THỰC TRẠNG VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta biết, từ năm 2003 đến năm 2006, lạm phát vần diễn ra ở Việt Nam nhưng theo nhận định của các chuyên gia thì đây chỉ là một thứ chất bôi trơn cho phát triển kinh tế Đến năm 2007, lạm phát xảy ra nhanh chóng mà không dự báo hay có thể kiềm lại được Nó trở thành một mối quan tâm mà bất ai cũng có thể nhắc đến khi gặp nhau Nó tác động đến mọi mặt của đời sống mà hậu quả để lại rất to lớn khó có thể bù đắp Đến nay, tình hình lạm phát vẫn tiếp tục diễn ra và tiến đến cao trào, nó không là vấn đề của riêng ai mà là của toàn xã hội.Thành công trong việc chặn đứng lạm phát phi
mã năm 1989 nhờ áp dụng công cụ lãi suất ngân hàng (đưa lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm lên cao vượt tốc độ lạm phát), đã cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô nhằm đạt các mục tiêu ngắn hạn ổn định thị trường Trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh của nước ta luôn thường trực nguy cơ tái lạm phát cao, do đó một công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như chính sách tiền tệ được tận dụng trước tiên vơí hiệu suất cao cũng là điều tất yếu Tuy nhiên gầnđây ở Việt nam có dấu hiệu của sự lạm dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong nhiệm vụ kiềm chế lạm phát Điều này thể hiện sự yếu kém trong việc quản lý và sử dụngchính sách tiền tệ của chúng tới Vì vậy đứng trước nguy cơ tiềm ẩn của lạm phát, việc nghiên cứu chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát là vô cùng cần thiết
Trang 2CHƯƠNG 1: LẠM PHÁT VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
1.1 Lạm phát :
1.1.1 Khái niệm về lạm phát:
Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt qua nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt Lạm phát có đặc trưng cơ bản là:
- Hiện tượng giá tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá
- Mức giá cả chung tăng lên
Chính vì vậy, khi tính mức độ lạm phát, các nhà kinh tế sử dụng chỉ số giá cả Trong đó, sử dụng hiều nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số này phản ánh mức thay đổi giá cả của một giỏ hàng hóa tiêu dùng so với năm gốc cụ thể Tuy nhiên việc sử dụng chỉ số giá tiêu dùng cũng có những hạn chế: CPI phản ánh tỷ lệ cố định của mỗi mặt hàngtheo ý nghĩa kinh tế của nó, không phản ánh chính xác về những thay đổi về chất lượng hàng hóa Ngoài chỉ số giá tiêu dùng, người ta còn sử dụng các chỉ số khác như chỉ số giá
cả xản xuất, chỉ số “giảm lạm phát GDP”,…
1.1.2 Tác động của lạm phát:
Lạm phát có ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển kinh tế xã hội tùy theo mức độ của nó, nó có thể đem đến mặt lợi lẫn mặt hại tùy vào loại lạm phát (lạm phát vừa phải, lạm phát cao, siêu lạm phát) Nếu như lạm phát có thể dự đoán được thì lạm phát không gây nên gánh nặng kinh tế lớn bởi người ta có thể có những giải pháp để thích nghi với
nó Lạm phát không dự đoán được sẽ dẫn đến những đầu tư sai lầm và phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực cuẩ nền kinh tế
- Tác động phân phối thu nhập và của cải:
Tác động chính của lạm phát về mặt phân phối phát sinh từ những sự khác nhau trong các loại tài sản và nợ nần của dân Khi lạm phát xảy ra những người có tài sản,
Trang 3những người đang vay nợ là có lợi vì giá cả các loại tài sản chung đều tăng lên, còn giá trịđồng tiền thì giảm xuống Và ngược lại, những người làm thuê, người gửi tiền cho vay tiền là bị thiêt hại.
Để tránh thiệt hại, người ta đã đưa ra cách thức giải quyết đơn giản là điều chỉnh lãi suất hợp với tỷ lệ lạm phát Tuy nhiên, chỉ có thể thực hiện biện pháp này khi tỷ lệ lạmphát thấp
- Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm:
Trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó làm tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông, cấp thêm vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng của chính phủ và nhân dân
Giữa lạm phát cà thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tăng thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại Nhà kinh tế học A.W Phillips đã đưa ra “lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát và việc làm”, theo đó một nước có thể mua mức độ thất nghiệp thấp hơn nếu sẵn sang trả giá bằng mức độ làm việc cao hơn
- Các tác động khác:
Khi lạm phát cao và không đoán trước được, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân đối.Trong lĩnh vực lưu thông, vật giá tăng nhanh làm tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hóa xảy ra phổ biến, làm mất cân đối giả tạo làm lưu thông trở nên rối loạn Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, lạm phát tăng nhanh làm tăng tỷ giá hối đối, làm đồng nội tệ mất giá so với dồng ngoại tệ, tăng cường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu và làm khó khăn cho việc nhập khẩu Lạm phát cao và siêu lạm phát làm hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng Nguồn tiền gửi sụt giảm, nhiều ngân hàng phá sản do mất khả năng thanh toán Làm thiệt hại ngân sách nhà nước bằng việc bào mòn giá trị thực của những khoản công phí,…Ngoài ra còn rất nhiều tác động xấu mà lạm phát gây nên, nó ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội và nhà nước cần có những biện pháp thích hợp để kiềm chế lạm phát
Trang 41.1.3 Phân loại lạm phát:
Do biểu hiện đặc trưng của lạm phát là tăng lên của giá cả hàng hóa, nên các nhà kinh tế thường dựa vào tỷ lệ tăng giá để làm căn cứ phân loại lạm phát ra thành ba mức
độ khác nhau:
Lạm phát vừa phải: Loại lạm phát này xảy ra khi mức giá cả hàng hóa tăng ở mức
độ một con số hàng năm (dưới 10% một năm) Lạm phát vừa phải còn được gọi là lạm phát nước kiệu hay lạm phát một con số Loại lạm phát này thường được các nước duy trìnhư là chất xúc tác để thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Lạm phát cao: Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ hai con số hàng năm (từ 10%-100% một năm) Lạm phát cao còn gọi là lạm phát phi mã Thật ra một số nhà kinh tế quan điểm cho rằng thuộc loại lạm phát phi mã bao gồm cả lạm phát ở mức độ ba con số Lạm phát này gây ra nhiều tác hại đối với nền kinh tế
Siêu lạm phát: Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ
ba con số hàng năm trở lên Siêu lạm phát còn gọi là lạm phát siêu tốc Không có điều gì
là tốt khi nền kinh tế rơi vào tình trạng siêu lam phát Người ta thường ví siêu lạm phát như căn bệnh ung thư gây chết người, có tác hại rất lớn đến nền kinh tế-xã hội Lịch sử lạm phát thế giới đã ghi nhận tác hại của siêu lạm phát xảy ra ở Đức năm 1920-1923, ở Nga sau Cách mạng tháng 10, ở Trung Quốc sau chiến tranh thế giới thứ hai,…
1.2 Chính sách tiền tê:
1.2.1 Khái niệm chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ là tổng hòa những phương thức mà ngân hàng trung ương thôngqua các hoạt động cuẩ mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục
vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong một thời kì nhất định Nó là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách tài chính kinh tế vĩ mô của chính phủ
Chúng ta có thể khẳng định rằng, nếu như chính sách tài chính chỉ tập trung vào thành phần, kết cấu các mức chi phí thuế khóa của nhà nước thì chính sách tiền tệ lại tập trung vào khả năng thanh toán của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm khối lượng cần
Trang 5cung cấp cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và khối lượng tín dụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, thị trường vốn theo những quỹ đạo đã định,kiểm soát hệ thống ngân hàng thương mại, cùng với việc xác định tỷ giá hối đoái thích hợp nhằm ổn định và thúc đẩy kinh tế đối ngoại và kinh tế ngoại thương nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ,giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa.
1.2.2 Vai trò của chính sách tiền tệ trong kiềm chế lạm phát:
Để thấy rõ tác động của chính sách tiền tệ tới tỷ lệ lạm phát ta sẽ đi tìm hiểu từng công cụ của chính sách tiền tệ
1.2.2.1 Dự trữ bắt buộc:
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ giữa số phương tiện thanh toán cần khống chế trên tổng số tiền gửi nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán và khả năng tín dụng của ngân hàng thương mại
Trong hoạt động tín dụng và thanh toán, các ngân hàng thương mại có khả năng biến các khoản thanh toán gửi ban đầu thành những khoản tiền mới cho cả hệ thống, khả năng sinh ra bội số tín dụng, tức là khoản tạo tiền Để khống chế khả năng này, ngân hàng trung ương buộc các ngân hàng thương mại phải trích một phần tiền huy động được theo một tỷ lệ quy định vào ngân hàng trung ương không được hưởng lãi Do đó cơ chế hoạt động của công cụ dự trữ bắt buộc nhằm khống chế khả năng tạo tiền, hạn chế mức tăng bội số tín dụng của các ngân hàng thương mại
Khi lạm phát cao, ngân hàng trung ương nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanh toán của ngân hàng bị thu hẹp, khối lượng tín dụng trong nền kinh tế giảm dẫn tới lãi suất tăng, đầu tư giảm, do đó tổng cầu giảm và làm cho giá giảm.Ngược lại nếu ngân hàng trung ương hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tức là tăng khả năng tạo tiền, thì cung về tín dụng của các ngân hàng thương mại cũng tăng lên, khối lượng tín dụng và khối lượng thanh toán có xu hướng tăng, đồng thời tăng xu hướng mở rộng tiền Lý luận tương tự như trên thì việc tăng cung tiền sẽ dẫn tới tăng giá Như vậy công
cụ dự trữ bắt buộc mang tính hành chính áp lực trực tiếp, đầy quyền lực và cực kỳ quan trọng để cắt cơn sốt lạm phát, khôi phục hoạt động kinh tế trong trường hợp kinh tế
Trang 6để đảm bảo điều hòa mức cung tiền cho nền kinh tế Nhưng công cụ dự trữ bắt buộc quá nhạy cảm, vì chỉ khi thay đổi nhỏ trong dự trữ bắt buộc đã làm cho khối lượng tiền tăng lên rất lớn khó kiểm soát Mặt khác một điều bất lợi là khi sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát việc cung ứng tiền như việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn
đè khả năng thanh khoản ngay đối với môt ngân hàng có dự trữ vượt mức quá thấp, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc không ngừng cũng gây nên tình trạng không ổn định cho các ngân hàng Do đó, dự trữ bắt buộc ít được sử dụng để kiềm chế lạm phát đối với các nước trên thế giới (đặc biệt là nước có nền kinh tế phát triển, ổn định)
1.2.2.2 Tái chiết khấu:
Tái chiết khấu là phương thức để ngân hàng trung ương đưa tiền vào lưu thông thựchiện vai trò cho vay cuối cùng Thông qua việc tái chiết khấu, ngân hàng trung ương đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thống ngân hàng thương mại thực hiện việc tạo tiền, đồng thời khai thông thanh toán Tái chiết khấu là đầu mối tăng tiền trung ương, tăng khối lượng tiền tệ vào lưu thông Do đó ảnh hương trực tiếp đến quá trình điều khiển khối lượng tiền và điều hành chính sách tiền tệ Tùy theo tình hình từng giai đoạn, tùy thuộc yêu cầu của việc thực hiện chính sách tiền tệ trong giai đoạn ấy, cần thực hiện chính sách nới lỏng hay thắt chặt tín dụng mà ngân hàng trung ương quy định lãi suất thấp hay cao Lãi suất tái chiết khấu đặt ra từng kì phải có tác dụng hướng dẫn, chỉ đạo lãi suất tíndụng trong nền kinh tế của giai đoạn đó Khi ngân hàng trung ương nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các ngân hàng thương mại cũng phải nâng lãi suất tín dụng của mình lên
để không bị lỗ vốn Do lãi suất tín dụng tăng lên, giảm cầu về tín dụng và kéo theo giảm cầu về tiền tệ Do đó đầu tư giảm dẫn tới tổng cầu giảm làm cho giá giảm Trường hợp ngược lại là ngân hàng trung ương kích thích tăng cung cầu về tiền tệ làm cho giá tăng
Ở các nước công cụ nghiệp vụ trực tiếp để thực hiện tái chiết khấu là thương phiếu, hoặccác loại tín phiếu là các công cụ rất thông dụng trên thị trường tiền tề và thị trường vốn nhưng ở nước ta chưa có công cụ truyền thống để thực hiện việc chiết khấu và tái chiết khấu Mặt khác công cụ tái chiết khấu vừa có khả năng mở rộng khối lượng tín dụng chonền kinh tế Cho nên có thể ví công cụ tái chiết khấu là cái bơm hai chiều vừa hút vừa đẩy Khi bơm đẩy ra là cung thêm tiền cho nền kinh tế khi có hiện tượng thiểu phát Và bơm hút vào thu hồi lượng tiền của nền kinh tế khi có hiện tượng lạm phát
Trang 7Tuy nhiên khi ngân hàng trung ương ấn định lãi suất chiết khấu tại một mức nào
đó sẽ xảy ra những biến động lớn trong khoảng cách giữa lãi suất thị trường và lãi suất chiết khấu vì khi đó lãi suất cho vay thay đổi Những biến động này dẫn đến những thay đổi ngoài ý định trong khối lượng cho vay chiết khấu và do đó thay đổi cung ứng tiền tệ làm cho việc kiểm soát cung ứng tiền tệ vất vả hơn Đây là những hạn chế của công cụ tái chiết khấu trong kiềm chế lạm phát
1.2.2.3 Hoạt động thị trường mở:
Nếu như công cụ lãi suất tái chiết khấu là công cụ thụ động của NHTW, tức là NHTW phải chờ NHTM đang cần vốn đưa thương phiếu, kỳ phiếu đến để xin "tái cấp vốn" thì nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chủ động của ngân hàng trung ương để điều khiển khối lượng tiền, qua đó đã kiểm soát được lạm phát Qua nghiệp vụ thị trường mở,NHTW chủ động phát hành tiền trung ương vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách mua bán các loại trái phiếu ngân hàng quốc gia nhằm tác động trước hếtđến khối lượng tiền dự trữ trong quỹ dự trữ của các NHTM và các tổ chức tài chính, hạn chế tiềm năng tín dụng và thanh toán của các ngân hàng này, qua đó điều khiển khối lượng tiền trong thị trường tiền tệ chúng ta Khi nghiên cứu phần trước đã biết rằng khối lượng tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ lạm phát , việc thay đổi cung tiền tệsẽlàm thay đổi tỷ lệ lạm phát Trong nghiệp vụ thị trường mở, ngân hàng trung ương điều khiển cả khối lượng tiền tệ và lãi suất tín dụng thông qua "giá cả" mua và bán trái phiếu Tất cả những cuộc can thiệp vào khối lượng tiền bằng công cụ thị trường mở đều được tiến hành dường như là lặng lẽ và vô hình, "không can thiệp thô bạo", điều khiển mạnh mà không chứa đựng "một chút mệnh lệnh" Một mặt nghiệp vụ thị trường mở có thể dễ dàng đảo ngược lại Khi có một sai lầm trong lúc tiến hành nghiệp vụ thị trường mở, nhưkhi thấy cung tiền tệ tăng hoặc giảm quá nhanh ngân hàng thương mại có thể lập tức đảongược lại bằng cách bán trái phiếu hoặc mua trái phiếu và ngược lại Đây là công cụ cực
kỳ quan trọng của nhiều NHTW, và được coi là vũ khí sắc bén nhất đem lại sự ổn định kinh tế nói chung, ổn định lạm phát nói riêng Nhưng ở nước ta đang ở trong thời kỳ đặt nền móng Bởi vì nghiệp vụ này đòi hỏi phải có môi trường pháp lý nhất định Trong thời kỳ lạm phát đến 3 con số, Việt nam đã áp dụng chính sách lãi suất để đẩy lùi lạm
Trang 8phát rất nhanh chóng Chúng ta sẽ nghiên cứu xem chính sách lãi suất tác động tới lạm phát như thế nào.
1.2.2.4 Lãi suất:
Lãi suất là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ Nó được áp dụng nhất quán trong một lãnh thổ và được ngân hàng nhà nước điều hành chặt chẽ và mềm dẻo tuỳ theo từng thời kỳ cho phù hợp với nhu cầu huy động vốn và cung ứng vốn Như vậy chúng ta có thể thấy rằng lãi suất tác động làm thay đổi cầu tiền tệ trong dân cư, và làm thay đổi tỷ lệ lạm phát Thật vậy, khi có lạm phát Ngân hàng nhà nước sẽ tăng lãi suất tiền gửi Chính vì thế người dân và các công ty sẽ đầu tư vào ngân hàng (gửi tiền vào ngân hàng) có lợi hơn là đầu tư vào sản xuất kinh doanh Như vậy cầu tiền giảm do đó tổng đầu tư giảm, làm cho tổng cầu giảm dẫn tới giá giảm Nhưng chúng ta biết rằng tỷ
lệ lãi suất danh nghĩa bằng tỷ lệ lãi suất thực cộng với tỷ lệ lạm phát, do đó khi có lạm phát cao, áp dụng chính sách lãi suất ở đây chính là việc tăng tỷ lệ lãi suất danh nghĩa cao hơn hẳn tỷ lệ lạm phát (để duy trì lãi suất thực dương) qua đó mới tạo được cầu tiền danh nghĩa tương ứng với cầu tiền thực tế Tóm lại khi lãi suất tiền gửi cao thì động viênđược nhiều người gửi tiền vào NHTM và ngược lại NHTM mua tín phiếu NHNN với lãisuất kinh doanh có lãi thì sẽ giảm được khối lượng tín dụng Nếu lãi suất tiền (cho vay) cao sẽ làm nản lòng người vay vì kinh doanh bằng vốn vay NHTM không có lợi nhuận Như vậy dùng công cụ lãi suất có thể tăng hoặc giảm khối lượng tín dụng của NHTM đểđạt được mục đích của chính sách tiền tệ Tuỳ từng thời điểm mà chính sách lãi suất được áp dụng thành công trong việc chống lạm phát Ở Việt Nam đã áp dụng rất thành công chính sách lãi suất vào những năm cuối thập kỷ 80 trong việc giảm tỷ lệ lạm phát
từ 3 con số xuống còn một con số do nền kinh tế ở nước ta lúc đó là nền kinh tế tuy đã
mở cửa nhưng chưa mở hẳn, do đó chỉ có tác động trong nước đầu tư bằng Việt nam đồng chứ quốc tế ít đầu tư vào Chính vì thế ngày nay không thể áp dụng chính sách lãi suất với tỷ lệ lãi suất rất cao để giảm tỷ lệ lạm phát mà phải quan tâm đến mối quan hệ giữa lãi suất trong nước và lãi suất nước ngoài Trong việc kiểm soát lạm phát đây là công cụ cổ điển, các nước ngày càng ít sử dụng hơn Tuy đây là một công cụ rất quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát và huy động vốn cũng như cung cấp vốn
Trang 91.2.2.5 Hạn mức tín dụng :
Ngoài những công cụ cơ bản trên, ngân hàng nhà nước còn sử dụng công cụ hạn mức tín dụng để điều hành, làm cho khối lượng tín dụng đối với NHTM không vượt quá mức cho phép để từ đó bảo đảm mức lạm phát đã được phê duyệt
Hạn mức tín dụng là khối lượng tín dụng tối đa mà NHTW có thể cung ứng cho tất
cả các NHTM trong thời kỳ nhất định phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế của thời kỳ Đây là một chỉ tiêu có quan hệ trực tiếp đến khối lượng tiền trung ương được cung ứng thêm (hay giảm bớt) đối với các NHTM Khi hạn mức tín dụng giảm, dẫn tới cung tiền giảm do đó tổng đầu tư giảm làm cho tổng cầu giảm và cuối cùng là giá giảm Với mục tiêu ổn định đồng tiền và chống lạm phát được coi là mục tiêu số một, thì công cụ hạn mức tín dụng là cần thiết
Song việc sử dụng công cụ hạn mức tín dụng cũng là vấn đề khó khăn không nhỏ cho các ngân hàng thương mại Tiền gửi của nhân dân không thể không thu nhận hàng ngày hàng giờ Nếu nhận tiền gửi mà không được cho vay thì chẳng khác nào có đầu vào
mà không có đầu ra Như vậy đầu ra của vốn huy động bị bế tắc bởi hạn mức tín dụng Việc xác định hạn mức tín dụng là rất cần thiết, để thực hiện mục tiêu chống lạm phát Song nó cũng có những mặt trái gây khó khăn cho NHTM Cần có những giải pháp để khắc phục những khó khăn đó
Trang 10CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
TRONG KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
2.1 Thực trạng lạm phát trong những năm gần đây:
Việc ổn định và kiềm chế lạm phát là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi lẽ lạm phát là một trong những chỉ tiêu vĩ mô đánh giá sức khỏe của một nền kinh tế bên cạnh các chỉ tiêu tăng trưởng và thất nghiệp Khi giá dầu thô trên thế giới đã vượt mức
113USD/thùng cộng với vài sự kiện đã tích lũy từ trong quá khứ như dịch lỡ mồm long móng ở gia súc, cúm gia cầm thì lạm phát trở thành một vấn đề gây tác động thực sự
từ chính phủ cho đến những người dân thông thường
Biểu đồ 2.1 : Diễn biến lạm phát từ năm 2004-2012
(Nguồn: Tổng cục Thống kê )Nhìn vào diễn biến của lạm phát những năm 2004-2012 có thể thấy, tính "chu kỳ" nhất định đối với lạm phát ở nước ta Trong 9 năm (2004-2012), vòng xoáy lạm phát lặp lại theo chu kỳ 3 năm 1 lần: 2 năm tăng vọt lên và 1 năm giảm sâu đột ngột (trong 3 năm 2004-2006: mức CPI trong các năm đó lần lượt là 9,5%; 8,4% và 6,6%; Giai đoạn 2007-
2009, CPI lần lượt là: 12,6%; 19,9% và 6,5%; Giai đoạn 2010-2012: 11,8%; 18,13% và 6,81%) Nếu như tính chu kỳ của lạm phát như các năm trước đó, lạm phát năm 2013 và
2014 có thể tăng lên
Trang 11Năm 2013 đã đi được hơn 3 tháng Tháng 1/2013, CPI đã tăng tới 1,25% Lạm phát tháng 2 tuy chỉ tăng 1,32% so với tháng 1, nhưng tính chung 2 tháng đầu năm, CPI
đã tăng 2,59% so với tháng 12/2012 Như vậy, với mục tiêu lạm phát năm 2013 ở mức 6,5%, thì trong các tháng còn lại, CPI sẽ chỉ được phép tăng dưới 0,4%/tháng Rõ ràng, đây là mục tiêu khó khả thi trong bối cảnh nhiều yếu tố đe dọa lạm phát đang rình rập.Hơn nữa, theo nhận định của HSBC, lạm phát cơ bản tháng 2 tương tự như tháng 1 vẫn ở mức cao 12,6% so với cùng kỳ năm ngoái Trong tháng, lạm phát cơ bản có điều chỉnh yếu tố mùa vụ so với tháng trước đã giảm 0,5% từ mức 0,9% của tháng 1 Lạm phát thực phẩm tháng 2 tăng nhẹ từ mức 1,3% của tháng 1 lên mức 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái Kết quả là lạm phát thực phẩm tháng 2 có điều chỉnh mùa vụ so sánh theo tháng tăng 0,2% từ mức 0,6% trong tháng 1
6-Đồng quan điểm với nhiều chuyên gia khác, TS Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia
Hà Nội), năm 2012, dù lạm phát danh nghĩa thấp, song lạm phát lõi (không bao gồm lương thực và năng lượng) vẫn rất cao, khoảng 11% Do đó, mục tiêu đưa lạm phát năm
2013 ở mức 6 - 6,5% là rất mong manh
Chỉ số lạm phát của Việt Nam vài năm gần đây luôn luôn ở mức cao và tốc độ tăng chỉ số lạm phát nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP Điều này nói lên thành quả của việc tăng trưởng kinh tế nhiều năm qua của Việt Nam đã không đem lại nhiều cho sự nâng cao mức sống của tầng lớp người nghèo, người lao động làm công ăn lương ngược lại làm nghèo đi và dẫn đến xóa đi thành quả xóa đói giảm của Việt Nam trong nhiều năm qua và dễ gây ra bất ổn xã hội
Theo lời Phó Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Đức Kiên thì khi tăng trưởng kinh tế năm 2010 chỉ đạt chưa đến 6,67% mà “mức tăng giá cao gần gấp đôi 11,75% mức tăng trưởng kinh tế là vấn đề rất đáng phê bình.” Ông Kiên cũng nêu một thí dụ so sánh, nếu ởTrung Quốc, tăng trưởng kinh tế khoảng 10% thì lạm phát chỉ xấp xỉ 5%, Thổ Nhĩ Kỳ tăng GDP 8% thì CPI cũng chỉ 3 - 4% còn Việt Nam thì ngược lại Điều này không những ảnh hưởng lớn đến bộ mặt kinh tế Việt Nam mà còn làm cho đời sống xã hội của người dân trở nên khó khăn hơn
Trang 12Vì thế, chính phủ cũng như NHTW cần có thêm nhiều biện pháp hơn nữa, phải áp dụng chính sách tiền tệ lẫn tài khóa một cách linh hoạt, mềm dẻo trong từng giai đoạn, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng.
2.2 Thực trạng về chính sách tiền tệ trong kiềm chế lạm phát :
2.2.1 Dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc là công cụ khá quan trọng của chính sách tiền tệ trong kiềm chế lạm phát Tuy nhiên, nhiều năm qua, công cụ này mất tác dụng vì tăng trưởng tín dụng quá nóng trong khi tỷ lệ dữ trữ bắt buộc lại quá thấp Cụ thể, khi lạm phát cao Ngân hàng Nhà nước sẽ phải hút tiền về, biện pháp có thể sử dụng tới là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các tổ chức tín dụng Nhưng thời gian qua, do hệ thống ngân hàng thương mại thiếu thanh khoản nên nếu Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì sẽ gây khó khăn cho nền kinh tế Do vậy, công cụ này nếu nói nặng là bị tê liệt, nếu nói nhẹ thì cần phải
có biện pháp để khôi phục lại thanh khoản hệ thống, sử dụng linh hoạt công cụ này trong thời gian tới
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc với tiền gửi VND tại các TCTD từ năm 2007 đến nay
( Nguồn: GAFIN/SBV)
Trang 13Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam phải duy trì trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước Theo số liệu thống kê,
từ tháng 3/2009 đến nay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc với tiền gửi VND tại hầu hết các tổ chức tín dụng (trừ ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, NHTM nông thôn, ngân hàng hợp tác, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương) nhìn chung duy trì ở 3% với tiền gửi không kỳ hạn và dưới 12 tháng, 1% với tiền gửi trên 12 tháng
Thời gian qua NHNN cũng đã ban hành một số cơ chế để điều hành công cụ dự trữ bắt buộc: Quyết định số 379/QĐ-NHNN áp dụng từ ngày 24/2/2009 (đối với VND)
và Quyết định 79/QĐ-NHNN áp dụng từ 01/2/2010 (đối với ngoại tệ), thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày 29/9/2010 Theo những điều ban hành trên thì hính sách dự trữ bắt buộc đối với NHTM sẽ căn cứ vào thời hạn tiền gửi, loại tiền gửi và ưu tiên cho đối tượng vay nông nghiệp và nông thôn
Bảng 2.1 : Tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHNN đối với các loại hình TCTD
Loại TCTD
Tiền gửi VND Tiền gửi ngoại tệ
Không kỳhạn và dưới 12 tháng
Từ 12 tháng trở lên
Không kỳhạn và dưới 12 tháng
Từ 12 tháng trở lên
Các NHTM Nhà nước (không
bao gồm NHNo & PTNT),
NHTMCP đô thị, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, ngân hàng liên
doanh, công ty tài chính, công ty
cho thuê tài chính
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn
NHTMCP nông thôn, ngân hàng
hợp tác, Quỹ tín dụng nhân dân
Trang 14Trung ương
TCTD có số dư tiền gửi phải tính
dự trữ bắt buộc dưới 500 triệu
lý hơn để hạn chế vấn đề lãi suất vay và thúc đẩy khả năng tạo tiền của các ngân hàng thương mại
2.2.2 Tái chiết khấu:
Nhằm điều hành chính sách tiền tệ Ngân hàng nhà nước thường sử dụng một số các công cụ chính trong đó nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá trên thị trường mở là một trong những công cụ cơ bản Tái chiết khấu là một công cụ khá nhạy cảm trong quá trình điều hành khối lượng tiền tệ và đã được nhà nước cho phép sử dụng tại điều 41 và 43 pháp lệnh NHNN Việt Nam
Tháng 6/2012, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Quyết định
số 1289/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng
Trang 15Biểu đồ 2.3: Một số lãi suất do NHNN quy định ( 2000-2012)
(Nguồn: NHNNVN)Theo Quyết định này, Thống đốc NHNN quy định lãi suất tái cấp vốn là
10%/năm; lãi suất tái chiết khấu là 8%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của
NHNN đối với các ngân hàng là 11%/năm
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2012 và thay thế Quyết định
số 1196/QĐ-NHNN ngày 08/6/2012 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suấtcho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốntrong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng Như vậy, trần lãi suất huy động không thay đổi trong lần điều chỉnh này
Biểu đồ 2.4: Tác động của chính sách tiền tệ tới TTCK
Trang 16(Nguồn: tổng cục thống kê )
Trong thời gian qua, công cụ này có một vài chuyển biến tích cực nhưng nhìn chung chưa phát huy hết các vai trò của mình một cách hiệu quả, chưa cung ứng nguồn vốn ngắn hạn và phương tiền thanh toán cho các tổ chức tín dụng, chưa tác động nhiều đến cung cầu cũng như lãi suất trên thị trường Công cụ tái chiết khấu sẽ phát huy một cách hiệu quả nếu như lạm phát ở mức bình thường, còn trong tình hình lạm phát đang biến động phức tạp như hiện nay thì sử dụng công cụ này không phải lựa chọn hợp lý NHTW cần có thêm nhiều biện pháp cũng như hướng đi cụ thể, hợp lý hơn đối với công
cụ nhạy cảm này
2.2.3 Hoạt động thị trường mở:
Nghiệp vụ thị trường mở như ta biết là công cụ mà NHTW có thể chủ động điều khiển để điều chỉnh khối lượng tiền trong nền kinh tế Bằng cách mua bán những loại giấy tờ có giá (tín phiếu NHNN, tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ,trái phiếu địa phương,…) với tổ chức tín dụng
Nghiệp vụ thị trường mở được xem là còn khá mới ở Việt Nam để NHNN điều hành chính sách tiền tệ Nghiệp vụ thị trường mở được NHNNVN đưa vào sử dụng từ tháng 7/2000, đây là bước chuyển biến căn bản tạo nền tảng để NHNNVN chuyển điều hành từ công cụ tiền tệ trực tiếp sang công cụ tiền tệ gián tiếp nhằm điều tiết vốn khả