1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Tuần 21. Vợ nhặt

16 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 26,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua tình huống truyện, tác giả đã dựng lại một bức tranh xám xịt của nạn đói và tình cảnh thê thảm của người dân, đến nỗi người ta có thể “nhặt” được vợ.. Đồng thời, tác phẩm..[r]

Trang 1

Ngày soạn Ngày ôn thi :

Vợ nhặt ( Kim Lân )

* Mục đích chuyên đề giúp các em củng cố những nội dung cơ bản xung quanh tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân

- Ý nghĩa nhan đề và nghệ thuật xây dựng tình huống

- Hình ảnh người nông dân Việt Nam trong bối cảnh làng quê ngày đói

- Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo độc đáo

- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sắc sảo

- Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đối thoại tài tình

KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 – Nhà văn Kim Lân

- Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở xã Tân Hồng, huyện

Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Kim Lân tham gia Hội Văn hoá cứu quốc từ năm 1944, sau đó liên tục hoạt động văn học nghệ thuật phục vụ kháng chiến và cách mạng Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

- Các tác phẩm tiêu biểu : tập truyện Nên vợ nên chồng (– 1955), tập truyện Con chó xấu

xí (1962)…

- Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn Đề tài quen thuộc của ông là cuộc sống nông thôn và người nông dân Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê Ông viết chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ

và tâm lí của họ

2 – Truyện ngắn Vợ nhặt

a Hoàn cảnh ra đời

- Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí (1962) Tiền thân của truyện là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – được viết sau CM Tháng Tám nhưng dang dở và

thất lạc bản thảo Sau khi hoà bình lập lại (1954), ông đựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này

- Bối cảnh xã hội của Vợ nhặt : Phát xít Nhật bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay nên vào

đầu năm 1945 (tháng 3), nạn đói khủng khiếp diễn ra Chỉ trong vòng vài tháng, từ Quảng Trị đến Bắc kì, hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói , cướp đi 1/10 dân số của Việt Nam

Trang 2

b Tóm tắt truyện

c Ý nghĩa nhan đề: Nhan đề “Vợ nhặt” thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác

phẩm:

+ Những thứ nhặt được thường là những thứ không ra gì  Thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác, có thể "nhặt" ở bất kì đâu, bất kì lúc nào Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng "nhặt" vợ Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh

+ Trong thực tế "vợ" là sự trân trọng, người vợ là người xây tổ ấm Trong tác phẩm, gia đình Tràng từ khi có người vợ nhặt, mọi người trở nên gắn bó, quây quần, chăm lo, thu vén cho tổ ấm của mình => Khát vọng hạnh phúc

và niềm tin của con người trong cảnh khốn cùng

+ Ngoài ra, nhan đề Vợ nhặt đã gói trọn tình huống truyện độc đáo của tác phẩm – tình huống

“cười ra nước mắt”.

d Tình huống truyện

Tình huống truyện của tác phẩm này một phần thể hiện ngay trong nhan đề tác

phẩm : Vợ nhặt Anh Tràng đã “nhặt” được vợ ở chợ, như người ta nhặt được một thứ đồ vật

vô chủ nào đó Người ta lấy vợ có dạm hỏi, cưới xin đàng hoàng, có cỗ bàn dù ít cũng phải một vài mâm Tràng lấy vợ nhờ một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc

Đây quả là một tình huống vừa lạ, bất ngờ, vô lí nhưng cũng vừa tự nhiên, hợp lí Bất ngờ, vô lí bởi lẽ, người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo Hơn nữa, trong thời buổi đói khát hoành hành dữ dội, người như Tràng, nuôi thân chẳng xong mà dám lấy vợ !

Nhưng tình huống cũng tự nhiên, hợp lí là vì : “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến” Tràng Còn với Tràng thì đây là “dịp may” hiếm có, hơn nữa “may ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này” thì anh cũng có vợ.

Tràng và người đàn bà kia như hai cành củi khô nhưng họ đã chụm vào nhau để nhen lên ngọn lửa Tội nghiệp thay, người này thì cần hạnh phúc còn người kia thì lại cần chỗ dựa Một

người vì tình yêu, người kia vì miếng ăn Nói tóm lại là họ liều, nhưng cái liều kia của họ làm

người ta bật khóc Bây giờ thì họ là người dũng cảm, dũng cảm bởi vì họ dám nắm tay nhau để bước qua ranh giới của sự sống và cái chết Họ làm ta khâm phục và kính trọng Phải chăng hai con người khốn khổ ấy là niềm tin của Kim Lân về một giống nòi sẽ tiếp nối sẽ sinh sôi khi mà

cả dân tộc đang đứng trước sự diệt vong của nạn đói ?

Tình huống Tràng nhặt được vợ lại xảy ra trong lúc đói kém Đó là một nghịch

cảnh éo le “cười ra nước mắt” đã khiến cho cả xóm ngụ cư ngạc nhiên, bà cụ Tứ ngạc

nhiên và cả Tràng cũng lấy làm bối rối.

Trang 3

Ngạc nhiên trước nhất là những người trong xóm ngụ cư Khi Tràng dắt vợ về ngang qua

xóm, những người dân trong xóm đã “đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán” : “Ai đấy nhỉ

? ”, “Quái nhỉ ?” Đến khi hiểu ra là Tràng có vợ theo về, thì họ lại càng ngạc nhiên hơn nữa.

Có người lo dùm cho anh ta : “- Ôi chao ! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không ?” Tuy nhiên, họ cũng không giấu được một vẻ vui vui : “Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng tỡ hẳn lên Có một cái gì lạ lùng

và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ”

Còn bà cụ Tứ, mẹ của Tràng càng bất ngờ hơn Bà hiểu rõ tình cảnh con mình hơn ai hết nên càng khó tin Tràng có vợ Khi thấy người đàn bà đứng ngay ở đầu giường con mình, bà cụ

cứ ngơ ngác tự hỏi : “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ ? Sao lại chào mình bằng u ? Ai thế nhỉ ? ”

Bản thân Tràng cũng lấy làm lạ cho mình Nhìn vợ ngồi ngay giữa nhà, anh ta “vẫn ngờ ngợ như không phải thế Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ?” Ngay cả đến hôm sau, “Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải”…

Nhưng chính trong hoàn cảnh bi đát, tuyệt vọng ấy, ba con người cùng khổ vẫn không mất niềm tin vào sự sống, họ nương tựa vào nhau, cùng nhau hi vọng vào tương lai.

Chỉ trong thời gian ngắn, cả ba con người ấy đều có những sự thay đổi mà sâu sắc nhất là

bà cụ Tứ, người mẹ nghèo đôn hậu, giàu tình yêu thương Khi hiểu ra mọi chuyện, bà cảm thấy

“vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình…” Bằng tình thương con vô bờ của người mẹ, bà không khỏi lo âu : “Biết rằng chúng nó có nuôi nỗi nhau cho sống qua được cơn đói khát này không ?” Nhưng dù sao, bà cũng cảm thấy mừng thay cho con, vì theo bà “May ra

mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó” Chính vì vậy,

bà đã đón nàng dâu mới trong niềm thương xót và cảm thông

Vậy là ba con người trong gia đình nghèo ấy đã nương tựa vào nhau, họ cũng đã bắt đầu

bộc lộ niềm tin vào cuộc sống mới Sáng hôm sau, hình như ai cũng nghĩ rằng “thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn” Trong bữa cơm, họ toàn nói chuyện vui, chuyện ở ngày mai sáng sủa : “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà… Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…”.

Tác giả Vợ nhặt đã sáng tạo được một tình huống độc đáo Một tình huống vừa rất

thực, vừa mang nhiều ý nghĩa biểu tượng sâu sắc

Thứ nhất, tình huống có ý nghĩa làm nổi bật giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Thông qua tình huống truyện, tác giả đã dựng lại một bức tranh xám xịt của nạn đói và

tình cảnh thê thảm của người dân, đến nỗi người ta có thể “nhặt” được vợ Đồng thời, tác phẩm

Trang 4

đã lên án tội ác của bọn phát xít đã gây ra cho nhân dân ta nạn đói khủng khiếp vào năm 1945 Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khốn cùng ấy những người dân vẫn yêu thương đùm bọc nhau, cùng khát vọng sống và hạnh phúc

Thứ hai, tình huống vừa có ý nghĩa giúp bộc lộ sâu sắc tâm trạng, tính cách nhân vật vừa

giúp thể hiện rõ chủ đề tư tưởng của truyện : Những người đói, họ không nghĩ đến “cái chết”

mà luôn nghĩ đến “cái sống”.

3 Ndung:

a Bức tranh ảm đạm của nạn đói: Không gian làng quê Việt Nam ngày đói quay quắt, xơ

xác, tiêu điều

+ Cái đói “tràn đến”: Sự hiện hình của cái đói giống như một thảm họa, một cuồng phong, càn quét mọi sinh linh

- Thời gian: chiều “chạng vạng” - Không gian: Con đường vì cái đói mà “ khẳng khiu”

- Con người:

+ Trẻ con: ủ rũ, không buồn nhúc nhích

+ Người sống: “từ Nam Định, Thái Bình đọi chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ”

+ Người chết: : “ như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây năm còng queo bên đường Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người” Không khí chết chóc bao trùm

+ Đàn quạ săn xác người cứ lượn từng đàn như những đám mây đen

=> Bút pháp tả thực đến trần trụi, qua những so sánh cụ thể, tạo ám ảnh Câu văn tả người sống liền kề câu văn tả người chết, hao hao nhau, từa tựa nhau, nhấn mạnh ấn tượng về ranh giới mong manh giữa sống và chết, cõi âm và cõi dương, chỉ chút sơ sẩy là sa vào âm địa  Sự sống đang bị đặt sát bờ vực cái chết

- Nạn đói còn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời, số phận của mỗi con người:

+ Người đàn bà là vợ Tràng hiện lên như một con ma đói: “áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.”

+ Chuyện tỏ tình của họ chỉ còn trơ trọi là sà vào miếng ăn: “Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu.”

+ Người đàn bà phải từ bỏ lòng tự trọng và danh dự chỉ vì cái đói: chỉ có bốn bát bánh đúc mà

theo không anh chàng xấu trai, gặp tầm phào ngoài đường

- Tràng nhặt được vợ trong khi sự sống đang đặt bên bờ vực cái chết:

+ Lấy vợ là một trong những việc trọng đại nhất đời người, cần có những nghi lễ trang trọng… thì ở đây Tràng lại nhặt được vợ ngoài chợ như một mớ rau

+ Tràng thân mình còn lo không nổi lại còn đèo bòng trong niềm vui hớn hở, khiến mọi người hết sức ngạc nhiên

+ Cái đói và cái chết vẫn đeo đuổi, đe doạ hạnh phúc mong manh của vợ chồng Tràng Không

khí chết chóc vẫn bao quanh căn nhà: “Mùi đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”

Trang 5

- Bà mẹ chồng đãi nàng dâu mới bằng bữa cơm thê thảm, bằng món cháo cám mà bà gọi là

“chè khoán”

 Tình huống truyện được xây dựng bất ngờ, hợp lí Qua đó, thể hiện rõ giá trị hiện thực và nhân đạo

* Tóm lại: Ngòi bút tài hoa của Kim Lân đã khơi lật được mảng hiện thực trần trụi “tối sầm lại

vì đói khát” tạo ấn tượng về một cõi dương đậm đặc âm khí Cả làng quê giống như một đám

ma khổng lồ mà bản nhạc huyên luôn ám ảnh chỉ chực cất lên khi có thêm một ma đói

2 Hình ảnh người nông dân ngày đói

a Nhân vật bà cụ Tứ

Bà cụ Tứ là người nông dân đôn hậu và có thân phận đáng thương : nhà nghèo, goá

bụa, sống thầm lặng với một anh con trai “dở hơi” Bà cụ Tứ lần đầu tiên xuất hiện ở thiên

truyện là lúc bóng hoàng hôn tê tái của nạn đói phủ xuống, cùng lúc đó người con trai đáng thương của bà làm nghề kéo xe, đưa về người đàn bà xa lạ và thị gọi bà bằng u Là người sống gắn bó lâu với cái nghèo, gần hết cuộc đời nên khi ấy, bà đã lo nghĩ rất nhiều…

Việc anh Tràng, con trai của bà “nhặt” vợ đã khiến bà không khỏi ngạc nhiên, ai

oán xót thương, vừa mừng vừa lo.

Trước hết là bà cụ tỏ ra rất ngạc nhiên Bà cụ hiểu tình cảnh con mình hơn ai hết nên càng khó tin con bà có vợ Thấy người đàn bà đứng ngay ở đầu giường con mình, đến giữa sân

bà lão đứng sững lại, ngơ ngác tự hỏi : “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ ? Sao lại chào mình bằng u ? Ai thế nhỉ ?”… Bà cụ làm sao hiểu nổi, nghèo như con bà ai người ta

them lấy mà có được vợ Vả lại, trời làm đói khát thế này, nuôi thân chẳng nổi, lấy gì nuôi vợ nuôi con ?

Khi vỡ lẽ, đã hiểu ra con mình “nhặt” được vợ, bà cúi đầu nín lặng và cảm thấy ai oán xót xa biết bao Bà “hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình” Ngẫm cái phận nghèo, bà tự nhủ : “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có vợ được…” Bà liên tưởng đến người

chồng quá cố, đến đứa con gái đã qua đời, lòng bà trĩu nặng tủi buồn, xót xa

Đi liền với nỗi niềm ai oán là nỗi lo của bà : “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không” Bà cụ lo lắng thực sự cho con trai, con dâu, lo cho cái gia

đình nghèo túng của bà giữa lúc đói kém này liệu có nuôi nổi nhau ? Tương lai sẽ ra sao…

Tuy nhiên, lòng người mẹ thương con cũng không giấu được niềm vui : “May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó”, “Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…” Bà vui vì người con trai nghèo, quê kệch,

có nguy cơ ế vợ cũng đã có vợ Thế ra, với gia đình bà việc anh Tràng có vợ kể ra cũng là “dịp may” hiếm có, nếu không có nạn đói thì chẳng ai chịu lấy Tràng

Trang 6

Với người con dâu, bà không rẻ rúng mà tỏ ra gần gũi, chân tình Chính những tình cảm ấy đã xoá đi rất nhiều mặc cảm cho người con dâu Sống hơn nữa đời người, bà cụ hiểu

rất rõ về cái nghèo, về cái nạn đói này Nên khi nhìn người đàn bà khốn khổ, bà cụ Tứ tỏ ra rất

hiểu hoàn cảnh của thị và cảm thông : “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình” Và, xuất phát từ tấm lòng nhân hậu bà lão đã chấp nhận thị là dâu : “Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi” Bà cụ chấp nhận thị làm dâu trong nhà không chỉ xuất

phát từ tình cảm nhân ái của con người Mà với bà cụ Tứ, bà đón nhận người đàn bà kia như đón nhận “ân nhân” của gia đình bà Bởi lẽ, con bà không thể nào có vợ, bổn phận bà là mẹ, bà

đã chẳng lo lắng được cho con chuyện vợ con, thị đã thay bà lo việc ấy còn gì Cũng vì lẽ đó mà

trong lời nói với nàng dâu, bà luôn tỏ ra một thái độ rất chân tình, thân mật : “Bà lão hạ thấp giọng xuống thân mật : - Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy” Sáng hôm sau, trong

bữa cơm bà tươi cười và đon đả múc cho con dâu những bát cháo… Chính những tình cảm ấy

đã làm cho người con dâu xoá đi những mặc cảm để cùng hướng về một ngày mai tươi sáng

Tuy có buồn lo, xót xa trước hoàn cảnh, nhưng lòng người mẹ nghèo khổ ấy vẫn bộc

lộ một sự lạc quan và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, luôn động viên và vun đắp hạnh phúc cho đôi trẻ Bằng những triết lí giản dị từ kinh nghiệm sống của đời bà, người mẹ nông

dân suốt đời kham khổ ấy đã cố gieo vào hai con những ý nghĩ tốt đẹp về tương lai : “Rồi ra may mà ông giời cho khá (…) ai giàu ba họ ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau” Mặc dù cuộc sống khắc nghiệt, ngặt nghèo đến tàn bạo đã đày đoạ mẹ con bà, bà Tứ vẫn

cố tạo ra không khí hoà thuận ấm cúng trong gia đình và kể toàn chuyện vui, chuyện làm ăn,

chăn nuôi : “Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà […] Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem”…

Hình tượng nhân vật bà cụ Tứ đã thể hiện sự thành công của tác giả trong nghệ thuật khắc hoạ hình tượng và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật Đó là tâm trạng phức

tạp, đầy mâu thuẫn nhưng rất chân thực và tinh tế của một người mẹ nghèo trước tình cảnh khốn cùng của con mình

Tóm lại, nhân vật bà cụ Tứ là hiện thân của những nét đẹp truyền thống Trong cái

thân hình khẳng khiu, tàn tạ, với cái mặt bủng beo, u tối, bà vẫn nung nấu một ý chí sống mãnh liệt Bà là hình ảnh của những người mẹ nghèo khổ mà từng trải, hiểu biết, hết lòng yêu thương con, yêu thương những cảnh đời tội nghiệp, oái ăm, lòng nung nấu một khát vọng về cuộc sống gia đình hạnh phúc

> Đặt những ấp ủ về hạnh phúc, về tương lai vào trong suy nghĩ của bà mẹ, Kim Lân đã dạo lên bài ca sự sống bất diệt Bà mẹ nông dân với những nỗi tủi cực, khốn cùng trong năm đói cũng là bà mẹ Việt Nam hồn hậu, vị tha, độ lượng, lạc quan trong ca dao dân ca thủa nào

Trang 7

b Nhân vật anh Tràng

Nhân vật Tràng xuất hiện với một thân phận đáng thương Tràng có vẻ ngoài xấu xí,

thô kệch : “Đầu trọc nhẵn, hai con mắt nhỏ tí, gà gà, quai hàm bạnh ra, cái lưng to rộng như lưng gấu, đi thì cứ chúi đầu về phía trước lại hay nói lầm bầm trong miệng, khi cười thì ngửa mặt lên cười hềnh hệch” Tràng mồ côi bố, sống với mẹ già, nhà nghèo và làm nghề kéo xe bò

thuê, lại là dân ngụ cư Dân ngụ cư là những người vốn từ nơi khác đến Vì thế, dân ngụ cư không có ruộng đất, chỉ đi làm thuê làm mướn Đã vậy, họ còn bị phân biệt đối xử, thường phải

ở nơi bìa làng, hoặc ở chỗ hẻo lánh Với những đặc điểm như vậy, có thể nói Tràng có nguy cơ

“ế vợ” rất cao.

Điều bất ngờ xảy ra với Tràng là bỗng dưng Tràng có được vợ

Thật ra, ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ Khi đẩy xe bò mệt mỏi anh chỉ hò một câu

cho vui, để xua đi mỏi mệt : " Muốn ăn cơm trắng mấy giò này/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì" Ai ngờ có người đàn bà đói xông xáo đến đẩy xe thật Vì đùa vui nên Tràng đã không giữ

đúng thỏa thuận của câu hò Nhưng Tràng cũng cảm thấy hạnh phúc biết bao khi gặp được cái

"cười tít mắt của thị" bởi "từ xưa đến giờ có ai cười với hắn một cách tình tứ như vậy đâu".

Lần thứ hai gặp lại người đàn bà, trước mặt hắn là một người đàn bà thảm hại đã bị cái đói tàn hại cả nhan sắc lẫn nhân cách Tràng động lòng thương Thế rồi Tràng cho người đàn bà

kia ăn, không chỉ cho ăn mà còn cho ăn rất nhiều " bốn bát bánh đúc" Vốn tính hay đùa, Tràng lại tầm phơ tầm phào "Nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân đồ lên xe rồi về" Nói đùa thế thôi, ai ngờ thị về thật Vậy là, Tràng đã “nhặt” được vợ !

Sự kiện bất ngờ “nhặt” được vợ đã làm thay đổi cuộc đời, số phận của Tràng Có

được vợ, Tràng như đã thành một con người khác với những biểu hiện tâm trạng như : lo lắng, ngạc nhiên, vui mừng, hạnh phúc và ý thức về bổn phận trách nhiệm đối với gia đình trong Tràng trỗi dậy.

Khi nhặt vợ về, ban đầu Tràng cũng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết :"thóc gạo này

đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng" Đó là nỗi sợ hãi có thật

nhất lại là thời đói kém như thế này Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc

đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh tặc lưỡi một cái : “Chậc, kệ !” Chỉ một từ "kệ" thôi, Tràng

như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi, mọi lo nghĩ để vun vén cho cái hạnh phúc của

mình Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ, Tràng đã có ý thức quan tâm chăm sóc thị : “hắn

đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê Anh còn mua 2 hào dầu để thắp sáng” Đó có vẻ như là sự cố gắng quá

mức của Tràng nhưng cũng rất dễ hiểu vì Tràng sắp được làm chồng

Trang 8

Tràng và người đàn bà kia như hai cành củi khô nhưng họ đã chụm vào nhau để nhen lên ngọn lửa Tội nghiệp thay, người này thì cần hạnh phúc còn người kia thì lại cần chỗ dựa Một

người vì tình yêu, người kia vì miếng ăn Nói tóm lại là họ liều, nhưng cái liều kia của họ làm

người ta bật khóc Bây giờ thì họ là người dũng cảm, dũng cảm bởi vì họ dám nắm tay nhau để bước qua ranh giới của sự sống và cái chết Họ làm ta khâm phục và kính trọng, phải chăng hai con người khốn khổ ấy là niềm tin của Kim Lân về một giống nòi sẽ tiếp nối, sẽ sinh sôi khi mà

cả dân tộc đang đứng trước sự diệt vong của nạn đói ?

Chuyện khó thể xảy ra nhưng đã xảy ra, việc Tràng có vợ cũng đã khiến cho Tràng không khỏi ngạc nhiên Về đến nhà rồi mà hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải là chuyện có thật.

Đến sáng hôm sau mà hắn vẫn còn ngạc nhiên : “Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải” Sao không ngạc nhiên ? Nếu không có nạn đói này thì chắc chuyện hắn

có vợ sẽ không bao giờ xảy ra Hắn hiểu thế nên mới ngạc nhiên

Tất nhiên khi có được vợ, Tràng cũng tỏ ra thích chí và tự đắc (có tới khoảng 20 lần

nhà văn miêu tả gương mặt Tràng biểu lộ niềm vui khi có vợ) Trên đường về, “Mặt hắn có một

vẻ gì phớn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”,

“cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”… Tự đắc cũng phải, vì Tràng cũng thừa biết, người như hắn thì không thể có vợ Nên bây giờ có vợ, với hắn có thể xem đây là một “kì tích hiển hách” !

Sáng hôm sau, Tràng thay đổi rất nhiều

Tràng thật sự đã khác với Tràng hôm qua Trong lòng Tràng tràn ngập niềm vui sướng

miên man : “Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra” Đó là tâm trạng

hạnh phúc Tràng cảm động khi thấy mẹ và vợ dọn dẹp lại nhà cửa nhất là khi nghe tiếng chổi tre quét từng nhát sàn sạt trên sân Một nỗi lòng yêu thương, một nguồn vui sướng, phấn chấn

đột ngột tràn ngập trong lòng "Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn

lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng" Từ đó, Tràng nhận ra trách nhiệm của mình với gia đình, cái mà trước đây Tràng chưa bao giờ nghĩ tới : “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này…”

Từ một anh phu xe cục mịch, sống vô tư, chỉ biết việc trước mắt, Tràng đã là người quan

tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay Trong ý nghĩ của anh lại vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ Tràng nhớ tới cảnh ấy

và lòng ân hận, tiếc rẻ và trong óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới

Trang 9

Qua sự biến đổi tâm trạng của nhân vật Tràng, ta thấy vẻ đẹp tâm hồn, tính cách nhân vật : tình thương, niềm khao khát hạnh phúc, niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai, đồng thời thấy được tình cảm nhân đạo của nhà văn dành cho người lao động nghèo khổ

Thông qua tình huống truyện độc đáo – tình huống Tràng nhặt vợ, bút pháp xây dựng hình tượng nhân vật và nghệ thuật diễn tả tâm trạng nhân vật chân thực, sinh động, tinh tế nhà văn đã tạo nên những trang văn đặc sắc về người nông dân nghèo

Bài học nhân sinh:

- Ngay trên bờ vực cái đói, khi tưởng như miếng ăn là nhu cầu bức thiết thì tình người, giá trị con người và khao khát được yêu thương vẫn cao quí hơn cả và vẫn không bị mất đi

- Hạnh phúc làm thay đổi con người Trong tăm tối khốn cùng, khát vọng được yêu thương giống như một bản năng bất diệt vẫn cháy sáng

- Đặt nhân vật trong tình huống đặc biệt, một mặt nhà văn lột tả được đời sống khổ cực của người nông dân trong năm đói, mặt khác khám phá vẻ đẹp kì diệu nơi tâm hồn của họ

c Nhân vật người vợ nhặt

Vợ nhặt xoay quanh câu chuyện của 3 ng trong 1 gia đình ngụ cư Điều lạ là 1 ng làm nên chính cái tên của truyện lại ko có tên Ko biết tuổi Đó chính là vợ T Ng phụ nữ ấy chỉ là 1 trong số hàng ngàn, hàng vạn thân phận phụ nữ cùng thời Do đó ng ấy rất dễ bị lãng quên, ít ai chú ý tới nhưng với nhà văn đó là 1 số phận ko thể bỏ qua, 1 số phận gây nhức nhối, trăn trở Sự hấp dẫn của n/vật nữ này phải chăng là 1 ng từ cõi mù mịt ko đâu vào đâu lại trở thành 1 nàng dâu hiếu thảo, hiền thục của bà cụ Tứ ?

Nhân vật người vợ nhặt xuất hiện với một thân phận thật bi thương Người vợ nhặt

là con số không tròn trĩnh : không tên tuổi, không quê hương, không quá khứ Từ đầu đến cuối

tác phẩm, nhân vật này chỉ được gọi là “cô ả”, là “thị”, là “người đàn bà”,…

Chân dung chị ta hiện ra ngay từ đầu là những nét không mấy dễ nhìn Đó là hình ảnh một người đàn bà gầy vêu vao, ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, còn quần áo thì rách như tổ đĩa

Chị ta hiện ra trước mặt mọi người với điệu bộ còn xa mới gọi là dịu dàng Đàn bà gì mà

“sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa nói”, “đứng cong cớn trước mặt hắn”… Đã thế, chị ta thuộc loại

ăn nói chỏng lỏn, ghê gớm, mở miệng thì “Điêu ! Người thế mà điêu”, “bỏ bố”…

Và trên hết, chị ta là một người đang đói Đói đến mức quên cả ý tứ, sĩ diện tối thiểu của

một người con gái : “thị sà xuống, ăn thật Thị cắm đầu ăn một chập bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quét ngang miệng, thở : - Hà, ngon ! ”.

Cũng chính vì cái đói, thị cần một nơi nương tựa Thế là thị chấp nhận theo làm vợ Tràng

Trang 10

Nói tóm lại, hoàn cảnh của cái đói đã “bóp méo” hình hài, nhân cách của một người đàn

bà đến đáng thương, tội nghiệp Chiều sâu tư tưởng của tác phẩm là thông qua những số phận bi thương, tác giả thể hiện sự đồng cảm đối với họ, đồng thời tố cáo mạnh mẽ tội ác của bọn Thực dân, phát xít đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945

Tuy nhiên, không dừng lại ở đó Nhà văn còn tập trung miêu tả những thay đổi, nói

đúng hơn là sự “phục hồi” nhân cách tốt đẹp của nhân vật này từ khi thị về làm vợ Tràng.

Thực ra, tất cả những nét đanh đá, chỏng lỏn, chao chát ấy chỉ là cái vẻ bề ngoài mà chị

ta phô ra để chóng chọi với đời Còn con người thật của chị ta, khi đi cới Tràng mới hiện lên đầy đủ

Trên đường về cùng Tràng, thị đã bắt đầu biết e thẹn : “Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt”, “đưa tay lên xốc xốc lại

tà áo” Khi biết mọi người đang nhìn mình, “thị càng ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia”.

Về đến nhà, “Thị lẳng lặng theo hắn vào trong nhà”, “ngồi móm xuống mép giường”, cái

thế ngồi rất rụt rè và chông chênh Đó cũng chính là cái tâm trạng ngổn ngang trăm mối của lòng người khi có một quyết định hệ trọng

Nhưng có lẽ nét đẹp của người đàn bà ấy, thực sự hiện ra rõ nhất là sau buổi gặp gỡ với

bà cụ Tứ và buổi sáng hôm sau của cuộc đời làm vợ Sáng sớm ra, chị đã thức dậy rất sớm cùng người mẹ chồng thu dọn, quét tước nhà cửa Rồi chị ngoan ngoãn vào trong bếp dọn dọn cơm

Trong thấy chị lúc này, Tràng không khỏi cảm nhận về thị “rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ngoài tỉnh” Và bà cụ

Tứ thì “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”.

Một chi tiết nữa khiến người đọc không thể quên ở người vợ nhặt là chi tiết chị bưng lấy bát chè

cám mà người mẹ chồng đưa cho Hai con mắt chị “tối lại” nhưng ngay lúc đó chị “điềm nhiên

và vào miệng” Đây là một chi tiết đắt giá Chị không nỡ làm mất đi niềm vui tội nghiệp của

người mẹ già nua kia Hoá ra người vợ nhặt vô danh ấy lại không vô nghĩa Chị đã mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tăm tối bên bờ cái chết

Quyết định theo làm vợ anh Tràng và chí thú thay đổi, chứng tỏ, nhân vật người vợ nhặt là một người khao khát yêu thương và mái ấm gia đình, đồng thời còn là người chăm chỉ, chịu khó, có một niềm tin, niềm hi vọng vào ngày mai tươi sáng Tình người và những

khao khát nhân bản đã làm nên những điều kì diệu ở hình tượng nhân vật này Chiều sâu tư tưởng nhân đạo là ở chỗ nhà văn phát hiện ra những vẻ đẹp thực của con người này

Ngày đăng: 29/03/2021, 16:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w