MÔN NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN Chương I: Khái quát về Nhật Bản 1. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lí: : nằm ở phía đông Châu Á, phía Tây Thái Bình Dương. Giáp với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Gồm 4 đảo lớn Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và 3900 đảo nhỏ. Khí hậu: nằm trong vùng khí hậu ôn hòa Khoáng sản: khan hiếm, nghèo nàn Nhật Bản thường xuyên phải hứng chịu những thiên tai nặng nề: động đất, sóng thần. => Những con người cần cù lao động, lạc quan vững niềm tin vào tương lai. 2. Mục tiêu, trụ cột trong ngoại giao Văn Hóa Nhật Bản a) Ba mục tiêu
Trang 1MÔN NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN
Chương I: Khái quát về Nhật Bản
1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lí: : nằm ở phía đông Châu Á, phía Tây Thái Bình Dương Giáp
với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Gồm 4 đảo lớn Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và 3900 đảo nhỏ
- Khí hậu: nằm trong vùng khí hậu ôn hòa
- Khoáng sản: khan hiếm, nghèo nàn
Nhật Bản thường xuyên phải hứng chịu những thiên tai nặng nề: động đất, sóng thần
=> Những con người cần cù lao động, lạc quan vững niềm tin vào tương lai
2 Mục tiêu, trụ cột trong ngoại giao Văn Hóa Nhật Bản
a) Ba mục tiêu
Một là thúc đẩy thế giới hiểu biết Nhật Bản và nâng cao hình tượng Nhật
Bản cũng như giành được tín nhiệm Người Nhật cho rằng không có sự tín nhiệm lẫn nhau về văn hóa thì không thể có vũ đài văn hóa quốc tế cũng không thể phát hiện lực ảnh hưởng quốc gia, nâng cao hình tượng văn hóa quốc gia chỉ là một câu nói trống rỗng Vì vậy, Nhật Bản nâng cao quốc lực văn hóa bằng cách thông qua hình tượng văn hóa để giành được tín nhiệm của nhân dân các nước Từ góc độ khác, văn hóa là quảng cáo của tín nhiệm
Hai là tránh khỏi xung đột, tăng tiến sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn
hóa và văn minh khác nhau Báo cáo ngoại giao văn hóa Nhật Bản cho rằng, thực
ra giao lưu và tín nhiệm lẫn nhau về văn hóa trong thời đại chúng ta đang sống là rất khó, các loại xung đột và đối lập làm cho khắp nơi trên toàn cầu đều cảnh giác
và đề phòng lẫn nhau Bởi thế giá trị đặc biệt của ngoại giao văn hóa, giao lưu văn hóa ngày càng quan trọng
Ba là bồi dưỡng giá trị và quan niệm văn hóa chung của toàn nhân loại.
Chiến lược văn hóa ngoại giao của Nhật Bản cho rằng sự phát triển của toàn cầu hóa làm cho sự ỷ lại lẫn nhau về các mặt trong cuộc sống không ngừng sâu sắc thêm Đồng thời với việc bảo vệ, tôn trọng tính đa dạng của văn hóa, tính tất yếu của quan niệm giá trị chung được hình thành giữa dân chúng có bối cảnh văn hóa
Trang 2và văn minh khác nhau cũng đang không ngừng nâng cao Đặc biệt trong lĩnh vực ngoại giao châu Á, Nhật Bản muốn thông qua thúc đẩy hiểu biết và đối thoại, bồi dưỡng lợi ích và quan niệm giá trị chung, hình thành nhất thể cảm địa khu Trong một vùng do vấn đề lịch sử mà vẫn tồn tại ý kiến bất đồng, muốn cấu trúc quan hệ
ổn định thì lại càng cần phải tích cực triển khai ngoại giao văn hóa
b) Ba trụ cột tinh thần
Dạng thức văn hóa mang văn hóa tự thân “truyền bá” ra ngoài, “hấp thu” văn hóa ngoại quốc ưu tú trong giao lưu “cộng sinh” ra cái mới Truyền bá, hấp thu
và cộng sinh là ba quan niệm lớn của ngoại giao văn hóa Nhật Bản và là ba trụ cột tinh thần lớn
Trụ cột thứ nhất truyền bá văn hóa Các công cụ truyền bá chủ chốt là sự
phổ cập tiếng Nhật, giao lưu văn hóa, nghệ thuật hiện đại, tác phẩm văn học và nghệ thuật sân khấu như tranh biếm họa, hoạt hình, âm nhạc, điện ảnh, phim vô tuyến Sách lược ngoại giao văn hóa Nhật Bản cũng không quên lực ảnh hưởng truyền bá đối ngoại của loại văn hóa đời sống như văn hóa khoa học và văn hóa thời trang Người Nhật quan niệm khi người ta gần gũi văn hóa Nhật Bản thì sẽ gần gũi xã hội và nhân dân Nhật Bản, cũng là bồi dưỡng “cảm tình thân Nhật” có tính quốc tế
Khi người Nhật truyền bá văn hóa đều không đao to búa lớn mà chú trọng đến các thế mạnh văn hóa của mình, coi trọng sinh hoạt văn hóa
Trụ cột thứ hai là hấp thu văn hóa Có thể nói lịch sử văn hóa Nhật là lịch
sử hấp thu văn hóa ngoại lai, vì thế trong quốc sách văn hóa, Nhật hấp thu chủ thể văn hóa khác nhau trong lĩnh vực khác nhau là nguồn hoạt lực kích thích văn hóa Nhật Bản Khi đề xuất quan niệm hấp thu, Nhật Bản đã để điểm đặt lực của ngoại giao văn hóa vào “hấp thu có tính sáng tạo” đồng thời muốn làm cho Nhật Bản trở thành “căn cứ sáng tạo văn hóa” tràn đầy sức sống Các phương thức thúc đẩy hấp thu văn hóa là tích cực tiếp nhận lưu học sinh nước ngoài; đưa vào hạng mục
“loại hình nhập cư”, cung cấp điều kiện cư trú thích đáng cho người nước ngoài; thúc đẩy giao lưu nhân tài tạo cơ hội cho họ cư trú và nghiên cứu, dùng thể chế linh hoạt thu dùng nhân tài quốc tế
Trụ cột thứ ba là cộng sinh văn hóa Chiến lược ngoại giao văn hóa Nhật
Bản sẽ nâng cao “lòng tôn sùng và cộng sinh” Báo cáo ngoại giao văn hóa Nhật đã
Trang 3đề xuất phương thức thúc đẩy sự cộng sinh như thúc đẩy đối thoại giữa các nền văn minh; truyền bá quan niệm cơ bản của hợp tác quốc tế của Nhật Bản; thiết lập
“Tập đoàn tài chính hợp tác quốc tế tài sản văn hóa”, thúc đẩy hợp tác quốc tế, bảo
vệ hoặc tu sửa tài sản, di sản văn hóa nhân loại vật thể và phi vật thể
Chương II: Chính sách Ngoại giao Văn hóa Nhật Bả
1 Chính sách ngoại giao văn hóa Nhật Bản qua từng thời kì
Trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, Nhật Bản hầu như chưa có chính
sách văn hoá
Trong những năm 1930, Nhật Bản đã đề xướng chủ nghĩa châu Á như một
triết lý của ngoại giao Tuy vậy, điều này chỉ mang lại sự cô lập hóa về tư tưởng cho Nhật Bản
Trong những năm 1950 và 1970, mục tiêu đặt ra là chuyển đổi hình ảnh
của Nhật Bản trước chiến tranh vốn là một nước quân phiệt sang một hình ảnh mới, một quốc gia yêu hoà bình Do đó, chính quyền Nhật Bản tập trung vào các hoạt động văn hóa như trà đạo và cắm hoa với hy vọng chúng sẽ chuyển tải được hình ảnh về một vùng trời yêu hoà bình của Nhật Bản ra thế giới Nhiều cuốn sách của Nhật Bản đã được phân phát, trong đó đề cập đất nước Nhật Bản đương đại với những bức tranh hoa anh đào và ngọn núi Fuji phủ đầy tuyết trắng Đó là những thông điệp với thế giới về sự thanh bình yên ả của Nhật Bản Vào cuối những năm
1960 và đầu những năm 1970, chính sách ngoại giao văn hoá tập trung vào việc tạo
ra hình ảnh về một nước Nhật Bản hoà bình có nền kinh tế phát triển Trong những năm 1970, Nhật Bản bắt đầu triển khai thêm các chính sách ngoại giao văn hoá tích cực Sự thay đổi này được minh chứng bằng việc thiết lập Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản vào năm 1972 với số tiền tài trợ là 20 tỷ yên Nhật (sau này tăng thêm 50 tỷ) Các hoạt động chính của Quỹ là; (1) Hỗ trợ đào tạo tiếng Nhật ở nước ngoài; (2) Trao đổi văn hoá, bao gồm trao đổi các diễn viên, nhạc sĩ; (3) Khuyến khích du học Trong thời gian này cũng tạo được ấn tượng sâu sắc của sân khấu Kabuki và Noh ra cộng đồng quốc tế
Vào đầu những năm 1980, Chính sách ngoại giao văn hoá được hình thành
như một trong ba trụ cột của chính sách ngoại giao Nhật Bản nói chung và nó đã mang lại kết quả là giữ vững hoà bình, hỗ trợ phát triển kinh tế và tăng cường hợp tác, trao đổi văn hoá với các nước
Một đối tượng mà chính sách ngoại giao văn hoá Nhật Bản hướng tới là Châu Á Từ giữa những năm 1970 tới giữa những năm 1980, ở Châu Á có quan niệm rằng “trí tuệ của người Nhật” thì trái ngược với “hàng hoá Nhật” Mặc dù thị
Trang 4trường Châu Á tràn ngập xe máy của Nhật, người Nhật làm việc và những sản phẩm khác của Nhật Nhưng những suy nghĩ và quan điểm của người Nhật đã không được chuyển tải tới người hàng xóm Châu Á của mình “Bộ mặt của Nhật Bản” bị che khuất bởi những đồng yên, những lợi ích kinh tế Như vậy, sự có mặt của đồng tiền và hàng hoá thay cho người Nhật bị vắng bóng Quan niệm về một Nhật Bản vô danh là điển hình trong những năm 1970 và 1980 Để xua tan hình ảnh đó, Nhật Bản đã tung ra chính sách ngoại giao văn hoá của mình Trước hết, chính sách đó phải giúp người Nhật hiểu được suy nghĩ và tâm lý của những người Châu Á láng giềng
Nhật Bản đã thành lập Trung tâm Nhật Bản – ASEAN ở Tokyo vào những năm 1980 nhằm giới thiệu quan điểm và cách suy nghĩ của người Châu Á tới người Nhật Quỹ Toyota của Nhật Bản đã đề xướng chương trình trao đổi sinh viên trong khu vực Đông Nam Á và hỗ trợ cung cấp các xuất học bổng cho Đông Nam Á để nghiên cứu và tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa Nhật Bản và ASEAN Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, Nhật Bản đang tìm một định hướng mới cho chính sách ngoại giao văn hoá của mình nhằm tạo ra một Nhật Bản là đối tác đáng tin cậy thực sự đối với Châu Á và thế giới
Từ những năm 1990 - 2005, đánh dấu một giai đoạn mới trong chính sách
ngoại giao văn hoá, đặc biệt là trong quá trình toàn cầu hoá hiện nay Nhật Bản đã xem lại và điều chỉnh các chính sách văn hoá cho phù hợp với điều kiện mới Mục tiêu của chính sách ngoại giao văn hoá Nhật Bản vẫn là tiếp tục giải thích những quan điểm của Nhật Bản và xua tan những hiểu lầm, tạo lập những cây cầu đối thoại văn hoá, làm phong phú văn hoá dân tộc, góp phần làm giầu cho văn hoá nhân loại, Nhật Bản chủ trương việc trao đổi văn hoá trên thế giới không nên dẫn đến sự xung đột giữa các nền văn hoá, mà tất cả các nền văn hoá nên được xem như là những tài sản đặc biệt của con người, tất cả những gì là văn hoá thì phải cùng nhau bảo vệ Do đó một định hướng mới về chính sách trao đổi văn hoá là tập trung nhấn mạng vào tầm quan trọng của di sản văn hoá nhân loại, việc trao đổi văn hoá quốc tế chính là để làm giàu cho văn hoá nhân loại Hiện nay, một hình thức trao đổi văn hoá đang nổi lên ở Nhật Bản là khuyến khích các hoạt động chung, mang tính đa dân tộc Thay vì đưa các nghệ sĩ Nhật Bản ra nước ngoài biểu diễn, thì những nỗ lực như cùng sản xuất những bộ phim, những buổi trình diễn nghệ thuật… Đây được coi như là một xu hướng mới trong các chính sách trao đổi văn hoá của Nhật Bản với các nước ở giai đoạn hiện tại
Từ 2006 đến nay, Chiến lược 10 năm: Tháng Mười Hai năm 2006, đặt nặng mục
tiêu tăng cường ngoại giao châu Á bên cạnh mối quan hệ chiến lược với Hoa kỳ, tập trung vào Trung Quốc và Hàn Quốc
Trang 5"Hợp tác với các nước châu Á trong bối cảnh cộng đồng quốc tế, hợp tác khung với vùng châu Á Thái Bình Dương trong năng lượng, thương mại và các vấn đề môi trường," văn bản này hoạch định hướng hoạt động cho tân chính phủ
Các hoạt động trong ngoại giao của Đảng Dân Chủ Nhật Bản (DPJ) về cơ bản có thể coi là dựa trên một khung lý thuyết từng được Tổng thư ký Katsuya Okada xây dựng từ năm 2005 với tôn chỉ "Sống hòa hợp với châu Á và thế giới."
Nội dung tập sách chiến lược này chia thành ba điểm, đầu tiên là xây dựng hòa bình và thịnh vượng cho châu Á, tiếp theo là tái xác định mối quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ, và mở rộng ra điểm thứ ba về hòa bình và ổn định thế giới
Các chiến lược đó được khuyến khích thực hiện qua hệ thống "quyền lực mềm của Nhật Bản", được định nghĩa như là sức cuốn hút và lòng tin vào một xã hội đậm đà văn hóa, công nghệ cao, ảnh hưởng kinh tế và tư tưởng minh triết
Chính sách của DPJ cũng nói thẳng đến việc cải tổ bộ ngoại giao, đặc biệt là đưa ra chính sách phải có "tối thiểu 20% nhân viên ngoại giao tại các đại sứ quán Nhật Bản ở nước ngoài không được là công chức mà phải là chuyên gia như học giả, đại diện các quỹ NGO, lãnh đạo chính quyền địa phương, và các cựu nghị sĩ"
Chính sách ngoại giao văn hoá Nhật Bản còn nhằm mục đích phục vụ mạng lưới an toàn xã hội Đó là khuyến khích sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nhóm bị chia cắt bởi những xung đột chính trị nghiêm trọng Nhật Bản đang hướng đến việc trao đổi văn hoá vì mục đích hoà bình, làm cho các hoạt động văn hoá đóng góp cho việc xây dựng một thế giới không có chiến tranh, ngăn ngừa và giải quyết các xung đột, tiến tới loại trừ xung đột
Kết quả là Nhật Bản đã lột xác từ một tên quân phiệt trong thế chiến 2 trở thành nhà từ thiện, nhà buôn, nhà ngoại giao với hình ảnh đẹp đẽ, hấp dẫn, in dấu ấn sâu đậm trong tâm trí người nước ngoài.
2 Những tác động của Quyền lực mềm Nhật Bản đến Thế Giới
- Để quảng bá sức mạnh mềm của mình, Nhật Bản đã có rất nhiều nỗ lực:
Viện trợ kinh tế ODA cho các nước đang phát triển, như cho Việt Nam ta,
mỗi lần hàng trăm tỷ Yên; viện trợ cho Quỹ tiền tệ IMF để giúp các nước
đang gặp khó khăn
Nhật Bản tham gia tích cực vào các hoạt động giữ gìn hòa bình của LHQ, như ở Afganistan, ở Irak; vào cácchương trình phát triển của LHQ, như đầu
tư giúp các nước châu Phi về thay đổi khí hậu, đem tàu tuần dương hộ tống tàu buôn các nước chống lại bọn hải tặc Somalie,…
Trang 6 Thực hiện chiến lược ngoại giao công chúng thông qua các hoạt động truyền
thông, văn hóa đại chúng, qua các sản phẩm công nghệ văn hóa mang nhãn hiệu Japanese
Phát huy quyền lực mềm văn hóa: họ mở hàng trăm trung tâm dạy tiếng
Nhật cho người nước ngoài, tài trợ cho sinh viên các nước sang du học tại Nhật Bản, tăng số sinh viên Nhật ra nước ngoài học, đưa sản phẩm văn hóa Nhật sang phương Tây: như truyện tranh Đôremôn, búp bê Hello Kitty,
Thực hiện đường lối ngoại giao đa cực, v.v
- Với chiến lược ngoại giao văn hóa thông qua việc triển khai các hoạt động giao lưu văn hóa sâu rộng với nước ngoài, Nhật Bản đã và đang đạt được những thành công đáng kể Trước hết, các sản phẩm văn hóa đại chúng của Nhật Bản như: truyện tranh, phim hoạt hình, trò chơi công nghệ cao, thời trang, âm nhạc,
ẩm thực… trở nên quen thuộc ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Vượt qua cả
sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, chủng tộc, ở đâu chúng cũng được chào đón nồng nhiệt và để lại dấu ấn sâu đậm trong giới trẻ Ngoài lợi nhuận có tính kinh
tế, những sản phẩm văn hóa này còn gián tiếp là phương tiện truyền bá văn hóa Nhật Bản ra nước ngoài, tạo nên một hình ảnh "nước Nhật mới" so với trước kia Đó không còn là một nước Nhật quân phiệt, một nước Nhật chỉ có sức mạnh kinh tế mà còn là một quốc gia đầy ấn tượng (Cool Japan) trong lòng cộng đồng quốc tế
- Theo Ngân hàng Nhật Bản, "tổng xuất khẩu của Nhật Bản từ năm 1997- 2006 tăng khoảng 1,7 lần, xuất khẩu sản phẩm văn hóa tăng hơn 3 lần Riêng xuất khẩu phim hoạt hình của Nhật Bản sang truyền hình Mỹ tăng gấp
3 lần so với xuất khẩu các sản phẩm thép"[1] Cần nhấn mạnh thành tựu này, nếu biết rằng "một siêu cường văn hóa cần có một cơ thể kinh tế khỏe mạnh" song nền văn hóa Nhật Bản lại phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ "10 năm mất mát" ( thập kỷ 90 của thế kỷ XX) của nền kinh tế và chính trị Nhật Bản Tạp chí Foreign Policy của Mỹ còn khẳng định: "Nhật Bản tái sinh siêu cường một lần nữa Thay vì sụp đổ dưới sự bất hạnh của chính trị và kinh tế, văn hóa của Nhật Bản phát triển và ảnh hưởng toàn cầu Trên thực tế, từ nhạc pop, hàng điện tử tiêu dùng, kiến trúc, thời trang, ẩm thực… Nhật Bản
có ảnh hưởng văn hóa lớn hơn nhiều so với nó đã làm trong những năm
1980 khi còn là một siêu cường kinh tế" [2] Không nghi ngờ gì nữa, sản phẩm văn hóa đã trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản Sự phát triển nhảy vọt này tạo sự lan tỏa khắp thế giới trước
Trang 7sức cuốn hút "không cưỡng lại được" với phim hoạt hình của Miyazaki, Hayao, đắm mình trong trò chơi của Nintendo, thời trang Kenzo, tiểu thuyết của Murakami Haruki, và kiến trúc sư Ando Tadao Năm 2006, theo kết quả điều tra dư luận do Trường Đại học Maryland (Mỹ) thực hiện với câu hỏi
"Nước có ảnh hưởng tốt trên thế giới" thì Nhật Bản đứng trong những quốc gia thuộc "tốp" đầu Tiếp đó, chiến dịch giành trái tim và trí tuệ thế giới do Nhật Bản triển khai cũng thành công vượt mong đợi Thật vậy, kết quả trưng cầu của hãng BBC năm 2011 cho thấy Nhật Bản đứng vị trí thứ hai thế giới sau nước Đức về hình ảnh tích cực trên toàn cầu trong khi Mỹ ở vị trí thứ 7 Như đánh giá của cựu Bộ trưởng kinh tế Nhật Bản, ông Takenaka Heizo thì quyền lực mềm đã trở thành một thế lực quan trọng và nếu nước Nhật có được bộ phận lãnh đạo chính trị đúng đắn, sức ảnh hưởng này thậm chí còn
có thể lớn hơn nhiều Giải thích cho điều này, cố vấn đặc biệt của Văn phòng Nội các Nhật Bản Shimada Haru cho rằng: "Nhật Bản giành được những ấn tượng tốt từ cộng đồng trên thế giới là do sự thẩm thấu của Sushi, sản phẩm công nghiệp… những thức ăn bổ dưỡng cho sức khỏe, lối sống giản dị và tinh tế, sự viện trợ kinh tế và hình ảnh của một quốc gia yêu chuộng hòa bình không có chiến tranh xâm lược"[3]
- Hoạt động quảng bá du lịch và văn hóa ẩm thực của Nhật Bản cũng thu được kết quả tốt trong thời gian qua Nhật Bản với núi Phú Sĩ vươn mình giữa nền trời trong xanh, với cố đô Kyoto cổ kính giữa vườn cây yên ắng là quốc gia du lịch được nhiều người trên thế giới mến mộ, thể hiện qua lượng khách du lịch quốc tế đến đây tăng hàng năm Tương tự như vậy, văn hóa
ẩm thực Nhật Bản ngày càng được biết đến tại nhiều quốc gia như là biểu tượng của sự tinh tế, bổ dưỡng cho sức khỏe con người Bởi vậy, các nhà hàng Nhật Bản hiện diện ở rất nhiều quốc gia trên thế giới Không ngạc nhiên khi thấy những món ăn Nhật Bản có mặt ở hầu hết các khách sạn, nhà hàng nổi tiếng trên toàn thế giới bởi ẩm thực Nhật gần như đã trở thành thương hiệu quốc gia
- Về giao lưu văn hóa, có thể thấy, tinh hoa của Nhật Bản trên thế giới ngày càng được mở rộng về qui mô cũng như hiệu quả mang lại Đặc biệt, việc giảng dạy, học tập tiếng Nhật và Nhật Bản học đã đạt được những thành quả to lớn thể hiện qua số lượng người học tiếng Nhật, các cơ sở nghiên cứu Nhật Bản trên thế giới ngày càng tăng Về vấn đề này, cố vấn Sujura Tsutomu thuộc Viện Nghiên cứu Marubeni, Tokyo quả quyết: "Trước đây,
Trang 8người nước ngoài học tiếng Nhật để kiếm việc làm, song, ngày nay, họ học tiếng Nhật vì quan tâm đến văn hóa Nhật"[4] Những thành quả đạt được ở trên không thể không kể đến việc đẩy mạnh ngành công nghiệp văn hóa Nhật Bản từ cuối thế kỷ XX đến nay Thành quả mà nền công nghiệp văn hóa Nhật Bản mang lại không chỉ dừng lại ở những giá trị văn hóa mà còn ở những giá trị kinh tế, chính trị, ngoại giao… qua đó, nâng cao hình ảnh của một nước Nhật Bản đầy ấn tượng và cuốn hút trên thế giới Theo Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản, nền công nghiệp văn hóa có khoảng trên 18 ngành nghề trực thuộc các lĩnh vực văn hóa và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Nhật Bản Hàng năm, "doanh thu ròng của ngành công nghiệp này chiếm khoảng 7% doanh thu nền kinh tế và thu hút 5% nhân công lao động toàn quốc" [5] Không chỉ vậy, công nghiệp văn hóa còn được Chính phủ Nhật Bản đặt kỳ vọng xếp ngang hàng với công nghiệp chế tạo ô tô và công nghiệp điện tử vốn là những ngành công nghiệp trụ cột của Nhật Bản Kết quả điều tra của Hiệp hội công nghiệp giải trí kỹ thuật số cho biết tổng kim ngạch năm 2006 của thị trường công nghiệp giải trí trong nước đạt hơn 13 tỷ yên, trong đó, sách báo, tranh ảnh là gần 6 tỷ yên, phim truyền hình và phim màn ảnh rộng là hơn 4,8 tỷ yên, âm nhạc (bao gồm cả thu đĩa CD) là hơn 1,8 tỷ yên, trò chơi điện tử hơn 1,2 tỷ yên Như vậy, từ năm 2002
- 2004, tổng kim ngạch của nền công nghiệp giải trí Nhật Bản tăng 5,4%, hàng năm tăng 1,3% Trong đó, các lĩnh vực đặc biệt như: trò chơi điện tử tăng 25,2%, sách báo, tranh ảnh tăng 6,3%, phim ảnh tăng 4,8%, âm nhạc (bao gồm cả thu đĩa CD) giảm 0,4% Tuy nhiên, thị trường công nghiệp giải trí trong nước tiếp tục tăng đến năm 2007 là 13.176,3 tỷ yên, song các năm 2008, 2009 giảm còn hơn 12 tỷ yên [6] Chính phủ Nhật Bản khẳng định trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI, nền công nghiệp văn hóa có khả năng "kéo" nền kinh tế Nhật Bản và là nguồn sức mạnh thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế ở thị trường nước ngoài Năm 2010, riêng nền công nghiệp giải trí của Nhật Bản đạt 15 nghìn tỷ yên (cả thị trường trong và ngoài nước) cho thấy thành quả ngành này tiếp thêm "sức sống mới" để phát triển nhảy vọt trong thập kỷ tiếp theo
- Sự kiện động đất, sóng thần ngày 11/3/2011 là thảm họa thiên nhiên gây cho Nhật Bản phải chịu nỗi đau và mất mát nặng nề song người dân nước này đã khiến cả thế giới khâm phục và ngưỡng mộ Sở dĩ như vậy là bởi người Nhật đã vượt quả thảm họa khủng khiếp bằng những đức tính
Trang 9hiếm có, đó là sự bình tĩnh, kiên định và tất cả đều diễn ra trong trật tự Điều đặc biệt nhất là bất chấp sự tàn phá và khan hiếm hàng hóa nhưng không hề xảy ra cảnh ẩu đả, tranh giành hay cướp bóc Chính sự đoàn kết và kiên cường của người Nhật Bản khiến được cả thế giới ca ngợi Hơn thế nữa, mỗi khi có thảm họa thiên nhiên, hầu như quốc gia nào cũng đều nhận được sự cảm thông và viện trợ từ cộng đồng quốc tế nhưng hiếm khi nào có được sự khâm phục và tăng uy tín như Nhật Bản Ngay cả cha đẻ của học thuyết
"Quyền lực mềm" Joseph Nye cũng nhận định đó là một xã hội ổn định, kỷ luật tốt và được chuẩn bị sẵn sàng cho những thảm họa, một quốc gia hiện đại Nhật Bản đối phó với thảm họa một cách bình tĩnh và trật tự Với những nét tính cách tuyệt vời của người Nhật thể hiện qua thảm họa đã khiến cho
"quyền lực mềm" của Nhật Bản tăng lên
- Nhìn tổng thể, Nhật Bản cho đến nay đã duy trì phát triển một cách ấn tượng các quan hệ kinh tế, xã hội, văn hóa của mình với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Kết quả là "quyền lực mềm" của Nhật Bản đã được đón nhận khá tích cực thể hiện qua số lượng ngày càng nhiều người dân các nước tới du lịch, học tập, nghiên cứu thông qua hoạt động giao lưu văn hóa đại chúng, giao lưu văn hóa tinh hoa Đặc biệt, số lượng sinh viên nước ngoài học tập tại Nhật Bản ngày càng gia tăng trước sự lôi cuốn của một nền giáo dục phát triển, có uy tín trên thế giới Hơn thế nữa, sinh viên, học giả bị thu hút tới Nhật Bản bởi nền văn hóa và kinh tế của nước này, nhiều người đã tìm được việc làm tại đây hoặc những cơ hội khác phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của họ, mở ra một tương lai tương sáng cho cuộc đời và sự nghiệp
Chương III: Ảnh hưởng văn hóa Nhật Bản đến Việt Nam
1 Quan hệ Việt – Nhật ngày càng phát triển
Về viện trợ phát triển chính thức (ODA): Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn
nhất cho Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng cam kết ODA của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam Từ năm 1992 đến năm 2011, Nhật Bản đã cam kết gần 20 tỷ USD vốn vay ODA cho Việt Nam Trước tiên, nguồn ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam tập trung vào mục tiêu giúp Việt Nam hoàn thành công nghiệp hóa – hiện đại hóa vào năm 2020 Việt Nam đã xác định 3 lĩnh vực trọng tâm để đạt mục tiêu gồm: xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và xử lý, tái cơ cấu các
Trang 10công ty nhà nước Nhật Bản đã xác định sẽ hỗ trợ Việt Nam trong cả 3 lĩnh vực này
Ngoài 3 lĩnh vực trên, ODA của Nhật Bản còn dành hỗ trợ những khó khăn của Việt Nam trong phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu (Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, chịu nhiều bão, lũ ) Nhật Bản còn hỗ trợ xây dựng trường học, trạm y tế, những công trình
xã hội tại những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn của Việt Nam
Về hợp tác văn hóa - giáo dục: - Về văn hoá thông tin: Nhật Bản có nhiều
dự án giúp Việt Nam nghiên cứu bảo tồn, tôn tạo các ngôi nhà ở dân gian truyền thống tiêu biểu ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam Hai bên đã lập Ủy ban chuyên gia Việt-Nhật về bảo tồn Hoàng thành Thăng Long và họp phiên đầu tiên (3/2007) Hai bên cũng đã cử nhiều đoàn sang thăm, làm việc, biểu diễn nghệ thuật, tham dự triển lãm, liên hoan phim, tổ chức Lễ hội tại mỗi nước Nhật Bản đã thành lập Trung tâm giao lưu Văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam (3/2008)
Về giáo dục đào tạo: Quan hệ hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa hai nước
đã phát triển dưới nhiều hình thức: hợp tác giữa hai Chính phủ, giữa các trường học, giữa các tổ chức, giữa các cá nhân Những năm gần đây, Nhật Bản là một trong những nước viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam Trong chuyến thăm Nhật Bản của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân (3/2008), hai bên đã ký Bản ghi nhớ về việc Nhật Bản giúp Việt Nam đào tạo 1000 tiến sỹ cho Việt Nam đến năm 2020 và tiếp tục tăng học bổng cho Việt Nam trong 3 năm tới
Việt Nam cũng đã mời nhiều giáo sư, chuyên gia Nhật Bản sang giảng dạy, tiếp nhận các học giả Nhật Bản sang tìm hiểu về văn hoá, lịch sử Việt Nam Với sự trợ giúp của chính phủ Nhật Bản, Việt Nam đang thí điểm dạy tiếng Nhật tại một
số trường phổ thông cơ sở tại các thành phố lớn như: Hà Nội, TP.HCM, Huế và Đà Nẵng Nhật Bản đang triển khai kế hoạch mời 2.000 thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản trong 5 năm, theo nhiều chương trình trong đó bao gồm cả chương trình dành cho học sinh cấp 2 và cấp 3
Về du lịch: Nhật Bản luôn nằm trong số 5 nước có lượng khách du lịch lớn
nhất đến Việt Nam, số khách du lịch Nhật Bản chiếm gần 10% tổng lượng khách vào Việt Nam Hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác du lịch Việt - Nhật (4/2005) tạo điều kiện cho việc thu hút khách du lịch Nhật Bản vào Việt Nam Năm 2009, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, lượng khách du lịch Nhật Bản sang Việt Nam đạt 359.231 lượt khách (giảm 8,6% so với năm 2008)