ĐỒ ÁN: Đánh giá chính sách tiền tệ của Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM 2
1.1 Khái niệm và vai trò của chính sách tiền tệ 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Vai trò 2
1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 2
1.2.1 Ổn định giá cả 2
1.2.2 Ổn định giá trị đồng tiền 3
1.2.3 Kiềm chế lạm phát 3
1.2.4 Tăng trưởng kinh tế 3
1.2.5 Mục tiêu ổn định lãi suất 4
1.2.6 Mục tiêu ổn định thị trường ngoại hối 4
1.2.7 Đảm bảo công ăn việc làm 5
1.3 Nội dung của chính sách tiền tệ 5
1.4 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ 6
1.4.1 Kênh lãi suất 6
1.4.2 Kênh giá cả tiền tệ 7
1.5 Các công cụ của chính sách tiền tệ 7
1.5.1 Hạn mức tín dụng 7
1.5.2 Lãi suất 8
1.5.3 Dự trữ bắt buộc 8
1.5.4 Nghiệp vụ thị trường mở 9
1.5.5 Tỷ giá hối đoái 9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM 10
Trang 22.1 Chính sách tiền tệ thắt chặt trong các giai đoạn từ năm 2005 – 2007 và từ năm
2010 – 2012 10
2.1.1 Giai đoạn từ năm 2005 – 2007 10
2.1.1.1 Năm 2005 10
2.1.1.2 Năm 2006 12
2.1.1.3 Năm 2007 12
2.1.2 Giai đoạn 2010 – 2012 16
2.1.2.1 Năm 2010 16
2.1.2.2 Năm 2011 18
2.1.2.3 Năm 2012 19
2.2 Chính sách tiền tệ thắt chặt vào đầu năm 2008 và nới lỏng vào cuối năm 2008 .22
2.3 Chính sách tiền tệ nới lỏng năm 2009 25
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM 28
3.1 Đánh giá chung 28
3.1.1 Những thành tựu đạt được 28
3.1.2 Những tồn tại cần khắc phục 28
3.2 Những giải pháp đề xuất đối với chính sách tiền tệ của Việt Nam 30
3.2.1 Chuyển đổi công cụ chính sách tiền tệ từ trực tiếp sang gián tiếp 30
3.2.2 Phát triển thị trường tiền tệ 32
3.2.3 Cải cách hệ thống ngân hàng 32
3.2.3.1 Cải cách đối với Ngân hàng trung ương 32
3.2.3.2 Cải cách đối với Ngân hàng thương mại 33
3.2.4 Các điều kiện khác 35
3.2.4.1 Ngân sách nhà nước 35
3.2.4.2 Hoàn thiện qui chế pháp lí 35
3.2.4.3 Phối hợp đồng bộ CSTT với chính sách vĩ mô khác 35
3.3 Kiến nghị 36
LỜI KẾT 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 3 NHQD: Ngân hàng quốc doanh
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMQD: Ngân hàng thương mại quốc doanh
NHTW: Ngân hàng Trung ương
Bảng 2.1: Lãi suất cơ bản của NHNN những tháng đầu năm 2008
Bảng 2.2: Lãi suất cơ bản của NHNN những tháng cuối năm 2008
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Đường cong Phillips
Biểu đồ 1.2: Cơ chế truyền tải CSTT của Keyness
Biểu đồ 2.1: Lãi suất trong năm 2012
Biểu đồ 2.2: Lãi suất cơ bản của NHNN những tháng đầu năm 2008
Biểu đồ 2.3: Lãi suất cơ bản của NHNN những tháng cuối năm 2008
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đang tiến những bước vững chắc với việc cải cách kinh
tế theo hướng mở cửa Điều đó được thực hiện trên tinh thần “Việt Nam muốn làmbạn với tất cả các nước” và trên nguyên tắc “bình đẳng cùng có lợi” Chủ trương đó
sẽ giúp chúng ta nhanh chóng hoà nhập với nền kinh tế thế giới, tham gia một cáchngày càng có hiệu quả vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế Quátrình đó diễn ra cùng với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các mối giao lưuthương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới Để ổn định và phát triển kinh
tế Việt Nam theo hướng có lợi thì chúng ta không thể không đề cập đến vai trò điềutiết nền kinh tế của Chính phủ, một trong những công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô
mà ta quan tâm ở đây là chính sách tiền tệ
Sức mạnh của nền kinh tế được thể hiện như thế nào trên thị trường cũngnhư trên những mặt khác, một nền kinh tế mạnh phải là một nền kinh tế có tốc độtăng trưởng cao và ổn định Để đạt được điều đó thì chính sách tiền tệ đóng một vaitrò rất quan trọng trong việc ổn định đồng tiền trong nước, ổn định tỷ giá hối đoái,
ổn định sức mua, giảm lạm phát và thúc đẩy nền kinh tế đi lên
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề trên, em xin trình bày nội dung môn đồ án với
đề tài “Đánh giá chính sách tiền tệ của Việt Nam”.
Đồ án gồm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận chung về chính sách tiền tệ của Việt Nam
Chương 2 : Thực trạng về chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Chương 3 : Đánh giá chính sách tiền tệ của Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và vai trò của chính sách tiền tệ
1.1.1 Khái niệm
Chính sách tiền tệ là tổng hợp những phương thức kiểm soát và điều tiết khốilượng tiền lưu thông trong một nước nhằm phục vụ cho các hoạt động kinh tế xãhội Nó có vai trò rất quan trọng trong việc điều hành nền kinh tế của mỗi quốc gia
Theo điều 2 của luật ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (10 -1997) thì: “Chínhsách tiền tệ là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổnđịnh giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xãhội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân” Với chính sáchnày, nhà nước thống nhất quản lí mọi hoạt động của NH, động viên các nguồn lựctrong nước, đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, tạo nguồn vốn để pháttriển kinh tế Trên cơ sở đó, giữ vững chủ quyền quốc gia, mở rộng hợp tác và hộinhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2 Vai trò
CSTT tập trung vào mức độ khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế củamột nước, bao gồm việc đáp ứng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông, điềukhiển hệ thống tiền tệ và khối lượng tín dụng để đáp ứng vốn cho nền kinh tế, tạođiều kiện và thúc đẩy hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo nhữngquỹ đạo đã định, kiểm soát hệ thống các NHTM, cùng với việc kiểm soát tỉ giá hốiđoái hợp lý nhằm ổn định và thúc đẩy kinh tế đối ngoại và kinh tế ngoại thương,nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua đồng tiền, ổn định giá
cả hàng hoá
1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Bất kỳ một chính sách kinh tế- xã hội nào cũng có những mục tiêu của nó,CSTT không nằm ngoài quy luật đó Đối với CSTT, có bảy mục tiêu cơ bản thườngxuyên được nhắc đến, đó là:
1.2.1 Ổn định giá cả
Ổn định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô
Ổn định giá cả giúp Nhà nước định hướng phát triển kinh tế một cách hiệu quả Nó
Trang 6giúp cho môi trường đầu tư ổn định và thu hút nhiều vốn đầu tư, thúc đẩy các doanhnghiệp phát triển sản xuất, đem lại nguồn lợi cho mình cũng như cho xã hội Cácbiến động trong ổn định giá cả sẽ gây bất lợi cho nền kinh tế trong mọi lĩnh vực,dẫn tới sự không hợp tác giữa các nhóm dân cư về các nguồn lực kinh tế trong xãhội Do đó, ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu của NHTW để ổn định giá trị đồngtiền
1.2.2 Ổn định giá trị đồng tiền.
NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồngtiền của nuớc mình NHTW sẽ là cơ quan có khả năng điều chỉnh giá trị của đồngtiền của một quốc gia dựa trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cảhàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nướcmình so với ngoại tệ) Để điều chỉnh giá trị của đồng tiền thì Nhà nước phải kiềmchế lạm phát Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là
tỷ lệ lạm phát bằng 0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được, để có một tỷ
lệ lạm phát giảm phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên
1.2.3 Kiềm chế lạm phát
Theo kết quả nghiên cứu của nhà kinh tế học người Mỹ về đường congPhillips, khi giá cả ổn định, lạm phát ở mức thấp, thu nhập thực tế của người dânđược nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện, đầu tư cho nền kinh tế cũng đượcđảm bảo, tăng trưởng kinh tế thực dương và ngược lại, khi lạm phát ở mức cao, thunhập của người dân bấp bênh, nguy cơ khủng hoảng kinh tế cao
Biểu đồ 1.1: Đường cong Phillips
Nguồn: Wikipedia
Do đó, kiềm chế lạm phát được xem là một trong những mục tiêu quan trọngnhất trong CSTT Mục tiêu ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát luôn luôn gắn liền vớimục tiêu tăng trưởng kinh tế
Trang 71.2.4 Tăng trưởng kinh tế
Một quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng ổn định sẽ đảm bảo cho sự ổn định
về tiền tệ và ngược lại, tiền tệ ổn định thì nền kinh tế mới phát triển Nền kinh tếtăng trưởng là khi GDP tăng hơn nhịp độ dân số CSTT phải đảm bảo sự tăng lêncủa GDP thực tế nên tỷ lệ tăng đó chỉ có được sau khi trừ đi tỷ lệ lạm phát cùng thời
kỳ Sự tăng trưởng phải được hiểu cả về khối lượng và chất lượng Chất lượng tăngtrưởng được biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả năng cạnh tranh quốc tếcủa hàng hóa trong nước tăng lên Một nền kinh tế tăng trưởng đảm bảo chính sách
xã hội được thỏa mãn và là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện tình trạngcán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị trí của nền kinh tế trên thị trường quốctế
1.2.5 Mục tiêu ổn định lãi suất
Mọi quốc gia đều mong muốn một sự ổn định về lãi suất Vì lãi suất có ảnhhưởng lớn đến đầu tư và tăng trưởng, ảnh hưởng đến các luồng vốn và ngoại tệ.Chính vì thế, ổn định lãi suất tạo ra thế ổn định cho các lĩnh vực như tín dụng, đầu
tư, sự di chuyển vốn… dẫn đến ổn định chung cho nền kinh tế Lãi suất chính làmột trong những công cụ quan trọng nhất của CSTT Để cho nền kinh tế được ổnđịnh, đòi hỏi CSTT phải đưa ra một hệ thống lãi suất mềm, dẻo, đúng đắn, phù hợpvới sự vận động của cơ chế thị trường
1.2.6 Mục tiêu ổn định thị trường ngoại hối
Nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia, NHTW thực hiện cácnhiệm vụ giao dịch về tài chính và tiền tệ, đối ngoại bằng các phương diện: quản língoại hối, lập và theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện cácnghiệp vụ hối đoái Tổ chức và điều tiết thị trường hối đoái trong nước, xây dựng vàthống nhất quản lí dự trữ ngoại hối của đất nước, tiến hành kinh doanh ngoại hốitrên thị trường ngoại hối quốc tế Cần thiết lập mối quan hệ với các tổ chức tàichính, tiền tệ quốc tế nhằm tìm kiếm các nguồn vốn có thể huy động được (viện trợ,vay nợ, vay ưu đãi, thu hút đầu tư, thu hút kiều hoá…)
CSTT góp phần nhiều vào việc thực hiện các mục tiêu trên lại mâu thuẫnnhau Cụ thể chỉ có thể đạt được một mục tiêu khi chấp nhận sự cắt giảm nhất địnhđối với mục tiêu khác Chẳng hạn muốn kiềm chế lạm phát thì sẽ phải chấp nhậnnạn thất nghiệp tăng lên… Vì vậy, tùy theo việc hướng vào mục tiêu nào là chính
Trang 8mà người ta có thể coi CSTT là chính sách ổn định giá cả, chính sách tạo việc làm,chính sách cân bằng cán cân thanh toán, hay chính sách tăng trưởng kinh tế.
Để đạt được những mục tiêu cuối cùng của CSTT, NHTW phải xác định cácmục tiêu trung gian Bởi lẽ NHTW sử dụng các mục tiêu trung gian để có thể xétđoán nhanh chóng được tình hình hoạt động của mình, phục vụ cho các mục tiêucuối cùng, hơn là chờ cho đến khi thấy được kết quả cuối cùng của các mục tiêu đó.Mục tiêu trung gian là điều tiết cung tiền thông qua chi phối dòng tiền chungchuyển và khối lượng tiền
1.2.7 Đảm bảo công ăn việc làm
Công ăn việc làm cao là một mục tiêu có giá trị bởi vì nếu thất nghiệp cao sẽgây cho các gia đình khốn khổ về mặt tài chính, mất đi lòng tự trọng cá nhân và làmtăng số lượng phạm tội Đồng thời khi thất nghiệp cao thì nguồn tài nguyên sẽkhông được khai thác, từ đó làm giảm tổng sản phẩm xã hội Vì lẽ đó CSTT phảiquan tâm tới khả năng tạo công ăn việc làm , giảm áp lực thất nghiệp cho xã hội Do
đó đảm bảo công ăn việc làm là một mục tiêu mà NHTW phải theo đuổi khi hoạchđịnh CSTT Tuy nhiên mục tiêu công ăn việc làm cao không đồng nghĩa với việckhông có thất nghiệp vì trong xã hội luôn tồn tại một bộ phận thất nghiệp tự nhiên
1.3 Nội dung của chính sách tiền tệ
Nội dung quan trọng nhất của CSTT là việc cung ứng tiền cho nền kinh tế.Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thể thông quahoạt động của thị trường mở, thị trường hối đoái (mua bán ngoại tệ) và để điều tiếtmức tiền cung ứng Chính vì thế mà CSTT tác động đến nền kinh tế là một điềuhiển nhiên, bởi sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến
sự phát triển của quốc gia
NHTW thông qua CSTT có thể thực thi hai loại CSTT phù hợp với tình hìnhthực tiễn của nền kinh tế:
Chính sách thắt chặt tiền tệ: là chính sách thu hẹp mức cung ứng tiền nhằmhạn chế chi tiêu đầu tư và chi tiêu dùng, qua đó có thể kiểm soát lạm phát,chống sự phát triển kinh tế quá nóng Khi thắt chặt tiền tệ, một mặt NHTWlàm giảm vốn khả dụng trong hệ thống NH, hạn chế sự sẵn có của các nguồnvốn, dẫn tới giảm chi tiêu dùng và đầu tư Mặt khác, khi lãi suất thị trườngđược đẩy tăng lên, lãi suất thực tế tăng cũng làm hạn chế nhu cầu chi tiêu về
Trang 9tiêu dùng và đầu tư, qua đó làm giảm tổng cầu, dẫn tới việc giảm lạm phát vàhạn chế sự phát triển quá nóng của nền kinh tế.
Chính sách mở rộng tiền tệ: là chính sách tăng mức cung ứng tiền, qua đó
mở rộng các hoạt động đầu tư, tiêu dùng, nhằm tránh tình trạng thiểu phátcủa nền kinh tế Sự tác động của CSTT mở rộng trước hết thông qua việcgiảm lãi suất thị trường, hạ thấp phí tổn về vốn tín dụng để kích thích nhucầu đầu tư và tiêu dùng Việc mở rộng tiền tệ còn tăng cường vốn khả dụngcủa hệ thống NH, mở rộng khả năng cung cấp tài chính cho nền kinh tế, tạođiều kiện tăng chi tiêu dùng và đầu tư CSTT mở rộng không chỉ tác động tớiviệc tăng chi tiêu dùng và tăng chi tiêu đầu tư mà còn tác động tới tăng xuấtkhẩu ròng Khi lãi suất đồng nội tệ có xu hướng giảm xuống sẽ làm giảm giánội tệ so với ngoại tệ và do vậy kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu Kếtquả ở đây là chi tiêu ròng của nước ngoài về hàng hoá, dịch vụ trong nướctăng làm tăng cầu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.4 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ
1.4.1 Kênh lãi suất
Đối với tiêu dùng và đầu tư:
Áp cơ chế truyền tải CSTT của Keyness, khi khối cung tiền tăng lên làm chomức lãi suất giảm xuống, khuyến khích các chủ thể trong nền kinh tế chi tiêu, đầu
tư nhiều hơn Về phía cá nhân hộ gia đình được lợi do chi phí vốn vay để mua hànghóa giảm xuống, do đó sẽ gia tăng chi tiêu bao gồm cả chi tiêu tiêu dùng và chi tiêuvào hàng hóa lâu bền Hơn nữa, lãi suất tiết kiệm giảm xuống không hấp dẫn họ gửitiết kiệm, tiêu dùng hiện tại của họ sẽ tăng lên Đối với khu vực doanh nghiệp, lãisuất vay vốn giảm xuống khiến cho chi phí vay vốn NH giảm, các dự án đầu tư, kếhoạch mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư sử dụng vốn đi vay NH tăng lên Ngoài
ra, với mức lãi suất thấp cũng làm giảm chi phí lưu giữ vốn lưu động (ví dụ nhưhàng tồn kho) và do đó các khoản đầu tư dưới dạng vốn lưu động có thể tăng lên.Khi lãi suất thực tăng lên sẽ có tác động ngược lại làm giảm đầu tư, tiêu dùng Cóthể khái quát ảnh hưởng như sau:
M↑→P↑→ ir↓→I ↑→Y ↑
Biểu đồ 1.2: Cơ chế truyền tải CSTT của Keyness
Trang 10Nguồn: Wikipedia
1.4.2 Kênh giá cả tiền tệ
Sự thay đổi của mức lãi suất thị trường sẽ ảnh hưởng đến giá cả thị trườngcủa các tài sản tài chính (cổ phiếu, trái phiếu) và tài sản thực (bất động sản), do đó
mà ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, chi tiêu của các chủ thể kinh tế Mối quan hệgiữa lãi suất thị trường và giá cả của thị trường là nghịch chiều, khi lãi suất thịtrường giảm xuống, các chủ thể sẽ có sự di chuyển vốn sang các kênh đầu tư vàocác tài sản tăng lên, xu hướng đầu tư, tiêu dùng tăng lên sẽ làm tăng GDP Vàngược lại khi lãi suất thị trường tăng sẽ làm giảm GDP Một cách tiếp cận khác làxem xét ảnh hưởng của CSTT đến giá cổ phiếu của công ty, thể hiện ở tỷ lệ giữa giátrị thị trường của công ty với giá thay thế tài sản Khi NHTW giảm cung tiền sẽ làmcho giá cổ phiếu giảm bớt với 2 lý do:
Khi cung tiền giảm làm các cá nhân, hộ gia đình thiếu phương tiện thanhtoán, buộc họ phải giảm chi tiêu và các khoản giảm chi tiêu được giảm trước hết làgiảm việc mua cổ phiếu hoặc trái phiếu Do đó cầu chứng khoán giảm, dẫn tới giáchứng khoán giảm
Với sự giảm xuống của cung tiền có tác động làm lãi suất thị trường tăng, lãisuất tiết kiệm NH tăng, sẽ hấp dẫn và khuyến khích người dân gửi tiền NH hơn làmua chứng khoán, do vậy mà giá chứng khoán giảm xuống Và ngược lại khi cungtiền tăng lên sẽ có tác dụng làm cho giá cổ phiếu tăng lên Sự tăng lên của giá cổphiếu của công ty có tác dụng nâng cao giá trị của công ty trên thị trường, giá trịnày của công ty có thể cao hơn giá thay thế tài sản (chỉ số q>1), điều này kích thíchdoanh nghiệp đầu tư mới vào nhà xưởng, máy móc trang thiết bị, bởi giá của
Trang 11chúng rẻ một cách tương đối so với giá cổ phiếu Và ngược lại, chỉ số q<1, nhu cầuđầu tư mới của doanh nghiệp sẽ giảm Có thể khái quát hiệu ứng này như sau:
dư nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhấtđịnh
Công cụ này thường được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao Trongtrường hợp các công cụ gián tiếp không phát huy hiệu quả do thị trường tiền tệ chưaphát triển hoặc do mức cầu tiền tệ không nhạy cảm với sự biến động của lãi suấthay NHTW không có khả năng không chế và kiểm soát được sự biến động lượngvốn khả dụng của hệ thống NHTM thì hạn mức tín dụng là cứu cánh của NHTWtrong việc điều tiết lượng tiền cung ứng
Tuy nhiên, hiệu quả điều tiết của công cụ này không cao bởi nó thiếu tínhlinh hoạt và đôi khi đi ngược lại chiều hướng biến động của thị trường tín dụng, do
đó đẩy lãi suất lên cao hoặc làm suy giảm khả năng cạnh tranh của NHTM
1.5.2 Lãi suất
Lãi suất là con át chủ bài tác động đến đầu tư và tiêu dùng, là hành lang mà
từ đó những sự thay đổi trong cung ứng tiền dẫn đến sự thay đổi trong kinh tế vĩmô
NHTW có thể qui định khung lãi suất tiền gửi và cho vay trên thị trườngnhưng thông qua cơ chế điều chỉnh cung cầu tiền tệ Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ thuhút được nhiều tiền gửi làm tăng nguồn vốn vay, ngược lại sẽ làm giảm khả năng
mở rộng kinh doanh tín dụng Khi muốn tăng khối lượng cho vay, NHTW sẽ giảm
Trang 12mức lãi suất cho vay để kích thích các nhà đầu tư vay vốn, khi cần hạn chế đầu tưNHTW sẽ ấn định mức lãi suất cao.
Biện pháp này có ưu điểm là giúp NH lựa chọn những dự án kinh tế tối ưu đểcho vay, loại bỏ các dự án kém hiệu quả nhưng nó cũng làm cho tính linh hoạt củathị trường tiền tệ bị suy giảm, các NHTM bị động trong kinh doanh
Các công cụ gián tiếp
1.5.3 Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoảntiền gửi không hưởng lãi tại NHTW Nó được xác định bằng một tỷ lệ phần trămnhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian nào đó Mức DTBBđược quy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi, vào quy mô và tính chất hoạtđộng của NHTM
Cơ chế tác động của DTBB: Việc thay đổi DTBB và do đó mức DTBB ảnhhưởng đến lượng tiền cung ứng theo ba cách:
- Thứ nhất: giả sử NHTW quyết định tăng tỷ lệ bắt buộc từ 10% đến 12%, bộphận dự trữ dư thừa trước đây giờ trở thành bắt buộc, làm giảm khả năng chovay của hệ thống NHTM
- Thứ hai: tỷ lệ DTBB là một thành phần trong mẫu số của công thức tạo tiền
Vì thế sự tăng lên của tỷ lệ DTBB sẽ làm giảm hệ số tạo tiền và do đó khảnăng mở rộng tiền gửi của hệ thống NH giảm
- Thứ ba: tỷ lệ DTBB tăng lên làm giảm mức cung vốn NHTW trên thị trườngliên NH Trong điều kiện nhu cầu vốn khả dụng không thay đổi, sự sút giảmnày làm tăng lãi suất liên NH, từ đó mà tác động đến các mức lãi suất dài hạn
và khối lượng tiền cung ứng
1.5.4 Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là việc NHTW mua và bán các chứng khoán có giá,
mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc Nhà nước, nhằm làm thay đổi lượng tiền cung ứng
Sở dĩ NHTW tiến hành đại bộ phận nghiệp vụ thị trường mở của mình với tín phiếukho bạc vì thị trường tín phiếu kho bạc có dung lượng lớn, tính lỏng cao, rủi rothấp
Trang 13Bằng việc bán các giấy tờ có giá cho các NHTM với lãi suất hấp dẫn, NHTWthu hồi tiền từ lưu thông làm giảm lượng tiền cung ứng, đồng thời khả năng cho vaycủa các NHTM cũng giảm và giá trị tín dụng tăng lên Ngược lại, bằng việc muacác giấy tờ có giá, NHTW cung cấp tiền cho các NHTM để cho vay, làm gia tănglượng tiền cung ứng trên thị trường Điều quan trọng ở đây là thời hạn của các giấy
tờ có giá Việc mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn chủ yếu nhằm mục đích cânbằng dao động của tỷ lệ lãi suất trên thị trường tiền tệ, trong khi đó mua bán cácgiấy tờ có giá dài hạn có ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng thanh toán của các NHTM
1.5.5 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Nóvừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối
Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnhđến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Chính sách tỷ giátác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tìnhtrạng tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đấtnước Về thực chất, tỷ giá không phải là công cụ của CSTT vì tỷ giá không làm thayđổi lượng tiền tệ trong lưu thông Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước cónền kinh tế đang chuyển đổi, tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho CSTT
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
Nền kinh tế Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm
2005-2007 cho đến khi nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tếthế giới từ năm 2007 đến năm 2009 Nó làm cho lạm phát tăng cao, giá trị đồng tiềnViệt Nam bị giảm xuống Chính phủ cùng với NHTW đã có những CSTT kịp thời
để làm giảm lạm phát Năm 2010 là giai đoạn nền kinh tế bắt đầu phục hồi và NhàNước cũng có những CSTT để kiềm chế lạm phát, khôi phục giá trị đồng tiền ViệtNam Sau đây là những thay đổi trong chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Trang 142.1 Chính sách tiền tệ thắt chặt trong các giai đoạn từ năm 2005 – 2007 và từ năm 2010 – 2012
2.1.1 Giai đoạn từ năm 2005 – 2007
2.1.1.1 Năm 2005
Bối cảnh kinh tế:
Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm 5-7 điểm phần trăm sovới cùng kỳ năm ngoái, trong đó tốc độ cho vay bằng ngoại tệ chậm hơn và tốc độcho vay bằng VND nhanh hơn năm 2004 Việc giảm tốc độ tăng trưởng tín dụngchủ yếu diễn ra ở các NHTM Nhà nước, trong khi các NHTM cổ phần lại đẩynhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng so với năm 2004 Tăng trưởng tín dụng củakhu vực NHTM Nhà nước giảm chủ yếu là do khu vực này tiếp tục cơ cấu lại nợ và
nỗ lực nâng cao chất lượng tín dụng Để kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởngkinh tế, ngày 20/4/2005 NHNN đã ban hành chỉ thị số 02/2005/CT-NHNN yêu cầucác TCTD và các đơn vị trực thuộc NHNN thực hiện đồng bộ các giải pháp nângcao chất lượng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn NHNN chỉ tài trợngắn hạn để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời vốn khả dụng của các NHTM quacác nghiệp vụ của NHNN, chủ yếu là thông qua nghiệp vụ thị trường mở
Thực hiện các công cụ CSTT:
Trên cơ sở theo dõi sát diễn biến kinh tế và tiền tệ, NHNN đã điều hành khálinh hoạt các công cụ CSTT, điều tiết kịp thời cung- cầu vốn trên thị trường tiền tệ
và nhu cầu thiếu hụt vốn khả dụng của các NHTM
Về điều hành lãi suất: 02 lần tăng lãi suất cơ bản của đồng Việt Nam từ 7,5%
- 7,8% - 8,25%/năm vào tháng 02 và tháng 12/2005; 03 lần tăng lãi suất táicấp vốn, lãi suất tái chiết khấu: lãi suất tái cấp vốn tăng từ 5% - 5,5% - 6% -6,5%/năm, lãi suất tái chiết khấu tăng từ 3% - 3,5% - 4% - 4,5%/năm vàotháng 1, tháng 4 và tháng 12/2005; 02 lần tăng lãi suất tiền gửi tối đa bằngUSD của pháp nhân tại TCTD: loại không kỳ hạn tăng từ 0,2% - 0,3% -0,5%; loại có kỳ hạn đến 6 tháng tăng từ 0,5%- 0,7%- 1,2%/năm; loại có kỳhạn trên 6 tháng tăng từ 0,7%- 1% - 1,5% vào tháng 4 và tháng 9/2005 Lãi suất huy động và cho vay bằng VND trong 10 tháng đầu năm 2005 tăngkhoảng 15,8% so với tháng 12/2004 Nguyên ngân của sự biến động này làdo: lạm phát còn cao; tốc độ tăng tưởng kinh tế qua các quý đều tăng; lãi suấttrên thị trường quốc tế có xu hướng tăng; NHNN điều chỉnh tăng lãi suất; và
Trang 15các NHTM cạnh tranh giữ thị phần Tuy chưa có nghiên cứu cụ thể, nhưngthực tế cho thấy sự cạnh tranh để giữ thị phần giữa các NHTM có tác độngkhông nhỏ đến sự biến động lãi suất trong năm 2005.
Nghiệp vụ thị trường mở: Giao dịch 3 phiên/tuần, chủ yếu là chào mua, làcông cụ chủ yếu hỗ trợ vốn khả dụng cho các NHTM, có 116 phiên giaodịch, thời hạn từ 15-45 ngày, lãi suất dao động quanh mức 6%/năm Doanh
số giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở đạt 102.511 tỷ VND, tăng 65,5%
so với năm 2004
Nghiệp vụ chiết khấu và tái cấp vốn: Để hỗ trợ vốn cho các NHTM, bêncạnh nghiệp vụ thị trường mở, NHNN đã thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn chocác NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần và các NH liên doanh theo hạn mứcchiết khấu Nhiều NHTM đã sử dụng hết hạn mức chiết khấu được thông báo
để đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng
Dự trữ bắt buộc: Từ đầu năm 2005 đến nay, tỷ lệ DTBB không thay đổi sovới cuối năm 2004 nhằm tránh tác động làm tăng lãi suất thị trường, tạo điềukiện cho các TCTD mở rộng tín dụng có hiệu quả
Tỷ giá được điều chỉnh giảm giá nhẹ đồng VND so với đồng USD nhằmkhuyến khích xuất khẩu, góp phần kiểm soát nhập khẩu, tỷ giá tương đối ổnđịnh, mà một nguyên nhân chủ yếu là do NHNN vẫn chủ trương dùng “neo”
tỷ giá để kiểm soát lạm phát Diễn biến tỷ giá xem ra vẫn phù hợp với quan
hệ cung - cầu Tỷ giá trên thị trường tự do và tỷ giá trên thị trường liên NHchênh lệch không đáng kể NHNN mua được một lượng ngoại tệ nhiều hơnmức bán ra, qua đó tăng được dự trữ ngoại tệ
Kết quả:
Nhìn chung, CSTT năm 2005 đã có những đóng góp tích cực nhất định choviệc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, cũng còn một
số vấn đề chính sách cần được lưu ý
NHNN đã nhận thức rõ ràng hơn trong việc sử dụng các biện pháp can thiệp
để duy trì tỷ giá ổn định lâu dài sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của thịtrường ngoại hối và hoạt động xuất khẩu Tuy nhiên, NHNN dường như vẫn chưa
có đủ sự tự chủ cần thiết để xây dựng và thực thi một CSTT đủ hiệu lực và mộtchính sách tỷ giá linh hoạt hơn Trên thực tế, NHNN đã thiên về mục tiêu ngắn hạnhơn là cân nhắc đầy đủ các mục tiêu dài hạn Điều này đang hạn chế khả năng điềuchỉnh linh hoạt CSTT và chính sách tỷ giá trước những biến động kinh tế vĩ mô,
Trang 16nhất là trong bối cảnh lạm phát có khả năng còn đứng ở mức tương đối cao trongthời gian tới.
Tăng trưởng huy động vốn, tín dụng và TPTTT xấp xỉ mức tăng cùng kỳnăm 2004 và có khả năng vượt chỉ tiêu cả năm đề ra ( tăng trưởng tín dụng khoảng25%, TPTTT tăng 22%) Mặt bằng lãi suất thị trường tăng nhẹ so với cuối năm
2004, nhưng không tăng đột biến (lãi suất huy động bằng VND tăng từ 0,08%/tháng, lãi suất cho vay tăng ở mức thấp hơn, khoảng 0,05%/tháng so với cuốinăm 2004); tỷ giá VND so với USD trên thị trường ngoại tệ liên NH tăng 0,73%, dựkiến cả năm 2005 tăng khoảng 1%
0,03%-2.1.1.2 Năm 2006
VN vẫn tiếp tục phải đối phó với lạm phát ngày càng tăng cao Do đó, Chínhphủ tiếp tục duy trì và thực hiện linh hoạt CSTT thắt chặt đã áp dụng từ cuối 2005nhằm kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, tạo thuận lợicho tăng trưởng kinh tế Theo đó, trong năm 2006, NHNN vẫn giữ nguyên các mứclãi suất chính thức nhằm tránh phát tín hiệu làm tăng lãi suất thị trường, giữ nguyên
tỷ lệ DTBB để giảm áp lực tăng lãi suất huy động trên thị trường, tiếp tục thực hiện
cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý
Kết quả là TPTTT năm 2006 đã được giữ ở mức tăng 33,59% so với năm
2005, nhưng vẫn cao hơn so với mức tăng 29,65% của năm 2005; tín dụng tăngchậm lại nhưng chất lượng tín dụng được nâng cao; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng22,2%; tốc độ tăng GDP đạt 8,17%, tốc độ tăng CPI giảm còn 6,6%
2.1.1.3 Năm 2007
Bối cảnh kinh tế:
Tình hình kinh tế thế giới lại trải qua những xáo trộn mạnh, đặc biệt trên thịtrường tài chính, do xuất phát từ cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ và giá dầu tănglên mức kỷ lục 100 USD/thùng Trong khi đó, lạm phát ở nền kinh tế VN đang ngàycàng gia tăng
Thực hiện các công cụ CSTT
- Tăng cường hoạt động thị trường mở Trong phạm vi khối lượng tiền cungứng tăng được Chính phủ phê duyệt năm 2007, NHNN đã sử dụng linh hoạtcác công cụ CSTT để điều tiết có hiệu quả khối lượng tiền cung ứng này,nhằm đạt mục tiêu mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, hạn chế sức
ép tăng giá đồng Việt Nam, góp phần bình ổn thị trường ngoại hối, nhưngđồng thời cũng hút mạnh lượng tiền đã cung ứng ra cho mục đích mua ngoại
Trang 17tệ để giảm mức độ dư thừa vốn khả dụng của các NHTM, hạn chế sự giatăng của TPTTT, qua đó giảm áp lực lạm phát
- Điều chỉnh, tăng tỷ lệ DTBB gấp 1,5 – 2 lần, kiểm soát tăng trưởng TPTTT,kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ để hạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng củacác TCTD, qua đó hạn chế tăng trưởng tín dụng vào những lĩnh vực kémhiệu quả, giảm sức ép tăng lạm phát trong những tháng cuối năm
- Giữ nguyên các mức lãi suất như lãi suất cơ bản là 8,25%/năm, lãi suất táicấp vốn là 6,5%/năm, lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm, lãi suất qua đêm, lãisuất tiền gửi tại NHNN nhằm ổn định thị trường; bỏ quy định trần lãi suấttiền gửi bằng USD đối với pháp nhân kể từ ngày 1/1/2007
- NHNN đã thực hiện, ban hành chỉ thị 03/2007/CT – NHNN yêu cầu cácTCTD thực hiện kiểm soát tín dụng, khống chế dư nợ cho vay đầu tư, kinhdoanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng, tăng cường thanhtra giám sát hoạt động cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán nhằm đảmbảo an toàn, hiệu quả hoạt động của hệ thống TCTD Tuy nhiên, tăng trưởngtín dụng năm 2007 vẫn đạt rất cao, dư nợ cho vay của hệ thống NH tăng53,89% so với năm 2006
- Cũng trong năm, bên cạnh việc đưa 144.000 tỷ VND ra thị trường để mua 9
tỷ USD tăng dự trữ ngoại hối; NHNN đã nới lỏng biên độ tỷ giá từ +/- 0,25%lên +/-0,5% và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên +/-0,75% nhằmgiảm áp lực lạm phát, tăng tính chủ động cho các TCTD trong hoạt độngkinh doanh ngoại tệ Đồng thời NHNN đã thực hiện việc mua ngoại tệ theonhu cầu bán của các NHTM, Kho bạc Nhà nước và các tổ chức quốc tế với tỷgiá phù hợp để hạn chế sức ép tăng giá đồng Việt Nam và tăng cường mức
dự trữ ngoại hối Nhà nước Chênh lệch giữa tỷ giá mua ngoại tệ của NHNN
và tỷ giá bình quân trên thị trường liên NH đã được thu hẹp, phản ánh sátcung cầu ngoại tệ trên thị trường
- Hạn chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện cho vaychiết khấu trong hạn mức phân bổ
- Thực hiện Quyết định số 597/QĐ-TT ngày 11/5/2007 của Thủ tướng Chínhphủ, NHNN đã duy trì hạn mức Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng bằng 30%tổng dự trữ ngoại hối Nhà nước, (xác định theo quý) với biên độ +/- 10%thay vì xác định hạn mức theo giá trị tuyệt đối như trước đây Việc xác địnhhạn mức như vậy cho phép NHNN tăng cường tính linh hoạt trong điều hành
Trang 18tỷ giá, kịp thời ứng phó với các rủi ro đảo chiều của các nguồn vốn, đặc biệt
là các nguồn vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài
- Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Ngoạihối; triển khai thực hiện đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền ViệtNam, khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệt
- Thực hiện các giải pháp kiểm soát chất lượng và tốc độ tăng trưởng tín dụng,tăng TPTTT nhằm kiểm soát lạm phát
Bên cạnh việc sử dụng các công cụ CSTT để thu hút tiền dư thừa của cácTCTD, hạn chế việc mở rộng quá mức đầu tư tín dụng và tăng TPTTT, NHNN tiếptục thực hiện hoàn thiện cơ sở pháp lý và yêu cầu các TCTD thực hiện các quy định
về kiểm soát rủi ro, quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư, kinh doanhchứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Kết quả:
Với việc thực thi CSTT như trên, về cơ bản đạt được mục tiêu đề ra là ổnđịnh tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ vốn tạomôi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế Điều này thể hiện ở những kết quảsau:
- Kết quả là tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 8,48%, nhưng lạm phát cũng tăng
từ 7,45% lên 8,3%
- Qui mô thị trường tiền tệ mở rộng và ổn định, không để xảy ra những cú sốc
về lãi suất và tỷ giá trước những biến động khó lường của tình hình thịtrường tài chính quốc tế:
+ Lãi suất thị trường liên NH mặc dù có biến động mạnh trong vài ngày giữatháng 11/2007, song, nhìn chung, mặt bằng lãi suất trong năm ổn định: lãi suất huyđộng và cho vay của TCTD vẫn giữ được ổn định và có xu hướng giảm nhẹ so vớicuối năm 2006, tạo điều kiện cho việc huy động vốn và đầu tư cho tăng trưởng kinh
tế Tính đến cuối tháng 9/2007, huy động vốn của các TCTD tăng 31,2%, ước tính
cả năm tăng 39,6%, cao hơn tốc độ tăng 33,1% của năm 2006; tín dụng đến cuốitháng 9 tăng 30,9%, ước tính cả năm tăng 37,8%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng22,8% của năm 2006
- Hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế:
+ Trong hoạt động đầu tư tín dụng của các TCTD có những diễn biến tíchcực, các sản phẩm dịch vụ tín dụng đã được đa dạng hơn nhiều so với những năm
Trang 19trước đây, nhiều lĩnh vực cho vay đầu tư được mở rộng, các doanh nghiệp vừa vànhỏ có nhiều điều kiện thuận lợi tiếp cận nguồn vốn vay NH để phát triển sản xuất,tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định xã hội, cho vay pháttriển nông nghiệp nông thôn, cho vay chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, hộ sản xuấtkinh doanh vùng khó khăn cũng được mở rộng, góp phần tích cực thực hiện mụctiêu xoá đói giảm nghèo Bên cạnh đó, việc cho vay tiêu dùng cũng được mở ra rất
đa dạng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của xã hội
+ Tín dụng đầu tư vào thị trường chứng khoán được kiểm soát chặt chẽ,giảm dần cả số tuyệt đối và tỷ lệ dư nợ qua các tháng, góp phần thúc đẩy thị trườngchứng khoán phát triển ổn định Tín dụng đối với lĩnh vực BĐS cũng được theo dõi,giám sát chặt chẽ nhằm góp phần hạn chế những tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động NH
và thúc đẩy thị trường BĐS phát triển bền vững
Có thể nói, điều hành CSTT năm 2007 về cơ bản, đạt đuợc mục tiêu đặt ra,tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, cùng với việc ViệtNam gia nhập WTO nên việc điều hành CSTT đã phải đối mặt với nhiều thách thứclàm cho việc thực hiện mục tiêu ban đầu còn có hạn chế nhất định Đó là:
NHNN gặp khó khăn trong việc kiểm soát TPTTT, tín dụng, qua đó đã chưakiểm soát được lạm phát theo mục tiêu đặt ra: TPTTT của Việt Nam tăng mạnhtrong năm 2007 là khó tránh khỏi khi dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều nhưnăm nay Muốn hạn chế gia tăng TPTTT, thì cần phải hạn chế sự gia tăng của dòngvốn này Tuy nhiên, hạn chế dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là vấn đềkhông đơn giản khi Việt Nam đã gia nhập WTO, thị trường tài chính từng bước tự
do hóa Vì vậy, việc hạn chế sự gia tăng nguồn vốn nước ngoài nằm ngoài tầm kiểmsoát của NHNN, mà đòi hỏi phải có chính sách vĩ mô đồng bộ để đảm bảo việc sửdụng nguồn vốn nước ngoài có hiệu quả, giám sát chặt chẽ luồng vốn đầu tư giántiếp, hạn chế tình trạng đầu cơ trên thị trường chứng khoán,… nhằm hạn chế nhữngtác động bất lợi của dòng vốn này
Nhìn chung, năm 2007 thực thi CSTT của NHNN là cực kỳ khó khăn bởi tácđộng bất lợi của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam quá lớn trong năm,cùng với diễn biến phức tạp của giá cả những mặt hàng chủ yếu và những nhu cầuhội nhập của nền kinh tế Mặc dù vậy, về cơ bản, điều hành CSTT đã đạt được sự
ổn định tiền tệ, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế, tạo môi trường vĩ mô thuậnlợi cho phát triển kinh tế, song năm 2008, thực thi CSTT vẫn tiếp tục phải đối mặtvới những thách thức do dòng vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục gia tăng và những
Trang 20biến động khó lường của thị trường tài chính quốc tế, cùng với biến động của giá cảthế giới Điều đó đòi hỏi NHNN tiếp tục thực hiện CSTT chặt chẽ và cần có nhữnggiải pháp mang tính dài hạn để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động bất lợicủa những thách thức phải đối mặt
- Tình hình kinh tế vĩ mô được ổn định hơn
Thực hiện các công cụ CSTT:
Năm 2010 Nhà nước đã đặt trọng tâm vào mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế
vĩ mô, ngăn ngừa lạm phát cao, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý gắn vớimục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng cao hơntrong các năm tiếp theo Trong đó:
- Ngày 6/1/2010 NHNN bơm 15000 tỷ đồng thông qua nghiệp vụ thị trường
mở Động thái này của NHNN làm cho lãi suất vay vốn giữa các NH giảmmạnh, kỳ hạn một tuần còn 11%/năm, vay qua đêm còn 8,5%/năm Vì trước
đó, lãi suất liên NH ở mức 16-17%/năm, có thời điểm vượt 20%/năm Vàđiều này đã làm cho tổng dư nợ tín dụng trong những tháng đầu năm tăng rất
ít so với năm 2009 Cụ thể là tháng 1 chỉ tăng 0,26%, tháng 2 tăng 1,14%,tháng 3 tăng 1,49% và quý 1 chỉ tăng 3,52%, trong đó dư nợ tín dụng bằngVND tăng 0,57% so với tháng 12/2009 Mức TPTTT và mức tổng dư nợ tíndụng năm 2010 cũng được NHNN kiềm chế ở mức 25% thấp hơn so với năm
2009 là 37,73% Chỉ tiêu này được đặt ra nhằm kiểm soát mức độ lạm phátnăm 2010 tiếp tục giữ ở mức một con số Và nếu đi theo định hướng nàyNHTW muốn đảm bảo rằng lãi suất năm 2010 không quá căng
Trang 21- Ngày 18/1/2010, NHNN đưa ra Quyết định số 74/QĐ-NHNN giảm tỷ lệDTBB đối với tiền gửi bằng ngoại tệ có kỳ hạn dưới 12 tháng là 4%, đối vớitiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 2%, tạo điều kiện cho các NHTMtăng nguồn cung vốn ngoại tệ cho thị trường
- Ngày 14/2/2010, NHNN đã tăng tỷ giá liên NH thêm 3%, lên mức 18.544đồng/USD , trong khi đó biên độ tỷ giá giữ nguyên ở mức +/-3%
- Ngày 26/02/2010, Thông tư số 07/2010/TT-NHNN được ban hành, chínhthức cho phép các NH được áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận với các kháchhàng vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh,dịch vụ và đầu tư phát triển Trên thực tế, lãi suất cho vay của các NHTM từlâu đã vượt mức trần cho phép theo quy định của NHNN Thông tư trên rađời đã "hợp pháp hóa" các khoản vay với mức lãi suất cao đó, giải tỏa áp lựctâm lý cho các NHTM, góp phần khơi thông dòng chảy tín dụng nhằm duytrì tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu 6,5% năm 2010 và kiềm chế lạmphát ở mức không vượt quá 7%
- Ngày 14/04/2010, NHNN đã chính thức cho phép các NHTM sử dụng lãisuất thỏa thuận với các khoản vay ngắn hạn, tiếp nối việc sử dụng lãi suấtcho vay thỏa thuận với các khoản vay trung và dài hạn đã được thực hiện từcuối tháng 2
- Ngày 17/8/2010, cơ quan này thực hiện điều chỉnh tỷ giá bình quân liên NHgiữa đồng Việt Nam với Đô la Mỹ áp dụng cho ngày 18/8/2010, từ mức18.544 VND lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%) Trong khi đó biên độ tỷgiá giữ nguyên ở mức +/-3%
- Về tỷ giá, NHNN cấp giấy phép cho doanh nghiệp, NH nhập khẩu vàngnhằm mục đích ổn định tỷ giá (7/10/2010) thông qua hình thức quota Năm 2010 sau khi NHNN điều chỉnh ổn định tỷ giá, các TCTD được giaodịch tối đa là 19000 VND/USD và những biện pháp mà Chính phủ yêu cầu các tậpđoàn, tổng công ty Nhà nước bán ngoại tệ cho NHTM, kêu gọi các doanh nghiệp,người dân dùng hàng Việt Đến nay, diễn biến thị trường ngoại hối theo chiềuhướng tích cực, nhiều NHTM đã cân đối được ngoại tệ
Kết quả:
Trong năm 2010, Chính phủ điều hành CSTT với mục đích ổn định kinh tế,trong đó tỷ giá là tâm điểm quan trọng nhất trong việc điều chỉnh tăng tỷ giá đã ảnhhưởng rất lớn đến thị trường vàng, làm cho giá vàng tăng đến mức cao.Việc tăng tỷ