1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài 30. Tổng kết

22 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 600,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc giảng dạy và đào tạo bộ môn lịch sử hiện nay ở trường phổ thông là một trong những bộ môn có ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng rất cần được quan tâm và chú trọng, song người giáo viên ph[r]

Trang 1

1/ Tên đề tài:

MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỂ DẠY TỐT TIẾT LỊCH SỬ ĐỊA

PHƯƠNG LỚP 6 VÀ 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

2/ Đặt vấn đề:

a/ Tầm quan trọng của vấn đề dược nghiên cứu:

Lịch sử địa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc cung cấptri thức cho học sinh, vừa góp phần không nhỏ vào việc bổ sung, đính chínhhoàn thiện lịch sử dân tộc Đồng thời có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảmcho học sinh ở trường phổ thông Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có mốiquan hệ biện chứng với nhau, nằm trong cặp phạm trù “cái chung và cái riêng”

Vì lịch sử địa phương là bộ phận cấu thành của lịch sử dân tộc, bất kì một sựkiện, hiện tượng lịch sử nào xãy ra đều mang tính chất địa phương, tùy theophạm vi ảnh hưởng lớn hay nhỏ Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng việc dạyhọc lịch sử địa phương cho học sinh phổ thông là một việc làm hết sức cần thiết

Để làm được việc đó mỗi giáo viên chúng ta cần phải đầu tư, nghiên cứu nhiềuhơn về lĩmh vực này

b/ Tóm tắt những thực trạng liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu:

Bộ môn lịch sử địa phương được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thôngcùng với lịch sử dân tộc dưới nhiều hình thức dạy học, được thể hiện từ khá lâutrong môn lịch sử Tuy nhiên việc giảng dạy lịch sử địa phương chưa thể hiện hếtchức năng và nhiệm vụ của mình Mỗi trường thể hiện bài giảng mỗi cách khácnhau Qua nhiều ý kiến thăm dò của đồng nghiệp trong các đợt bồi dưỡngchuyên môn, tôi chưa thấy giáo viên nào thật sự thỏa mãn với tiết dạy lịch sử địaphương của mình, cũng như việc học tập của học trò, tiết học chưa gây hứng thú,học sinh còn thụ động, nhàm chán, ít tập trung

c/ Lí do chọn đề tài:

Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã không ngừng nghiên cứu tìm tòi, sáng tạorút ra cho mình một giải pháp, theo tôi đó là tối ưu nhất về dạy giờ lịch sử địaphương trên lớp và đã đem lại kết quả thật sự mĩ mãn.Nhằm phục vụ cho việcdạy học cấp bách hiện nay và có thể áp dụng lâu dài hơn trong tiết giảng dạy lịch

sử địa phương Đó chính là lí do mà tôi đã chọn nghiên cứu về đề tài này

d/ Giới hạn nghiên cứu của đề tài:

Như ta biết theo quy định của chương trình lịch sử địa phương ở cấp THCS của

Bộ giáo dục ban hành các tiết lịch sử địa phương được phân bố như sau:

- Ở lớp 6 tiết 35(1 tiết)

- Ở lớp 7: Tiết 68,69,70(3 tiết)

- Ở lớp 8: Tiết 52(1 tiết)

- Ở lớp 9: Tiết 51,52(2 tiết)

Trang 2

Nhưng đề tài nghiên cứu của tôi chỉ giới hạn ở giảng dạy lịch sử địa phương lớp

6 và lớp 7 Sau đây tôi xin đưa ra kinh nghiệm nhỏ của mình với đề tài: “Một sốkinh nghiệm để dạy tốt tiết lịch sử địa phương lớp 6 và 7 ở trường THCS” để cácbạn đồng nghiệp thảm khảo và góp ý, bổ sung cho bài dạy đạt kết quả tốt

Sự kiện lịch sử diễn ra trong một thời gian nhất định với những diễn biến phongphú, cụ thể đa dạng được bộc lộ thông qua vô số hiện tượng, muốn dựng lại mộtbức tranh chân thành của lịch sử không chỉ dựa vào một ít tư liệu, sự kiện màhọc sinh tiếp thu được Việc thu thập và sử dụng nhiều nguồn sử liệu, chính làđiều kiện quan trọng giúp học sinh tiếp thu bài tốt, khắc sâu kiến thức, hứng thútrong học tâp lịch sử và càng yêu quê hương Tổ quốc mình.Vì vậy, muốn chohọc sinh hiểu được lịch sử dân tộc thì trước hết phải nắm chắc lịch sử của địaphương mình Học sinh thấy được truyền thống quý báu, những công lao to lớncủa cha ông ta để lại, các em mới trân trọng, tự hào và càng phải thấy tráchnhiệm lớn lao hơn nữa

4/ Cơ sở thực tiễn:

Từ ý nghĩa quan trọng của lịch sử địa phương như thế Song việc giảngdạy lịch sử địa phương hiện nay ở các trường THCS ít được giáo viên chú trọng.Một mặt do thầy cô giáo giảng dạy lịch sử hiện nay chưa có một tài liệu giáokhoa về lịch sử địa phương, thiết bị dạy học chưa được cung cấp đầy đủ Do đó,một số giáo viên chỉ dạy theo cảm nhận của mình, ít đầu tư, dạy không theo mộttrình tự rõ ràng, đa số giáo viên chỉ thực hiện qua loa, ít có sự đầu tư chu đáo Vìthế, nên việc thực hiện tiết học chưa thực sự đạt hiệu quả Mặt khác do phân phốichương trình của tiết lịch sử địa phương nằm cuối cùng của năm học, sau khi thihọc kì II xong Nên đa số học sinh không còn chú trọng đầu tư, chịu khó nghiêncứu nghe giảng, cộng vào đó các em không thấy vai trò quan trọng của tiết họclịch sử địa phương như thế nào, chỉ xem đây là một tiết ngoại khóa “xả hơi” ởcuối học kì II

Từ cơ sở thực tiển trên, để giúp cho các em học tập tốt tiết lịch sử địaphương, bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng cần thiết, rèn luyện và phát triển nănglực học tập, thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa lịch sử địa phương với lịch sửdân tộc cũng như nét độc đáo, tính đặt thù của lịch sử địa phương Qua nhiềunăm giảng dạy lịch sử ở THCS lớp 6 và 7 Bản thân tôi đã không ngừng nghiên

Trang 3

cứu tìm tòi, sưu tầm, học hỏi và dần xây dựng cho mình được một số tiết giảngdạy lịch sử địa phương ở lớp 6 và 7 Chính việc làm đó đã đem lại được hiệu quảcao trong tiết dạy, lôi cuốn được các em ham học bộ môn lịch sử, đặc biệt là lịch

sử địa phương Trong khi chờ đợi tài liệu giáo khoa về giảng dạy lịch sử địaphương được ban hành Sau đây tôi xin giới thiệu cụ thể một số tài liệu giáokhoa cũng như bài soạn giảng của mình được áp dụng vào giảng dạy tiết lịch sửđịa phương như sau:

5/ Nôi dung nghiên cứu:

a Các bước chuẩn bị của thầy và trò

Như chúng ta đã biết những giờ học thành công hay thất bại của người giáoviên, phần lớn là do phương thức chuẩn bị một giờ dạy quyết định cũng nhưtrình độ khoa học của việc chuẩn bị đó Do đó, những giờ học đạt kết quả cao,thường là do sự chuẩn bị chu đáo của người giáo viên về mọi mặt đặt biệt đốivới tiết lịch sử địa phương để dạy tốt người giáo viên cần phải tìm tòi, sưu tầmtài liệu, sáng tạo suy nghĩ biết chọn lọc những nguyên lí khoa học phù hợp vớinội dung bài học trên lớp vận dụng nghệ thuật sư phạm mà người thầy đã chuẩn

bị trước đó, có như vậy thì tiết lịch sử địa phương mới có giá trị về mặt sư phạm,nâng cao được chất lượng bài giảng, gây được hứng thú học tập cho học sinhđồng thời làm cho việc nhận thức học tập lịch sử địa phương của học sinh ngàycàng được nâng cao

Giờ dạy lịch sử địa phương thường được tiến hành theo hai loại: Loại thứ nhất

là dạy trực tiếp trên lớp học về những bài lịch sử địa phương giáo viên đã biênsoạn ở giáo án Loại thứ hai là tổ chức học sinh tham quan thực tế Đối với đặtthù của một trường thuộc địa phương miền núi như tôi Vì thế việc tiến hànhgiảng dạy thực tế hoàn toàn không dễ chút nào trong khi đó tiết dạy chỉ vỏn vẹn

có 45 phút, nên tôi chọn loại giảng dạy lịch sử địa phương theo cách: “tiến hànhbài giảng trên lớp” là tối ưu và đạt hiệu quả

Để chuẩn bị cho tiết giảng dạy lịch sử địa phương, giáo viên cần phải nắm vữnglại phân phối chương trình để định dạng cho mỗi tiết dạy phù hợp với đặt thù củalớp và sự tiếp thu kiến thức của học sinh

Căn cứ vào nội dung của chương trình lịch sử ở THCS Căn cứ vào yêu cầuchung và thực tiển giảng dạy ở SGK tôi đã định dạng cho những tiết dạy củamình như sau:

* Đối với lịch sử địa phương ở lớp 6

Tiết 35: Đề bài: “ Các di tích Tiền sử, Sơ sử ở Quảng Nam”

* Đối với lịch sử địa phương ở lớp 7:

Tiết 68: Đề bài: “Di tích văn hóa Cham-pa, từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII”

Tiết 69: Đề bài: “Phố cổ Hội An thế kỉ X đến thế kỉ XVIII”

Tiết 70: Đề bài: “ Một số làng nghề thủ công ở Quảng Nam ”

Trang 4

Để chuẩn bị tốt cho các tiết dạy này tôi đã chuẩn bị tài liệu giáo khoa cho từng

khối lớp như sau:

*/ Đối với lịch sử địa phương lớp 6

Nội dung tài liệu:

Tiết 35 Bài: CÁC DI TÍCH TIỀN SỬ, SƠ SỬ Ở QUẢNG NAM

1 Di tích Bàu Dũ (Tam Xuân-Núi Thành):

Cho đến nay các nhà khảo cổ học đã biết đến dấu tích của con người sống cáchđây khoảng 6000 năm ở Quảng Nam với các di tích “Cồn Sò Điệp”, Bàu Dũ.Đây là loại hình di tích “đống rác bếp” đầu tiên được nghiên cứu ở các tỉnh phíaNam Tại đây di tích Bàu Dũ qua hai lần khảo sát, khai quật đã phát hiện 5 mộtáng còn di cốt của người cổ Nhà khảo cổ học Nguyễn Lân Cường đã xếp họvào chủng Mélerisien(cư dân bản địa Đông Nam Á) quanh di cốt là các vỏ sòđiệp, ốc biển, xương, răng của các loài cá biển, rùa, xương, răng của các loàiđộng vật sống ở các vùng đồng cỏ và rừng rậm như trâu, bò, hưu, khỉ Từ đó cóthể hình dung môi trường sống của người cổ Bàu Dũ bấy giờ là vùng cửa sông-ven biển Công cụ đá Bàu Dũ gần gũi với các công cụ đá thuộc văn hóa HòaBình về loại hình và kĩ thuật chế tác Một số nhà nghiên cứu đã xếp Bàu Dũ vào

sơ kì đá mới hoặc “ đá mới trước gốm”

2 Di tích Bàu Trám: ( Tam Anh- Núi Thành)

Di tích Bàu Trám được khai quật hai lần( 1979,1992) Có thể chia di tích BàuTrám thành hai tầng văn hóa, tầng dưới được định niên đại khoảng 3000 nămcách ngày nay, tầng trên khoảng 2500 cách ngày nay Đồ gốm ở di tích BàuTrám chủ yếu là các loại đồ dùng và đem nấu có kích thước khá lớn, độ nungtương đối cao, chất liệu là đất sét pha cát và bả thực vật Công cụ lao động chủyếu là đồ đá; ở tầng văn hóa trên đã xuất hiện đồ đồng Một số nhà nghiên cứucho rằng Bàu Trám là giai đoạn chuyển tiếp từ nền văn hóa “ tiền SaHuỳnh”( tiền sử) sang văn hóa Sa Huỳnh ( sơ sử

3/ Văn hóa Sa Huỳnh:

Văn hóa Sa Huỳnh được chia làm hai giai đoạn:

- Sa Huỳnh sớm: Cách đây khoảng 3000 - 4000 năm, tức là giai đoạn chưa cósắt

- Sa Huỳnh muộn: Từ thế kỉ VII-VI( TCN) đến thế kỉ I-II công nguyên, là giaiđoạn đã có đồ sắt

Chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh nói tiếng Nam Đảo hay tiếng polynesien( Mã Lai- Đa Đảo) với nhiều yếu tố Nam Á Cư dân chủ yếu sốngbằng nghề trồng lúa nước ở đồng bằng ven biển, cồn – bàu công cụ chủ yếu là đồsắt Tuy vậy kinh tế của họ là kinh tế đa thành phần, họ biết khai thác các nguồnlợi của rừng, của biển, biết phát triển các nghề thủ công như: xe sợi, dệt vải, làmgốm, làm đồ trang sức Từng bước mở quan hệ trao đổi buôn bán với các cư dânkhu vực Đông Nam Á và mở rộng hơn với Ấn Độ, Trung Quốc

Trang 5

Các nhà khảo cổ học đã phát hiện các di tích của văn hóa Sa Huỳnh trên đấtQuảng Nam( cả di tích cư trú và di tích mộ táng) như: Khu mộ chum( TamXuân- Núi Thành); di tích Phú Hòa( Tam Xuân- Núi Thành); khu mộ chum( QuếLộc- Quế Sơn); khu mộ chum gò Đình và Đồi Vàng( Đại Lãnh, Đại Đồng- ĐạiLộc); khu di tích TIên Hà( Tiên Phước); khu mộ chumTabhing( Giằng); khu ditích Cẩm Hà (Hội An); di tích Tam Giang( Núi Thành); di tích Trà Kiệu( DuyXuyên); di tích gò Mã Vôi( Duy Tân- Duy Xuyên) Từ đó có thể khẳng địnhrằng Quảng Nam là một địa bàn quang trọng của văn hóa Sa Huỳnh

Đặc trưng của nền văn hóa này là hình thức mai táng bằng chum( mộ chum).Trong và ngoài chum chứa nhều đồ tùy táng, với các chất liệu đá, đá quý, thủytinh, đồng, sắt và gốm ngoài ra còn có cát trắng và một ít tro than Theo các nhànghiên cứu có thể do hỏa táng, có thể do hình thức mộ tượng trưng

*/ Đối với lịch sử địa phương lớp 7

Tiết 68 Bài: DI TÍCH VĂN HÓA CHAM PA THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XVIII

Quảng Nam là một trung tâm chính về chính trị, kinh tế, văn hóa của vươngquốc Cham-pa cho nên trên vùng đất này còn lưu giữ nhiều di tích văn hóaCham-pa(kiến trúc, điêu khắc)

2 Khu di tích Mĩ Sơn:

Mĩ Sơn là khu thánh địa lớn nhất, lâu đời nhất và có giá trị nhất về nghệ thuậttrong số các di tích Cham-pa ở Việt Nam

Di tích Mĩ Sơn nay thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Đây

là khu thánh địa của Ấn Độ giáo, được xây dựng liên tục từ thế kỉ IV đến thế kỉVIII, tập trung đầy đủ các phong cách nghệ thuật quan trọng của Cham-pa, gồm

có tất cả 70 kiến trúc nhưng hiện nay chỉ còn lại khoảng 20 ngôi tháp và khôngnơi nào còn nguyên vẹn nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tàn phá đó là do chiếntranh Từ sau năm 1975 khu di tích Mĩ Sơn được bảo vệ, trùng tu có sức hấpdẫn, lôi cuốn đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu, du khách trong và ngoài nước.ngày 1-12-1999 di tích Mĩ Sơn đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóathế giới

3 Khu Di tích Đồng Dương:

Khu di tích Đồng Dương nay thuộc làng Đồng Dương, xã Bình Định, huyệnThăng Bình, tỉnh Quảng Nam, có tên là In-đra-pu-ra(thành phố của thần sấm

Trang 6

sét) Đồng Dương được xây dựng vào năm 875 dưới triều vua In-đra-var-man II.Đây là một tổng thể lâu đài, chùa miếu lớn nhất và quan trọng nhất của Cham-

pa hiện nay toàn bộ khu di tích Đồng Dương đã bị chiến tranh và con ngườibiến thành bình địa

Ngoài các khu di tích quan trọng kể trên ở Quảng Nam còn có các ngôi thápBằng An(Điện An-Điện Bàn), ba tháp lớn ở Chiên Đàng(Tam An-Phú Ninh) batháp khác ở Khương Mĩ(Tam Xuân-Núi Thành) và nhiều phế tích khác mà chođến nay vẫn chưa được kiểm kê

Tiết 69: Đề bài: PHỐ CỔ HỘI AN THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XVIII

1/ Vị trí địa lí:

Hội An là một thành phố của tỉnh Quảng Nam, diện tích tự nhiên khoảng

60 km2 , gồm 3 phường: Cẩm Phô, Minh An, Sơn Phong và 7 xã: Cẩm An, CẩmThanh, Cẩm Châu, Cẩm Nam, Cẩm Hà, Cẩm Kim và xã đảo Tân Hiệp bao gồmcụm đảo Cù Lao Chàm cách đất liền 18 km

Hội An nằm bên cửa sông Thu Bồn, nơi hợp lưu của ba nguồn sông chính

ở Quảng Nam là Thu Bồn, Vu Gia, Chiên Đàng Phía đông nối liền Với biểnĐông qua Cửa Đại, thông với Đà Nẵng ở cửa sông Hàn Ở phía thượng lưu,, quasông Thu Bồn, Hội An với di tích Mĩ Sơn và kinh đô Trà Kiệu của Cham-pa

Có thể nói Hội An nằm giữa một vùng giàu có của xứ Quảng và giữ vị tríđầu mối giao thông vô cùng thuận lợi với các thị trường trong nước và với hệthống hàng hải quốc tế

2/ Kinh tế, văn hóa:

Qua việc nghiên cứu, khẳng định rằng từ thời văn hóa Sa Huỳnh, Hội An

là một cảng thị sơ khai và là cơ sở cho sự hình thành của các tiểu quốc ở khu vựcmiền Trung Việt Nam.Đến thời vương quốc Cham-pa Hội An là một thươngcảng quan trọng với tên gọi là Cham-pa-pu-ra(Lâm Ấp phố) là nơi giao lưu vănhóa với các nước châu Á

Đô thị thương cảng Hội An của Đại Việt hình thành ở thế kỉ XVI và thịnh đạttrong các thế kỉ XVII-XVIII Với vị trí thuận lợi và chính sách cởi mở hơn trongquan hệ chính trị và thương mại đối với nước ngoài của các chúa Nguyễn, nên từthế kỉ XVI thương nhân của các nước phương Đông(Trung Hoa, Nhật Bản) vàphương Tây(Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan ) đã đến buôn bán ở Hội An

Lúc bấy giờ, trung tâm thương cảng Hội An là vùng bến cảng và phố chợbuôn bán nằm trên bờ bắc sông Thu Bồn, phạm vi còn mở rộng ra cả hai bên bờBắc Nam của dòng sông, bao gồm cả những nơi nêu đậu tàu thyền của thươngkhách như: đầm Trà Nhiêu, đầm Trung Phường, đầm Trà Quế với những làngnghề thủ công ven thị như: làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà, Đầu thế

kỉ XVII-XVIII, Hội An là trung tâm mậu dịch lớn nhất xứ đàng Trong của cảnước Đại Việt, đồng thời là một trong những thương cảng sầm uất của vùng biển

Trang 7

Đông Nam Á Sự thịnh vượng của Hội An thời kì này đã biến nó thành mộttrung tâm giao lưu kinh tế và văn hóa rộng lớn Mảnh đất Hội An đã mở rộngcửa đển đón nhận những yếu tố văn hóa ngoại nhập và cũng là cửa ngõ du nhậpđạo Thiên Chúa, mà thành quả tốt đẹp bất ngờ của cuộc hội ngộ giữa văn hóaLa-tinh và văn hóa Việt Nam là sự sáng chế ra chữ Quốc ngữ Bên cạnh đó Hội

An chỉ chiếm không gian chừng hai cây số, nhưng có giá trị về văn hóa nghệthuật vô cùng to lớn và có sức hấp dẫn đặc biệt Đó là các di tích của bến cảng,các phố cổ các cửa hàng, nhà ở, nhà thờ tộc, đình, chùa, miếu, mộ, các Hội quáncủa người Hoa, chiếc cầu mang dáng vẻ kiến trúc của người Nhật(chùa Cầu)những ngôi mộ của người Nhật, người Hoa , những loại hình kiến trúc- nghệthuật- ngôn ngữ phong phú, đa dạng đó, cùng với lối sống, phong tục tập quán, lễhội của cư dân Hội An đã phản ảnh một quá trình giao thoa, hội nhập, tiếp biếnvăn hóa tạo nên một sắc thái văn hóa vừa mang tính dân tộc bản địa vừa chứađựng nhiều yếu tố ngoại sinh

Sang thế kỉ XIX do nhiều nguyên nhân bên trong và bên ngoài, do cả nhữngbiến đổi của địa hình sông nước, hoạt động kinh tế và vai trò của Hội An suygiảm dần rồi nhường chỗ cho Đà Nẵng

Phố cổ Hội An có một bề dày lịch sử hơn 2500 năm, với sự hội tụ của ba nềnvăn hóa: Sa huỳnh, Cham- pa và Đại Việt- Việt Nam

Phố cổ Hội An là một khu di tích lịch sử, một di sản văn hóa vô giá thuộc loạiquí hiếm trên thế giới Ngày 1-12-1999 UNESCO công nhận Hội An là một disản văn hóa thế giới

Tiết 70: Đề bài: MỘT SỐ LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG Ở QUẢNG NAM.

Theo bước chân của những lưu dân Việt đi từ vùng chiêm trũng Bắc bộ mentheo eo biển miền Trung, nhiều làng nghề đã tìm thấy mảnh đất sống lý tưởng.Đặc biệt là từ thế kỷ XV, khi các cảng thị dần xuất hiện, càng làm cho sức sống

đó mạnh mẽ hơn, và một số làng nghề tại Quảng Nam vẫn còn tồn tại đến ngàynay

1 Làng gốm Thanh Hà

Làng gốmThanh Hànằm ngaybên bờ sôngThu Bồn,thuộc xã Cẩm Hà - thị xã Hội An,

cách Hội An khoảng 2km về hướng

tây Làng nghề có nguồn gốc từ

Thanh Hóa, được hình thành từ

khoảng cuối thế kỷ XV và phát triển

mạnh cùng với sự ra đời của cảng thị

Trang 8

Hội An Sản phẩm gốm Thanh Hà được làm từ đất sét bởi những bàn tay điêuluyện của các nghệ nhân và kỹ thuật truyền thống, mang tính độc đáo riêngcủa làng nghề Sản phẩm chủ yếu của làng nghề là các đồ dùng phục vụ sinhhoạt hàng ngày như chén, chum, vại, bình hoa, chậu cảnh, mang nhiều kiểudáng, và màu sắc phong phú Điều đặc biệt là sản phẩm gốm Thanh Hà luôn

có trọng lượng nhẹ hơn các sản phẩm khác cùng loại Đây chính là nét độc đáoriêng có của làng gốm Thanh Hà với những kỹ thuật mang tính cha truyền connối Duy trì suốt từ thế kỷ XV cho đến nay, làng gốm Thanh Hà vẫn tồn tạinhư một minh chứng cho sức sống mãnh liệt của một làng nghề, qua biết baothử thách của thời gian, để hôm nay, khi có dịp đến với vùng đất Quảng Nam,

du khách không thể bỏ qua cơ hội tham quan làng gốm, để tận mắt chứng kiến

sự điêu luyện của những bàn tay người thợ tài hoa

Kim - Hội An thời bấy giờ Đến cuối

thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII nghề

mộc Kim Bồng bắt đầu phát triển

nhờ sự phồn thịnh của thương cảng

Hội An Đến thế kỷ XVIII, nghề

mộc Kim Bồng đã phát triển mạnh mẽ và thịnh đạt, trở thành làng nghề với banhóm nghề rõ rệt: nghề mộc xây dựng các công trình kiến trúc đô thị, nghềmộc dân dụng và nghề đóng tàu thuyền Địa danh và nghề mộc Kim Bồng đãđược Lê Quý Đôn đề cập trong quyển Phủ Biên Tạp Lục viết vào thế kỷXVIII Với danh tiếng của mình, nhiều thợ từ làng mộc Kim Bồng đã đượccác vua triều Nguyễn triệu tập để tham gia xây dựng kinh thành Huế Trong số

đó, nhiều người đã được vua ban tước Cửu phẩm, Bát phẩm, đội trưởng mộctượng Riêng đối với đô thị cổ Hội An, bàn tay tài hoa của người thợ KimBồng đã góp phần tạo nên không ít những công trình kiến trúc mang giá trịnghệ thuật cao

3 Làng đúc đồng Phước Kiều

Trang 9

Nằm kề bên quốc lộ 1A, thuộc xã

Điện Phương, huyện Điện Bàn, làng

thường trong đời sống như lư hương,

chân đèn, nồi niêu, xoong chảo, chén

bát và cả các loại binh khí cổ như

gươm, dao, giáo, mác Đặc biệt, nghệ nhân Phước Kiều (1) còn nắm giữ bíquyết trong cách pha chế hợp kim để tạo ra các nhạc khí có âm thanh đặctrưng riêng Đến với làng đúc đồng Phước Kiều, ngoài việc lựa chọn, mua sắmcác vật dụng, hàng lưu niệm với nhiều mẫu mã đa dạng, du khách còn có cơhội được trực tiếp tham quan các công đoạn sản xuất của nghề đúc đồng vàđược xem các nghệ nhân danh tiếng biểu diễn các loại nhạc cụ cồng, chiêngchủ yếu phục vụ cho đồng bào Tây Nguyên (2) do làng nghề làm ra

4 Làng dệt Mã Châu

Nằm ngay trên tuyến đường từ Hội An đi

Mỹ Sơn, làng nghề Mã Châu thuộc thônChâu Hiệp - thị trấn Nam Phước, cáchtrung tâm huyện Duy Xuyên khoảng 3 km

về phía Đông Làng nghề được hình thành

từ thế kỷ XIV, bên cạnh kinh đô Trà Kiệu.Đây là nơi chuyên cung cấp các sản phẩm

tơ lụa cho giới quý tộc và quan lại trongvùng Khi cảng thị Hội An ra đời, tơ lụa

Mã Châu đã trở thành sản phẩm được thếgiới biết đến nhiều nhất Từ cuối thế kỷXIX, khi người Pháp đến Việt Nam, làng

Mã Châu có thêm nghề trồng bông, dệtvải nhưng tơ lụa vẫn là mặt hàng chủ yếu

Ngoài ra còn có các làng nghề khác ở Quảng Nam như dệt chiếu (Duy Xuyên), làm tò he (Hội An), nước mắm (Núi Thành)

* Đó là toàn bộ các tài liệu phục vụ cho các tiết dạy lịch sử địa phương lớp 6 và

7 được tôi sưu tầm, có thể xem như một tài liệu giáo khoa để sử dụng giảng dạytrên lớp.Các tài liệu đó, giáo viên nên in ấn đầy đủ để phát cho mỗi học sinh1: Hiện nay ở làng đúc đồng Phước Kiều có các nghệ nhân nổi tiếng như: Anh Dương Ngọc Tiễn, Dương Quốc Thần và Nguyễn Ngọc Minh

2: Hiện nay 2/3 mặt hàng của Phước Kiều có mặt tại Tây Nguyên.

Trang 10

nghiên cứu trước khi học tiết học lịch sử địa phương Đồng thời dựa vào đó họcsinh có thể sưu tầm tìm hiển thêm những hiểu biết liên quan đến nội dung bàihọc.

Toàn bộ những việc làm trên, là những chuẩn bị giờ dạy của người giáo viên.Song công việc của trò không kém phần quan trọng, việc chuẩn bị kĩ của trò làmột nguyên nhân quyết định cho tiết dạy thành công đó Như vậy ngoài việc tìmhiểu trong tài liệu giáo viên giao về nhà tham khảo, học sinh cần nghiên cứu sáchgiáo khoa có nội dung liên quan, đồng thời các em tìm hiểu trên phương tiệnthông tin đại chúng, báo chí, đài truyền thanh, truyền hình, trên mạng về các ditích, sự kiện, tranh,ảnh, di vật, hiện vật có liên quan đến việc chuẩn bị cho giờhọc sắp đến

Ví dụ:

Bài: Các di tích Tiền sử, Sơ sử ở Quảng Nam” tôi giao học sinh tìm hiểu vềnhững ngôi mộ chum thời Sa Huỳnh, hay tài liệu, tranh ảnh có liên quan đến các

di tích thời nguyên thủy mà các em biết thêm Hay bài “ Di tích văn hóa

Cham-pa, Hội An thế kỉ X – thế kỉ XVIII” tôi giao học sinh sưu tầm tìm hiểu về lịc sửCham-pa, Hội An bằng các tranh ảnh như: Khu di tích Mĩ Sơn, chùa Cầu, PhúcKiến

Tóm lại, để thực hiện tốt tiêt lịch sử địa phương, công việc chuẩn bị của thầy vàtrò là rất cần thiết, giúp cho thầy và trò sẽ thành công bài giảng trên lớp Đồngthời nó cũng thể hiện rõ nguyên lí giáo dục của Đảng: “ Học đi đôi với hành, líluận gắn liền với thực tiển ”

b/ Sáng kiến được minh họa cụ thể:

Sau khi phần chuẩn bị xong, giáo viên sẽ nghiên cứu kĩ tài liệu biên soạn vàtiến hành soạn thành một giáo án cụ thể để tiến hành giảng dạy trực tiếp trên lớp

*/ Đối với tiết Lịch sử địa phương lớp 6:

Tiết 35: Bài: CÁC DI TÍCH TIỀN SỬ, SƠ SỬ Ở QUẢNG NAM

I/ Mục tiêu bài học: Sau khi học xong bài này, học sinh cần năm được nhữngmục tiêu sau:

1/ Về kiến thức: Thấy được rằng từ thời nguyên thủy ở Quảng Nam đã có conngười sinh sống Từ đó, có được hiểu biết sơ lược về quá trình phát triển củaQuảng Nam từ thời nguyên thủy

2/ Thái độ: Bồi dưỡng lòng tự hào về quê hương mình và có ý thức giữ gìn các disản của tiền nhân

3/ Kĩ năng: Bồi dưỡng học sinh kĩ năng xác định địa điểm trên lược đồ về các ditích thời Tiền- Sơ sử

II/ Các bước chuẩn bị:

1 Về phương pháp: trực quan, nêu và giải quyết vấn đề, thảo luận

2 Phương tiện, tài liệu dạy học

a Giáo viên:

Trang 11

- Lược đồ hành chính Quảng Nam

- Tranh ảnh, hiện vật phục chế(nếu có), tài liệu liên quan đến bài học

b Học sinh:

- Nghiên cứu tài liệu giáo viên giao cho, tham khảo sách giáo khoa phần có liênquan đến tài liệu

- Sưu tầm tranh ảnh, hiện vật có liên quan đến tiết học

III/ Các hoạt động dạy và học chủ yếu

1 Ổn định tổ chức(1phút)

2 Kiểm tra bài cũ:(4phút) Giáo viên giải đề thi kiểm tra học kì II cho học sinh vànhận xét những ưu điểm, tồn tại trong việc làm bài kiểm tra của học sinh

3 Hoạt động bài mới:

a Giới thiệu bài:( 1phút) Cũng như nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, vùng đấtQuảng Nam đã tồn tại nền văn hóa tiền sử(tiền Sa Huỳnh) văn hóa sơ sử(SaHuỳnh) và văn hóa Chăm-pa từ sau năm 1975 đến nay đã có hơn 40 di tích khảo

cổ học thời tiền-sơ sử được phát hiện ở vùng Quảng Nam Tiết học lịch sử địaphương hôm nay các em sẽ tìm hiểu về các di tích thời tiền-sơ sử ở Quảng Nam

b Vào bài:

* Hoạt động 1: Học sinh làm việc cá nhân,cả lớp ( 17 phút)

1/ Di tích thời tiền sử:

+ Mục tiêu: Học sinh hiểu được tại quê hương Núi Thành đã phát hiện dấu vết

của người Tiền-sơ sử

? Hiện nay ở Quảng Nam có bao nhiêu di tích thời nguyên thủy(tiền-sơ sử)?(3 ditích)

- Giáo viên giới thiệu trên lược đồ Quảng Nam về địa danh các di tích: Bàu Dũ,Bàu Trám, Sa Huỳnh

? Nêu những hiểu biết của em về di tích Bàu Dũ(loại hình di tích “đống rác bếp”đầu tiên được xếp vào thời sơ kì đá mới)

- Giáo viên: Giải thích thêm về di tích Bàu Dũ

- Học sinh xác định vị trí Bàu Dũ trên lược đồ Quảng Nam

? Qua di tích Bàu Dũ em hiểu gì về môi trường sống của người Bàu Dũ thời bấygiờ?( sống ở vùng cửa sông-ven biển)

? Em có nhận xét gì về công cụ lao động của người Bàu Dũ?(công cụ đá gần gũivới công cụ đá thuộc văn hóa Sa Huỳnh về loại hình và kĩ thuật chế tác.)

- Giáo viên: Bàu Dũ được xếp vào thời kì đá mới hoặc “đá mới trước gốm”

1 Di tích Bàu Dũ(Tam Xuân-Núi Thành)

- Là loại di tích “đống rác bếp”

- Phát hiện 5 mộ táng có di cốt người cổ, quanh di cốt là các võ

sò, điệp, ốc biển, xương, răng của các loài động vật môi trường

sống của người cổ Bàu Dũ là vùng cửa sông ven biển

- Công cụ lao động: đồ đá(đá mới)

Ngày đăng: 29/03/2021, 13:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w