1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của đỗ bích thúy

104 27 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là lí do khiến chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình là: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, nhưng chỉ xin được giới hạn nghiên cứu sâu vào một v

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI THỊ MINH HẢO

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA ĐỖ BÍCH THÚY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI THỊ MINH HẢO

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn khoa học Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của

Đỗ Bích Thúy là của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong đoạn văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Bùi Thị Minh Hảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bằng tất cả sự yêu mến và kính trọng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo - PGS.TS Đào Thuỷ Nguyên, người đã động viên, chỉ bảo, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn, bộ phận Sau đại học - Phòng đào tạo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Các thầy cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, trường Đại học

Sư phạm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy cho tôi trong suốt khoa học

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái nguyên, tháng 9, năm 2018

Tác giả luận văn

Bùi Thị Minh Hảo

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp mới của luận văn 8

7 Cấu trúc của luận văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9

1.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy 18

1.2.1 Vài nét về cuộc đời và con người nhà văn Đỗ Bích Thúy 18

1.1.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy 21

Chương 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ MIỀN NÚI CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 28

2.1 Thế giới nhân vật 28

2.1.1 Nhân vật có số phận éo le, bất hạnh 28

2.1.2 Nhân vật cam chịu, giầu đức hi sinh 35

2.1.3 Nhân vật bản lĩnh, dám đấu tranh để thực hiện khát vọng của mình 39

2.1.4 Nhân vật tha hóa 43

2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 44

2.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 44

2.2.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lý, tính cách nhân vật 48

Chương 3: KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ MIỀN NÚI CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 56

Trang 6

3.1 Không gian nghệ thuật 56

3.1.1 Không gian bối cảnh xã hội 56

3.1.2 Không gian thiên nhiên 68

3.2 Thời gian nghệ thuật 76

3.2.1 Thời gian sự kiện 76

3.2.2 Thời gian tâm lí 81

TIỂU KẾT 91

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1 Văn học là một loại hình nghệ thuật, nét đặc trưng của nó so với các lọai hình nghệ thuật khác - đó là nghệ thuật của ngôn từ Có thể nói, thế giới nghệ thuật trong bất kì một tác phẩm nghệ thuật nào cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của tác phẩm văn học và là một trong những yếu tố thể hiện rõ nét tài năng của người sáng tạo

2 Đỗ Bích Thuý là một hiện tượng trên văn đàn với các giải thưởng về truyện ngắn và tiểu thuyết Ai đã từng đọc tác phẩm của chị hẳn khó có thể quên được chất văn mộc mạc và giản dị.Tâm trạng từng nhân vật từng số phận trong tác phẩm của chị

là nơi mà cảm xúc của người viết như gắn quyện vào Tác phẩm của Đỗ Bích Thúy thành công bởi sức ám gợi lâu bền và sự đọng lại trong tâm trí người đọc những trăn trở, suy tư mà nhà văn muốn gửi gắm tới bạn đọc Đến nay, Đỗ Bích Thúy là cây bút

đã khẳng định tên tuổi ở nhiều thể loại sáng tác như: truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, kich bản phim Mỗi thể loại sáng tác của chị mang một sắc màu riêng, nhưng chúng đều là những đứa con tinh thần của một người đàn bà nặng lòng với con người và cuộc sống Sáng tác nói chung và tiểu thuyết nói riêng của chị được độc giả, giới phê bình văn học đánh giá cao và đã được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều đề tài khoa học Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy chưa được quan tâm đầy đủ và chưa thật sự chuyên sâu

3 Hơn hai mươi năm sáng tạo nghệ thuật, Đỗ Bích Thúy đã cho ra đời 5 cuốn tiểu thuyết, trong đó có 4 cuốn viết về đề tài dân tộc và miền núi Tiểu thuyết viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy có một vẻ đẹp riêng khó lẫn, với một thế giới nghệ thuật phong phú, giàu sức ám ảnh người đọc Nghiên cứu theo hướng thi pháp học sẽ giúp chúng ta nhìn sâu hơn vào những vấn đề về hình thức của tác phẩm, từ đó phát hiện

ra nét riêng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, chiều sâu của nội dung hiện thực và

vẻ đẹp thẩm mỹ của tác phẩm văn học Đó là lí do khiến chúng tôi chọn đề tài nghiên

cứu cho luận văn của mình là: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Bích

Thúy, nhưng chỉ xin được giới hạn nghiên cứu sâu vào một vùng thẩm mỹ nghệ thuật

đặc sắc nhất trong tiểu thuyết của nhà văn là những trang văn viết về miền núi Với công trình nghiên cứu chuyên sâu này, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm một tiếng nói mới, từ một góc nhìn mới để khẳng định tài năng và phong cách riêng của Đỗ Bích Thúy ở thể loại tự sự cỡ lớn đối với mảng sáng tác về đề tài dân tộc và miền núi - một mảng sáng tác mà chị đã dành nhiều tâm huyết và đã gặt hái được nhiều thành công

Trang 8

Đỗ BíchThúy-“Người đàn bà viết văn bước ra từ dòng Nho Quế” Nhà thơ Trần Đăng Khoa từng đánh giá:“Tôi không ngại khi khẳng định rằng, Đỗ Bích Thúy là một

trong những nhà văn nữ xuất sắc nhất hiện nay” Tác giả Nguyễn Hòa viết: “Trong vài năm trở lại đây, số các cây bút trẻ viết về đề tài dân tộc và miền núi không nhiều

và Đỗ Bích Thúy là một người thành công trong số ít đó”[18] Tuy nhiên, phần lớn

các bài viết và công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung vào truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tiểu thuyết của chị chưa phải là mảng sáng tác được quan tâm nhiều, nhưng cũng đã có một số bài viết, công trình đề cập đến tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy

2.1 Những bài báo, công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy nói chung

Theo khảo sát của chúng tôi, rất hiếm có bài báo, công trình nào tập trung nghiên cứu về toàn bộ tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy Phần lớn các ý kiến đều nằm trong những bài viết về cảm nhận, nghiên cứu, phân tích từng tiểu thuyết của nhà

văn.Xin điểm lược một số bài viết tiêu biểuvề từng tác phẩm:

Với tiểu thuyết Bóng của cây sồi có bài viết của Nguyễn Hoàng Linh Giang:

“Đỗ Bích Thúy và tiểu thuyết Bóng của cây sồi”, cand.com.vn; Nguyễn Thị Thu Hiền:

“Đọc tiểu thuyết Bóng của cây sồi của Đỗ Bích Thuý”, http://vănchuong.org.vn; Nguyễn Hữu Quý: “Đọc tiểu thuyết đầu tay Bóng của cây sồi của Đỗ Bích Thúy”, Tạp chí

Văn nghệ Quân đội

Tiểu thuyết Cánh chim kiêu hãnh của Đỗ Bích Thúy ra đời sau 10 năm thai

nghén cũng thu hút được sự chú ý của các nhà phê bình như: Thiện Nguyễn với bài

“Cánh chim kiêu hãnh - Tiểu thuyết mới của Đỗ Bích Thuý”, phongdiep.net; Nguyễn Văn Thọ có bài viết:“Câu chuyện về tình yêu và cái chết”(in ở cuối tiểu thuyết Cánh chim kiêu hãnh); Lãng Ma với bài: Đỗ Bích Thúy & “Cánh chim kiêu hãnh”: Tinh

khôi đến…chói mắt, Thể thao & Văn hóa

Tiểu thuyết Cửa hiệu giặt là, cuốn tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất (đến nay)

của Đỗ Bích Thúy viết về Hà Nội có các bài điểm sách như: Hiền Đỗ: “Cửa hiệu giặt là- Bức tranh về Hà Nội bằng văn xuôi”, giaitri.vnexpress.net; Phan Nhân: “Nữ

nhà văn miền núi với tình yêu Hà Nội rất riêng”, nhavantre.com.vn; Dương Tử

Trang 9

Thành: “Cửa hiệu giặt là - Cuốn hộ khẩu thành phố của Đỗ Bích Thuý”,

vannghequandoi.com.vn

Chúa đất - cuốn tiểu thuyết ra đời chỉ sau 17 ngày Đỗ Bích Thúy dốc toàn

tâm lực đã tạo nên một hiện tượng văn học và nhận được nhiều ý kiến bàn luận sôi

nổi Tiêu biểu có thể kể đến bài viết của Đào Thủy Nguyên: “Chúa đất và những

thân phận người phụ nữ”, Tạp chí Lí luận và phê bình văn học; Nguyệt Hà: “Chúa

đất, tình yêu không thể dùng sức mạnh để cương tỏa”, vannghequandoi.com.vn; Hoàng Nhung (2015): “Bản ngã con người ám ảnh trong Chúa đất, www.danang.vn; Tuyết Loan: “Chúa đất của Đỗ Bích Thúy đủ giầu hình ảnh để lên phim”, Báo nhân dân điện tử; Lam Thu: “Đỗ Bích Thúy quay lại đề tài vùng cao với Chúa đất”,

vannghequandoi.com.vn;

Mới nhất, tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu ra đời năm 2017 vẫn là một

điểm nhấn của nghệ thuật tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy Tác phẩm nhanh chóng thu

hút được sự quan tâm của độc giả Tiêu biểu là: Nguyễn Văn Toàn với bài “Lặng yên dưới vực sâu - bi kịch hôn nhân không tình yêu”, htt://cinet.vn/doisongvanhoc; Thi Dân với “Những sự thật lặng người phản chiếu qua tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu” https://sachnhanam.com; Tạ Hồng Hạnh với “Lặng yên dưới vực sâu, điệu khèn u sầu của

những con người khao khát yêu thương nhân bản” htt:// cinet.vn/doisongvanhoc

Nhìn chung, các bài viết đã đánh giá trên nét lớn những vấn đề cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy, đồng thời ghi nhận những nỗ lực, thành công, đóng góp và cả hạn chế của nhà văn ở các tác phẩm Tuy nhiên, các ý kiến còn tản mạn vì chủ yếu được viết theo kiểu điểm sách

2.2 Những bài báo, công trình nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết viết

về miền núi của Đỗ Bích Thúy

Theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện đã có một công trình nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy nói chung Đó là luận văn thạc sĩ của tác

giả Nguyễn Thị Thu Hà, Đại học Sư phạm Huế, năm 2015: Thế giới nghệ thuật tiểu

thuyết Đỗ Bích Thúy Tuy nhiên qua khảo sát tài liệu cụ thể, chúng tôi nhận thấy, luận

văn này mới chỉ nghiên cứu 3 trong số 5 cuốn tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy là Bóng của cây sồi, Cánh chim kiêu hãnh và Cửa hiệu giặt là, và không nghiên cứu thế

giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn theo hướng thi pháp học như công trình nghiên cứu của chúng tôi, mà khai thác thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy trên các phương diện:

- Chương 1: Những vùng thẩm mỹ trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy

Trang 10

- Chương 2: Hiện thực đời sống và con người trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy

- Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy

Tuy nhiên, công trình cũng đã bước đầu có những kiến giải riêng về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy Do vậy, luận văn này vẫn là một tài liệu tham khảo thiết thực khi chúng tôi nghiên cứu đề tài luận văn của mình

Bên cạnh công trình nêu trên, cũng có một số bài viết đề cập đến các yếu tố trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy Nhìn chung, các nhà nghiên cứu phê bình đã chỉ ra một số vấn đề nổi bật khi đi vào thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy

Về nhân vật, các ý kiến đều khẳng định: Nhân vật quen thuộc trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy là những người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở nơi địa đầu Tổ quốc

Họ có những số phận riêng với những nỗi niềm riêng Song phần lớn nhân vật của Đỗ Bích Thúy là những người phụ nữ miền núi với cuộc đời bất hạnh, nhiều trắc trở

Bạch Tử trong Lạc Hoa Viên có nhận định khái quát: “Những tác phẩm của

nhà văn Đỗ Bích Thúy nói nhiều về các dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, người Tày, Dao, Mông”[75]

Nhìn chung về thế giới nhân vật của Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Hữu Quý cho rằng, cái còn lại sau khi tiếp xúc với nhân vật của nhà văn này chính là những bài học

về cuộc sống: “Mỗi nhân vật trong tác phẩm đều có những mảnh đời riêng và có giá

trị, mang tính thời sự mỗi nhân vật được nén trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau để rồi neo lại cho người đọc những gì cần cho cuộc sống”[73]

Nguyễn Thị Thu Hà nhận thấy niềm trăn trở, day dứt trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy chính là thân phận người phụ nữ rẻo cao với triền miên nỗi đau nói một lần

chưa hết: “Bước vào thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy, chúng ta có thể bắt

gặp nhiều nhân vật với số phận khác nhau song phần đông là những người phụ nữ với nỗi đau nói một lần chưa thể hết“[14]

Tác giả Đào Thủy Nguyên sau khi phân tích một loạt nhân vật phụ nữ với

những tính cách và số phận khác nhau trong tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy

đã khẳng định: “Dù ở không gian sống nào, quay vào bên trong hay hướng ra bên

ngoài, dấu diếm, lén lút kiếm tìm hay trực diện đối mặt với những thách thức của số phận, họ cũng khó có thể đạt đến hạnh phúc lứa đôi bình dị của con người“[29]

Về không gian nghệ thuật, các nhà nghiên cứu nhận thấy: Vùng thẩm mĩ khơi nguồn cảm hứng nghệ thuật của Đỗ Bích Thuý chính là vùng đất địa linh Hà Giang - nơi gắn bó máu thịt của chị - với những đặc điểm riêng về thiên nhiên, văn hóa, xã hội,

Trang 11

gia đình Nhìn chung, cácbài viếtđã ghi nhận sự khám phá, sự am hiểu và sự thể hiện vô cùng linh hoạt không gian văn hóa miền núi trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy

Bạch Tử trong Lạc Hoa Viên nhận xét:“…Truyện của chị Thúy luôn lạ ở mặt

bối cảnh, luôn cho người đọc cảm nhận một không gian văn hóa núi rừng thật khác biệt Đại ngàn hùng vĩ tuyệt đẹp mà cũng lắm hiểm nguy”[75 ]

Nhà nghiên cứu Lê Thành Nghị với cảm nhận tinh tế của mình đã phát hiện

được thần thái riêng trong văn Đỗ Bích Thúy: “Chúng ta sẽ bước vào một không gian

lạ, không gian có núi cao, trời rộng của vùng núi phía Bắc, nơi từ đó nhìn xuống, dòng sông Nho Quế chỉ còn bé như sợi chỉ dưới chân núi Mã Pí Lèng”[26]

Nhà văn Trung Trung Đỉnh nhận thấy cái hồn trong những trang viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy bởi sự đồng điệu giữa nhà văn với nhân vật của mình giúp

người đọc cảm nhận không gian văn hóa miền núi chân thật và sống động:“Cuộc

sống và tình yêu của họ được tác giả là người trong cuộc cùng chia sẻ, tạo cho người đọc cùng ùa vào sống chung một không gian văn hoá Mông hết sức đáng yêu, hết sức gần gũi, thân thuộc”[11]

Bàn về thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Thị Thu Hà có những phát hiện tương đối cụ thể.Tác giả cũng khẳng định vai trò của yếu

tố thời gian nghệ thuật trong việc chuyển tải các giá trị nội dung và thể hiện nét riêng

trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy: “Có thể nói cảm thức về thời gian nghệ thuật đã

gây cảm hứng, cảm xúc mãnh liệt trong suối nguồn sáng tác của Đỗ Bích Thúy Chính vùng nghệ thuật này góp phần tạo nên thế giới hình tượng nghệ thuật phong phú, đa dạng trong các tác phẩm và tự thân đã góp phần quan trọng tạo nên tư tưởng nghệ thuật và phong cách Đỗ Bích Thúy”[14]

Bùi Việt Thắng trong Bốn đoản khúc về "Chúa đất"đã khẳng định trí tưởng

tượng phong phú và sự sáng tạo tài tình của Đỗ Bích Thúy về thời gian nghệ thuật

trong tác phẩm:“Một truyền thuyết cách nay 200 năm được phục dựng bằng ngôn từ

tiểu thuyết trong một hình hài sinh động Nhờ trí tưởng tượng phong phú và mãnh liệt mà Đỗ Bích Thúy đã "dịch chuyển" được truyền thuyết vào thực tại, kéo thời gian

từ xa đến gần, biến cái vô hình thành hữu hình”[77]

Nhận xét về văn phong, ngôn ngữ của Đỗ Bích Thúy, nhà văn Võ Thị Xuân

Hà phát biểu trong lễ ra mắt Bóng của cây sồi: "Dù viết chuyện vui hay buồn, Thúy

vẫn giữ giọng văn trong sáng Trong khi các nhà văn trẻ đang đào sâu vào đời sống

đô thị với những bi kịch tình tiền, văn phong tràn lan ngôn ngữ thời @, thì Thúy vẫn không nao núng mà giữ giọng văn dung dị cho mình Nền văn học Việt Nam có thể tiếp tục dòng chảy riêng bởi có những người như Đỗ Bích Thúy" Cảo

Trang 12

Thơm/VOVonlincũng nhận xét: “Văn của Đỗ Bích Thúy dễ đọc, trong sáng, giản dị,

giàu xúc cảm Miêu tả thiên nhiên và đời sống văn hóa bản địa một cách hấp dẫn vốn

là thế mạnh của chị”[78]

Khúc Thị Hoa Phượng quan tâm đến vẻ đẹp của ngôn ngữ, hình ảnh trong tiểu

thuyết Đỗ Bích Thúy Chị trích dẫn đoạn văn trong Chúa đất: “Trong gió có tiếng

của những đám mây bồng bềnh nhẹ bỗng, quệt khẽ vào nhau Trong gió có tiếng những cánh hoa tách khỏi nụ, bừng lên màu sắc rực rỡ, tỏa ra hương thơm làm hồn người lâng lâng như say”[dẫn theo 72], để phân tích và khẳng định: văn của Đỗ Bích

Thúy dẫn dụ và mê hoặc lòng người bao năm nay…

Qua việc khảo sát những bài viết, công trình nghiên cứu hiện có, chúng tôi nhận thấy, các yếu tố của thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về miền núi của

Đỗ Bích Thúy như thế giới nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu…đã được các tác giả quan tâm, lưu ý Tuy nhiên, những ý kiến

đó mới được đề cập một cách tản mạn, rải rác và chưa thật chuyên sâu Đặc biệt hai cuốn tiểu thuyết viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy mới xuất bản gần đây nhất là

Chúa đất và Lặng yên dưới vực sâu chưa được nghiên cứu nhiều, các ý kiến mới

chỉ dừng lại ở giới hạn các bài báo giới thiệu điểm qua về nội dung và nghệ thuật Trong khi đó, theo chúng tôi, nếu đặt hai cuốn tiểu thuyết mới này trong mảng tiểu thuyết viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy, ta sẽ nhận ra một thế giới nghệ thuật với những đặc trưng riêng mang cá tính và phong cách của nhà văn để có cơ sở đánh giá về văn chương của Đỗ Bích Thúy một cách toàn diện và sâu sắc hơn Đến thời điểm hiện tại, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách đầy đủ, sâu sắc, có hệ thống về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết về miền núi của Đỗ Bích Thúy theo hướng nghiên cứu thi pháp học Vì thế, chúng tôi sẽ nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ thống và đầy đủ với cả 4 cuốn tiểu thuyết viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy Hi vọng rằng luận văn của chúng tôi sẽ góp một tiếng nói khẳng định phong cách và vị trí riêng của Đỗ Bích Thúy trong nền văn học Việt Nam đương đại ở thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết viết về miền núi nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Lựa chọn đề tài này, người viết mong muốn góp phần làm sáng tỏ thế giới

nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Bích Thúy với những nét riêng, những

thành công và hạn chế khi viết về đề tài dân tộc và miền núi Qua đó góp thêm một góc nhìn mới, sâu sắc và toàn diện hơn về sáng tác của nhà văn

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của luận văn là:

- Nghiên cứu những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài

- Làm rõ những nét đặc sắc về về thế giới nghệ thuật trong các tiểu thuyết viết

về miền núi của Đỗ Bích Thúy ở các phương diện: thế giới nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật Từ đó có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về sáng tác nói chung và tiểu thuyết viết về miền núi nói riêng của nữ nhà văn

- Góp phần làm rõ nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Đỗ Bích Thúy và khẳng định vị trí của nhà văn trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, người viết không nghiên cứu toàn bộ các vấn đề trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúymà chỉ tập trung nghiên cứu một số phương diện cơ bản trong Thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết viết về miền núi của nhà văn Đó là: thế giới nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật

4.2 Phạm vi tài liệu nghiên cứu

Phạm vi tài liệu nghiên cứu của luận văn là những tiểu thuyết viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy, gồm 4 tác phẩm:

Bóng của cây sồi (2013) - NXB Thanh niên, TP Hồ Chí Minh

Cánh chim kiêu hãnh (2014) - NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh

Chúa đất (2015) - NXB Phụ nữ, Hà Nội

Lặng yên dưới vực sâu (2017) - NXB Hội Nhà văn

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ

bản sau:

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại trên

từng phương diện để tìm ra những đặc điểm chung của thế giới nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật của tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy viết về miền núi

5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dựa trên kết quả của việc thống kê, phân

loại, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể và toàn diện nhằm đưa ra những nhận xét, đánh giá, khái quát thành những luận điểm khoa học

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đặt đối tượng nghiên cứu trong mối

tương quan so sánh với các tác giả, tác phẩm khác cùng thể loại, cùng đề tài để

Trang 14

thấy sự giống nhau và khác nhau trong phong cách nghệ thuật của các nhà văn, qua

đó chỉ ra những đặc trưng riêng, độc đáo của thế giới nghệ thuật tiểu thuyết viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy

5.4 Thi pháp học: Cùng với các phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi sẽ vận

dụng lý thuyết thi pháp học để nhận diện và khám phá thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy

6 Đóng góp mới của luận văn

- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu từ góc nhìn thi pháp học về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về đề tài dân tộc và miền núi của Đỗ Bích Thúy Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp thêm một góc nhìn mới, toàn diện và sâu sắc hơn về tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy; góp phần khẳng định nét riêng trong thế giới nghệ thuật của nhà văn và khẳng định vị trí của nhà văn trong trong dòng văn học nữ nói riêng, trong dòng văn học nước nhà nói chung

- Luận văn được hoàn thành sẽ góp thêm một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu về sáng tác của Đỗ Bích Thúy viết về miền núi nói riêng và về tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói chung

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn

được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài

Chương 2: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy

Chương 3: Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về miền núi của

Đỗ Bích Thúy

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài

1.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật

Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của hình thức văn học Văn bản ngôn từ xét về một mặt chỉ là biểu hiện của hình thức bề ngoài của tác phẩm Tác phẩm trọn vẹn xuất hiện như một thế giới nghệ thuật, một khách thể thẩm mĩ Có thể hiểu thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người; là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ chỉ có trong tác phẩm văn học nói riêng và trong tác phẩm nghệ thuật nói chung, trong cảm thụ của người tiếp nhận, ngoài ra không tìm thấy ở bất cứ đâu Tuy nhiên, việc xác định một khái niệm thế giới nghệ thuật như thế nào thì chưa có ý

kiến thống nhất Nhà văn Sđrin cho rằng: “ Tác phẩm văn học là một vũ trụ thu nhỏ,

mỗi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới khép kín trong bản thân nó” Nhà văn Nga

Bêlinxki cũng có nhận xét: “ Mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một theess giới riêng

mà khi đi vào nó ta buộc phải sống theo các quy luật của nó, hít thở không khí của nó” Ở Việt Nam, khái niệm này xuất hiện vào những năm 80 Năm 1985, trong luận

án tiến sĩ khoa học Sự hình thành và những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội trong Văn học Việt Nam hiện đại tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng đã đưa ra khái niệm

thế giới nghệ thuật như sau: “ thế giới nghệ thuật là một phạm trù Mỹ học bao gồm

tất cả các yêu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó là một chỉnh thể nghệ thuật là một giá trị thẩm

mỹ Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực – đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật…”( T 48,86 ) Đây là một khái niệm khá rộng, được triển

khai ở nhiều cấp độ để còn dừng lại ở mức khái quát Song quan điểm này đã là những tiền đề hết sức quý báu cho chúng tôi trong quá trình triển khai luận văn

Năm 1992, trong Từ điển thuật ngữ văn học, nhóm tác gỉa Lê Bá Hãn -

Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa:” Thế giới nghệ thuật là khái niệm

chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật ( một tác phẩm, một loại hình tác phẩm

Trang 16

một cách giản một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo nguyên tắc riêng tư tưởng nghệ thuật… Thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đóa về tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ…(16,25) Thế giới nghệ thuật có thời gian, không gian riêng có quy luật tâm

lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng… Chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tạo của người nghệ sĩ” ( T5,303)

Theo chúng tôi, thế giới nghệ thuật bao gồm toàn bộ những yếu tố thuộc về ngôn ngữ, kết cấu, thời gian, không gian, nhân vật Được các tác giả sử dụng có chủ đích nhằm thể hiện nội dung tư tưởng, tình cảm của mình đối với hiện thực cuộc sống Thế giới nghệ thuật có thể tồn tại trong các tác phẩm của một nhà văn, tạo nên một tiếng nói nghệ thuật, một phong cách nghệ thuật riêng của nhà văn Dựa vào những quan điểm, khái niệm nêu trên về Thế giới nghệ thuật, chúng tôi nghiên cứu sâu Thế giới nghệ thuật trong bốn tiểu thuyết miền núi của Đỗ Bích Thúy: Bóng của cây sồi; Cánh

chin kiêu hãnh; Chúa đất và Lặng yên dưới vực trên những phương diện sau: Thế

giới nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật

1.1.2 Các yếu tố trong thế giới nghệ thuật

1.1.2.1 Thế giới nhân vật

1.1.2.1.1 Khái niệm thế giới nhân vật

Văn học tiến bộ của nhân loại luôn coi “Văn học là nhân học” Một nền

văn học thực sự có giá trị khi đối tượng chung nó là cuộc đời Và trong đó, con người luôn là vị trí trung tâm Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người

được nhà văn thể hiện

Trong bất cứ một thể loại văn học nào, nhân vật giữ vai trò trung tâm trong thế giới nghệ thuật của nhà văn Đó là nơi hội tụ tài năng, phẩm chất văn học của các tác giả Đồng thời, nhân vật là nơi được kí gửi những tầm cao trong tư tưởng, tình cảm của tác phẩm văn học, mà các tác giả muốn gửi gắm đến cuộc đời, đến người đọc Điều đó cho thấy, nhân vật không chỉ là nơi hội tụ tư tưởng chủ đề của tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị nghệ thuật của tác phẩm Việc xây dựng thế giới nhân vật quyết định sự thành bại của một đời văn, của một tác phẩm văn học Có

Trang 17

lẽ đó cũng là lí do khiến nhà văn Tô Hoài cho rằng:“ Nhân vật là nơi duy nhất tập

trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”

Theo Từ điển thuật ngữ Văn học:" Nhân vật là con người cụ thể được miêu tả

trong tác phẩm văn học…Nhân vật văn học có thể có tên riêng như Tấm, Cám, anh Pha, chị Dậu; cũng có thể không có tên riêng như “ một mụ nào”, “ thằng bán tơ” trong Truyện Kiều” ( T 202 )

Tóm lại , nhân vật trong tác phẩm văn học là những con người, hay những sự

vật mang cốt cách con người được xây dựng bằng các phương diện của nghệ thuật ngôn từ Qua đó chuyển tải những thông điệp của nhà văn tới cuộc đời

Trong tất cả các thể loại văn học, nhân vật có một vị trí đặc biệt quan trọng Nhất là với tiểu thuyết, nhân vật là một trong yếu tố nghệ thuật góp phần làm nên sự

sống còn của tác phẩm cũng như tên tuổi của nhà văn Bởi lẽ “ Tiểu thuyết là tác

phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ảnh ánh hiện thực tất cả mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”( 16, 277)

Khảo sát toàn bộ tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, chúng tôi nhận thấy thế gới nhân vật vô cùng phong phú và đa dạng Mỗi một nhân vật là một vùng cảm hứng nghệ thuật khác nhau, góp phần không nhỏ vào việc xác lập phong cách nghệ thuật của nhà văn

1.1.2.1.1 Phân loại thế giới nhân vật

Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng Những nhân vật được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại Tuy nhiên, xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả , có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau Ðể nắm bắt được thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, có thể tiến hành phân loại chúng ở nhiều góc độ khác nhau

* Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật

Có thể nói đến các loại nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực)

Trang 18

Nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong

xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những

phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một dân tộc, một thời đại, mang những mầm mống lí tưởng trong cuộc sống có thể được coi là nhân vật lí tưởng Ơí đây, cũng cần phân biệt nhân vật lí tưởng với nhân vật lí tưởng hóa Loại nhân vật sau là loại nhân vật được tô hồng, hoàn toàn theo chủ quan của nhà văn Ơí đây, nhà văn đã vi phạm tính chân thực của sự thể hiện

Nhân vật phản diện là nhân vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái

ác, cái lạc hậu, phản động, cần bị lên án

tư tưởng và tình điệu thẩm mĩ Trừ một hoặc một số nhân vật chính, những nhân vật

còn lại đều là những nhân vật phụ ở các cấp độ khác nhau Nhân vật phụ phải góp

phần hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính Có nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác tạo nên một bức tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh

Có thể phân thành các loại: nhân vật, tính cách, điển hình

- Nhân vật là những con người nói chung được miêu tả trong tác phẩm Ở

đây, nhà văn có thể chỉ mới nêu lên một vài chi tiết về ngôn ngữ, cử chỉ, hành

động cũng có thể miêu tả kĩ và đậm nét

Trang 19

- Tính cách là nhân vật được khắc họa với một chiều sâu bên trong Nó như một điểm qui tụ mà từ đó có thể giải thích được mọi biểu hiện muôn màu, muôn vẻ

sinh động bên ngoài của nhân vật

- Ðiển hình là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cá thể Nói một cách nghiêm ngặt, thuật

ngữ này chỉ được áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau

Ngoài những loại nhân vật được trình bày, có thể nêu lên một số khái niệm khác

về nhân vật qua các trào lưu văn học khác nhau chẳng hạn, khái niệm nhân vật bé nhỏ trong văn học hiện thực phê phán, khái niệm nhân vật-con vật người trong chủ nghĩa tự nhiên, nhân vật-phi nhân vật trong các trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa ở phương Tây

MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT

Ðây là vấn đề liên quan trực tiếp đến những biện pháp xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học Có nhiều biện pháp khác nhau trong việc xây dựng nhân vật Ở đây chỉ xét một số biện pháp chung, chủ yếu nhất: miêu tả nhân vật qua ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ và hành động

Miêu tả nhân vật qua ngoại hình

Ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật bao gồm y phục, cử chỉ, tác phong, diện mạo Ðây là yếu tố quan trọng góp phần cá tính hóa nhân vật Khi xây dựng ngoại hình nhân vật, nhà văn cần thể hiện những nét riêng biệt, cụ thể của nhân vật nhưng qua đó, người đọc có thể nắm bắt được những đặc điểm chung của những người cùng nghề nghiệp, tầng lớp, thời đại Những nhân vật thành công trong văn học từ xưa đến nay cho thấy nhà văn bao giờ cũng chọn lựa công phu những nét tiêu biểu nhất để khắc họa nhân vật

Miêu tả nhân vật qua biểu hiện nội tâm

Khái niệm nội tâm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện thuộc cuộc sống bên trong của nhân vật Ðó là những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm lí của nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nó gặp phải trong cuộc đời Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, việc thể hiện nhân vật qua nội tâm ngày càng có vai trò quan trọng

Trang 20

Miêu tả nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật

Khái niệm ngôn ngữ nhân vật nhằm chỉ những lời nói của nhân vật trong tác phẩm Lời nói đó phản ánh kinh nghiệm sống cá nhân, trình độ văn hóa, tư tưởng, tâm lí, thị hiếu

Miêu tả nhân vật qua hành động

Hành động nhân vật là khái niệm nhằm chỉ các việc làm của nhân vật Hơn nữa, trong các tác phẩm tự sự, tính cách nhân vật không phải ngay từ đầu đã được hình thành trọn vẹn Chính hành động có tác dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính cách

và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt truyện

Việc phân biệt các biện pháp xây dựng nhân vật như trên chỉ có tính chất tương đối Trong thực tế, các biện pháp này nhiều khi không tách rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau Vì vậy, nhiều khi rất khó chỉ ra các biện pháp xây dựng nhân vật dưới một hình thức thuần túy và độc lập Một điều cũng cần lưu ý là, nắm bắt các biện pháp trên đây cũng chỉ là nhằm mục đích hiểu một cách đầy đủ và chính xác về nhân vật trong tác phẩm văn học

Dựa vào những tiêu chí phân loại nhân vật và đặc điểm sáng tác của Đỗ Bích Thúy, chúng tôi chia thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của chị thành các kiểu loại sau:

- Nhân vật có số phận éo le, bất hạnh

- Nhân vật cam chịu

- Nhân vật bản lĩnh, dám đấu tranh để đạt đến khát vọng sống

1.1.2.2 Không gian nghệ thuật

a) Khái niệm không gian nghệ thuật

Giáo sư Trần Đình Sử quan niệm:“Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và

con người thì thời gian, không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người”[36] Mọi sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ tọa độ không -

thời gian xác định, nên những cảm nhận của con người về thế giới đều bắt đầu từ sự đổi thay của không gian, thời gian Và từ sự đổi thay của không gian - thời gian, con người nhận ra sự đổi thay trong chính mình

Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao thì:“Thời gian

và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ

Trang 21

thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật”[23]

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả cho rằng:“Không gian

nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” [16, tr.162] Khái niệm về không gian nghệ thuật này được coi là một cách

hiểu cơ bản và khái quát nhất

Tóm lại, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật Không gian nghệ không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật.Vì vậy không thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại

b) Phân loại không gian nghệ thuật

Như ở trên đã trình bày, bao phủ lên không gian nghệ thuật là quan niệm của nhà văn.Điều đó mới làm cho không gian vật chất trở thành không gian nghệ thuật

Mà quan niệm của nhà văn lại luôn biến đổi theo thời đại Vì vậy mà việc tổ chức không gian nghệ thuật trong tác phẩm luôn chịu sự chi phối và tác động trực tiếp từ quan niệm thời đại và yếu tố thể loại

* Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian: Đặc điểm chung của

không gian nghệ thuật trong những sáng tác dân gian là mô hình ba giới, ba tầng, ba cõi: Thượng giới, trần gian và địa ngục với thần linh, người, ma quỷ Ở đó, con người

có thể tự do đi lại trong ba cõi mà ít gặp sự trở ngại nào

* Không gian nghệ thuật trong văn học viết trung đại Nét chung của

không gian nghệ thuật là không gian vũ trụ gắn liền với tính bất biến của không gian Không gian vũ trụ được tạo thành bởi nhật, nguyệt, mây, sao, sông, núi, chim, muông, cây cỏ…Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ, tượng trưng cho thế giới,

nó có tính gợi nhiều hơn tả

* Không gian nghệ thuật trong văn học hiện đại: Bên cạnh việc kế thừa các

kiểu không gian nghệ thuật trên, ở giai đoạn này, không gian nghệ thuật đa dạng và phong phú hơn, gần với cuộc sống của con người hơn Đó là toàn bộ đời sống xã hội - không gian của con người phải vật lộn với cuộc sống đầy sóng gió Văn học trong thời đại này đã đi sâu phản ánh cuộc sống, số phận của từng cá nhân Vì vậy không

gian văn học mang đậm dấu ấn cá nhân và được cá thể hóa

Theo tác giả Nguyễn Thái Hòa, không gian nghệ thuật được chia thành 4 tiểu

loại: “Không gian bối cảnh, không gian sự kiện, không gian tâm lí và không gian kể

Trang 22

chuyện”[18, tr.88] Không gian bối cảnh là không gian bao trùm toàn bộ tác

phẩm.Nói cách khác đó chính là môi trường, là hoàn cảnh chi phối tất cả các nhân vật, sự kiện của tác phẩm văn học Trong đó, không gian bối cảnh được chia thành: không gian bối cảnh thiên nhiên và không gian bối cảnh xã hội Ngoài ra, không gian nghệ thuật còn được chia thành: không gian bên trong và không gian bên ngoài Bên trong thì phi thời gian, không biến đổi, trừ phi thảm họa làm nó hủy diệt Không gian bên ngoài thì thay đổi vô thường ngẫu nhiên Hoặc phân biệt giữa không gian hành động và không gian phi hành động

Tuy nhiên, tất cả các cách phân loại trên đều mang tính tương đối.Tùy vào mục đích nghiên cứu, cách nhìn nhận riêng chúng ta có thể tìm hiểu không gian nghệ thuật ở các phương diện và góc độ khác nhau.Chúng tôi nhận thấy có thể dựa vào tính chất không gian dưới góc nhìn mảng khối, chiều kích và văn hóa để phân chia và tìm hiểu các kiểu không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học

Tóm lại, không gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm.Không gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp học, là phương tiện chiếm lĩnh đời sống, là mô hình nghệ thuật về cuộc sống Không gian nghệ thuật góp phần thể hiện quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn

1.1.2.3 Thời gian nghệ thuật

a) Khái niệm thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật là nhân tố nằm trong mạng lưới nghệ thuật của tác phẩm văn học, là một phạm trù thuộc về thi pháp tác phẩm Đây vừa là một hình thức hiện hữu vừa là một hình thức tư duy của con người được diễn đạt bằng ngôn từ trong quá trình miêu tả tính cách, hoàn cảnh, đường đời của nhân vật

Hoàng Trung Thông trong Nhà văn bên dòng Tô Lịch - Báo Văn nghệ số 5

cho rằng: “Thời gian nghệ thuật là thời gian người ta có thể đo được trong tác phẩm

nghệ thuật với độ dài của nó, với nhịp điệu nhanh hay chậm, với chiều dài là quá khứ, hiện tại hay tương lai”

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thời gian nghệ thuật là: “Hình thức nội tại

của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó.Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ

Trang 23

một điểm nhìn nhất định trong thế giới Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật Sự phối hợp của hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật””[16, tr.62]

Như vậy, thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong của hiện tượng nghệ thuật Khi nào ngòi bút nghệ sĩ chạy theo diễn biến sự kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nào dừng lại miêu tả chi tiết thì thời gian chậm lại Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới Có thời gian nghệ thuật không tách rời với chuỗi biến cố cốt truyện như cổ tích, có thời gian nghệ thuật xây dựng trên dòng tâm trạng và ý thức như tiểu thuyết, có tác phẩm dừng lại chủ yếu trong quá khứ, khép kín trong tương lai, có thời gian nghệ thuật “trôi” trong các diễn biến sinh hoạt, có thời gian nghệ thuật gắn với các vận động của thời đại, lịch sử, lại có thời gian nghệ thuật có tính “vĩnh viễn”, đứng ngoài thời gian như thần thoại Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kì lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thực hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới Trong thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật xuất hiện như một hệ quy chiếu để miêu tả đời sống trong tác phẩm, nó cho thấy đặc điểm tư duy của tác giả Gắn với phương thức, phương tiện thực hiện, mỗi thể loại văn học có kiểu thời gian nghệ thuật riêng Phạm trù thời gian nghệ thuật cung cấp một cơ sở để phân tích cấu trúc bên trong của hiện tượng văn học, cũng như nghiên cứu loại hình, các hiện tượng nghệ thuật trong lịch sử

b) Phân loại thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật tự bản thân nó đã là “một hiện tượng ước lệ trong thế

giới nghệ thuật”, một phạm trù trừu tượng trong thế giới nghệ thuật, có thể nhận biết

qua sự vận động, biến đổi của chuỗi các hiện tượng, sự kiện Là một hiện tượng ước

lệ, cho nên thời gian nghệ thuật cũng rất khó xác định

Có thể phân chia thời gian nghệ thuật thành nhiều loại khác nhau dựa trên tiêu

chí khác nhau Nhà nghiên cứu văn học Nga Bakhtin trong Lí luận và thi pháp tiểu thuyết đã phân chia thời gian nghệ thuật thành bốn tiểu loại: thời gian phiêu lưu, thời

gian cổ tích, thời gian tiểu sử, thời gian lịch sử”[24]

Giáo sư Trần Đình Sử trong Dẫn luận thi pháp học lại chia thời gian nghệ

thuật thành hai loại: thời gian được trần thuậtvà thời gian trần thuật Thời gian được trần thuật là thời gian của các sự kiện được miêu tả Bởi đó là thời gian được cảm nhận bằng tâm lí, qua chuỗi liên tục các biến đổi (biến cố) có ý nghĩa thẩm mĩ xảy ra

Trang 24

trong thế giới nghệ thuật Thời gian trần thuật không có nhịp độ riêng: nhanh, chậm hay ngừng trôi Vì vậy, thời gian trần thuật không đảo ngược chỉ có một thời gian ở hiện tại, là thời gian nhà văn bỏ ra kể một câu chuyện mà bản thân sự kể chuyện đã là một nghệ thuật Thời gian nghệ thuật đích thực là thời gian phối trí giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật

1.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy

1.2.1 Vài nét về cuộc đời và con người nhà văn Đỗ Bích Thúy

Nhà văn Đỗ Bích Thúy sinh ra và lớn lên tại Hà Giang, trong một gia đình giản

dị, yêu nước và giàu tình cảm Chị không phải “con nhà nòi” trong làng văn Gia đình chị người Nam Định Bố chị là lính lái xe, kéo pháo ở Điện Biên Phủ Sau chống Pháp ông chuyển sang lái xe chở gỗ cho các lâm trường Vì thế ông mới đưa cả gia đình từ Nam Định lên vùng cao sương lam chướng khí Hà Giang để lập nghiệp Sự thay đổi vô tình nhưng lại trở thành mối lương duyên cho hồn văn Đỗ Bích Thúy sau này

Quê cha ở xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, nhưng quê sinh của Đỗ Bích Thúy là mảnh đất Vị Xuyên - một huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang, một vùng văn hóa với những phong tục tập quán độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu số Chị đã gắn bó và yêu mảnh đất này với một tình yêu máu thịt Điều đó giải thích vì sao văn hóa vùng cao Hà Giang đã trở thành hơi thở, thành máu trong huyết quản và chảy dài trên trang văn của Bích Thúy từ khi chị bắt đầu chạm ngõ làng văn cho đến bây giờ và có lẽ nó sẽ còn chảy mãi cho đến khi nào chị dừng bút viết Phong tục tập quán miền núi trong văn của chị không chỉ đơn thuần là yếu tố kiến tạo nên những đặc trưng văn hóa mà còn can dự, tác động vào đời sống tinh thần và nhiều khi quyết định số phận của con người hay số phận nhân vật trong mỗi tác phẩm Thông qua sự phản ánh những phong tục tập quán trong tác phẩm của mình, chị giúp người đọc có thêm một góc nhìn mới về hiện thực miền núi hôm nay Đây chính là yếu tố làm nên nét riêng biệt của văn xuôi Đỗ Bích Thúy nói chung và tiểu thuyết của chị nói riêng

Tốt nghiệp trung cấp Tài chính - Kế toán, Đỗ Bích Thúy tưởng như sẽ an phận

là một kế toán hay phóng viên Báo Hà Giang Nhưng nhờ tình yêu nồng nàn với văn

chương, trải qua một quá trình miệt mài sáng tạo, Đỗ Bích Thúy đã khẳng định được bản lĩnh nghệ thuật trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Đỗ Bích Thuý sáng tác khá phong phú, đa dạng ở nhiều thể loại và đã đạt được những thành công đáng kể về

số lượng và chất lượng Trong đó, chiếm vị thế chủ yếu là truyện ngắn và tiểu thuyết Hai thể loại này đã giúp chị khẳng định được phong cách nghệ thuật và tên tuổi trong nền văn học Việt Nam đương đại

Trang 25

Đỗ Bích Thúy là một người có quan niệm về nghề văn rất rõ ràng: “Với nhà

văn, tôi quan niệm, quan trọng nhất là chọn được đề tài đúng sở trường Và miền núi chính là đề tài sở trường, đề tài “ruột” của tôi Còn mối thân tình với mảnh đất ruột thịt chính là nền tảng để tôi làm văn chương” Có lẽ cũng là một mối cơ duyên, Đỗ

Bích Thúy lựa chọn việc tiếp cận và phản ánh hiện thực ở mảng đề tài dân tộc và miền núi - một đề tài không mới nhưng lại là một mảnh đất màu mỡ cho mạch nguồn cảm xúc văn chương của chị thuận lợi phát triển Bởi lẽ, Hà Giang với chị là sự phức hợp của nhiều yếu tố cần và đủ để ngòi bút và tài năng của chị kết tụ, thăng hoa: Nó

vừa là một vùng văn hóa xứ sở độc đáo, vừa là mảnh đất linh thiêng mang tên“nơi

chôn rau cắt rốn”, là quê hương thứ hai đã nuôi nấng, bao bọc tuổi thơ và thanh xuân

của chị Nếu không đi ra từ Hà Giang sẽ không có một Đỗ Bích Thúy văn chương như hiện tại, sẽ là Đỗ Bích Thúy khác, hay hơn hay nhạt hơn theo lối khác, không gian khác, màu sắc khác Theo đấy, là khoảng trống những trang văn về miền núi phía Bắc đương đại sẽ rộng hơn

Ở thể loại truyện ngắn, ngòi bút Đỗ Bích Thúy dẫn dụ, mê hoặc người đọc với cách viết giản dị, không màu mè mà sâu sắc, giàu cảm xúc Chị bước vào làng văn

với truyện ngắn Chuỗi hạt cườm màu xám in trên báo Tiền Phong năm 1994 và đạt

giải thưởng Tác phẩm tuổi xanh năm đó Năm 1998-1999, Đỗ Bích Thúy đạt giải

nhất cuộc thi sáng tác truyện ngắn do tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức với 3 tác

phẩm: Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi, Ngải đắng ở trên núi Truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá đoạt giải B của Hội đồng nghệ thuật Hội Văn học

nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2006 Chính truyện ngắn này đã được đạo diễn Ngô Thanh Hải chuyển thể thành công sang tác phẩm điện ảnh đậm chất thơ

Chuyện của Pao - tác phẩm đoạt giải Cánh diều vàng năm 2005 của Hội Điện ảnh

Việt Nam

Tập Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (2005) gồm 21 truyện ngắn đặc sắc sử dụng

tấm phông nền của thiên nhiên Hà Giang vừa hùng vĩ, hoang sơ và bí hiểm vừa mộng, tràn trề sức sống để làm nền cho những câu chuyện về tình người, tình đời giản dị mà sâu sắc của Đỗ Bích Thúy

Tập Mèo đen (2011) gồm 6 truyện ngắn và 1 truyện dài vẽ tiếp sự thành công

của Đỗ Bích Thuý về đề tài dân tộc - miền núi Đó là câu chuyện xúc động, thẫm đẫm nhân tình về phận người vùng cao: những người phụ nữ chịu thương, chịu khó, hi sinh để vun vén cho gia đình và cả những người đàn ông thật thà, cao thượng…

Tập Đàn bà đẹp (2013) gồm 12 truyện ngắn, trong đó quá nửa kể về chuyện

tình của những người đàn bà Mông trên cao nguyên đá Hà Giang Âm hưởng chung

Trang 26

của tập truyện là nỗi buồn về cuộc đời âm thầm nhẫn nại, hi sinh của người phụ nữ miền cao hà văn bằng tấm lòng nhân hậu và những trăn trở về số phận người phụ nữ

đã khắc dựng những chuyện đời, chuyện người vùng cao để lại nhiều suy ngẫm trong lòng người đọc

Ngoài truyện ngắn, Đỗ Bích Thúy còn viết nhiều tản văn Tập tản văn Trên căn gác áp mái (2011) tập hợp 31 bài viết của Đỗ Bích Thúy thể hiện một cách nhìn

ẩn chứa sự suy ngẫm về nhiều vấn đề của cuộc sống Phong vị quê hương Hà Giang thấm đẫm trên từng trang viết Đọc tập tản văn này, người đọc cũng gặp một Đỗ Bích Thuý luôn suy tư, trăn trở, chiêm nghiệm về lẽ đời, phận người

Tập Đến độ hoa vàng (2013) gồm 33 tản văn là một lời tri ân sâu nặng mà Đỗ

Bích Thuý dành tặng cho thung lũng yêu thương đầy hoa dại của mình Với biệt tài quan sát tỉ mỉ, miêu tả tinh tế và một tâm hồn nhạy cảm, nhà văn đã dẫn lối, đón đưa người đọc về với thung lũng tràn ngập sắc hương của đại ngàn Tây Bắc

Với tình yêu dành cho thiếu nhi, Đỗ Bích Thuý đã cho ra mắt bạn đọc cuốn

sách có nhan đề Em Béo và hội Cầu vồng Tác phẩm chỉ gần trăm trang gồm những

mẩu chuyện nho nhỏ về hội Cầu vồng Các câu chuyện hiện lên rất sinh động với lối

kể dí dỏm và văn phong mộc mạc, chân chất của Đỗ Bích Thuý Vui có, buồn có, dở khóc dở cười cũng có nhưng điểm đặc biệt là tác phẩm “nói” bằng chính tâm hồn và lối suy nghĩ hồn nhiên của con trẻ

Đỗ Bích Thúy cũng thử sức trong lĩnh vực kịch bản sân khấu với vở Diễm 500 USD Tác phẩm này, khi công diễn đã được công chúng đón nhận và đánh giá cao

Cho đến nay, Đỗ Bích Thúy đã có 5 cuốn tiểu thuyết làm phong phú thêm gia tài văn chương của chị Mỗi cuốn tiểu thuyết khi ra đời đều gây được những ấn tượng trong lòng độc giả, ghi dấu sự trưởng thành trong phong cách nghệ thuật của nhà văn

Đó là:

- Tiểu thuyết Bóng của cây sồi(2005)

- Tiểu thuyết Cánh chim kiêu hãnh (2013)

- Tiểu thuyết Cửa hiệu giặt là (2014)

- Tiểu thuyết Chúa đất ( 2015)

- Tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu ( 2017)

Nhìn chung, trong quá trình sáng tác, Đỗ Bích Thúy đã có những sáng tạo trong việc xây dựng cốt truyện khá linh hoạt, các sự kiện được trần thuật lúc thì theo trật tự tuyến tính, theo mạch cảm xúc tâm lý; đôi lúc lại là sự đảo lộn về thời gian,

Trang 27

mang đến khả năng biểu đạt đa diện với cuộc sống Nhân vật trong sáng tác của chị được khắc họa ở ngoại hình, hành động, ở đối thoại, độc thoại để việc lý giải tâm lý bên trong của con người trở nên sinh động và đa dạng hơn

Cho đến nay gia tài văn học của chị đã có 17 cuốn sách, cuốn nào cũng đóng góp một tiếng nói riêng, có trọng lượng vào nền văn học đương đại của nước nhà nói chung và văn học dân tộc thiểu số nói riêng Những giải thưởng đáng kể chị đã đạt được: Giải nhất cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1999; Giải nhất tiểu thuyết của Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2013; Giải nhất văn học nghệ thuật Thủ đô năm 2014 vừa là những phần thưởng ghi nhận

sự nỗ lực bứt phá, vừa như một lời khẳng định hùng hồn về tài năng và tâm huyết

“một cây bút lấp lánh phận người chiết ra từ cao nguyên đá Hà Giang”

1.1.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy

19 tuổi Đỗ Bích Thúy mới bắt đầu xuất hiện trên trường văn trận bút, hơn

mười năm sau, Đỗ Bích Thúy xuất bản tiểu thuyết đầu tay Bóng của cây sồi (2005) và

cũng thai nghén bằng chừng ấy thời gian, chị mới cho ra đời bốn cuốn tiểu thuyết tiếp

theo: Cánh chim kiêu hãnh (2013), Cửa hiệu giặt là (2014), Chúa đất (2015) và Lặng yên dưới vực sâu (2017) Mỗi một cuốn tiểu thuyết của chị sau khi chào đời đều

thể hiện sự trưởng thành trên hành trình sáng tác của nhà văn Mạnh dạn chuyển ngòi bút từ dạng thức ngắn (truyện ngắn, tản văn) đến tiểu thuyết - một dạng thức dài, một

thể loại văn học có khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống, có “biên độ

không gian cũng như chiều dài thời gian”, đòi hỏi “không ngừng dung nạp trong bản thân nó những thể loại khác” (Trần Đình Sử), thực sự vừa là một thử thách mạo hiểm,

vừa là một cơ hội để chị khẳng định tài năng, bản lĩnh và độ chín trong văn chương Có

lẽ, tiểu thuyết với những đặc trưng thi pháp của nó mới có thể giúp Đỗ Bích Thúy tiếp xúc gần gũi nhất, toàn vẹn và sâu sắc nhất với hiện thực đời sống; mới là mảnh đất màu

mỡ nhất giúp tư tưởng, tình cảm cũng như tài năng nghệ thuật của Đỗ Bích Thúy đơm bông kết trái và thăng hoa trọn vẹn nhất

Lấy ý tưởng từ truyện ngắn Thị trấn (in trong tập Tiếng đàn môi sau bờ rào đá), tiểu thuyết đầu tay Bóng của cây sồi phản ánh cuộc sống đồng bào Tày - Dao

vùng Lao Chải, Đản Ván trước sự xâm lấn của nền kinh tế thị trường Cốt truyện xoay quanh ba nhân vật chính, trẻ tuổi Đó là Phù, con trai già làng Phủ, trưởng thôn;

cô Kim, cô gái xinh đẹp, chăm làm nhưng phải gánh chịu số phận hẩm hiu, bầm dập

và Cường, tổ phó tổ tự vệ của thôn là kẻ thâm hiểm, gian manh, luôn hại người khác

để trở nên giàu có Ba nhân vật điển hình ấy đã đại diện cho những dạng người đang tồn tại trong cộng đồng xã hội ở miền núi phía Bắc hiện nay Tác phẩm vừa phản ánh

Trang 28

cuộc sống của vùng đất ấy vừa mạnh dạn đặt ra một số vấn đề cần phải giải quyết trước mắt và lâu dài về kinh tế xã hội Tính xã hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gửi gắm vào từng trang viết, gợi bao nỗi niềm trăn

trở, day dứt Với những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc, tiểu thuyết Bóng của

cây sồiđã được trao giải B - cuộc thi Sáng tác văn học cho tuổi trẻ, lần 2

Tiếp tục mạch nguồn cảm hứng về mảnh đất cao nguyên đá Hà Giang, tiểu

thuyết Cánh chim kiêu hãnh ra đời đã tái hiện một cách chân thực và xúc động về

cuộc kháng chiến đánh Pháp, đuổi Nhật của Việt Minh Tiểu thuyết này được phát

triển từ ý tưởng truyện ngắn Sải cánh trên cao (in trong tập Tiếng đàn môi sau bờ rào đá), đan dệt từ nguyên mẫu cuộc đời của người phụ nữ Tày từ Cao Bằng sang Hà Giang làm cách mạng và đã đưa phong trào cách mạng ở Hà Giang đi lên Cánh

chim kiêu hãnh nói về những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đuổi Nhật

ở Hà Giang, giai đoạn những năm 40 của thế kỉ trước Nhân vật chính là Mai - cô gái Tày xinh đẹp phải chịu phận tôi đòi cho nhà lý trưởng để gán nợ Cô gặp Chúng, một thanh niên nghèo, tốt bụng, anh đã đổi cả đàn gia súc để chuộc cô về làm vợ Thực dân Pháp và tay sai đày ải đồng bào đến cùng cực, khốn đốn Chúng cùng với rất nhiều thanh niên lên rừng tham gia phong trào Việt Minh Trong lần trốn về thăm vợ, Chúng bị giặc bắt và chặt đầu thị uy Được cán bộ Sinh - xưa cùng thân phận tôi đòi trong nhà lý trưởng - giác ngộ, Mai đau đớn gửi con cho mẹ già, tiếp bước chồng, tham gia cách mạng Dưới sự dìu dắt của cán bộ Việt Minh, cộng với tinh thần chủ động, gan dạ, Mai trưởng thành, tham gia chiến đấu kiên cường và trở thành biểu tượng cánh chim đại bàng kiêu hãnh trên rừng núi phía Bắc Cuối truyện, Mai đã hy sinh trong một trận đánh lớn Chị ngã xuống nhưng hình ảnh và vẻ đẹp kiêu hùng của

người phụ nữ rẻo cao lại bay lên như một con đại bàng dũng mãnh Cánh chim kiêu hãnh đã tái hiện con đường giải phóng dân tộc của đồng bào Tây Bắc Con đường

thoát khỏi gông cùm của bọn thực dân, phong kiến dẫu nhiều gian nan, mất mát, hi sinh nhưng vô cùng oanh liệt, sáng ngời lòng yêu nước và lí tưởng cách mạng Họ đã

sống một cuộc đời ý nghĩa,“không phải là cuộc sống của một con cu gáy béo mẫm,

chỉ làm mồi cho thợ săn, mà như một con đại bàng với sải cánh dài mang khát vọng kiêu hãnh mà không hề sợ hãi”

Cuốn tiểu thuyết thứ 3 của chị lại bất ngờ dành tặng Hà Nội như một món quà

“trả nợ nơi nuôi dưỡng” Cửa hiệu giặt là được coi là tấm hộ khẩu bằng văn chương

chính thức của chị với Thủ đô Bởi phải đúng là người con Hà Nội, có những “cảm

xúc đắm say của một người đã biết thế nào là tình yêu Hà Nội" mới có được cái nhìn

về nơi đây một cách tinh tế và sâu sắc đến như vậy Đi dọc chiều dài của cuốn tiểu

Trang 29

thuyết 23 chương, gần 300 trang sách, Hà Nội hiện lên thật mới mẻ - một Hà Nội trong dung dịđời thường với tất cả những eo sèo cuộc sống nhưng chứa chan tình đời,

tình người, “một Hà Nội mà ở đó có những cuộc đời bình dị được trôi đi với tận cùng

vui buồn, sướng khổ ” Ở đây, ta bắt gặp những nhân vật thật đời thường, gần gũi mà

người đọc dễ dàng soi chiếu và thấy bản thân mình xuất hiện đâu đó trong cuốn sách

Họ là những người lao động thị dân, tuy nghèo về vật chất, nhưng không thiếu tình cảm Mỗi người là một mảnh ghép không thể thiếu trong bức tranh cuộc sống Hà thành hôm nay Tác phẩm này của chị không có nhân vật nào là phản diện, gai góc,

mà tất cả đều đáng quý, đáng yêu Cửa hiệu giặt là được trao giải thưởng Văn học

Nghệ thuật Thủ đô 2013-2014

Sau khi phiêu lưu, mạo hiểm và khá thành công với tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết về đô thị, Đỗ Bích Thúy quay lại với đề tài vùng cao Hà Giang máu thịt, nơi luôn khiến ngòi bút của chị thăng hoa, phát sáng, để phản ánh đời sống tủi nhục của

người phụ nữ dân tộc Mông cách đây 200 năm trong Chúa đất Cuốn tiểu thuyết thứ

tư này của Đỗ Bích Thúy lấy cảm hứng từ truyền thuyết về chúa đất Sùng Chúa Đà ở vùng Đường Thượng, Yên Minh, Hà Giang Dân gian kể rằng: Sùng Chúa Đà là một thổ ty người Mông hung ác, sống cách nay khoảng 200 năm Cuộc đời ông gắn liền với sự tích cây cột đá hành quyết, cao tới 1,9 m, chuyên để treo đến chết những ai trêu ghẹo vợ chúavà vi phạm luật lệ do ông ta đặt ra Trung tâm câu chuyện là nhân vật vị chúa đất có quyền sinh quyền sát trong tay Sùng Chúa Đà - một bạo chúa ở vùng cao Đường Thượng có cuộc đời bất hạnh với bi kịch không thể làm đàn ông Trớ trêu thay, xoay quanh ông ta lại là những người phụ nữ có những cá tính riêng

Đó là cô gái trẻ Vàng Chở tuổi hừng hực bản năng, sẵn sàng bất chấp mọi thứ, coi thường ngay cả mạng sống của chính mình để đổi lấy khát vọng của thanh xuân Đó

là người vợ cả dâng cả cuộc đời cho chúa đất với tất cả tình yêu và lòng trung thành một cách âm thầm, lặng lẽ và vô điều kiện Đó là cô gái Sùng Pà Xính xinh đẹp, tiếng hát như họa mi rộn ràng cũng nhất định không sống cam chịu cho dù được đánh đổi

bao nhiêu nhung lụa, bạc vàng Đàn bà trong Chúa đất sinh ra không phải để đàn ông

hành hạ, lấy làm trò vui Họ có ước mơ, sẵn sàng chết để đánh đổi lấy cái gọi là hạnh phúc, dù cho nó chỉ đến trong chớp mắt Tiểu thuyết này cũng dành những trang văn đẹp, trữ tình để miêu tả thiên nhiên đặc trưng vùng núi đá.Đỗ Bích Thúy chia sẻ: Song song với việc sáng tác tiểu thuyết, chị đã hoàn thành kịch bản, với mong muốn xây dựng một bộ phim từ tác phẩm này

Lặng yên dưới vực sâu vốn là một truyện dài cùng tên được đăng nhiều kỳ

trên Tạp chí Văn nghệ quân đội cách đây vài năm Sau khi được đạo diễn Đào Duy

Trang 30

Phúc và Trung tâm sản xuất Phim truyền hình Việt Nam đề nghị chuyển thể tác phẩm văn học này thành kịch bản phim truyền hình dài hơn ba mươi tập, nhà văn Đỗ Bích Thúy đã quyết định phát triển tác phẩm này từ một truyện dài thành cuốn tiểu thuyết

thứ 5 của chị Lặng yên dưới vực sâu là câu chuyện tình của Vừ, Phống, Súa, Xí,

Chía , những thanh niên người Mông ở vùng núi U Khố Sủ Vừ và Súa yêu nhau say

đắm Nhiều lúc Súa còn nghĩ “mình say Vừ hơn say rượu” Đúng trong đêm hò hẹn

định mệnh của hai người, Súa đồng ý để Vừ bắt mình về làm vợ thì Phống đã lừa Vừ

để thay vào làm việc đó Từ đây bắt đầu cho một chuỗi dài những bi kịch trong tình yêu của các nhân vật, mỗi người có một nỗi niềm riêng, không ai giống ai nhưng tất

cả đều đau đớn quay quắt trong bi kịch tình yêu không tìm được đường ra Đỗ Bích

Thúy đã cho chúng ta những cảm giác trái ngược cùng bất ngờ trong Lặng yên dưới vực sâu Một câu chuyện hấp dẫn, lạ lẫm, đầy ảnh hình hoang dã về những người

Mông lạ kỳ, kiêu hãnh “Viết được như Đỗ Bích Thúy về dân tộc Mông giờ hiếm

người theo kịp”, đó là nhận định xác đáng của Phạm Ngọc Tiến

Câu chuyện tình tay ba của Phống - Súa - Vừ đầy bi thảm Phải chăng đó chính là lời bi ai cho hành trình đi kiếm tìm hạnh phúc của người phụ nữ dân tộc trên rẻo cao mà Đỗ Bích Thúy vẫn đau đáu, khắc khoải khôn nguôi với câu hỏi đầy day

dứt:“Tại sao con người lại làm thế với nhau?” Lặng yên dưới vực sâu với lối viết

chân thực đến gai người không ngừng tra vấn chúng ta bằng câu hỏi nhức nhối ấy Tiểu thuyết về đề tài miền núi của Đỗ Bích Thúy là nỗi trăn trở khôn nguôi về cuộc sống với biết bao ngang trái, những bi kịch chỉ trực rình rập để nuốt chửng con người

Trong năm tiểu thuyết đã xuất bản của chị, ngoại trừ tiểu thuyết Cửa hiệu giặt

là viết về đời sống thị dân hơi tách ra khỏi dòng đề tài chủ đạo của Đỗ Bích Thúy,

bốn tiểu thuyết còn lại đều gắn với đất và người vùng cao, nơi chị sinh ra, lớn lên và nặng lòng trong từng trang viết Chất liệu hiện thực cuộc sống ngồn ngộn được tác giả tái hiện một cách sinh động trong mỗi tiểu thuyết đã dẫn lối, đón đưa người đọc đến với cuộc sống và con người trên rẻo cao từ văn hóa, tâm hồn con người đến thiên nhiên Cách viết của chị tài hoa và sắc sảo, có sự chuyển hóa linh hoạt đã tạo sự mê hoặc trong từng câu văn, dòng chữ Văn phong, ngôn ngữ của Đỗ Bích Thuý dung dị, mượt mà nhưng đậm đà, sâu sắc Cũng thật không quá khi cho rằng, những sáng tác của chị nói chung và những tiểu thuyết viết về miền núi của chị nói riêng đã trở thành một món ăn tinh thần, một “đặc sản” Thành công của tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy đã được ghi nhận bằng các giải thưởng văn học uy tín, là sự hấp dẫn kì lạ đối với điện ảnh nước nhà, là đề tài hấp dẫn của những nhà nghiên cứu văn học và là sự yêu mến, trân trọng của độc giả trong gần ba thập kỉ nay

Trang 31

Trở thành một nhà văn có duyên với điện ảnh cũng là một trong những thành công hơn những người bạn văn đồng lứa, đồng niên của Đỗ Bích Thúy Cho đến nay chị đã có 3 tác phẩm văn học được chuyển thể thành phim truyền hình thành công và

2 tác phẩm đang trong quá trình “lột xác” thành phim Bộ phim Chuyện của Pao

(được giải thưởng Cánh diều vàng) do đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành tác

phẩm điện ảnh từ truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá; Từ truyện ngắn Sau những mùa trăng hai đạo diễn Ðào Duy Phúc và Nguyễn Mạnh Hà chuyển thể thành

bộ phim cùng tên đã đem lại cho người xem những xúc cảm nhân văn đối với bà con

ở một vùng đất còn rơi rớt hủ tục nặng nề Lặng yên dưới vực sâu lấy cảm hứng từ

truyện ngắn cùng tên của chị đã được dựng thành bộ phim truyền hình nhiều tập và lấy được không ít nước mắt người xem và cả những trăn trở suy tư sau khi bộ phim kết thúc Cả ba bộ phim khi trình làng đều được độc giả quan tâm và đánh giá cao

Đỗ Bích Thúy chia sẻ, song song với việc sáng tác tiểu thuyết, chị đã hoàn thành kịch

bản, với mong muốn xây dựng một bộ phim từ tiểu thuyết Chúa đất Truyện ngắn Người yêu ơi của Đỗ Bích Thúy in trên Báo Nhân dân số Tết Ất Dậu 2015 cũng đang

được chị "viết mới" thành tiểu thuyết sau khi hoàn thành kịch bản phim truyện điện ảnh cùng tên

Xung quanh tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu và cả bộ phim cùng tên có rất

nhiều câu chuyện thú vị Đưa tác phẩm văn chương lên màn ảnh là việc bình thường, nhưng trường hợp của Đỗ Bích Thúy lại có hơi khác thường Trong văn học cũng như trong điện ảnh, đa số những tác phẩm được chuyển thể thành phim đều là tiểu thuyết Phải là tiểu thuyết mới có phạm vi đời sống, con người đủ độ phong phú để thành phim Tuy nhiên cả ba tác phẩm được chuyển thể của Đỗ Bích Thúy đều là những truyện vừa, từng công bố cách đây mấy năm trên Báo Văn nghệ, rồi được đặt hàng

chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập Riêng Lặng yên dưới vực sâu sau khi

viết xong kịch bản phim, chị phát triển truyện vừa đó thành tiểu thuyết Tương tự như

vậy là truyện ngắn Người yêu ơi của chị Bằng cách này, không phải nhà văn kéo dài

tác phẩm mà là đưa tác phẩm lên một tầm cao mới, mang lại cho nó một đời sống và

số phận khác

Đỗ Bích Thúy có được thành công đó là kết quả một quá trình nỗ lực tìm tòi

và cách tân nghệ thuật của chị Đạo diễn Ngô Quang Hải khẳng định, bên cạnh yếu tố cốt truyện có sức gợi rất lớn thì lối viết văn giàu hình ảnh, ngôn ngữ có đường nét, giàu chất thơ nhờ lối tư duy của điện ảnh, tư duy khuôn hình của chị cũng là một thuận lợi hỗ trợ các nhà làm phim Trên thực tế, có những đoạn văn, khi ta đọc, tưởng như chỉ cần nhắm mắt lại, hình dung thì từ trong tâm trí đã hiện lên rõ mồn một

Trang 32

những cảnh sắc, âm thanh mà chị đã thể hiện trên trang viết của mình Có lẽ vì thế mà

Đỗ Bích Thúy là nhà văn được điện ảnh lựa chọn và trao gửi nhiều cơ hội

Có thể nói Đỗ Bích Thúy là nhà văn ghi dấu ấn với độc giả bằng thể loại truyện ngắn Truyện ngắn là thể loại đầu tiên được nhà văn Đỗ Bích Thúy lựa chọn khi khởi nghiệp văn chương Thể loại này đã có công trong việc đem đến cho chị một

vị trí nhất định trên văn đàn đương đại Còn thể loại tiểu thuyết có vai trò khẳng định tên tuổi, phong cách và bản lĩnh nghệ thuật của Đỗ Bích Thúy Sự ra đời rất đều tay,

ổn định về phong cách nghệ thuật của các cuốn tiểu thuyết cả vềsố lượng và chất lượng cho thấy chị là một cây bút giàu tiềm năng, giàu nội lực và sức sáng tạo vô cùng mạnh mẽ Đồng thời những thành công về thể loại tiểu thuyết cũng chính là minh chứng hùng hồn nhất về độ chín, độ dày của nghệ thuật viết văn cũng như chiều sâu trong những chiêm nghiệm về con người trong cõi nhân sinh của nhà văn Tiểu thuyết còn giúp chị củng cố thêm một lần nữa địa vị nghệ thuật đặc biệt trên văn đàn, định vị những thành công trên con đường văn chương của Đỗ Bích Thúy Đúng như

Trần Đăng Khoa đánh giá về Đỗ Bích Thúy "là một trong những cây bút nữ quan

trọng nhất hiện nay ở mảng văn học về đề tài miền núi"

Tóm lại, khi nghiên cứu tác phẩm văn học cần quan tâm tới thời gian nghệ thuật Cùng với không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật làm nên hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Bởi thế, nghiên cứu thời gian nghệ thuật rất quan trọng, giúp ta khám phá tác phẩm như là một thế giới, một chỉnh thể nghệ thuật được xác định trong không - thời gian Thời gian nghệ thuật vô cùng phong phú và đa dạng mỗi ngành nghiên cứu lại có cách lý giải và phân loại riêng khác nhau…

TIỂU KẾT

Đỗ Bích Thúy là một trong số những nhà văn nữ xuất sắc của nền văn học Việt Nam đương đại, chị đặc biệt thành công ở đề tài miền núi Các tác phẩm văn chương của chị tạo dấu ấn trong lòng người đọc bởi không gian, cuộc sống, con người ở đó hầu như đều mang hơi thở của miền đất Hà Giang nguyên sơ, trong trẻo Tất cả kết hợp với văn phong nhẹ nhàng, tinh tế, sâu lắng giàu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo đã tạo nên vị trí riêng của Đỗ Bích Thúy trong dòng chảy của văn xuôi miền núi nói riêng và văn học đương đại Việt Nam nói chung Đỗ bích Thúy là cây bút giàu

Trang 33

nội lực Trong chặng đường 20 năm sáng tác, chị đã có vốn liếng là 17 đầu sách với nhiều thể loại khác nhau, từ truyện ngắn đến truyện vừa, tản văn, kịch bản phim, truyện viết cho thiếu nhi và cả tiểu thuyết Ở thể loại nào chị cũng ghi được những dấu ấn riêng Có thể nói, trong các sáng tác của chị, bên cạnh truyện ngắn, tiểu thuyết cũng là một thể loại mang đến cho chị những thành công đáng kể Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ vận dụng những lí thuyết thi pháp học để nghiên cứu về: thế giới nhân vật, không gian nghệ thuật,thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy

Trang 34

Chương 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ MIỀN NÚI CỦA ĐỖ BÍCH THÚY

2.1 Thế giới nhân vật

Căn cứ vào việc khảo sát thực tế, chúng tôi chia thế giới nhân vật trong tiểu thuyết viết về dân tộc và miền núi của Đỗ Bích Thúy thành một số kiểu loại cơ bản sau:

2.1.1 Nhân vật có số phận éo le, bất hạnh

Trong sự chuyển đổi chung văn học Việt Nam từ sau đổi mới, bằng những suy

tư riêng của mình, Đỗ Bích Thúy đã góp phần khẳng định quan niệm tích cực, đậm tính nhân văn về con người Là cây bút trẻ, sống trong một thời đoạn xã hội phát triển

vô cùng đa dạng, phong phú với những thay đổi mạnh mẽ trong lối sống, đạo đức, trong khi không ít cây bút sa đà vào vòng xoáy của kinh tế thị trường với lối viết câu khách nhạt nhòa, sáo rỗng và những toan tính vật chất mà sao nhãng dần ý nghĩa cao quý của văn chương, thì Đỗ Bích Thúy vẫn giữ được tâm niệm sâu sắc và nhân bản

về văn chương Chị đã viết những dòng tâm sự chân thành trong tập truyện Người đàn bà miền núi thể hiện sự trăn trở khôn nguôi của một cây bút tâm huyết, trách

nhiệm: “Văn chương (dù là một truyện ngắn hay một đoản văn) phải mang trong nó

những ẩn ức về cuộc đời, về thân phận con người”[41] Xuất phát từ đó, Đỗ Bích

Thúy luôn đau đáu, khắc khoải với số phận của những con người nhỏ bé, bất hạnh, phải chịu nhiều bi kịch của cuộc đời Mô típ nhân vật thường thấy trong các tác phẩm của chị là người mẹ, người chị, người vợ- những người đàn bà miền núi âm thầm, lặng lẽ, số phận đầy éo le, bất hạnh Người phụ nữ vùng cao trong văn của Đỗ Bích Thúy gần như không có nhiều thời gian để sống trong hạnh phúc yêu thương Nỗi đau khổ lớn nhất là gần như họ hoàn toàn không được tự quyết định hạnh phúc của đời mình Người phụ nữ miền núi và những ước vọng luôn bị trói buộc bằng những sợi dây vô hình là điều chị muốn bạn đọc thấu hiểu

Lật dở từng trang tiểu thuyết Bóng của cây sồingười đọc nghẹn ngào cùng số

phận đầy đau khổ của nhân vật Kim Gấp lại cuốn tiểu thuyết, số phận của cô vẫn ám ảnh, day dứt khôn nguôi với độc giả Kim đã kéo dài nỗi bất hạnh ngay từ trong trứng

với những khổ nhục truyền kiếp từ đời bà, đời mẹ: “Mẹ Kim đi vào vết chân của bà

ngoại, Kim cũng không tránh được vết chân của mẹ ”[42, tr.20] Đối với người phụ

nữ không cha như bà, như mẹ, như Kim, người dân Lao Chải nói rằng: “dòng máu

chảy trong người không phải màu đỏ mà là màu đen, gột rửa mười đời không sạch được” [42, tr.38] Kim vì thế trở thành một dị biệt giữa gốc gác vững chãi của cộng

Trang 35

đồng Lao Chải Chỉ vì Kim là cô gái duy nhất trong làng không có bố nên dù Kim có

là một cô gái xinh đẹp nhất và ngoan hiền, chăm chỉ nhất ở thung lũng Lao Chải thì

số phận của Kim cũng không thể khác mẹ cô:“đã mười tám tuổi rồi mà không ai

muốn lấy về làm vợ”[42, tr.26] Có thể nói triền miên những bất hạnh của cuộc đời

Kim bắt đầu từ cách nghĩ cổ hủ đã ăn sâu bắt rễ vào máu của người Lao Chải Nó lạc hậu, mông muội và vô lý làm sao nhưng cả Kim, Phù, cả cái thôn Lao Chải, cả cái xã Thanh Vân phải chấp nhận, phải theo nó Sức mạnh vô hình của những kì thị, những quan niệm thật ghê gớm Nó giống như một lưỡi dao vô hình mà sắc lạnh hết lần này đến lần khác dày vò, làm tan nát cuộc đời Kim Chi tiết một mình Kim nhỏ bé, cô đơn

chật vật với đám ma của mẹ làm đau nhói trái tim người đọc: “Kim đành gạt nước

mắt đưa mẹ đi sớm, xin mẹ đợi mấy vụ lúa nữa, cô chăm chỉ làm lụng rồi mới làm ma khô cho mẹ được… Chỉ có duy nhất một cái quan tài Không có nhà táng, không đón rước ông then”[42, tr.28]

Trong cuộc đời mỗi người, nỗi đau lớn nhất là khi mất mẹ, và với Kim thì nỗi đau này lớn hơn ai hết vì ngoài mẹ, Kim không có lấy một người để an ủi, sẻ chia trong tận cùng nỗi đau tinh thần và cùng cực nỗi khốn khổ vì thiếu thốn vật chất Tài sản lớn nhất, tình yêu, niềm tin và chỗ dựa tinh thần duy nhất của Kim là mẹ không còn Nỗi đau chồng chất nặng như núi đá Hà Giang đã ghì Kim gục ngã Kim chới với, cô độc giữa cuộc đời, không thể thanh minh dòng máu trong người mình

cũng“màu đỏ giống máu người Dao, người Tày Lao Chải” [42, tr.25] không tự mình lí giải vì sao“Kim là con của núi rừng này, cuả làng bản này Vậy mà mọi người lại hắt hủi

Kim”, cũng không thể trả lời cho câu hỏi “không biết sống thế nào nữa rồi ?”[42, tr.25]

Bế tắc và đau khổ trong bi kịch bị chối bỏ quyền làm người, Kim đoạn tuyệt với thế giới thực tại, gieo mình xuống dòng nước những mong tìm được lối thoát ở thế giới bên kia Nhưng Phù lại cứu Kim, không cho Kim chết Không có gì đau xót bằng việc sống không bằng chết Đau đớn, tủi nhục hơn nhiều lần nữa khi phải sống

dở chết dở: “sống không được sống mà chết cũng không được chết” Từng câu, từng

chữ như gằn lên, như nghiến, như thắt lại trước những cay đắng mà Kim phải gánh chịu một cách vô lý bởi những quy định bất thành văn hà khắc của cộng đồng nơi đây Và khi Kim chấp nhận để dòng nước dịu dàng dìm mình xuốngcũng là lúc tiếng nói bênh vực, yêu thương cất lên để lại bao day dứt trong lòng người Đó cũng là lời kết tội dành cho một lề lối xưa cũ, cổ hủ và khắc nghiệt của người dân tộc trên núi đá

cao nguyên Hà Giang

Tưởng như bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người giữa cộng đồng đã là quá bất hạnh, phũ phàng đối với một cô gái trẻ tuổi đời mới chớm đôi mươi Nhưng bi kịch

Trang 36

tình yêu tiếp tục bất ngờ ập đến như chặn đứng bước chân của Kim giữa dòng đời Phù yêu Kim nhưng không dám bước qua lệ làng để đến với cô Ngày Phù cưới Mai, Kim thêm một lần tự mình vật vã với nỗi đau lớn trong đời Nhà văn không dùng nhiều tính từ để miêu tả tâm trạng của Kim, nhưng qua việc tái hiện lại những hành

động, người đọc như thấy cả một thế giới nội tâm đang nổi sóng “Ngày Phù đón cô

dâu mới Tiếng quan làng hát mười mấy bài không một câu nào ở ngoài tai Kim Kim chạy xuống cầu thang,chui vào khe nước, chạy trốn lên nương…Kim ngồi trên một cành to của cây dẻ nhìn rõ…Kim tụt xuống gốc cây ngồi bệt trên đám lá mục, úp mặt vào hai bàn tay Những vết sẹo trong lòng bàn tay cọ vào má lành lạnh Nước mắt cũng không làm cho ấm lên được… Kim vùng dậy, chạy thật nhanh ra khỏi rừng cây Gai cào vào váy, tiếng váy rách loạt xoạt Kim ngã quỵ ở cửa rừng” [42, tr.94] Sự

thật nghiệt ngã khiến Kim muốn trốn chạy, không dám đối diện Nhưng tất cả suy nghĩ và linh hồn Kim bị đám cưới của Phù mang đi mất rồi Có chạy thế nào cũng

không có thể thoát ra được: “ tiếng hát vẫn chạy vào tai Vào tai rồi còn ở trong đấy

dội đi dội lại, ù đặc” [42, tr.95] Kim chua chát tự hỏi:“ Tại sao Phù không dám làm cái điều mà cả hai người cùng nghĩ đến?” Rồi Kim lại tự mình ngậm ngùi, xót xa trả

lời câu hỏi của chính mình: “Không ai tin là máu chảy trong người Kim cũng có màu

đỏ….Kể cả Phù, Phù cũng đã không tin Kim, nên Phù mới để Kim lại một mình thế này” [42, tr.95] Cho dù tình yêu Kim- Phù chưa tròn hình, rõ tiếng nhưng thực sự nó

được đã được hai người cảm nhận một cách rõ nét trong thế giới tình cảm của mình.Với Kim, tình yêu ấy cho dù mong manh, mơ hồ nhưng nó là ý nghĩa cuộc sống duy nhất mà cô có được sau những ngày chênh vênh với nỗi đau mất mẹ Đã nhiều lần Kim nghĩ đến dòng sông và cái chết, nhưng cứ nghĩ đến dòng sông thì khuôn mặt Phù lại hiện lên níu giữ bước chân cô Trước sự phũ phàng của số phận, ở hai thế chông chênh của cuộc đời, tình yêu của Phù như một nguồn sinh khí giúp Kim tiếp tục bấu víu lấy sự sống Đám cưới của Phù với Mai là dấu chấm hết cho những hi

vọng cuối cùng của Kim

Bi kịch bị chối bỏ quyền làm người, bi kịch khát vọng tình yêu tan vỡ khiến Kim không còn có lí do để tiếp tục cuộc sống trên mảnh đất hà khắc đầy đau khổ Lao Chải nữa Chưa đầy một tuần trăng sau lễ cưới của Phù, Kim lặng lẽ bỏ đi như một cuộc chạy trốn, như một lời phủ định đối với nơi này Kim đã bỏ làng ra đi, nhưng thật trớ trêu, cô lại trở thành nạn nhân của nạn buôn người qua biên giới, rồi phải trở

về làng với đứa con không có bố Để tiếp tục cuộc sống với một đứa trẻ không rõ tông tích, Kim dần lâm vào bi kịch tha hóa… Người đọc có thể nhận thấy những trang tác giả dành cho Kim là những trang tâm huyết nhất, gan ruột nhất Nhà văn

Trang 37

như sống cùng nỗi đau của nhân vật để có thể hiểu, cảm thông với nhân vật Ngòi bút của Đỗ Bích Thúy len lỏi vào tận đáy sâu tâm hồn của Kim giúp người đọc hiểu tất cả những ẩn ức phía sau và những căn nguyên của sự tha hóa để thấy thương nhân vật nhiều hơn là trách móc

Nằm trong hệ thống những nhân vật người phụ nữ bất hạnh không thể không

kể đến Mai trong Bóng của cây sồi Bất hạnh đầu tiên của Mai là sự xấu xí về hình

thức với đôi mắt một mí bé tí, kéo dài trên khuôn mặt Mai hát hay, mỗi lần nghe tiếng hát của Mai, bao nhiêu trai làng chạy đến, nhưng đến rồi nhìn thấy Mai lại vội vàng bỏ đi ngay Mẹ Mai biết bao lần nhìn trộm con gái rồi nén tiếng thở dài Xấu không phải cái tội nhưng rõ ràng là nỗi bất hạnh của người phụ nữ Lấy Phù, một

“cây sồi cao quá, to quá, chim bay mỏi cánh, người nhìn mỏi mắt”[42, tr.141] khiến

Mai càng thiếu tự tin với nhan sắc của mình Thế nên Mai càng trở nên xa cách với

Phù, “đôi mắt ấy không lần nào còn nhìn thẳng vào Phù nữa, lúc nàoMai cũng giấu

ánh mắt mình đi Giờ thì, hơn lúc nào hết Phù cảm thấy Mai hoàn toàn xa lạ với mình” [42, tr.98] Mai sống một cuộc đời hẩm hiu với hạnh phúc tuy bé nhỏ nhưng

chẳng thể trọn vẹn bởi bất hạnh lớn nhất của Mai là người phụ nữ có chồng mà không

thể có con Mai ngày một“gầy mòn đi, mắt to ra, má hóp lại, răng đã hô lại càng hô

hơn nữa, giọng nói cũng khác, khàn khàn như người mới qua trận ho” [42, tr.184] Có

thể rồi số phận của Mai cũng giống với vết đời của mẹ già trong Tiếng đàn môi sau

bờ rào đá, suốt đời lặng lẽ, cay đắng, buồn tủi chỉ vì quan niệm lâu đời của thôn bản:

“Làm dâu mà không làm mẹ thì chỉ là cái cục đá kê chân cột nhà chồng thôi”[40, tr.30]

Bất hạnh cũng vô cùng đau đớn, thiệt thòi của Mai là lấy chồng mà không có được tình yêu của chồng Trong đêm tân hôn, giữa hai người là một khoảng chiếu mới trống không và sáng ra cái dây lưng vẫn thắt chặt trên người cô dâu mới, chưa một chiếc cúc bạc nào bật ra Mai chỉ được làm vợ Phù vào những đêm trăng sao tắt ngấm, số lần làm

vợ chỉ đếm trên đầu ngón tay trong một tháng, một năm Cuộc sống của Mai như cuộc đời của một con người thừa, héo hon dần theo năm tháng Một người phụ nữ không được làm thiên chức của một người mẹ, một người vợ và không có tình yêu của chồng, thử hỏi cuộc sống có còn ý nghĩa? Mai không nghĩ đến cái chết, cũng không buông

bỏ hôn nhân nhưng Mai đã thay đổi và dần chao chát, chua ngoa, coi đó là vũ khí để bao bọc bản thân, để chống trả với những đắng cay của cuộc sống Qua nhân vật Mai,

Đỗ Bích Thúy đã khai thác một khía cạnh khác về nỗi bất hạnh của người phụ nữ vùng cao

Lặng yên dưới vực sâu là câu chuyện tình yêu đẫm nước mắt của hàng loạt

những thanh niên người Mông ở vùng núi U Khố Sủ Vừ và Súa yêu nhau say đắm

Trang 38

nhưng nhà Vừ nghèo quá nên Súa đã đồng ý để Vừ bắt mình về làm vợ Thế nhưng Phống đã lừa Vừ để thế chân mình vào đó Và từ đây bắt đầu cho một chuỗi dài những bi kịch trong tình yêu của các nhân vật

Súa là một cô gái Mông xinh đẹp“như một bông hoa anh túc rực rỡ đẹp nhất

U Khố Sủ…” Mất mẹ từ bé, Súa lớn lên với một chút hoang dại của núi đồi và trở

thành một cô gái Mông có cá tính với một chút gan lì, một chút gai góc và một chút

ngỗ nghịch: “Súa cưỡi được bò, bơi được sông, trèo được cây”, “việc gì cũng làm

được, việc gì thích cũng dám làm, bất kể những cô gái mông khác có chỉ trỏ, nhăn nhó, chê bai Cần thì Súa làm, thích thì Súa làm Việc không thích thì ai nói gì Súa cũng không làm” [49, tr.25] Vì thế, khi bị Phống cướp, Súa phản kháng lại gay gắt

chứ không hiền lành chấp nhận Nhưng dù thế nào, Súa cũng không thoát khỏi bi kịch Chuỗi ngày làm vợ là chuỗi ngày kéo lê nỗi đau của tình yêu tan vỡ, nỗi đau sống trong cuộc hôn nhân với người mình không yêu Súa sống trong sự giằng xé của nỗi nhớ và lòng căm thù Nhớ Vừ bao nhiêu lại càng căm thù Phống bấy nhiêu và nỗi đau, bi kịch cũng vì thế mà chẳng thể nguôi ngoai Những lần ân ái cùng với chồng, với Súa là những lần bị tra tấn cả thể xác lẫn tâm hồn mà nỗi đau như ngấm trong

từng thớ thịt, từng nhịp thở Thêm vào chuỗi bi kịch của Súa là những trận đòn thù dữ

dội, không thương tiếc của gã chồng vũ phu Cuối cùng, khi tận mắt chứng kiến sự phản bội của chồng và đứa em dâu, Súa thấy đáng sợ và mất niềm tin vào cuộc sống Lời Phống cứ chạy đi chạy lại trong đầu như một lời kết tội càng làm cho Súa đau

khổ:“ Sống thế này thì chết còn sướng hơn Mày ác lắm” Cam chịu và hi sinh vẫn

biến Súa thành tội đồ Đến cuối cùng Súa cũng không thể tự mình trả lời cho mình

câu hỏi:“Con người sao lại làm thế với nhau ?” Ở một góc độ nào đó, một người có

ý thức và cá tính như Súa, phải chịu đựng một cuộc sống đầy đọa như vậy, thì nỗi khổ càng thêm khổ Bởi người ta sẽ bớt khổ phần nào khi họ chấp nhận nó, quen được với

nó Sức mạnh của Sông Lô tưởng đã cuồn cuộn chảy trong người Súa, hóa ra không phải Súa không khôn ngoan, không hơn người, không có ý chí của thằng đàn ông như người làng vẫn nói Cuối cùng, tất cả những gì mà cô có cũng vẫn chưa đủ sức mạnh để Súa có thể bứt phá khỏi quan niệm nam quyền ngự trị hàng ngàn năm trong máu, trong lòng người dân Mông Súa cũng vẫn chịu chung số phận bất hạnh, đáng thương như nhiều người phụ nữ khác ở U Khố Sủ

Về nhân vật Súa, so với Mị của Tô Hoài - cũng là một người Kinh viết về miền núi với những tác phẩm để đời cho dòng Văn học Việt Nam, có những điểm giống và khác nhau Cả hai nữ nhân vật đều là những cô gái đẹp cả hình thức lẫn tâm hồn, đều là nạn nhân của tục cướp vợ trên vùng núi Đặc biệt họ là những người có

Trang 39

khát vọng, và cùng biết đấu tranh khi khát vọng cá nhân không thành Có điều với Súa, mức độ đấu tranh của cô chưa đến cùng, chưa đúng cách nên đã thất bại và chấp nhận cam chịu để rồi cả đời phải đau đớn Bi kịch cuộc đời Súa là bi kịch tinh thần do không thể chấp nhận thực tại dù cô được chồng và nhà chồng giàu có yêu chiều Còn với Mị, bi kịch của cô vừa là thể xác, vừa là tinh thần do thần quyền và cường quyền mang lại Ngược lại với Súa, Mị đấu tranh đến cùng, giải cứu A Phủ và chính mình

để được tự do hạnh phúc Hai nhân vật khác nhau, hai tác giả khác nhau nhưng đã góp phần làm đầy đủ, phong phú hơn về cuộc sống của con người vùng cao

Nhưng ở vùng núi cao, số phận bất hạnh éo le không chỉ dành cho những

người phụ nữ Trong Lặng yên dưới vực sâu, Vừ và Phống - những chàng trai Mông

đích thực cũng rơi vào những bi kịch đau lòng

Vừ là một chàng trai có tài thổi sáo,“chỉ thổi dứt một hơi sáo là trong đám con

gái gần chục đứa đứng xung quanh, sẽ có ít nhất sáu bảy đứa ngã lăn ra Ngã thật chứ không phải ngã đùa Thì đôi mắt cứ dán vào miệng Vừ, cái đầu quay theo mấy bước chân dẻo quánh của Vừ, làm gì không ngã”[44, tr.94] Vừ chân chất, nặng tình

với Súa, là nhân vật chính diện nhưng nhiều lúc lại bế tắc, bất lực "không biết mình

thật sự muốn gì" Không đủ bản lĩnh, thiếu lí trí để đoạn tuyệt với mối tình dang dở

cùng Súa, cuộc đời Vừ bị dày vò, đau đớn, lê lết trong trong 205 trang sách của tiểu thuyết, gây bao ám ảnh trong lòng người

Phống lại rơi vào một bất hạnh khác Phống u mê trong tình yêu nên đã mang đến bi kịch cho cả mình và người yêu Phống cướp được Súa về làm vợ và mừng rơn tưởng chừng cuộc đời sẽ lên hương vì tình yêu với Súa đã thành hiện thực Nhưng hạnh phúc có được bằng sự cướp đoạt đâu có là hạnh phúc thật sự của con người Càng ngày Phống càng thấm thía về sai lầm của việc đi ăn cướp hạnh phúc của người khác, nhưng đã không thể làm lại được nữa rồi Dù lấy được người mình cháy lòng

yêu thương nhưng cả đời Phống“chỉ nắm được da thịt chứ không nắm được tâm hồn”

của Súa Và cuối cùng, Phống phải gào thét trong sự tuyệt vọng, đau đớn đến quặn

thắt:“Nếu có cách nào đấy để quên sạch mọi chuyện đã từng xảy ra trong suốt những

năm tháng qua thì dù phải đổi bằng gì Phống cũng đồng ý”[49, tr.203] Sự hối tiếc

muộn màng không cứu vớt được sự u uất trong tâm hồn, không giải quyết được hậu quả của quá khứ Yêu, khao khát được yêu, được hạnh phúc nhưng rồi lại tuyệt vọng

ê chề với khát vọng của chính mình Việc phát hiện mình là một đứa “người bò”

không rõ tông tích đã đẩy Phống chìm sâu hơn vào bi kịch Tình yêu tan vỡ, tình thân không còn, Phống ở tột cùng trong nỗi đau của hai bi kịch Vực sâu thăm thẳm, đầy

đá tai mèo sắc nhọn lại là nơi Phống lựa chọn một cách không do dự làm chốn an yên

Trang 40

của phần đời còn lại Nơi đó có lẽ là nơi yên lặng nhất cho một linh hồn đang nổi bão Cũng là cách lựa chọn nghiệt ngã nhưng tốt nhất cho một kiếp người mà những ngày

hạnh phúc phải chắt gạn từ những tháng năm dài, chỉ bay qua như một cơn gió thoảng

Kim, Mai, Phù, Phống những con người trẻ tuổi ở vùng cao đều có chung những bi kịch trong tình yêu, hôn nhân Yêu nhưng không dám đấu tranh để đạt được

nó Rồi người lấy chồng, lấy vợ không có tình yêu; người là nạn nhân của bạo lực gia đình Đỗ Bích Thúy viết bằng kinh nghiệm sống, bằng những thử thách và trải nghiệm nên mỗi nhân vật trong tác phẩm của nhà văn là một mảnh ghép của cuộc đời, là một lát cắt của cuộc sống Tất cả tụ hợp lại thành gương mặt toàn vẹn, muôn màu của hiện thực Qua đó, Đỗ Bích Thúy đã lên án những hủ tục lạc hậu, định kiến nghiệt ngã, nạn bạo hành gia đình vẫn còn ngự trị trong lòng xã hội miền núi hôm nay Đồng thời, tác giả cất lên một hồi chuông cảnh tỉnh với thế hệ trẻ miền núi, đừng u mê,

mù quáng, hãy chủ động, tỉnh táo trên hành trình kiếm tìm hạnh phúc của mình

Trong tiểu thuyết Chúa Đất, Đỗ Bích Thúy lại cho người đọc đối diện với một

số phận bất hạnh kiểu khác Chúa đất Sùng Chúa Đà có trong tay mọi thứ: tiền bạc, của cải và quyền năng tối thượng cùng với sự bạo tàn hung ác, muốn ai chết thì phải chết, cho ai sống thì được sống Nhưng xét cho cùng, Chúa Đà lại là một kẻ bất hạnh bởi bi kịch không thể làm một người đàn ông thực sự Đối với một người đàn ông thì bản năng về tính dục chính là cái thể hiện danh dự uy quyền và bản lĩnh cao nhất của họ Nhất là với chúa Đà, một trai Mông với thân hình cao lớn, vồng ngực vỡ…thì tiếng nói của bản năng lại càng dữ dội Nhưng Đà đã bất ngờ phát hiện ra nỗi bất hạnh khủng khiếp của cuộc đời mình trong đêm tân hôn với người vợ đầu - bà Cả:

“Đà chồm lên người bà…Đà cao lớn, Đà rất nặng nhưng bà không cảm thấy gì, Đà thở như một con bò đực trên người bà Nhưng rồi, Đà đã không làm cho bà đau Con

bò đực là Đà hộc lên như bị trúng nhát dao vào cổ, rồi nằm vật ra”[47, tr.15] Từ đó,

Đà mang trong mình nỗi bất hạnh của người đàn ông với những mặc cảm giới tính Cuộc sống đủ đầy vẫn không khỏa lấp được những u tối trong góc khuất Thứ quyền lực để khẳng định sức mạnh của một chàng trai Mông rơi vào bế tắc, mang theo nỗi

nhục nhã, cay đắng khi bản lĩnh đàn ông bị xúc phạm Nỗi đau của “một người tàn ác

lúc thức, nhưng hiền lành như một con mèo lúc ngủ Một người khỏe mạnh như hổ, nhưng chịu thua đàn bà trên giường”[47, tr.182] đã khiến sự bức bối của Đà không

thể giải tỏa Điều đó kết hợp với cái quyền năng tối cao mà Đà có đã tích tụ, kết tủa thành tội ác, bộc phát bằng những hành xử quái thai, ma muội, đen tối và tàn độc Oán hận cuộc đời ngang trái, bất công, Chúa Đà lao vào cuộc trả thù đời bằng cách

đầy đọa những người phụ nữ Như một quy luật của cuộc đời, “Ác giả thì ác báo”,

Ngày đăng: 26/03/2021, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w