1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

39 1,4K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tình Hình Lạm Phát Ở Việt Nam Trong Thời Gian Qua
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Bài báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 635,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔN: ĐỒ ÁN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

“Lạm phát luôn luôn và mọi nơi là vấn đề thuộc về tiền tệ”- đó là

nhận định của nhà kinh tế học nổi tiếng Milton Friedman Cũng chính

Friedman từng phát biểu rằng: “Trong mọi trường hợp mà tỉ lệ lạm phát của một nước là cực kì cao trong bất cứ thời kì kéo dài nào, thì tỉ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ đặt ra là cực kì cao”

Việt Nam sau khi thống nhất đất nước đã trải qua những thời kỳ “thăng trầm”của lạm phát

Chúng ta đã có cơn bão siêu lạm phát những năm 1986-1988 Sau đó là giaiđoạn giảm phát Rồi mối lo này lại bùng phát trở lại khi chúng ta mở cửa nền kinh

tế, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Năm 2007, một năm sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO, lạmphát phi mã đánh dẫu sự trở lại bằng việc chỉ số giá tiêu dùng tăng lên mức 12,6%.Đỉnh điểm là sau năm tháng của năm 2008, chỉ số lạm phát đã vượt qua cả mục tiêu

cả năm do Quốc hội đề ra và của cả năm trước đó

Vậy thực chất của vấn đề này là ở đâu, do nguyên nhân nào và đâu là biệnpháp để giải quyết? Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu xác định đúng nguyên nhânlạm phát ở nước ta để có thể “kê đơn đúng bệnh” nhằm chuẩn bị một cách tốt nhấtcho nền kinh tế trong giai đoạn mở cửa hơn nữa Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó,trong bài đồ án này, em xin phân tích về tình hình lạm phát ở Việt Nam trong thờigian qua

Trang 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT.

1.1.2 Các chỉ số đo lường lạm phát:

1.1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng xã hội- CPI

CPI là chỉ số thể hiện mức giá trung bình của giỏ hàng hóa và dịch vụ àm một

hộ gia đình mua ở kỳ này so với kỳ gốc Trong thực tế tốc độ tăng giá của các hànghóa khác nhau là không giống nhau do đó việc tính giá bình quân thông qua chỉ sốgiá được sử dụng Trên cơ sở tính được chỉ số giá tiêu dùng bình quân, tỉ lệ lạmphát phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạntrước được tính theo công thức:

hộ gia đình

1.1.2.2 Chỉ số giá sản xuất (PPI):

CPI được dùng để phản ánh mức giá trung bình của một giỏ hàng hóa mà mộtdoanh nghiệp mua ở kỳ này so với kỳ gốc Còn chỉ số PPI chỉ được sử dụng để tính

tỷ lệ lạm phát trong khu vực sản xuất, ít phổ biến Tỷ lệ lạm phát tính theo PPI cũng

có cách tính tương tự như tính tỷ lệ lạm phát theo CPI

Trang 3

1.1.2.3 Chỉ số tổng giảm phát tổng sản phẩm quốc nội –GDP:

Chỉ số GDP phản ánh sự thay đổi của mức giá trung bình của tất cả hàng hóa

và dịch vụ sản xuất ở năm hiện hành so với năm gốc

T ỷ l ệ l ạ m p h á t= C h ỉ s ố gi ả m p h á t GDP n ă mh i ệ n t ạ i – C h ỉ s ố giả m p h á t GDP n ă m g ố c

C hỉ s ố giả m p h á t GDP n ă m g ố c

Chỉ số giảm phát theo GDP phản ánh mức giá trung bình của tất cả hàng hóa

và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế nên dùng để tính tỷ lệ lạm phát tương

đối chính xác Tuy nhiên, lại mất nhiều thời gian mới có được chỉ tiêu GDP, không

đáp ứng được yêu cầu tính tỷ lệ lạm phát thường xuyên hàng tháng

1.2 Phân loại lạm phát:

Dựa vào tỷ lệ tăng giá làm căn cứ cho việc phân loại, ta có thể phân lạm phát

thành 3 loại

1.2.1 Lạm phát vừa phải (lạm phát nước kiệu):

Lạm phát vừa phải là loại lạm phát hình thành khi giá cả hàng hóa và dịch vụ

tăng chậm ở mức 1 con số hay dưới 10%/năm Lạm phát vừa phải làm cho đồng

tiền tương đối ổn định, nền kinh tế ổn định, giá cả hàng hóa biến động tương đối, lãi

suất tiền gửi không cao

Trong giai đoạn lạm phát vừa phải, đời sống của người lao động được ổn định

Lạm phát vừa phải sẽ khuyến khính đầu tư mở rộng sản xuất thay vì cất trữ tiền do

sợ đồng tiền mất giá Từ đấy khuyến khích các doanh nghiệp gia tăng sản xuất, đẩy

mạnh cạnh tranh, đưa ra đa dạng các loại sản phẩm và nâng cao về mẫu mã cũng

như chất lượng Bên cạnh đó, lạm phát vừa phải còn làm cho nội tệ rớt giá nhẹ so

với ngoại tệ, từ đó doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu, gia tăng ngoại tệ cho nền

kinh tế

Do vậy, lạm phát vừa phải thường được các nước duy trì như chất xúc tác để

thúc đẩy nền kinh tế phát triển

1.2.2 Lạm phát cao (lạm phát phi mã):

Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng nhanh với tỉ lệ 2 hoặc 3 con

số 1 năm (từ 10% đến 999% /năm) Ở giai đoạn này, lạm phát làm mức giá cả tăng

lên nhanh chóng, đồng tiền mất giá nhiều, gây biến động lớn cho nền kinh tế, thị

trường tài chính bất ổn

Trang 4

Khi lạm phát tăng cao, chi phí cơ hội của việc giữ tiền ngày càng lớn Do vậy,khi lạm phát cao xảy ra, mọi người chỉ giữ một lượng tiền tối thiểu, tốc độ lưuthông tiền tệ tăng lên nhanh chóng Người dân tránh giữ tài sản dưới dạng tiền, màchuyển sang giữ ngoại tệ mạnh, vàng bất động sản hay hàng hóa Bên cạnh đó, cáchợp đồng kinh tế cũng được chỉ số hóa theo tỷ lệ lạm phát.

Lạm phát cao gây ra nhiều tác hại to lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội

Siêu lạm phát làm rối loạn hoàn toàn chức năng thước đo giá trị của tiền tệ,bóp méo hoàn toàn các yếu tố và tín hiệu thị trường, ảnh hưởng trầm trọng đến kinh

tế, xã hội và đặc biệt là hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Sự điềutiết của chính phủ thông qua các chính sách tiền tệ và thuế cũng bị tê liệt, vô hiệuhóa Từ đấy, nền kinh tế “chết” dần, khó có thể khôi phục được

Lịch sử của thế giới đã ghi nhận tác hại của siêu lạm phát xảy ra ở Đức năm1920-1923, ở Nga sau Cách mạng tháng 10, ở Trung Quốc sau thế chiến thứ hai…

Trang 5

Theo quan điểm của các nhà thuộc trường phái tiền tệ thì cung tiền được xem

là nguồn cung duy nhất làm dịch chuyển đường cầu nếu các yếu tố khác không thayđổi, từ đó cung tiền tăng là nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến lạm phát

Theo quan điểm thuộc các trường phái Keynes, cung tiền gia tăng liên tục sẽtác động đến đường tổng cung và tổng cầu Và chính sách tài khóa, những tác độngcung tiền cũng tác động đến tổng cung và tổng cầu Chính phủ có thể thực hiệnchính sách kích cầu để thực hiện một vài mục tiêu ngắn hạn như: khắc phục khủnghoảng kinh tế, giảm thiểu thất nghiệp Chính phủ gia tăng chi tiêu liên tục làm chomức giá tăng lên liên tục và gây ra lạm phát Lạm phát được chính phủ sử dụng nhưmột biện pháp kích thích tăng trưởng kinh tế

ra do chi tiêu của chính phủ

1.3.3 Lạm phát do chi phí đẩy:

Lạm phát chi phí đẩy khi chi phí gia tăng một cách độc lập với tổng cầu Nếutiền công tăng lên thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp cũng tăng Các xí nghiệp vìmuốn bảo toàn mức lợi nhuận, giá cả cũng sẽ tăng lên, từ đó, mức giá chung củatoàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng lên,

1.3.4 Lạm phát do xuất khẩu:

Xuất khẩu tăng, các sản phẩm được huy động cho xuất khẩu nhiều hơn, dẫnđến các sản phẩm trong nước khan hiếm hơn, không đáp ứng được nhu cầu của thịtrường Từ đó lượng cung sẽ ít hơn cầu, lạm phát xảy ra do sự mất cân bằng giữacung và cầu trong thị trường

1.3.5 Lạm phát do nhập khẩu:

Trong nền kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp phải nhập một lượng nguyên vậtliệu không nhỏ từ nước ngoài, những mặt hàng không thể tự sản xuất được trongnước Nếu chi phí của các nguyên vật liệu và sản phẩm nhập khẩu ấy tăng do các

Trang 6

nguyên nhân từ nơi xuất khẩu, không thể kiểm soát được trong nước thì doanhnghiệp buộc phải mua với giá cao, chi phí sản xuất cao hơn Từ đó, đẩy giá hànghóa tăng lên, mức giá chung bị tăng lên do giá của hàng hóa nhập khẩu đội lên.

1.4 Tác động của lạm phát:

Lạm phát có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của nền kinh tế và đời sống

xã hội

Lạm phát vừa phải với mức độ nhỏ có thể ít gây ra các tác hại, mặt khác lại là

1 công cụ để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, phát triển Ngược lại, lạm phát phi

mã và siêu lạm phát luôn gây ra các tác hại rất nghiêm trọng đối với nền kinh tế lẫnđời sống xã hội Tuy nhiên, để biết được mức độ hại thật sự của lạm phát thì ta cầnphải biết được lạm phát đó là có dự đoán được trước hay không và trên thực tế, lạmphát có thay đổi như trong dự đoán hay không

Lạm phát không dự đoán trước được sẽ gây bất ngờ và dẫn đến những đầu tư,sản xuất sai lầm và phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên làm dẫn đến nhữngbất ổn cho nền kinh tế Ở trường hợp lạm phát có thể dự đoán được thì lạm phát sẽkhông gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng, không là gánh nặng của nền kinh tế lớn,bởi vì khi dự đoán được thì sẽ có những biện pháp kiềm chế lạm phát và có nhữnggiải pháp để thích nghi với nó

Nếu tỷ lệ lạm phát thực tế bằng với tỷ lạm phát dự đoán sẽ không xảy ra việcphân phối lại tài sản và thu nhập giữa các thành phần dân cư Tuy nhiên vẫn gây ramột số tác động như:

- Chi phí mòn giày: khi lạm phát cao xảy ra, mọi người thường có tâm lý chỉgiữ bên mình 1 số tiền tối thiểu, còn lại sẽ được gửi và ngân hàng, do đó số lần đếnngân hàng cũng sẽ tăng lên, hao tốn công sức và thời gian quí báu

- Chi phí thực đơn: khi giá cả tăng lên, các xí nghiệp, doanh nghiệp sẽ thay đổigiá cả hàng hóa, từ đó chi phí cho việc in ấn, thông báo bảng giá mới cho kháchhàng sẽ tăng lên

- “Thuế lạm phát”: khi tỷ lệ lạm phát cao xảy ra, lượng tiền mặt mang theo củangười dân sẽ ít đi do họ chỉ giữ lại trong người 1 số tiền tối thiểu từ đó dẫn đến việcgiảm xuống của sức mua

- Dù là lạm phát có thể dự đoán và dự đoán gần chính xác nhưng cũng khôngtránh khỏi các sự thay đổi, biến động của giá cả, dẫn đến sự bất tiện trong sinh hoạt

Trang 7

Nếu tỷ lệ lạm phát thực tế xảy ra lại khác với tỷ lệ dự đoán sẽ dẫn đến tácđộng của phân phối lại thu nhập và của cải Tỷ lệ lạm phát thực hiện lớn hơn dựđoán, lãi suất thực hiện cũng sẽ thấp hơn lãi suất dự đoán sẽ gây ra lợi ích chongười đi vay, người mua chịu hàng hóa, người trả lương và gây hại cho người chovay, người bán chịu hàng hóa, người nhận lương Và tương tự, ngược lại cho tỷ lệlạm phát thực hiện nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát dự đoán, sẽ gây lợi ích cho người chovay, người bán chịu hàng hóa, người nhận lương và thiệt hại cho người đi vay,người mua chịu và người trả lương.

Ngoài ra, khi lạm phát có tỷ lệ cao và không dự đoán trước được, cơ cấu nềnkinh tế dễ bị mất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vàonhững khu vực hàng hóa có giá cả tăng cao, những ngành sản xuất có chu kì ngắn,thời gian thu hồi vốn nhanh, tránh đầu tư vào những ngành có thời gian thu hồi vốndài, rủi ro cao Trong lĩnh vực lưu thông, khi vật giá tăng quá nhanh thì tình trạngđầu cơ, tích trữ hàng hóa xảy ra nhiều, gây mất cân đối giả tạo làm lưu thông càngthêm rối loạn Bên cạnh đó, lạm phát còn gia tăng tỷ lệ hối đoái Sự mất giá củađồng nội tệ so với ngoại tệ sẽ gây tăng cường tính cạnh tranh cho ngành xuất khẩu

và bất lợi cho ngành nhập khẩu

Nói một cách cụ thể hơn thì lạm phát ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh tế

và đời sống xã hội

1.4.1 Đối với lĩnh vực sản xuất

Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra biếnđộng không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất Sự mất giá củađồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh Hiệu quả kinh doanh -sản xuất ở một vài danh nghiệp có thể thay đổi, gây ra những xáo động về kinh tế.Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơphá sản rất lớn

1.4.2 Đối với lĩnh vực lưu thông

Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hoá Cácnhà doanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực lưu thông Thậm chí khilạm phát trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặpphải rủi ro cao Do có nhiều người tham gia vào lĩnh vực lưu thông nên lĩnh vực nàytrở nên hỗn loạn Tiền ở trong tay những người vừa mới bán hàng xong lại nhanh

Trang 8

chóng bị đẩy vào kênh lưu thông, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng vọt và điều này làmthúc đẩy lạm phát gia tăng.

1.4.3 Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng

Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp Sốngười gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều Về phía hệ thống ngân hàng, dolượng tiền gửi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay,cộng với việc sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi khônglàm an tâm những người hiện đang có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay Về phíangười đi vay, họ là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền một cách nhanhchóng Do vậy, hoạt động của hệ thống ngân hàng không còn bình thường nữa.Chức năng kinh doanh tiền bị hạn chế, các chức năng của tiền tệ không còn nguyênvẹn bởi khi có lạm phát thì chẳng có ai tích trữ của cải hình thức tiền mặt

1.4.4 Đối với chính sách kinh tế tài chính của nhà nước

Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá, khi lạmphát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của giá cả làm chothị trường bị rối loạn Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm ăn tốt

và kém Đồng thời lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó nhà nước không còn

đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội bị cắt giảm cácngành, các lĩnh vực dự định đựơc chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặckhông có gì Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện vànâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện được

Trang 9

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

TRONG THỜI GIAN QUA.

2.1 Thực trạng lạm phát qua các giai đoạn.

Giai đoạn từ năm 2000 đến 2008 nhìn chung có một số điểm đáng lưu ý sau:

- Từ năm 2000 đến 2003, lạm phát ở mức độ thấp, dưới 5%, đặc biệt năm

2000 là -0,6%

- Năm 2004, lạm phát bắt đầu tăng cao với tỷ lệ là 9,5%

- Năm 2005, lạm phát giảm nhẹ còn 8.4%, đến năm 2006 là 6,6%, giảm so với

2005 là 1,8%, nhưng cũng là khá cao so với khu vực và trên thế giới

- Năm 2007, lạm phát đạt mức phi mã, tăng lên nhanh chóng với tỷ lệ là12,6%

- Năm 2008, bùng nổ lạm phát cao vượt bâc, đạt 19,9%, đỉnh điểm trongnhững năm gần đây

Trang 10

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam và một số nước (2000-2009)

Trang 11

2.1.1.2 Năm 2004:

Chỉ số tháng 11 năm 2004 so với (%)

Kỳ gốc năm 2000

Tháng 12 năm 2003

Tháng 10 năm 2004

Nguồn Tổng cụ thống kê

Lạm phát năm 2004 bắt đầu tăng cao với tỷ lệ 9,5%, cao hơn so với năm 2003

là 6,5% và so với 2000 là 10,1%, cao hơn rất nhiều so với mục tiêu 6% mà Chính

phủ đặt ra Tổng thu ngân sách 2 tháng đầu năm 2004 tăng 5,1% và đạt 14,8% dự

toán cả năm Trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng 16,8% và đạt 13,2%, khu vực

ngoài quốc doanh tăng 15,4% và đạt 18%, khu vực FDI tăng 24% và đạt 19%, thu

từ xuất khẩu giảm 4,8% đạt 15,6%

Trang 12

Theo như hình, ta có thể thấy tiền tệ, tín dụng và lạm phát có mối tương quan

rõ ràng kể từ năm 2003 Khi tiền tệ, tín dung tăng thì lạm phát cũng tăng theo Khicác tác động tiêu cực đối với tăng trưởng của khủng hoảng Châu Á giảm đi, cầu bắtđầu tăng lên Cầu tăng lên cùng với sự tăng lên của tiền lương danh nghĩa ở cả khuvực nhà nước và khu vực FDI trong năm 2003 đã khiến giá tăng lên

2.1.1.3 Năm 2005 – 2006

Bảng 2.3 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước

Tháng 12 năm 2005

Chỉ số tháng 12 năm 2005 so với (%)

Kỳ gốc năm 2000

Tháng 12 năm 2004

Tháng 11 năm 2005

Trang 13

Nguồn Tổng cục thống kê

Năm 2005, lạm phát giảm nhẹ còn 8,4%, đến năm 2006 là 6,6%, giảm so với

2005 là 1,8%, nhưng cũng là khá cao so với khu vực và trên thế giới

Theo số liệu công bố của Tổng cục thống kê, tính đến hết tháng 12-2005, chỉ

số giá tiêu dùng của cả nước đã lên tới 8,4%, vượt xa so với mức 6,5% theo NghịQuyết của Quốc hội đề ra từ đầu năm, thấp hơn so với mức 9,5% của năm 2004 vàcao gấp 3 lần so với mức 3,0 % của năm 2003

Phân tích các nhóm hàng và nguyên nhân của diễn biến tăng giá, có thể thấy như sau:

+ Tăng giá cao nhất trong cả năm 2005 là nhóm mặt hàng Lương thực - Thựcphẩm Tính chung trong cả 12 tháng đầu năm 2005, nhóm lương thực- thực phẩmtăng 10,8%, thấp hơn so với mức tăng kỷ lục 15,6% của cả năm 2004, trong đóriêng nhóm hàng thực phẩm đã tăng tới 12% và nhóm mặt hàng lương thực tăng7,8%

+ Mức tăng lớn đứng hàng thứ hai trong năm 2005 là nhóm mặt hàng nhà ở vàvật liệu xây dựng Trong năm 2005 nhóm này đã tăng 9,8% Do giá sắt thép trên thếgiới và giá bán lẻ trong nước tăng cao; đồng thời nhu cầu xi măng và các mặt hàngvật liệu xây dựng khác trong nước cũng tăng, tác động lên giá bán lẻ

+Mức tăng đứng hàng thứ ba trong cả năm 2005 là nhóm phương tiện đi lại vàbưu điện Tính chung trong 12 tháng nhóm này tăng 9,1%

+ Thứ tư là nhóm đồ dùng và dịch vụ khác trong năm 2005 tăng 6,0% Tiếpđến là nhóm mặt hàng giáo dục; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 5,0%; dược phẩm

y tế tăng 4,9%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,8% Riêng nhóm văn hoá thểthao giải trí có mức tăng thấp nhất là 2,7%

Bước sang năm 2006, tình hình lạm phát giảm còn 6.6%, nhưng đây cũng làmột con số lớn so với khu vực và trên thế giới

Trang 14

Bảng 2.4 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước

Tháng 12 năm 2006

Chỉ số tháng 12 năm 2006 so với (%)

Kỳ gốc năm 2000

Tháng 12 năm 2005

Tháng 11 năm 2006

Trong đó: Bưu chính viễn thông 95,7 97,1 100,0

Chỉ số giá tiêu dùng năm 2006 tăng 6,6%, thấp hơn mức tăng 8,4% của năm

2005 và cũng là năm thứ ba liên tiếp CPI có xu hướng giảm Trong 10 nhóm hàngcủa rổ hàng CPI thì có 5 nhóm hàng có mức tăng cao hơn năm ngoái, gồm cácnhóm Đồ uống và thuốc lá, May mặc giày dép mũ nón, Thiết bị đồ dùng gia đình,Văn hoá thể thao giải trí, Hàng hoá và dịch vụ khác 5 nhóm còn lại đều có mứctăng thấp hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm ngoái, gồm các nhóm Hàng ăn vàdịch vụ ăn uống; Nhà ở và vật liệu xây dựng; Phương tiện đi lại-Bưu điện; Dược

Trang 15

phẩm y tế; Giáo dục Trong đó hai nhóm có mức giảm mạnh nhất là nhóm Thựcphẩm (-6,5%) và Phương tiện đi lại-bưu điện (-5,1%); hai nhóm này chiếm tỷ trọngtrên 34% trong rổ hàng hoá CPI,đây là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến CPI năm 2006chỉ tăng 6,6%.

Trang 16

Bảng 2.5 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước

Tháng 12 năm 2007

Chỉ số giá tháng 12 năm 2007 so với

Chỉ số giá bình quân năm 2007

so năm 2006

Kỳ gốc năm 2005

Tháng 12 năm 2006

Tháng

11 năm 2007

I Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 130,29 118,92 104,24 111,16

Trong đó: 1- Lương thực 133,41 115,40 102,98 115,02

2- Thực phẩm 129,50 121,16 104,69 110,06

III May mặc, mũ nón, giầy dép 113,74 106,70 101,16 106,15

IV Nhà ở và vật liệu xây dựng 127,10 117,12 103,28 111,01

V Thiết bị và đồ dùng gia đình 113,19 105,15 100,46 106,15

VII Phương tiện đi lại, bưu điện 115,79 107,27 104,38 103,60

Trong đó: Bưu chính viễn thông 92,34 96,45 99,23 97,19

Trang 17

trong năm nay có thể còn bắt nguồn từ mức chênh lệch giữa tăng trưởng GDP vàtăng cung tiền của Việt Nam đã ngày một dãn rộng trong vòng 3 năm qua Thâmhụt thương mại trong giai đoạn trước 2007 chủ yếu được bù đắp bởi thặng dư hạngmục vốn trên cán cân thanh toán quốc tế nhờ tăng trưởng đầu tư trực tiếp và giántiếp.

Chỉ số giá bình quân năm 2007 tăng 8.3% so với năm 2006, đánh dấu sự tănglên của lạm phát so với 2 năm liên tiếp giảm 2005 và 2006 Trong đó, chỉ số giálương thực, thực phẩm tăng cao nhất (11.16%), tiếp đến là nhà ở và vật liệu xâydựng, tăng 11.03% Các mặt hàng như đồ uống, thuốc lá, thiết bị gia đình tăngtương đương 6% Nhu cầu lương thực, thực phẩm là thiết yếu trong đời sống lại cóchỉ số giá tăng cao nhất, dự báo cho một năm sau lạm phát sẽ tiếp tục tăng mạnh

2.1.1.5 Năm 2008- bùng nổ lạm phát cao vượt bậc trong nền kinh tế Việt Nam

Bảng 2.6 Diễn biến chỉ số CPI từng tháng năm 2008

Tháng Chỉ số CPI (%) Chênh lệch so vớitháng trước (%)

Trang 18

Dựa vào bảng, ta có thể thấy được chỉ số CPI của tháng 2 và tháng 5 tăng độtbiến so với tháng trước nó, lần lượt là 3,5% và 3,91% Cụ thể, vào tháng 2 chỉ sốhàng tiêu dùng tăng lên 14,89% so với năm trước, riêng mặt hàng lương thực, thựcphẩm tăng 23,61% Vào tháng 5/2008, chỉ số giá tiêu dùng nói chung tăng 19,09%

so với cùng kỳ năm 2007, đặc biệt ngành lương thực, thực phẩm tăng 30,67% so với5/2007, vật liệu xây dựng cũng tăng 19,65%, các ngành còn lại tăng xấp xỉ 10% sovới 5/2007

Biểu đồ 2.3 Biểu đồ CPI qua 12 tháng năm 2008

Nguồn Tổng cục thống kê

Ngoài ra, sự chênh lệch của sự gia tăng chỉ số CPI giữa tháng 11 và tháng 5 làgần 5% với tháng 5 là 3,91% và tháng 11 là -0,76% Đặc biệt, vào những nămtrước, sự thay đổi CPI của các tháng trong năm thường ổn định ở nửa năm đầu vàtăng mạnh ở các tháng cuối, riêng năm 2008, chỉ số CPI lại tăng mạnh ở nửa thángđầu năm và giảm vào những tháng cuối năm, do có sự điều chỉnh của chính phủ.Những bất ổn định kinh tế vĩ mô là do sự bùng nổ luồng vốn đầu tư ở nướcngoài ồ ạt đổ vào Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO cuối năm 2006 Bên cạnh đó

Trang 19

chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ kém hiệu quả của chính phủ không thểkiểm soát và điều tiêt có hiệu quả tình hinh lạm phát.

Giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với 7,25%, trong đó lươngthực tăng đột biến ở mức 22,19%; giá thực phẩm tăng 2,28% do chi phí đầu vào vẫntiếp tục tăng tháng 5/2008 Bên cạnh đó, sự gia tăng của các mặt hàng thiết yếu đẩytâm lý người dân lên cao, làm cho chi phí càng ngày càng tăng cao

Đến tháng 10, tỷ lệ lạm phát bắt đầu giảm lần đầu tiên trong năm 2008 Trên thếgiới, giá của các mặt hàng cũng bắt đầu giảm cùng với việc phát huy các chính sáchcủa Chính phủ, tỷ lệ lạm phát đã giảm 0,19% so với tháng 9, tuy nhiên, nếu so vớicùng kì năm trước, tỷ lệ lạm phát vẫn tăng 23,15%, riêng mặt hàng lương thực, thựcphẩm tăng 36,95% Tiếp đấy, các tháng 11 và 12 lần lượt cũng giảm chỉ số CPI với tỷ

lệ giảm 0,76% và 0,68%

Do ảnh hưởng từ cú sốc dầu mỏ tăng mạnh từ giữa năm 2007 và đạt đỉnh caovào 7/2008 với mức giá 147 USD/ thùng làm giá xăng trong nước ta tăng cao từ13.000đ lên 19.000đ Ở thời điểm này, giá lương thực, ngũ cốc trên thị trường thếgiới tăng mạnh, đánh vào tâm lý của người dân Việt Nam vốn ít hiểu biết, gây hoangmang cho mọi người tạo điều kiện cho nhiều cá nhân đầu cơ, tích trữ hàng hóa nhằmtrục lợi

Bên cạnh đó, sự yếu kém của các cơ quan chức năng lại thể hiện rõ khi dự báosai tình hình trên thế giới khiến các doanh nghiệp dừng xuất khẩu mặc dù giá gạođang tăng cao trên thế giới Chỉ trong nửa năm đầu 2008, nhập siêu đã ở mức cao hơn

so với cả năm 2007

Ngày đăng: 05/12/2013, 11:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 2.4 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước (Trang 14)
Bảng 2.5 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 2.5 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước (Trang 16)
Bảng 2.6 Diễn biến chỉ số CPI từng tháng năm 2008 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 2.6 Diễn biến chỉ số CPI từng tháng năm 2008 (Trang 17)
Bảng 2.7 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 2.7 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước (Trang 20)
Bảng 2.8 Tỷ lệ lạm phát 2009 – 2012 (%) - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 2.8 Tỷ lệ lạm phát 2009 – 2012 (%) (Trang 21)
Bảng 2.9 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 2.9 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước (Trang 23)
Bảng 2.10 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 2.10 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước (Trang 25)
Bảng 2.11 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 2.11 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước (Trang 27)
Bảng 2.12 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 2.12 Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w