiến thức
- 6/10 HS chọn khá khó, có những câu hỏi đòi hỏi phải hiểu và biết vận dụng
- 2/10 HS chọn khó, đòi hỏi phải suy nghĩ và sáng tạo
- Đa số các em HS thích hình thức kiểm tra dạng TNKQ (chiếm 80 %)
vì ở hình thức này các em không bị trừ điểm trình bày
- Một số em cho rằng việc đánh giá của các thầy cô chưa được khách quan và công bằng (chiếm 20%), việc chấm điểm còn lệ thuộc vào cảm tính của người thầy
* Nguyên nhân:
- Về phía nhà trường và GV:
+ Do GV chưa hướng dẫn cho HS phát triển kỹ năng tự đánh giá để điều chỉnh cách học, phương pháp học phù hợp và hiệu quả hơn
+ Thông thường GV là người ra đề, chấm điểm, và đánh giá kết quả của
HS Vai trò tự lực, chủ động của HS trong việc KTĐG và đánh giá lẫn nhau vẫn chưa được coi trọng Chỉ khi nào HS có khả năng tự KTĐG được mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng kỹ xảo của mình, tự mình tìm ra nguyên nhân dẫn đến sai lầm thì lúc đó hiệu quả của hoạt động dạy và học mới được nâng cao
Trang 23+ Do GV chỉ căn cứ vào kết quả cuối cùng để đánh giá nhận xét, do đó chưa đánh giá được một cách chính xác và toàn diện
+ Ở các trường PT hiện nay KTĐG chỉ chú ý đến kỹ năng tái hiện tri thức, khả năng ghi nhớ, mà xem nhẹ kỹ năng thực hành và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, chưa chú trọng đúng mức yêu cầu phát triển tư duy sáng tạo của HS
+ Trường PT đã tổ chức tập huấn cho các thầy cô giáo về việc biên soạn
đề kiểm tra, xây dựng thư viện câu hỏi và bài tập Tuy nhiên, các thầy cô vẫn chưa chú trọng tới việc nghiên cứu quy trình và kĩ thuật thiết lập ma trận đề, biên soạn đề kiểm tra Thực tế ở trường PT cho thấy, việc thiết lập ma trận đề
và soạn đề được giao cho một GV làm rồi cho cả tổ dùng chung
Trang 24CHƯƠNG II: BIÊN SOẠN BÀI KIỂM TRA SINH HỌC 10 BÁM SÁT CHUẨN KIẾN THỨC – KĨ NĂNG
2.1 Xác định các nội dung kiến thức - kĩ năng cần kiểm tra trong chương trình Sinh học 10 (CTC)
2.1.1 Mục tiêu chương trình Sinh học 10 (CTC)
2.1.1.1.Về kiến thức
- Trình bày được những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, thực tiễn
về cấp độ tổ chức cơ thể của thế giới sống
- HS hiểu và trình bày được các kiến thức cơ bản về thành phần hóa học, vai trò của nước, cấu trúc và chức năng của các hợp chất hữu cơ chủ yếu cấu tạo nên tế bào, trình bày được cấu trúc và chức năng các thành phần của tế bào nhân sơ, tế bào nhân thực
- HS phân biệt được sự khác nhau giữa nguyên tố đa lượng và nguyên tố
vi lượng, sự khác nhau giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực
- HS nêu và giải thích được các cơ chế vận chuyển các chất qua màng sinh chất, phân biệt được hình thức vận chuyển chủ động và vận chuyển thụ động, phân biệt được xuất bào với nhập bào
- HS hiểu và trình bày được khái niệm, bản chất của hô hấp, quang hợp xảy ra ở bên trong tế bào Phân tích được mối quan hệ giữa quang hợp và hô hấp
- HS nắm được khái niệm về chu kỳ tế bào, phân biệt được nguyên phân
và giảm phân, hiểu được nguyên lý điều hòa chu kỳ tế bào, có ý nghĩa lớn trong lĩnh vực y học
- HS hiểu và trình bày được khái niệm vi sinh vật, các kiểu dinh dưỡng và ứng dụng của vi sinh vật trong đời sống
- HS hiểu và trình bày được tính quy luật sinh trưởng trong nuôi cấy liên tục và không liên tục
Trang 25- HS nắm được kiến thức cơ bản về virut, phương thức sinh sản của vivut, ứng dụng của virut trong thực tiễn Đồng thời nắm được khái niệm miễn dịch
và bệnh truyền nhiễm
- Trên cơ sở nắm vững các kiến thức cơ bản, HS biết vận dụng các kiến thức vào thực tiễn sản xuất và đời sống, hiểu và vận dụng để giải thích các hiện tượng thực tế
- Củng cố niềm tin vào khả năng của khoa học hiện đại trong việc nhận thức bản chất và tính quy luật của các hiện tượng sinh học
- Củng cố cho HS quan điểm duy vật biện chứng về thế giới sống, bồi dưỡng cho HS lòng yêu thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên, có thái độ và hành
vi đúng đắn đối với chính sách của Đảng và Nhà nước về dân số, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS, vấn đề ma túy và tệ nạn xã hội
2.1.1.2 Về kỹ năng
- Học sinh thành thạo kỹ năng quan sát, mô tả các hiện tượng sinh học
- HS thành thạo kỹ năng thực hành sinh học
- Rèn luyện cho HS tư duy biện chứng, tư duy hệ thống
- HS thành thạo các kỹ năng học tập, đặc biệt là kỹ năng tự học (biết thu thập, xử lí thông tin, lập bảng biểu, vẽ đồ thị, làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm, làm báo cáo nhỏ…)
- HS biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống và sản xuất
2.1.2 Nội dung Chương trình Sinh học 10 (CTC)
Chương trình sinh học 10 gồm ba phần:
- Phần I - Giới thiệu chung về thế giới sống
- Phần II - Sinh học tế bào: Gồm 4 chương + Chương I: Thành phần hóa học chủ yếu của tế bào
+ Chương II: Cấu trúc của tế bào
+ Chương III: Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào
+ Chương IV: Phân bào
Trang 26- Phần III - Sinh học vi sinh vật: Gồm 3 chương:
+ Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật
+ Chương II: Sinh trưởng và sinh sản ở vi sinh vật
+ Chương III: Virut và bệnh truyền nhiễm
Bảng 2.1 NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 10
( Sinh học tế bào và sinh học vi sinh vật )
- Nêu được 5 giới sinh vật, đặc điểm của từng giới
- Vẽ được sơ đồ phát sinh giới thực vật, giới động vật
- Nêu được sự đa dạng của thế giới sinh vật Có ý thức bảo tồ đa dạng sinh học
Sưu tầm các tư liệu như tranh, ảnh,
phim… về đa dạng sinh học
- Nêu được các thành phần hóa học của tề bào
- Kể tên được các nguyên tố cơ bản của vật chất sống, phân biệt được nguyên tố đại lượng và nguyên tố vi lượng
- Kể tên các vai trò sinh học của nước đối với tế bào
- Nêu cấu tạo hóa học của cacbonhidrat, lipit, protein, axit nucleic và kể tên các vai trò sinh học của chúng trong tế bào
- Nhận biết về các thành phần hóa học của tế bào
- Giải bài tập về thành phần hóa học của tế bào
2.2 Cấu
trúc của tế
bào
- Mô tả được thành phần chủ yếu của một tế bào
- Mô tả cấu trúc của tế bào vi khuẩn Phân biệt được
tế bào nhân sơ với tế bào nhân thực; tế bào động vật với tế bào thực vật
- Mô tả được cấu trúc và chức năng của nhân tế bào,
- Làm được thí nghiệm về co nguyên sinh và phản co nguyên sinh
Trang 27các bào quan, tế bào chất, màng sinh chất
- Nêu được các con đường vận chuyển chất qua màng sinh chất Phân biệt được các hình thức vận chuyển thụ động, chủ động, xuất bào và nhập bào
- Phân biệt được thế nào là khuếch tán, thẩm thấu
dung dịch (ưu trương, nhược trương và đẳng trương)
- Giải bài tập về tế bào
- Nêu được quá trình chuyển hóa năng lượng Mô tả
được cấu trúc và chức năng của ATP
- Nêu được vai trò của enzim trong tế bào, các nhân
tố ảnh hưởng tới hoạt tính của enzim Điều hòa hoạt
động trao đổi chất
- Phân biệt được từng giai đoạn chính của quá trình quang hợp và hô hấp
- Làm được một số thí nghiệm về enzim
2.4 Phân
bào
- Mô tả được chu kì tế bào
- Nêu được những diễn biến cơ bản của nguyên phân, giảm phân
- Nêu được những ý nghĩa của nguyên phân, giảm phân
- Quan sát tiêu bản phân bào
- Biết lập bảng so sánh nguyên phân, giảm phân
- Nêu được hô hấp hiếu khí, hô hấp kị khí và lên
- Biết làm một số sản phẩm lên men (sữa chua, muối chua rau quả…)
Trang 28và không liên tục
- Phân biệt được các kiểu sinh sản ở vi sinh vật
- Trình bày những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của vi sinh vật và ứng dụng của chúng
- Nhuộm đơn, quan sát một số loại vi sinh vật và quan sát một số tiêu bản bào
- Tìm hiểu một số bệnh truyền nhiễm thường gặp ở
người, động vật và thực vật ở địa phương rồi báo cáo
2.2 Giới thiệu quy trình biên soạn bài kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức
- Quy trình KTĐG phải phù hợp với mục tiêu được đặt ra
- Cần phải tiến hành đồng thời nhiều hình thức để kết quả KTĐG có giá trị tổng hợp và tổng quát nhất
Trang 29- GV phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng cho đúng và có hiệu quả nhất
- Phải đảm bảo thực hiện đúng, đủ các tiết kiểm tra như phân phối
chương trình Sinh học 10 (CTC)
2.2.2 Quy trình biên soạn bài kiểm tra bám sát Chuẩn kiến thức - kĩ năng
Bước 1 Xác định mục tiêu của đề kiểm tra SH10
Đề kiểm tra là một công cụ được dùng phổ biến để đánh giá kết quả học tập của HS sau khi học xong một chủ đề (bài), một chương, một phần hay một học kì, một lớp hay một cấp học nên người biên soạn đề cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ vào Chuẩn KT – KN của chương trình và thực
tế học tập của HS để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp
Mỗi đề kiểm tra phải có mục đích rõ ràng, nghĩa là phải xác định được mục đích kiểm tra cho từng đối tượng cụ thể Phân tích 3 chức năng cơ bản của KTĐG đối với GV, HS và nhà quản lí GD để xây dựng mục đích KTĐG phù hợp
- Đối với GV:
+ Xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện mục tiêu dạy học mà
HS cần đạt sau khi kết thúc một giai đoạn học tập (bài, chương, phần, )
+ Lấy thông tin ngược chiều (mối liên hệ ngược ngoài) giúp GV điều chỉnh kế hoạch, hoàn thiện PPDH
+ Thông qua kiểm tra GV nắm được tình hình học tập, mức độ phân hóa
về trình độ học lực của HS, từ đó có biện pháp giúp đỡ HS yếu kém và bồi dưỡng HS giỏi
- Đối với HS:
+ Giúp các em biết được khả năng học tập của mình (HS tự đánh giá, tổng kết quá trình học tập của mình) so với yêu cầu của chương trình
Trang 30+ Xác định được những “lỗ hổng” kiến thức từ đó điều chỉnh phương pháp học tập (lập kế hoạch và đề ra mục tiêu phấn đấu)
- Đối với nhà quản lí GD: Lấy thông tin và kết quả KTĐG để đề ra giải
pháp quản lí phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng GD
Vì vậy, KTĐG kiến thức, kỹ năng, vận dụng là một khâu quan trọng,
không thể tách rời trong hoạt động dạy học ở nhà trường Đánh giá chất lượng dạy học là một vấn đề luôn được các cấp quản lý giáo dục quan tâm, đặc biệt đánh giá chất lượng dạy học, kết quả học tập của HS
Ví dụ minh họa: Biên soạn đề kiểm tra 45 phút – Sinh học 10 – học kì II
Bước 1: Xác định mục tiêu của đề kiểm tra
• Đối với HS: Xác định được những “lỗ hổng” kiến thức từ đó điều chỉnh phương pháp học tập (lập kế hoạch và đề ra mục tiêu phấn đấu)
2 Về kĩ năng
- Giải bài tập về nguyên phân giảm phân
3 Đối tượng học sinh : Trung bình khá, khá
Bước 2 Xác định hình thức đề kiểm tra
Trang 31Đề kiểm tra có 3 hình thức sau:
- Đề kiểm tra tự luận (TL)
- Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
- Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức: có cả câu hỏi dạng TL và TNKQ
Tự luận và trắc nghiệm khách quan đều là những phương tiện kiểm tra khả năng học tập của HS Cả hai đều bổ túc cho nhau, tuỳ theo nhu cầu, mục tiêu khảo sát, vì loại kiểm tra, đánh giá nào cũng có những ưu khuyết điểm riêng của nó nên cần phối kết hợp một cách hợp lí các hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện đánh giá kết quả học tập của HS chính xác hơn
Bài kiểm tra 45 phút nên thực hiện ở cả hai hình thức TL và TNKQ + Tỉ lệ nội dung kiến thức và điểm phần trắc nghiệm khách quan tối đa là 50%
+ Thường là 30%TNKQ và 70% tự luận hoặc 40% TNKQ và 60% tự luận
* Lưu ý:Trong đề kiểm tra kết hợp hai hình thức TL và TNKQ nên cho
HS làm bài phần TNKQ độc lập với việc làm bài kiểm tra phần TL: Làm phần TNKQ trước, thu bài rồi mới cho HS làm phần TL Như vậy sẽ thuận lợi cho khâu chấm bài và coi thi hơn
Trong xu thế phát triển của khoa học giáo dục nói chung, LLDH nói riêng, vấn đề KTĐG thành tích học tập của HS trong các loại hình nhà trường cần được nghiên cứu nghiêm túc, cụ thể trước hết là cần đổi mới và hoàn thiện các hình thức và cách thức KTĐG
Ví dụ minh họa: Biên soạn đề kiểm tra 45 phút – Sinh học 10 – học kì II
Trang 32Bước 2 Xác định hình thức đề kiểm tra
- Kiểm tra 45 phút: Kết hợp hai hình thức trắc nghiệm khách quan và
tự luận theo tỉ lệ 3:7
- Nội dung kiểm tra từ bài 16 đến hết bài 24 Sinh học 10 (CTC)
- Kiểm tra 3 mức độ nhận thức: Nhận biết, thông hiểu và vận dụng
Bước 3 Xác định nội dung đề kiểm tra - lập ma trận đề kiểm tra
Để xác định nội dung đề kiểm tra, cần liệt kê chi tiết các mục tiêu dạy học
về kiến thức, kĩ năng, thái độ của phần chương trình ra đề để đánh giá kết quả học tập của HS về các hành vi năng lực cần phát triển tương thích với Chuẩn nêu trong chương trình GDPT
a Cấu trúc của ma trận đề gồm:
+ Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính cần đánh giá, một chiều là các cập độ nhận thức của HS theo các cấp độ: nhận biết thông hiểu vận dụng (gồm có vận dụng ở cấp độ thấp và vận dụng ở cấp độ cao) Nếu một chiều của ma trận có m nội dung kiến thức cần kiểm tra chiều kia có n mức độ nhận thức cần đánh giá thí số ô trong ma trận sẽ
Do đặc thù của môn Sinh học (là khoa học thực nghiệm) ngoài việc cần đảm bảo nguyên tắc kiểm tra toàn diện và tổng hợp kiến thức cung rất chú trọng việc đánh giá và điều chỉnh quá trình tìm tòi, tư duy của HS, các kĩ năng thực
Trang 33hành, vì vậy tỉ trọng điểm thích hợp giữa hai hình TNKQ và TL có thể là 3:7 hoặc 4:6
b Mô tả các mức độ tư duy
Khi biên soạn đề kiểm tra GV phải căn cứ vào hệ thống các Chuẩn KT -
KN được qui định trong Chương trình GDPT của môn học để mô tả yêu cầu cần đạt (mô tả tiêu chí của đề kiểm tra) theo các cấp độ nhận thức của HS Đó
là các kiến thức khoa học và cả phương pháp nhận thức chúng, các kỹ năng
và khả năng vận dụng vào thực tế, những thái độ, tình cảm đối với khoa học
- Kiến thức nào trong Chuẩn ghi là hiểu được thì thường xác định ở cấp
độ “hiểu”; tuy nhiên một số trường hợp đặc biệt các kiến thức ghi trong
Chuẩn là hiểu được nhưng vẫn xếp ở cấp độ “biết”
- Kiến thức nào trong Chuẩn ghi ở phần kĩ năng thì xác định là cấp độ
“vận dụng” Trường hợp kiến thức kĩ năng phần “biết” kết hợp với phần kĩ năng cũng được xếp vào cấp “vận dụng”
Trang 34
* Tiêu chí đánh mức độ nhận thức ở môn Sinh học theo Benjamin Bloom gồm 6 cấp độ tư duy như sau:
1.Nhận
biết
- Là sự nhớ lại các sự kiện, nguyên lí, định luật, khái
niệm Sinh học đã được học nghĩa là nhận biết, ghi nhớ,
tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện
đơn giản đến các lí thuyết phức tạp
- Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức, HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật Sinh học nhưng chưa cần giải thích và sử dụng định luật
tổ chức sống
cơ bản
2.Thông
hiểu
- Là khả năng hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự
vật, hiện tượng ; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng đó
- Là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến
ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết
- Các hoạt động tương ứng: Diễn giải, giải thích, kể lại,cho ví dụ
- Các động từ tương ứng: Dự đoán, kết luận, tóm tắt, cho
ví dụ, giải thích
- Khái niệm Quang hợp (bài 17-chương III- phần II) Quang hợp là gì?
Viết PTTQ của
quang hợp
3.Vận
dụng
- Là khả năng sử dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào
một tình huống cụ thể, tương tự như tình huống đã học
- Trong bài 23 (Quá trình tổng hợp và phân
Trang 35- Đây là mức độ cao hơn đòi hỏi HS phải biết khai thác kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết vấn đề
- Các hoạt động tương ứng: Xây dựng mô hình, vẽ biểu
đồ, tiến hành thí nghiệm
- Các động từ tương ứng: Vận dụng, vẽ đồ thị, biểu diễn, liên hệ
giải…) Liên hệ: quá trình phân giải protein được
- Là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần
thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của các bộ phận cấu thành và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng
- Đây là mức độ cao hơn mức độ vận dụng, đòi hỏi sự
thấu hiểu cả về nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật, hiện tượng
- Các hành động tương ứng: Tìm sự tương quan, sơ đồ hóa, liên hệ thực tế…
- Các động từ tương ứng: Phân loại, đối chiếu, nghiên
cứu, liên hệ, phân biệt…
-Phân biệt nguyên phân
và giảm phân theo các tiêu chí:
+Loại TB tham gia
+Diễn biến +Kết quả
- Mức độ sáng tạo yêu cầu tạo ra được một hình mẫu mới, một mạng lưới các quan hệ trừu tượng
- Các hành động tương ứng: Lập kế hoạch, tổng quát hóa, hình thành,…
- Các động từ tương ứng: Thực hiện, biên soạn, hình
thành, thiết kế, so sánh,…
- Vẽ sơ đồ khái quát nội dung kiến thức cho bài 16 - Hô hấp
tế bào -Bài 14-Enzim:
Điều gì sẽ xảy
ra nếu trong tế bào không có
enzim?
Trang 366.Đánh
giá
- Là khả năng xác định được các tiêu chí đánh giá khác nhau và vận dụng chúng để đánh giá tài liệu
- Đây là mức cao nhất của nhận thức
Các động từ tương ứng: Kết luận, chứng minh, phán
đoán, đánh giá, phê bình, dự đoán
- bài 19 - giảm phân
Chứng minh giảm phân là hình thức phân bào có ý nghĩa
tiến hóa nhất ?
* Tiêu chí đánh giá kết quả học tập theo Nikko gồm 4 mức độ: Nhận
biết thông hiểu vận dụng mức độ thấp vận dụng mức độ cao
- Nhận biết : Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức
độ nhận biết hoặc câu hỏi yêu cầu về kỹ năng đạt ở mức độ bắt chước làm
được một việc đã học, có thái độ tiếp nhận
+ HS học xếp loại lực yếu dễ dàng đạt được điểm tối đa trong phần này + Nội dung thể hiện ở việc quan sát và nhớ lại thông tin, nhận biết được thời gian, địa điểm và sự kiện, nhận biết được các ý chính, nắm được chủ đề nội dung
+ Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 1 có thể quy về nhóm động từ: nhận biết được, nêu được, phát biểu được, viết được, liệt kê được, thuật lại được, nhận dạng được, chỉ ra được, giới thiệu, chỉ ra
Ví dụ: Liệt kê các thành phần cấu tạo của tế bào nhân thực (Bài 8-Sinh học 10)
- Thông hiểu : Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức
độ thông hiểu hoặc câu hỏi yêu cầu về kỹ năng đạt được ở mức độ làm được
chính xác một việc đã học, có thái độ đúng mực
+ HS xếp loại học lực trung bình dễ dàng đạt được điểm tối đa trong phần này
Trang 37+ Nội dung thể hiện ở việc thông hiểu thông tin, nắm bắt được ý nghĩa, chuyển tải kiến thức từ dạng này sang dạng khác, diễn giải các dữ liệu, so sánh, đối chiếu tương phản, sắp xếp thứ tự, sắp xếp theo nhóm, suy diễn các nguyên nhân, dự đoán các hệ quả, lấy các ví dụ theo cách hiểu của mình, + Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 2 có thể quy về nhóm động từ: hiểu được, trình bày được, mô tả được, diễn giải được, chứng tỏ, viết lại, minh họa, hình dung,
+ Là khả năng hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng Sinh học; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng Sinh học ; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết
Ví dụ: So sánh sự giống và khác nhau giữa AND và ARN
- Vận dụng ở mức thấp: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở
mức độ vận dụng cơ bản, những câu hỏi yêu cầu giải quyết vấn đề bằng
những kiến thức, kỹ năng đã học đòi hỏi đến sự tư duy lôgic, phê phán, phân tích, tổng hợp, có thái độ tin tưởng
+ HS xếp loại học lực khá dễ dàng đạt được điểm tối đa trong phần này + Nội dung thể hiện ở việc sử dụng thông tin, vận dụng các phương pháp, khái niệm và lý thuyết đã học của chủ đề trong những tình huống khác nhau, giải quyết vấn đề bằng những kỹ năng hoặc kiến thức đã học( thực hiện nhiệm
vụ quen thuộc nhưng mới hơn thông thường )
+ Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 3 có thể quy về nhóm động từ:
áp dụng được, vận dụng được, giải thích được, minh họa được, giải được bài tập, làm được, đưa vào thực tế,
Ví dụ: Tính được số NST đơn, số NST kép, số cromatis, số giao tử sinh
ra trong nguyên phân, giảm phân
Trang 38- Vận dụng ở mức cao : Đó là những câu hỏi về kiến thức đạt ở mức
độ vận dụng nâng cao, những câu hỏi yêu cầu giải quyết vấn đề bằng những
kiến thức, kỹ năng đã học và vốn hiểu biết của bản thân HS đòi hỏi đến sự tư duy lôgic, phê phán, phân tích, tổng hợp và có dấu hiệu của sự sáng tạo, có thái độ tin tưởng HS có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản để giải quyết một vấn đề mới hoặc không quen thuộc chưa từng được học trước đây
+ HS xếp loại học lực giỏi dễ dàng đạt được điểm tối đa trong phần này + Nội dung thể hiện ở việc phân tích nhận ra các xu hướng, cấu trúc, những ẩn ý, các bộ phận cấu thành, thể hiện ở việc sử dụng những gì đã học
để tạo ra những cái mới, khái quát hóa từ các dữ kiện đã biết, liên hệ những điều đã học từ nhiều lĩnh vực khác nhau, dự đoán, rút ra các kết luận, thể hiện
ở việc so sánh và phân biệt các kiến thức đã học, đánh giá giá trị của các học thuyết, các luận điểm, đưa ra quan điểm lựa chọn trên cơ sở lập luận hợp lý, xác minh giá trị của chứng cứ, nhận ra tính chủ quan, có dấu hiệu của sự sáng tạo
+ Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 4 có thể quy về nhóm động từ: phân tích được, so sánh được, giải thích được, giải được bài tập, suy luận được, thiết kế được
Ví dụ: Phân biệt 4 kiểu dinh dưỡng ở vi sinh vật
Tóm lại sự phân chia các cấp độ nhận thức chỉ là tương đối, phụ thuộc vào đặc trưng của từng môn học và đối tượng HS Đó là các mức độ yêu cầu
về kiến thức, kỹ năng cần đạt của chương trình GDPT Khi xây dựng ma trận
đề kiểm tra thì đa số phân chia các cấp độ nhận thức thành 4 cấp độ (theo Nikko) là chủ yếu
* Về kĩ năng: chương trình GDPT đề ra 10 nhóm kĩ năng học cơ bản của
HS THPT gồm:
- Kĩ năng xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch
Trang 39- Kĩ năng nghe, ghi chép thu thập thông tin học tập
- Kĩ năng tự đọc tìm ra các thông tin trả lời câu hỏi
- Kĩ năng tổ chức học theo nhóm nhỏ
- Kĩ năng thực hiện một thí nghiệm (đúng quy trình)
- Kĩ năng giải quyết một bài tập
- Kĩ năng thu thập thông tin trên bảng , bản đồ, đồ thị
- Kĩ năng diễn đạt bằng sơ đồ, đồ thị, biểu, bảng
- Kĩ năng tư duy logic quy nạp diễn dịch
- Kĩ năng ôn tập, tự kiểm tra đánh giá Mỗi nhóm kĩ năng trên lại được đánh giá theo 3 mức độ:
+ Mức độ 1: HS chưa biết chọn thao tác, sắp xếp các thao tác + Mức độ 2: HS biết chọn các thao tác, sắp xếp quy trình chưa hợp
lý hoặc chưa chọn đủ thao tác, quy trình hợp lý
+ Mức độ 3: HS chọn đúng thao tác, sắp xếp đúng quy trình
c Khung ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả các tiêu chí của đề kiểm tra)
Trang 40*Dạng 1: Khung ma trận đối với đề chỉ có một hình thức
Tên Chủ đề
(nội dung,chương…)
Chủ đề 1 Chuẩn KT, KN cần kiểm tra Chuẩn KT, KN