Ta cũng lưu ý lối thuật kể đầy hồi hộp, đầy kịch tính căng thẳng, vốn tri thức về quân sự và võ thuật được đưa ra ứng dụng. Quả là “ông lái đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần[r]
Trang 1Ngày soạn : Ngày ôn thi:
Bài 11 Tác gia Nguyễn Tuân
( 1 tiết )
* Chuyên đề này nhằm củng cố các kiến thức xoay quanh tác giả Nguyễn Tuân
- Đặc điểm con người Nguyễn Tuân
- Các chủ đề chính trong sáng tác
- Phong cách nghệ thuật độc đáo và sự vận động của phong cách, từ đó rút ra bài học về sáng tạo
1 Tiểu sử
Nguyễn Tuân (1910-1987) quê ở làng Nhân Mục, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân,
Hà Nội Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn
Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khoá phản đối giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam (1929) Sau đó ít lâu, ông lại bị tù vì “xê dịch” qua biên giới không có giấy phép Ở tù ra, ông bắt đầu viết báo, viết văn
Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm ba mươi của thế kỉ XX, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm có phong cách độc đáo : Một chuyến đi, Vang bóng một thời…
Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị CMT8 thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nên văn học mới Từ năm 1948 đến năm 1958, ông giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam Ông mất năm 1987 tại Hà Nội
Nguyễn Tuân để lại một sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết độc đáo và đầy tài hoa Ông là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật 1996
2 Con người
+ Trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc
( Gắn bó với các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc: tiếng mẹ đẻ, kiệt tác văn chương, nhạc điệu thể ca trù hoặc dân dã của các điệu hòa xứ Quảng…- Say mê cảnh sắc đẹp của quê hương đất nước - Trân trọng những thú chơi tao nhã của trí thức nho gia tài hoa sinh bất phùng thời)
+ Ý thức cá nhân phát triển rất cao:
Trang 2( Quan niệm “Đời là một trường du hí” > Sống là chơi mà viết cũng là chơi > Viết là một hình thức chơi văn độc đáo nhưng đã đẩy việc chơi đến đỉnh cao – chơi một cách nghệ thuật > Viết văn trước hết là để khẳng định cá tính độc đáo của mình - Ham du lịch, nâng niềm ham thích này thành lý thuyết - “chủ nghĩa xê dịch”, với lối sống tự do, phóng túng, vượt qua khuôn khổ chế độ thuộc địa đương thời)
+ Con người rất mực tài hoa, uyên bác:
( Tuy chỉ viết văn nhưng am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh…- Biết vận dụng con mắt nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác để tăng cường khả năng quan sát, biểu hiện thế giới của nghệ thuật ngôn từ Sự uyên bác: ham đọc, tạo cho mình vốn tri thức sâu rộng, bề thế > làm giàu chất tài hoa nghệ sĩ => vẽ nên bức tranh đời sống, con người chân xác, đầy “sinh sắc” ngay cả những nơi mà ông chưa đặt chân tới )
+ Biết quí trọng nghề nghiệp văn chương:
( Quan niệm lao động nghệ thuật là hình thức lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh”.- Trân trọng nghề viết là trân trọng độc giả, trân trọng chính mình – lòng tự trọng, ý thức giữ gìn nhân cách.của bản thân )
3 Sự nghiệp sáng tác : Ông sáng tác ở cả hai giai đoạn:
+ Trước CMT8: Nguyễn Tuân là nhà văn lãng mạn, sáng tác của ông tập trung vào 3 đề tài chính:
Chủ nghĩa xê dịch
Đời sống trụy lạc
Vẻ đẹp vang bóng
Tác phẩm tiêu biểu : Chiếc lư đồng mắt cua, Một chuyến đi, Vang bóng một thời…
+ Sau CMT8:
Nguyễn Tuân hoà mình vào cuộc sống kháng chiến của nhân dân, tham gia kháng chiến, tham gia cách mạng Nguyễn Tuân trở thành nhà văn Cách mạng Sáng tác của Nguyễn Tuân phản ánh cuộc sống kháng chiến, cuộc sống lao động của nhân dân, của đất nước, nhân vật chính là người chiến sĩ, chị dân công, người lao động…
Tác phẩm tiêu biểu : Tuỳ bút: Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi
4 PCNT: Mỗi bài viết của Nguyễn Tuân thể hiện một cá tính sáng tạo độc đáo:
+ Trước CMT8:
Cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân thể hiện ở một chữ “ngông”, ông thích nói những điều ngược đời, gai góc như muốn trêu ghẹo thiên hạ (cái ngông dựa trên ý thức tài năng)
+ Sau CMT8:
Trang 3Cá tính của Nguyễn Tuân thể hiện ở sự tiếp cận hiện thực, phát hiện những điều mới mẻ ở cách dùng
từ đặt câu
Mỗi bài viết chứng tỏ Nguyễn Tuân là một cây bút tài hoa, uyên bác
Nguyễn Tuân luôn tiếp cận sự vật, sự việc, con người ở góc độ thẩm mĩ, văn hoá
Ông quan sát, miêu tả sự vật, sự việc bằng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật văn hoá khác nhau Nguyễn Tuân là nhà văn thích những cảm giác, những cảnh tượng gây ấn tượng mạnh, ông là nhà văn của những tính cách phi thường, những cảm giác mạnh mẽ, những phong cảnh tuyệt mĩ
Nguyễn Tuân có vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng Ông am hiểu nhiều lĩnh vực nghệ thuật
Gia Phù, ngày tháng năm 2012
Đã duyệt
Người kiểm tra
Trần Thị Hương
Trang 4Ngày soạn : Ngày ôn thi:
Bài NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
( 2 tiết )
1 Giới thiệu chung
a Tùy bút Sông Đà:
+ Ra đời năm 1960, tái bản năm 1978
+ Cấu trúc: 15 tùy bút và một bài thơ phác thảo
+ Giá trị:
- Phát hiện kì thú về tài nguyên, phong cảnh miền Tây
- Khám phá đầy trân trọng về vẻ đẹp – chất “vàng mười” của tâm hồn con người Tây Bắc : những lớp người
mở đường kiến thiết Tây Bắc… => đỉnh cao sáng tác Nguyễn Tuân sau cách mạng
b Tùy bút “Người lái đò Sông Đà”
+ Rút từ tập “Sông Đà”
+ Giá trị:
- Giá trị thông tin, tư liệu: công trình khảo cứu về Sông Đà cung cấp những hiểu biết chân xác, lí thú về Sông
Đà
• Lịch sử Sông Đà
• Địa thế đặc biệt của Sông Đà và phong cách vượt thác của người lái đò
• Lịch sử đấu tranh của nhân dân Tây Bắc
• Sự chuẩn bị của nhà nước để chinh phục Sông Đà
- Giá trị văn chương
2 Phân tích:
a Hình tượng Sông Đà
+ Lời đề từ:
- Thơ Nguyễn Quang Bích: Nét riêng của Sông Đà: thế chảy độc đáo, nghịch ngược, không giống ai của Sông
Đà ( Nguyễn Tuân tìm thấy sự đồng cảm với cái “ngông” của thiên nhiên )
- Thơ của nhà thơ Ba Lan: hé mở vẻ đẹp trữ tình của Sông Đà
Trang 5Khái quát: Sông Đà được miêu tả như một sinh thể sống động, có diện mạo, tính cách, nội tâm, hoạt động như con người , hiện lên như một nhân vật văn học với 2 tính cách nổi bật: vừa hung bạo, dữ dội, hùng vĩ vừa trữ tình, dịu dàng, nên thơ
* Tính cách hung bạo, vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ ( Khúc thượng nguồn: lắm thác, nhiều ghềnh, độ dốc lớn,
nước chảy xiết )
+ Vách đá: “dựng vách thành”, được đặc tả bằng một loạt các liên tưởng, so sánh cụ thể
=> Hẹp, sâu, dốc thẳng đứng, tạo cảm giác rợn lạnh
+ Âm thanh tiếng nước:
• Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt.
=> Sự hợp tác của gió, sóng và đá -> sức mạnh uy hiếp
• Thở và kêu như cửa cống cái bị sặc Nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thác nước (nhân hoá ) -> thuỷ quái : hủy diệt ghê gớm
• Rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa như nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng => gợi không khí của một trận
cuồng lửa, hủy diệt, dùng lửa để tả nước – hai yếu tố vồn tương khắc, giờ lại hòa hợp để tương sinh một so sánh độc đáo, gợi cảm => nhấn mạnh đặc tính hủy diệt ghê gớm của Sông Đà
( Câu văn có kết cấu trùng điệp, liên hoàn, nhịp ngắn tạo giọng văn dồn dập, gấp gáp, cắng thẳng, từ ngữ cực
tả trạng thái dữ dội => ấn tượng hãi hùng, rùng rợn và sức tàn phá khủng khiếp)
+ Xoáy nước : dữ dội
+ Thạch trận : hung hãn, dữ dằn của vách đá, hút nước mà còn bộc lộ bản chất nham hiểm, xảo quyệt
• Đá:
Mặt hòn đá nào cũng ngỗ ngược, “nhăn nhúm”, méo mó
Đứng, ngồi, nằm, nghiêng với những nhiệm vụ riêng => bày sẵn thạch trận thành 3 tuyến
• Bày 3 trùng vi nhằm tước đoạt và hủy diệt đến cùng sự sống của con người: giở mọi thủ đoạn, miêu ma chước quỷ để dẫn dụ, phục kích => “binh pháp” sâu hiểm của “thần sông thần đá”
Chọn khúc ngoặt – khi tầm nhìn bị hạn chế để đánh phục kích
Dụ người vào sâu thế trận, đánh quật vu hồi => cô lập hóa, chặn mọi đường sinh
Khi giáp lá cà: giở mọi ngón đòn hiểm ác: nước thác reo hò làm thanh viện…=> uy hiếp tinh thần đối
phương
• Ngôn từ phong phú, sử dụng thuật ngữ, hệ từ vựng của nhiều ngành khoa học, nghệ thuật khác nhau (quân
sự, võ thuật, thể thao…)
• Diễn tả tính chất cuộc đấu tranh giữa con người – tự nhiên: quyết liệt, căng thẳng, một mất một còn
Bản chất Sông Đà: vừa “khắc nghiệt như gì ghẻ, chúa đất”, vừa hùng vĩ dữ dội
Trang 6=> Ấn tượng về con sông:
• Mang diện mạo một kẻ thù
• Thách thức đối với con người, gợi ham muốn chinh phục, khám phá, chế ngự
* Vẻ đẹp nên thơ và trữ tình ( Tập trung ở khúc hạ lưu dòng chảy êm, phẳng, rộng )
- Hình dáng : Tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân => vẻ đẹp duyên dáng,
thơ mộng, e ấp như mang cả hương thơm quyến rũ của núi rừng
- Màu nước:
o Mùa xuân dòng xanh ngọc bích chứ Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô.
o Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về
( Khả năng quan sát tinh tế, ngôn ngữ cá thể hóa cao độ nhờ những so sánh độc đáo, chân xác )
- Cảm nhận con sông Đà gợi cảm trên tư cách một “cố nhân”
o Màu nắng tháng ba Đường thi => liên tưởng độc đáo => nắng sông Đà như ngậm thơ, ngậm họa.
o Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng
- Ngồi trên thuyền: “như một tình nhân chưa quen biết”
- Hình ảnh: đẹp, trong trẻo, thanh khiết, liên tưởng giàu chất thơ
+ Lá ngô non đầu mùa, cỏ gianh đồi núi ra những nõn búp, con nai thơ ngộ, áng cỏ sương
+ Tiếng còi sương => chi tiết độc đáo, diễn tả sâu sắc cái yên lặng khôn cùng của bờ sông, tĩnh đến mức người và vật giao cảm để lặng tìm âm thanh tự tâm hồn, tự thời gian thăm thẳm
+ Bờ sông: hoang dại như một bờ tiền sử, hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa => gợi về quá khứ, khơi lại những trầm tích tâm hồn người Việt trong những trang viết cổ sơ => lấy những giá trị văn hóa truyền thống để so sánh => vĩnh viễn hóa bờ bãi sông Đà
Tiểu kết:
- Ngòi bút tài hoa và biến hóa của Nguyễn Tuân đã thổi linh hồn cho Sông Đà, để vật thể vô tri hiện lên với những tính cách đối nghịch mà thống nhất
- Sông Đà hiện lên với 2 vẻ đẹp: vừa dữ dội, hung bạo, hung vĩ vừa dịu dàng, nên thơ, trữ tình > nguồn cảm hứng vô tận cho nghệ thuật
- Nét tài hoa, uyên bác trong nhìn nhận, khám phá, miêu tả thiên nhiên
Trang 7b Hình tượng người lái đò
- Khắc họa trong tương quan với hình ảnh Sông Đà hung bạo, hùng vĩ => Dụng ý: phẩm chất dũng cảm, gan
dạ, kiên cường chỉ bộc lộ rõ nhất khi nhân vật đương dầu với khó khăn, thử thách Ông lái đó trở thành người anh hùng - nghệ sĩ trong thiên sử thi leo ghềnh vượt thác
- Tài năng:
+ Nắm chắc qui luật của thần sông thần đá
+ Thuộc qui luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở
- Giao tranh với thạch trận ( Bút pháp tương phản dựng lên cuộc tranh chấp quyết liệt, gay gắt, căng thẳng trên thạch trận Sông Đà )
Thạch trận Sông Đà (thiên nhiên)
+ Lực lượng: đá hậu, đá tướng, đá tiền vệ với nhiều thủ đoạn nham hiểm > hùng hậu, đông đảo, dữ dằn, hung hãn
+ Giăng sẵn trận đồ bát quái: ba trùng vi, tập đoàn cửa sinh cửa từ, hệ thống boongke, pháo đài đá chìm nổi
lộ diện hay giấu mặt
- Trùng vây 1:
• 4 cửa tử, 1 cửa sinh.
• Sóng trận địa phóng thẳng
• Mặt nước hò la vang dậy(…), ùa vào mà bẻ gẫy cán chèo võ khí trên cánh tay ông lái => dọa dẫm, sấn sổ,
hiếu chiến
• Sóng nước như quân liều mạng đội thuyền lên => hùng hổ.
• Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình giữa trận nước vang trời thanh la não bạt => hung hăng như một đấu sĩ bất bại.
• Miếng đòn hiểm độc nhất: luồng nước( ) bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò => giở ngón đòn hiểm hóc quyết
định nhằm nốc ao đối phương
- Trùng vây 2:
• Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn => nham
hiểm, xảo quyệt
• Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá => thiên nhiên hùng mạnh như thú dữ.
• Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đòn cửa tử => dai
dẳng, quyết liệt
• Không ngừng khiêu khích
- Trùng vây 3:
Trang 8• Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả.
• Luồng sống ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác
ông đò: cạn kiệt sức lực, nhỏ bé, đơn độc
Như một đại tướng lão luyện, dày dạn kinh nghiệm trận mạc, ông đò bình tĩnh tiến vào trận địa, lần lượt vượt qua từng trùng vây:
- Vượt trùng vây 1:
• Hai tay giữ mái chèo
• Cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch.
• Chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo.
- Vượt trùng vây thứ 2:
Không một chút nghỉ tay nghỉ mắt.
Nắm chặt lấy cái bờm song đúng luồng => ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vòa cửa sinh, lái miết một đường chéo về phía cửa đá => thành thạo, chính xác, dũng mãnh trong từng động
tác
- Vượt trùng vây 3:
• Phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa.
• Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép.
=> dũng cảm, nhanh gọn, dứt khoát
Nhận xét:
- Nhịp văn gấp gáp, hơi văn căng thẳng, câu văn dồn dập gợi không khí cuộc giao tranh quyết liệt, một sống một chết
- Tương phản hai lực lượng: một bên là thiên nhiên – thác đá Sông Đà bạo liệt, hung tàn, sức mạnh vô song, một bên là con người – ông lái đò bé nhỏ, cạn kiệt sức tạo ra một tương phản để nhấn mạnh bản lĩnh, sự dũng cảm và khả năng chinh phục tự nhiên của con người
- Kết hợp kiến thức uyên bác của nhiều lĩnh vực: võ thuật, thể thao, quân sự… và trí tưởng tượng phong phú cùng kho chữ nghĩa phong phú, tài hoa biến câu chuyện bình thường thành bản trường ca về người anh hùng
– nghệ sĩ lái đò trong nghệ thuật vượt thác ông đò vừa là một dũng sĩ vừa là một nghệ sĩ.
Tiểu kết:
- Hình ảnh ông lái hiện lên với tư cách người lao động - nghệ sĩ làm chủ thiên nhiên => vẻ đẹp của “chất vàng mười” trong tâm hồn con người Tây Bắc
- Sự uyên bác, trí tưởng tượng phong phú, kho chữ nghĩa giàu có là vốn liếng để nhà văn xây dựng thành công
hình tượng người lái đò Sông Đà mang vẻ đẹp độc đáo Nét độc đáo trong cách khắc hoạ:
+ Tô đậm nét tài hoa nghệ sĩ
Trang 9+ Tạo tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ phẩm chất.
+ Sử dụng ngôn ngữ miêu tả đầy cá tính, giàu chất tạo hình
? Hãy cắt nghĩa vì sao, trong con mắt của NT, thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng nhưng con người Tây Bắc mới thật xứng đáng là vàng mười của đất nước ta?
+ Thiên nhiên: vàng
+ Con người lao động: vàng mười trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả, con người đẹp hơn tất cả và quý giá
hơn tất cả
+ Con người được ví với khối vàng mười quý giá lại chỉ là những ông lái, nhà đò nghèo khổ, làm lụng âm thầm, giản dị, vô danh
=> Những con người vô danh đó đã nhờ lao động, nhờ cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên mà trở nên lớn lao, kì vĩ, hiện lên như đại diện của Con Người
? Có thể xem NLĐSĐ như một khúc hùng ca, ca ngợi điều gì?
- Khúc hùng ca ca ngợi con người,
ca ngợi ý chí của con người, ca ngợi lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợi trước sức mạnh tựa thánh thần của dòng sông hung dữ Đó chính là những yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc
và của những người lao động nói chung
? Tại sao N.Tuân lại khắc họa ông lái đò trong tương quan với hình ảnh Sông Đà hung bạo?
- Dụng ý: phẩm chất dũng cảm, gan dạ, kiên cường chỉ bộc lộ rõ nhất khi nhân vật đương dầu với khó khăn, thử thách Giả sử đặt ông lái trong khung cảnh thi vị trữ tình của Sông Đà thì nhân vật sẽ trở thành một nghệ
sĩ đa tình, lẫn vào thế giới nhân vật của Nguyễn Tuân trước cách mạng => Ông lái đó trở thành người anh hùng - nghệ sĩ trong thiên sử thi leo ghềnh vượt thác
CỦNG CỐ KIẾN THỨC
Đề 1: Nêu ngắn gọn đặc điểm con người Nguyễn Tuân
Đề 2: Trình bày ngắn gọn sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân
Đề 3: Nêu và phân tích ngắn gọn phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
Đề 4: Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lái đò sông Đà
Gợi ý đề 4
- Nhân vật người lái đò được Nguyễn Tuân nhìn như là đối tượng của cái Đẹp Nó lấp lánh ánh sáng của người tài hoa nghệ sĩ Theo Nguyễn Tuân, không cứ gì cứ là người hoạt động ở các ngành nghệ thuật họ mới
là kẻ tài hoa nghệ sĩ Mà những con người xung quanh chúng ta biết tôn trọng cái Đẹp đều có thể ứng xử Đẹp
và tự giác sáng tạo ra cái Đẹp Những người uống trà trong sương sớm, những kẻ biết thưởng thức “hương cuội”… đều là những nghệ sĩ tài hoa Và do vậy “Người lái đò sông Đà “là người lái đò – nghệ sĩ” Chờ đò, lái đò là cả một nghệ thuật cao cường và đầy tài hoa
Nghệ thuật ở đây chính là nó đã nhập thân vào người lái đò cả phương diện hình thức lẫn tính cách
“Trên thác hiên ngang một người lái đò sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy nắm được qui luật tất yếu của dòng sông Đà
Trang 10Hình ảnh người lái đò sông Đà được Nguyễn Tuân dựng tượng khiến cho ta như sờ mó được Bức tượng ấy không phải là con người chung chung mà nó tạo dáng hết sức riêng biệt không thể đặt tên gì khác hơn là
“người lái đò sông Đà” Bức tượng hắt chiếu ra tính cách bên trong của con người này “Tay ông dài lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào… nhỡn giới ông vời vợi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù”
- Để làm nổi bật tài nghệ của ông lái đò, Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một cuộc vượt thác của ông như là một viên tướng ngày xưa lao vào một trận đồ bát quái của Khổng Minh với biết bao nhiêu cạm bẫy, hết vòng này đến vòng khác, và mỗi vòng, đá trên thác sông Đà đều có những viên tướng mưu trí và gian thâm chỉ huy Để
áp đảo “kẻ địch” dám “quân thác đá” còn nổi trống chiêng la hò dữ dội “Rống lên như ngàn con trâu mộng đang lồng lộn… rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu cháy bùng bùng”
Thật là một liên tưởng hết sức bất ngờ Đây là lối liên tưởng tạt ngang, nối kết hai sự kiện rời nhau dường như chúng không có sự tương đồng Câu chuyện nói về “nước” lại được liên tưởng với “lửa” Câu chuyện nói
về “đá thác” ở đây là liên tưởng tới “đàn trâu” và “rừng bị cháy” Nếu không có phong cách tài hoa táo bạo của Nguyễn Tuân khi xử lý những hiện tượng trên sẽ gây ra khập khiễng, phi lôgich Đoạn văn dựng cảnh đầy giá trị tạo hình, nó như một cuốn phim quay cận cảnh và dựng lại đặc tả các chi tiết (chính Nguyễn Tuân đã
có ý định sử dụng vốn văn hóa về môn nghệ thuật thứ bảy này để dựng cảnh, dựng truyện: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim… những thước phim màu cũng quay tít… cái phim ảnh thu được…
Ta cũng lưu ý lối thuật kể đầy hồi hộp, đầy kịch tính căng thẳng, vốn tri thức về quân sự và võ thuật được đưa ra ứng dụng Quả là “ông lái đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá Ông đã thuộc qui luật phục kích của lũ đá…, Ông đã “cưỡi”lên thác sông Đà: “Nắm chặt lấy cái bờm sóng”, “bám chắc lấy luồng nước” lúc “phóng nhanh” lúc “lái miết”, nhớ mặt bọn đá “đứa thì ông tránh” “đứa thì ông đè xấn lên”… Ông lái đò quả là vị tướng đầy thao lược tài ba
Ông đang trình diễn nghệ thuật của mình với qui luật thiên nhiên khắc nghiệt Nếu thiếu một chút bình tĩnh, thiếu một chút chính xác, ông phải trả giá bằng mạng sống của mình
Nguyễn Tuân quả là ưa khai thác những cảm giác mạnh để tác động những ấn tượng không phai mờ trong tâm não của độc giả!
Qua nhân vật người lái đò, Nguyễn Tuân cho rằng chủ nghĩa anh hùng đâu phải tìm kiếm đâu xa lạ Nó có trong cuộc sống tìm miếng cơm manh áo của nhân dân lao động đấy thôi Những người bình dị có trí dũng tài
ba họ có thể viết nên những thiên anh hùng ca, có thể tạo hình tạc mẫu cho nghệ thuật Họ là đối tượng của cái đẹp, của ánh sáng thẩm mỹ mới
Đề 5: Dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân trong “Người lái đò Sông Đà”
Phong cách Nguyễn Tuân nổi rất rõ trong bài tùy bút đó là:
a) Cảm hứng đặc biệt đối với những gì gây cảm giác mạnh
b) Nhìn cảnh vật con người ở phương diện cái Đẹp
c) Đầy ắp những tri thức uyên bác của các ngành
d) Viết phóng túng với ngôn ngữ giàu có và điêu luyện
- Chúng ta có thể thấy những từ dùng:
* “Nhỡn giới ông vòi vọi” (tr 146)
* “Ông đò… mặt méo bệch đi”… (tr 152)
* “Thác… hồng hộc tế …” (tr 153)
- Đặc biệt là những liên tưởng độc đáo thông qua so sánh
* “Vui như nối lại chiêm bao đứt quãng” (Tr 155)
* “Đằm thắm, đầm ấm như gặp được cố nhân” (Tr 156)